THẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOL THẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOLTHẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH môn học VIETSCHOOL
Trang 1Thẩm định Chương trình giáo dục gắn với các môn học của Vietschool Pandora
Năm học 2018 - 2019
THẨM ĐỊNH CHƯƠNG TRÌNH VIETSCHOOL
TS Ngô Vũ Thu Hằng
Trang 2Thẩm định chương trình giáo dục của Trường Tiểu học Vietschool Pandora
Năm học 2019 – 2020
Thực hiện: TS Ngô Vũ Thu Hằng
Khoa Giáo dục Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
A MÔ TẢ CHUNG
Các chương trình môn học được yêu cầu thẩm định: gồm 8 môn học sau
1) Môn Tiếng Việt
8) Môn Văn hóa Việt
Nhóm chuyên gia đã dựa trên những yêu cầu được nhà trường đưa ra để thực hiện hoạt động thẩm định chương trình, cụ thể như sau:
i Sự phù hợp của chương trình với các mục tiêu, triết lý giá trị của Nhà trường;
ii Sự phù hợp với chương trình tiểu học mới nhất của Bộ Giáo dục & Đào tạo;
iii Đánh giá khả năng giảng dạy của giáo viên và khả năng tiếp thu của học sinh;
iv Sự phù hợp với tâm sinh lý và lứa tuổi của học sinh;
v Các ý kiến góp ý, đánh giá khác xét thấy cần thiết
Dựa trên những yêu cầu đó, nhóm chuyên gia đã chi tiết hóa thành các tiêu chí cụ thể cho hoạt động thẩm định Cụ thể, nhóm chuyên gia tập trung vào đánh giá chương trình các môn học dựa vào các yếu tố sau:
Trang 3- Chương trình các môn học của Vietschool đã thể hiện được tâm huyết của lãnh đạo và
cán bộ nhà trường về việc góp phần vào hiện thực hóa hoạt động đổi mới giáo dục ở nhà trường phổ thông, hướng đến một chương trình giáo dục giàu tính thực tiễn, tính riêng biệt, chú trọng yếu tố bản sắc, hiện đại, cập nhật với xu hướng giáo dục không chỉ ở trong nước mà còn trên thế giới Điều này được thể hiện rõ ở việc nội dung các bài học trong chương trình đã cố gắng bám vào các hoạt động thường thấy trong đời sống hàng ngày của học sinh, hướng đến những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho học sinh tiểu học (đầu
cấp) và hướng học sinh đến một lối sống văn minh, hiện đại, có khả năng tự quản lí và phát triển bản thân một cách bền vững Đây là điều hết sức có ý nghĩa, đặc biệt trong bối
cảnh giáo dục và xã hội hiện nay, cho thấy sự ủng hộ của lãnh đạo nhà trường đối với Bộ GD-ĐT trong nỗ lực đổi mới chương trình, phát triển năng lực học sinh, hướng đến những
hoạt động giáo dục, dạy học mang tính cởi mở, kiến tạo thay vì nhồi nhét, áp đặt như cách
làm thường thấy trong truyền thống
- Chương trình đã ngầm thể hiện được tình yêu nước, yêu dân tộc của lãnh đạo nhà
trường, thông qua cách đặt tên trường, tên môn học và các giá trị cốt lõi được chú trọng,
Trang 4hướng đến Không như cách làm ở nhiều trường tư thục hiện nay, thường có khuynh hướng lấy tên của những người nổi tiếng phương Tây để đặt cho tên trường hoặc từ mượn tiếng nước ngoài, tên “Vietschool” đã ngầm cho thấy niềm tin, mong muốn được khẳng định và phát triển những giá trị Việt, vẻ đẹp Việt, sức mạnh Việt, tiềm năng Việt…
và hội nhập được với thế giới, cho thấy niềm tin, mong muốn rằng người Việt có thể thực hiện được các hoạt động giáo dục hiệu quả với chương trình giáo dục được xây dựng, tổ chức, thực hiện và đạt được bởi người Việt chứ không phải là sự trông chờ, vay mượn,
hay bắt chước hoàn toàn bên ngoài Điều này phần nào cũng đã cho thấy tinh thần tự chủ, chủ động, sáng tạo và đổi mới của nhà trường trong hoạt động giáo dục Từ tên trường,
tên một số môn học riêng của nhà trường (ví dụ: vietskills, văn hóa Việt…) và những nội dung giáo dục trong chương trình của nhà trường, có thể nhận thấy những nỗ lực của ban lãnh đạo nhà trường trong việc giữ gìn và phát triển ở học sinh văn hóa bản sắc cũng như lối sống văn minh, hiện đại, phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu của thực tế: hòa nhập nhưng không hòa tan, lưu giữ và phát triển những giá trị riêng của văn hóa dân tộc
- Chương trình các môn học được xây dựng có sự dựa trên cơ sở thực tiễn và lí luận khoa học mang tính tiến bộ, hiện đại Chương trình đã hướng đến việc giải quyết cách giáo dục, dạy học đầy tính áp đặt, nhồi nhét, thiên về kiến thức lí thuyết đã và vẫn còn trong thực
tế nhà trường phổ thông hiện nay, ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển về lâu dài ở học sinh Ý tưởng về các bài học trong chương trình nhìn chung có tính “động” nhiều hơn tính
“tĩnh”, với sự chú trọng các hoạt động trao đổi, tương tác, chia sẻ, thực hành, trải nghiệm, vận dụng và các hoạt động học giàu tính trực quan… Điều này thống nhất với quan điểm
kiến tạo trong giáo dục: học sinh là người tự kiến tạo nên tri thức mới cho bản thân dựa
vào kiến thức, kinh nghiệm sẵn có, thông qua trao đổi, tương tác với thầy cô, bạn học và các hoạt động thực hành, trải nghiệm (Beck & Kosnick, 2006; Piaget, 1936; Vygotsky, 1978) Quan điểm kiến tạo được thừa nhận rộng rãi là quan điểm nền tảng cho các hoạt động đổi mới giáo dục trên thế giới
- Chương trình các môn học nhìn chung là phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và có sự tương thích nhất định với chương trình giáo dục của Bộ GD-ĐT Điều này thể hiện qua tên của nhiều môn học (Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên – Xã hội, Đạo đức, Âm nhạc, Mỹ thuật…) và nội dung ở nhiều bài học được
Trang 5thiết kế trong chương trình các môn học cụ thể Cách thiết kế bài học đã cho thấy việc hướng tới sự thúc đẩy sự sáng tạo ở người dạy và người học
- Việc đưa ra các môn học khá mới mẻ so với nhiều trường khác như Văn hóa Việt, Viet skills, Khám phá STEAM đã cho thấy khả năng đi trước đón đầu thực tiễn của nhà trường,
sự chú trọng phát triển các kĩ năng hơn chỉ đơn thuần là kiến thức, đồng thời phát triển, giáo dục cả các giá trị truyền thống cho học sinh ngay từ lứa tuổi đầu cấp đã thể hiện quan điểm giáo dục sâu sắc, hiện đại của nhà trường
II Một số vấn đề cần trao đổi
Đối với 8 môn học: (1) Đạo đức, (2) Tự nhiên Xã hội, (3) Vietskills, (4) STEAM, (5) Tiếng Việt, (6) Văn hóa Việt, (7) Mỹ thuật, (8) Giáo dục Thể chất
1 Những vấn đề chung
a Về cách trình bày chung của 8 cuốn chương trình
- Thiếu mục lục, thiếu số trang Mục lục và số trang là yếu tố không thể thiếu trong trình bày các tài liệu nói chung, tạo nên tính khoa học và rõ ràng trong phần trình bày, giúp người đọc dễ đọc, dễ tìm và dễ hình dung ra cấu trúc của cuốn sách Do đó, các cuốn chương trình này cần được bổ sung mục lục và số trang
- Thông tin về trường, gồm tên trường, địa chỉ, số điện thoại…, không nên để thành header cho mỗi trang như vậy mà nên để hẳn vào phần nội dung thuộc phần giới thiệu chung về nhà trường, có thể cho vào phần I “Hệ thống giáo dục Vietschool” có thể cho vào phần footer của mỗi trang sách, nếu cần Header nên là tên của cuốn sách (cuốn tài liệu)
- Chưa có sự thống nhất trong trình bày, cấu trúc thể hiện giữa 8 cuốn sách Điều này khiến cho việc thể hiện rõ sự thống nhất giữa chương trình ý tưởng (ideal curriculum) với chương trình hình thức (formal curriculum) bị hạn chế rất nhiều, và khả năng sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình (implemented curriculum) và kết quả thực hiện chương trình (attained curriculum) Nên điều chỉnh để có sự thống nhất về format và cấu trúc trình bày giữa các cuốn tài liệu chương trình
- Thiếu sự liên hệ đến định hướng xây dựng chương trình của Bộ GD-ĐT, đặc biệt là quan điểm xây dựng chương trình theo định hướng phát triển năng lực học sinh Việc liên hệ đến định hướng, quan điểm xây dựng chương trình của Bộ GD-ĐT trong các chương trình
Trang 6của Vietschool sẽ giúp cho ý tưởng thực hiện và thống nhất với chương trình của Bộ
GD-ĐT mà Vietschool nhấn mạnh sẽ trở nên rõ ràng hơn Hiện nay, định hướng xây dựng chương trình theo tiếp cận phát triển năng lực mà Bộ GD-ĐT đề ra khá mờ nhạt trong thể hiện chương trình của Vietschool
- Cách tiếp cận bài học ở những phần biên soạn cụ thể vẫn chưa phản ánh rõ nét quan điểm đồng kiến tạo và định hướng phát triển năng lực học sinh Nên có các bài soạn cụ thể minh họa để làm mẫu cho giáo viên (với mỗi môn học) theo template của chính nhà trường Nếu cần, đưa ra sự phân tích đối với cách tiếp cận/thiết kế của bài học đó trong việc giúp HS đạt được yêu cầu/mục tiêu Vietschool đề ra
- Còn nhiều lỗi sai về đánh máy, font chữ
b Phần I: Giới thiệu chung về chương trình giáo dục Vietschool
- Phần giới thiệu chung về chương trình giáo dục Vietschool được cho vào tất cả các cuốn chương trình, do đó, những nhận xét được ghi rõ trong cuốn Đạo đức có thể áp dụng cho
phần này ở tất cả các cuốn
- Nên có bổ sung ngắn gọn một số thông tin liên quan đến nhà trường (background), ví dụ: cơ sở của việc thành lập trường, lí giải ý nghĩa của việc đặt tên trường, tên, địa chỉ trường… Điều này giúp có sự kết nối rõ ràng hơn giữa các yếu tố tinh thần với yếu tố vật chất liên quan đến việc xây dựng, tổ chức nhà trường và hoạt động thực hành giáo dục
- Về mục I.1: Sứ mệnh và tầm nhìn
+ Sứ mệnh của nhà trường được viết là “Nâng đỡ và phát triển con người”, cách diễn đạt
hơi chung chung và to tát, vì sứ mệnh nhà trường phải gắn liền với chức năng chính của nhà trường Trong khi đó, chức năng chính của nhà trường là chức năng giáo dục học sinh
Do đó, nên chăng người biên soạn tìm cách diễn đạt lại để cho phù hợp hơn Trong sứ mệnh, có thể nhấn mạnh đường lối tiếp cận giáo dục hoặc đầu ra giáo dục (sản phẩm) mà nhà trường hướng tới Ví dụ: Tạo ra những học sinh có năng lực và hạnh phúc, hoặc Giáo dục học sinh trở thành những con người sáng tạo và hạnh phúc, hoặc Phát triển/giáo dục học sinh trở thành những công dân toàn cầu… Cần có sự giải thích (ngắn gọn) lí do tại sao
có sự lựa chọn sứ mệnh như vậy Hiện nay, trong tài liệu mới chỉ đưa ra slogan nhưng
Trang 7thiếu sự giải thích vì sao lại có ý tưởng về sứ mệnh như vậy Sự lí giải sẽ giúp cho người đọc hiểu rõ tư tưởng của người thành lập, xây dựng trường hơn
+ Tầm nhìn của Vietschool là “Trở thành địa chỉ giáo dục đầu tiên mà các bậc cha mẹ Việt
nghĩ đến khi có con ở tuổi đến trường” Cách diễn đạt như thế này có thể hơi khó để đánh giá, đo lường, kiểm chứng Làm thế nào đo được điều người khác nghĩ? Làm thế nào
để biết được sẽ trở thành “địa chỉ giáo dục đầu tiên” được nghĩ đến? Hơn nữa, chỉ nghĩ
đến thôi mà không lựa chọn thì cũng không phải là một điều hay Rồi tại sao lại giới hạn chỉ dành cho cha mẹ Việt mà không phải là cả cha mẹ nước ngoài? Trong khi xu thế hiện nay, ngày càng có nhiều người ngoại quốc đến làm việc và sinh sống ở Việt Nam, đặc biệt
là ở Hà Nội, và xu hướng chung của các trường tư thục hiện nay là xu hướng mở và có khả năng phát triển thành liên cấp, nhiều chương trình, trong đó không chỉ có chương trình Việt Nam, song ngữ, mà còn là chương trình quốc tế… Như vậy, đối tượng phụ huynh học sinh cũng đa dạng hơn nhiều Do đó, nên chăng thay từ “cha mẹ Việt” bằng “phụ huynh học sinh” để hướng đến sự phát triển, mở rộng sau này của nhà trường, có khả năng định hướng hoạt động cho cán bộ nhân viên trong trường Để có thể dễ dàng đánh giá, đo lường về sau, tầm nhìn nên cần diễn đạt lại sao cho hợp lí hơn Ví dụ: Trở thành địa chỉ giáo dục uy tín (nhất) được nhiều phụ huynh học sinh tin tưởng và tìm đến (nhất) khi có con ở tuổi đến trường
+ Câu văn thứ hai ở mục Sứ mệnh – Tầm nhìn: “Để hiện thực hóa Sứ mệnh – Tầm nhìn
này, Vietschool tập trung xây dựng nền tảng tinh thần, đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ giáo
viên, dịch vụ học đường… để tổ chức có hệ thống các trải nghiệm giáo dục, các hoạt động
dạy và học, tạo môi trường và điều kiện cho các em học sinh tự học, tự trưởng thành, tự tạo ra chính mình, trên một tinh thần nhất quán: Con người tự do là đích đến của giáo dục” có cách diễn đạt chưa thật ổn khi dùng đến hai từ nối chỉ mục đích (từ “để”) trong cùng một câu Cách dùng câu dài như vậy tạo cảm giác đọc thấy rườm rà, khó hiểu Nên diễn đạt lại cho ngắn gọn, xúc tích hơn bằng cách tách thành các câu nhỏ hơn
+ Cụm từ “tự tạo ra chính mình” có thể gây khó hiểu, vì sẽ có ý kiến cho rằng học sinh không thể tự tạo ra chính mình nhưng các em có thể tự phát triển mình, tự khẳng định mình, làm chủ cuộc đời mình
Trang 8+ Cách dùng câu: “Con người tự do là đích đến của giáo dục” cũng có thể được hiểu như
là một slogan, châm ngôn giáo dục của Vietschool Việc sử dụng nhiều cách diễn đạt như vậy khiến cho người đọc có cảm giác là hơi nhiều slogan, khẩu hiệu, dẫn đến việc bị rối khi ghi nhớ những luận điểm chính của Vietschool Câu này có thể dùng hoặc tích hợp nội dung để trở thành câu nói về sứ mệnh của nhà trường Bên cạnh đó, khái niệm “con người
tự do” cũng cần phải được làm rõ, vì nếu không sẽ bị hiểu nhầm và khó được chấp nhận với bối cảnh khá nhạy cảm về chính trị như ở Việt Nam Con người tự do có phải là con người thích làm gì thì làm, thích nói gì thì nói, vô tổ chức, không tuân thủ quy tắc, nội quy, quy định… hay là con người như thế nào? Ủng hộ “Con người tự do” liệu có khuyến khích con người trở nên nổi loạn và coi cái tôi của mình là trên hết không? Học sinh của Vietschool có được xăm mình, nhuộm tóc xanh đỏ tím vàng và tự do trong cách ăn mặc, xưng hô không? Học sinh có được phép để chân lên bàn trong khi học không? “Con người
tự do là đích đến của giáo dục” được coi là tinh thần giáo dục của Vietschool, tuy nhiên, chưa thể hiện rõ được sự thống nhất, kết nối với tư tưởng của chương trình giáo dục đổi mới do Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành Điều này nên được làm rõ trong chương trình giáo dục của Vietschool, để cho thấy sự phù hợp hoặc không đi ngược của chương trình nhà trường với chương trình của Bộ GD-ĐT Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ GD-ĐT là hướng đến phát triển con người có năng lực, nhấn mạnh năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề Đây là cũng là quan điểm mà xu hướng giáo dục trên thế giới hiện nay chú trọng và có cơ sở khoa học rõ ràng Do đó, trong phần nền tảng tinh thần của Vietschool nên có sự kết nối với những vấn đề, quan điểm về phát triển năng lực người học
- Về mục I.2 - Triết lí giáo dục: Cách viết hơi vắn tắt nên sẽ khó hiểu với người đọc Do đó,
nên chăng cần có sự đầu tư hơn, viết rõ ràng, chi tiết hơn để người đọc hoặc người thực hiện chương trình dễ thẩm thấu và làm việc nhất quán hơn Triết lý giáo dục của Vietschool được viết là “Đào tạo con người tự do, có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc sống” không thể hiện rõ như một câu nói triết lí mà phù hợp hơn với cách diễn đạt nói về sứ mệnh hoặc mục tiêu giáo dục Triết lí giáo dục của Vietschool dường như thống nhất với triết lí giáo dục thực dụng của John Dewey (1916) – một trong những nhà tiên phong của thuyết kiến tạo - và tư tưởng khai phóng con người (ông luôn chú trọng việc
Học để LÀM gì? hơn là Học để BIẾT gì?), do đó, cách diễn đạt nên hướng về những điều
Trang 9đó Có thể diễn đạt ngắn gọn và sau đó có sự lí giải rõ ràng tại sao lại đi theo quan điểm, triết lí đó (dựa vào đâu) (Triết lí giáo dục thực dụng của John Dewey nhấn mạnh học là một quá trình, phải vận dụng được vào trong cuộc sống và thay đổi con người một cách tích cực)
- Về mục I.3 - Giá trị cốt lõi: Người biên soạn nói đến 4 giá trị phổ quát: Chân – Thiện – Mỹ
- Hòa Ở đây, nếu đưa ra được một bảng giá trị cùng với các tiêu chí và yêu cầu cần đạt thông qua những biểu hiện về thái độ và hành vi của học sinh thì sẽ rất thuận lợi cho những người thực hiện chương trình Cách trình bày ở phần Giá trị cốt lõi chưa thật khoa học, hợp lí, không có sự gắn kết chặt chẽ giữa các ý Ví dụ: Ba ý gạch đầu dòng sau câu giới thiệu về Giá trị cốt lõi của Vietschool được đưa ra rất đột ngột và không rõ là nói về cái gì Một ý tiếp theo dường như cũng đồng đẳng với 3 ý trên nhưng lại được thể hiện dưới dạng một đoạn văn đặc biệt (có một câu) chứ không phải là gạch đầu dòng như ở trên nữa
+ Nội dung về “Hòa” cũng được đưa ra một cách đột ngột, không theo trình tự diễn đạt ở phía trên Cách sử dụng các dấu đầu dòng cũng chưa có sự thống nhất, chưa thể hiện rõ tính phân cấp, tầng bậc, giúp người đọc hình dung ra được cấu trúc trình bày của bài viết
+ Các biểu hiện của “Chân” chưa phản ánh được hết rõ nghĩa được hiểu một cách thông dụng của “Chân” Đó là nói thật, làm thật, không tham lam, không dối trá… Các biểu hiện
cụ thể của “Chân” được đưa ra như trong tài liệu gần với những biểu hiện của tư duy phê phán (tư duy phản biện) – là một năng lực tư duy quan trọng được các nước phương Tây đẩy mạnh trong các hoạt động giáo dục nhà trường và có sự gắn kết chặt chẽ với tư duy giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo “Chân”được cho là tiêu chuẩn hướng đến của chương trình giáo dục các môn khoa học, tuy nhiên, đây lại là một nội dung rất được chú trọng trong chương môn Đạo đức sắp tới và cũng được coi là một giá trị Đạo đức Do đó, cần xem lại cách diễn đạt như trong tài liệu
+ Cách trình bày ở phần “Thiện” không thống nhất với những phần trước đó với nội dung đồng đẳng, thay vì gạch đầu dòng thì ở đây lại sử dụng các số thứ tự Cần có sự thống nhất format trình bày để đảm bảo tính khoa học
+ “Mỹ” được coi là tiêu chuẩn được hướng đến của nghệ thuật và lối sống, trong khi đó, đây cũng là một điều được hướng đến trong môn Tiếng Việt, đặc biệt là qua môn Tập đọc
Trang 10và môn Tập làm văn, với nội dung về đọc hiểu, cảm thụ văn học… Cách trình bày ở phần
“Mỹ” cũng chưa khoa học về việc sử dụng dấu đầu dòng Ngoài ra, các biểu hiện ở các giá trị khác thường là 3-4 biểu hiện, trong khi đó, “Mỹ” chỉ được đưa ra với 01 biểu hiện Điều này tạo ra sự mất cân bằng và không đầy đủ về nội dung thông tin
+ Hình sơ đồ hóa bộ giá trị cốt lõi “Chân – Thiện – Mỹ - Hòa” được thể hiện khá trừu tượng, khó hiểu, nên bỏ đi, điều chỉnh, hoặc thay đổi Ngoài ra, hình nên được đánh số thứ tự trong toàn bộ cuốn tài liệu
Nói chung, cách trình bày, diễn đạt ở phần “Giá trị cốt lõi” thiếu tính khoa học, nhất quán, cấu trúc, do đó cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp hơn (đã chỉ rõ trong cuốn Đạo đức)
và cần tuân thủ theo một cấu trúc viết Ví dụ: Nêu tên giá trị - định nghĩa, nêu cách hiểu, đưa ra các biểu hiện cụ thể và hướng đến sự vận dụng, thực hiện trong các hoạt động giáo dục, dạy học Không nên tách các giá trị ra theo từng môn học mà phải nhấn mạnh
nó được thể hiện thấm đẫm trong chương trình giáo dục của các môn học Bên cạnh đó,
cần có sự bổ sung hoặc kết nối với những giá trị mà chương trình giáo dục mới chú trọng
để hình thành và phát triển cho học sinh
- Về mục I.4 - Mô hình giáo dục: Cách diễn đạt “Khai mở nhân tính – Giải phóng tiềm năng”
chưa thực sự phù hợp cho cách diễn đạt về mô hình giáo dục Cách diễn đạt như vậy có thể sẽ phù hợp sứ mệnh giáo dục hơn Cách chọn cụm từ với nhiều từ Hán Việt như vậy khá lạc tông so với ngôn ngữ diễn đạt chung được sử dụng trong toàn cuốn tài liệu và vi phạm nguyên tắc về tính nhất quán trong việc trình bày, sử dụng thuật ngữ, có sự trộn lẫn Đông – Tây chưa thật nhuần nhuyễn Ngoài ra, “Khai mở nhân tính – Giải phóng tiềm
năng” chưa thể coi là một định nghĩa về mô hình giáo dục Có chăng, đó là mục tiêu của
mô hình giáo dục Tuy nhiên, ở mỗi phần, cách đưa ra các khẩu hiệu như vậy dễ khiến cho người đọc bị bội thực vì khẩu hiệu (slogan), làm cho chương trình trở nên rắc rối hơn và rất khó kiểm soát, đánh giá sản phẩm đầu ra sau này Việc sử dụng quá nhiều khẩu hiệu thực sự không phù hợp với một ngôi trường năng động, hiện đại, giàu tính thực tiễn Do
đó, nên tìm cách diễn đạt lại thật uyển chuyển và thống nhất giữa các nội dung và mang hơi thở của thời hiện đại bằng cách hạn chế sử dụng từ ngữ Hán Việt (Ở đây có lỗi chính
tả, “tiềm năng” bị viết thành “tiềm năm”)
Trang 11+ Cần có sự lưu tâm trong việc sử dụng, trình bày về “Giáo dục khai phóng” để tránh có
sự hiểu lầm với cơ quan có thẩm quyền trong việc thẩm định chương trình nhà trường (có sự nhạy cảm nhất định về chính trị) Bức hình minh họa cho “giáo dục khai phóng” không phù hợp với nội hàm của cụm từ này Các nội dung diễn giải cho “Khai mở nhân tính” thống nhất với triết lí giáo dục học thực dụng của John Dewey Tuy nhiên, cách diễn đạt ở đây cũng tương đối “đao to búa lớn” Với bậc tiểu học, nên chọn cách diễn đạt gần gũi, dễ hiểu và có tính khoa học
+ “Giải phóng tiềm năng”: nên dựa vào chương trình giáo dục năm 2018 của Bộ GD-ĐT để
có sự diễn đạt cho thống nhất, thể hiện sự tương thích của chương trình Vietschool với chương trình của Bộ GD-ĐT Điều này sẽ giúp cho chương trình của Vietschool dễ được chấp nhận hơn và phụ huynh học sinh có thể tin tưởng vào “study path” cho con mình khi theo học ở đây (vẫn có thể theo học ở các trường bên ngoài, nếu cần, mà không sợ con mình bị lệch, không theo kịp vì không có sự tương đồng trong cách giáo dục)
+ Về Xây dựng chương trình cá nhân hóa giáo dục V.I.E.T: cần lưu ý đến việc đánh giá, kiểm định, làm thế nào để biết được học sinh nào có những thế mạnh nào Nên có cách đặt tên thống nhất dành cho các loại người học: Thinkers, Leaders (thay vì Viet leaders), Innovators, Entrepreneurs Cách sắp xếp cũng cần theo trình tự các chữ cái của VIET: Viet leaders – Innovators – Entrepreneurs – Thinkers Cách sắp xếp đối tượng học sinh theo cá nhân hóa giáo dục dựa trên 4 giá trị Chân – Thiện – Mỹ - Hòa không thật xác đáng Cụ thể,
sẽ có ý kiến cho rằng người làm lãnh đạo phải có khả năng thu phục lòng người, làm cho tập thể hòa hợp thay vì xung đột, mâu thuẫn Do đó, học sinh nào mạnh về Hòa, tức khả năng làm việc nhóm, thì sẽ được bồi dưỡng các kĩ năng để trở thành người có năng lực lãnh đạo (Leaders) hơn là làm quản trị kinh doanh (Entreprenueurs) Nhìn chung, để 4 giá trị Chân – Thiện – Mỹ - Hòa để cá nhân hóa việc bồi dưỡng học sinh dường như không phù hợp bằng việc dựa vào năng lực để đánh giá, bao gồm các năng lực: tư duy phản biện (Thinkers), năng lực sáng tạo, đổi mới (Innovators), năng lực lãnh đạo và giải quyết vấn
đề (Leaders/ Problem solvers), năng lực hợp tác…, vốn là những năng lực đang được hết sức chú trọng trong chương trình GD-ĐT của Bộ Việc sắp xếp dựa theo năng lực thay vì dựa trên giá trị phổ quát như thế thể hiện rõ sự thống nhất và ủng hộ cách tiếp cận giáo dục mà Bộ GD-ĐT đưa ra đồng thời thống nhất với quan điểm của thuyết đa trí tuệ Chân – Thiện – Mỹ - Hòa nên là 4 giá trị bao trùm và hòa quyện trong nhiều chương trình, dự
Trang 12án, hoạt động giáo dục, thay vì tách bạch ra thành riêng lẻ Nên dùng thống nhất thuật ngữ “năng lực” thay cho “kĩ năng” trong nhiều trường hợp, nhằm thể hiện sự thống nhất của chương trình Vietschool với chương trình giáo dục của Bộ GD-ĐT
+ Hình minh họa cho Chương trình cá nhân hóa giáo dục thông qua các dự án cá nhân của Vietschool chưa thật rõ nét cho ý tưởng và chưa thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần trong chúng Nên có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn
+ Về “Cá nhân hóa phương pháp sư phạm”: xem xét lại cách diễn đạt “trải nghiệm kiến thức” Trong quá trình diễn đạt câu, cần xác định ai là đối tượng của chủ thể hành động
để có thể có cách diễn đạt thống nhất, tránh lầm lẫn vai trò, hoạt động của giáo viên và học sinh
+ Có 2 trang bị lặp lại nội dung, cần bỏ đi hoặc xem lại (trang nằm kế tiếp nội dung Cá nhân hóa phương pháp sư phạm)
- Về mục I.5 – Phương pháp giáo dục:
+ Cách gọi “Đồng kiến tạo” là phương pháp giáo dục chưa thật phù hợp Đây thường được coi là quan điểm giáo dục ( từ góc độ lí luận) hoặc cách tiếp cận giáo dục (từ góc độ thực hành) Cần thể hiện được rõ 5 nguyên lí của lối kiến tạo xã hội được đông đảo các nhà nghiên cứu, giáo dục thừa nhận, được trình bày trong trích dẫn dưới đây về giáo dục, dạy học theo quan điểm kiến tạo xã hội:
Giáo dục theo quan điểm KTXH có tính phức hợp cao Theo các nhà khoa học, quan điểm KTXH về hoạt động học có 5 nguyên lí chính (Beck & Kosnick, 2006), đó là:
i Hoạt động học có tính xã hội (Learning is social): Nguyên lí này là đặc trưng cơ
bản của quan điểm KTXH, phân biệt nó rõ ràng với quan điểm kiến tạo nhận thức Cho dù Piaget cũng nhấn mạnh đến yếu tố xã hội nhưng Vygotsky và các nhà KTXH
về sau đã phát triển yếu tố này theo một hướng khác Cũng giống như Piaget, các nhà KTXH lưu tâm đến tầm quan trọng của các hoạt động tương tác, đối thoại, trao đổi trong quá trình kiến tạo tri thức nhưng họ nhấn mạnh đến hoạt động đối thoại, tương tác cụ thể giữa GV với HS Họ coi trọng việc GV kích thích HS học tập trong vùng phát triển nhận thức gần của HS Không chỉ có thế, các nhà KTXH đã cho thấy
Trang 13những ảnh hưởng trực tiếp của ngôn ngữ và văn hóa lên người học, những ảnh hưởng mà theo họ thường diễn ra không có sự tham gia của hoạt động đối thoại và vượt ra khỏi sự kiểm soát nhận thức của HS Theo nhiều nhà KTXH, bối cảnh văn hóa xã hội có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành tri thức ở HS, do đó, nhiều người trong số họ tập trung đặc biệt vào vai trò của “cộng đồng học tập” Một cộng đồng học tập cởi mở được xây dựng tốt có thể mang đến những ảnh hưởng tích cực đến người học, ví dụ như tạo ra những hỗ trợ về mặt cảm xúc, xã hội, do đó, làm cho người học có tinh thần tự chủ trong học tập cao hơn Các nhà KTXH cho rằng, trường học hay lớp học cần là một môi trường được thanh lọc sao cho đảm bảo được tính
xã hội, an toàn cá nhân, và kích thích sự phát triển hơn chỉ là nơi để trải nghiệm Các nhà KTXH chủ trương xây dựng những môi trường học tập không chỉ nuôi dưỡng và hỗ trợ HS phát triển nhận thức mà còn thu hút các em tham gia vào các
hoạt động tư duy phê phán Trong phạm vi lớp học, nguyên lí Hoạt động học có tính
xã hội đòi hỏi HS học tập trong sự tương tác với GV hay với bạn của mình và tích
cực chia sẻ ý kiến với nhau Do đó, hình thức học nhóm lớp và nhóm nhỏ hợp tác được đề cao và đưa vào vận dụng
ii Kiến thức được xây dựng dựa trên sự trải nghiệm/kinh nghiệm của người học (Knowledge is experience-based): Nguyên lí này được hiểu là kinh nghiệm/trải
nghiệm sẵn có của người học chính là “tài nguyên” cần được khai thác và làm giàu lên qua hoạt động học, giúp thúc đẩy hoạt động học của HS Nhiều nhà khoa học
đã khẳng định, HS trước khi đến lớp đã có một kho kiến thức, kinh nghiệm sẵn có liên quan đến nội dung bài học và những kiến thức đó thường cụ thể, mang tính trực quan cảm tính do nó được hình thành qua các hoạt động sống hàng ngày của các em Trong khi đó, những kiến thức lí thuyết trong sách vở thường mang tính trừu tượng, khái quát cao, khó có thể áp dụng ngay vào trong cuộc sống hàng ngày của HS Để giúp các kiến thức trong sách vở phát huy được giá trị với HS, chúng cần được kết nối với những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có ở các em, để các em có thể vận dụng chúng vào trong thực tế Do đó, trong một giờ học KTXH, GV thường bắt đầu giờ học từ HS với sự khai thác cái đã biết ở các em chứ không phải bắt đầu từ chính bản thân mình hay từ những kiến thức lí thuyết trừu tượng trong sách giáo khoa vốn xa lạ, khó hiểu đối với HS Với sự liên hệ, sử dụng những kiến thức, kinh
Trang 14nghiệm sẵn có ở HS, GV giúp cho hoạt động của giờ học trở nên sống động, gần gũi với các em hơn, đồng thời điều này cũng có thể khiến cho các em có thể trở nên tự tin, mạnh dạn, chú ý hơn trong khi học
iii Kiến thức được kiến tạo bởi chính người học (Knowledge is constructed by learners): John Dewey từng nói với ý rằng DH không phải là chuyện nói và được
nghe nói, mà là quá trình mang tính kiến tạo và tích cực Ngay cả khi chúng ta dùng kiến thức của ai đó, chúng ta cũng có khuynh hướng xử lí và điều chỉnh nó cho hợp với nhận thức của mình hơn là lắp ráp nguyên si nó vào trong não bộ của mình Chúng ta không thể tiếp nhận những kiến thức mới mà không kết nối chúng với những khái niệm đã có trong đầu Các kiến thức không chuyển từ bộ óc này sang
bộ óc khác như sự chuyển rời cơ học của đồ vật mà không có bất kì sự thay đổi nào diễn ra Hoạt động kiến tạo tri thức là phù hợp với cấu trúc nhận thức của từng cá nhân Theo nguyên lí này, để HS có thể thực hiện các hoạt động kiến tạo một cách hiệu quả, đòi hỏi các em cần được “nhấn chìm” vào những bối cảnh học tập có tính thực tế, giàu trải nghiệm, ở đó HS có thể đào sâu, lí giải lại những trải nghiệm, kiến thức của mình, kiểm tra sự lí giải ấy thông qua các hoạt động thực hành, thảo luận, tranh luận để từ đó có thể tự đi đến được ý nghĩa của nội dung bài học
iv Tất cả các khía cạnh của con người đều được kết nối với nhau trong hoạt động học (All aspects of a person are connected): Đây là một giá trị nổi bật của DH theo
lối KTXH Theo quan điểm KTXH, tri thức không chỉ phụ thuộc vào các tương tác xã hội mà còn phụ thuộc vào tất cả các khía cạnh của con người cá nhân, bao gồm: thái độ, cảm xúc, giá trị, hành động, nhân sinh quan, thế giới quan… và tất cả những thứ đó tạo thành một chỉnh thể con người của HS Do đó, việc học gắn liền với một bối cảnh, tình huống cụ thể rất quan trọng để qua đó, HS có thể bộc lộ và sử dụng những khía cạnh của con người mình vào trong việc học và phát triển chúng Nguyên lí này đòi hỏi thái độ, cảm xúc, giá trị, hành động… của HS cần được kết nối với nhau trong khi học để thúc đẩy hoạt động học HS được phép, được khuyến khích bày tỏ những ý kiến riêng, bộc lộ những thái độ, cảm xúc cá nhân của mình trong quá trình tham gia học tập Các em được khuyến khích và phát triển các thái
Trang 15độ như tò mò, quan tâm, hứng thú, thậm chí là cả hoài nghi… liên quan đến nội dung bài học
v Các cộng đồng học tập nên tham gia và bình đẳng với nhau (Learning communities should be inclusive and equitable): Nguyên lí này đòi hỏi những cộng
đồng học tập ngoài nhà trường như gia đình, nhà máy, xí nghiệp, câu lạc bộ… đều cần tham gia vào hoạt động DH và chúng bình đẳng với nhau về vai trò trong việc thúc đẩy, hỗ trợ hoạt động học ở HS Đồng thời, nguyên lí này thể hiện mối quan
hệ dân chủ, bình đẳng trong mối quan hệ giữa GV và HS, giữa HS và HS trong các hoạt động diễn ra trên lớp Trong lớp học, GV không phải là vị vua, người bề trên với quyền lực tối cao có thể áp đặt mọi điều đến HS mà là người hỗ trợ, giám sát hoạt động học của HS, thân thiện, cởi mở với HS trong giao tiếp
(Ngô Vũ Thu Hằng, 2018)
+ Cách diễn đạt “Phương pháp Đồng kiến tạo dưới 5 bước cụ thể” nên được diễn đạt là
“Quy trình dạy học theo lối kiến tạo với 5 bước cụ thể” Thay vì tập trung vào hoạt động dạy của giáo viên nên tập trung vào hoạt động học của học sinh Vì theo quy trình tập
trung vào hoạt động dạy của giáo viên như trong tài liệu, Bước 3 – Trải nghiệm và thực hành và Bước 4 – Tạo ra sản phẩm lại phù hợp với hoạt động học của học sinh hơn Cách
tiếp cận dạy học theo quan điểm kiến tạo có sự chú trọng đến hình thành động cơ học tập cho học sinh, do đó nó thường gắn với phương pháp Phát hiện và giải quyết vấn đề,
ở đó, hoạt động học tương tác, thực hành, và kinh nghiệm, kiến thức sẵn có của học sinh hết sức được chú trọng và đẩy mạnh
+ Hình minh họa Phương pháp giáo dục Đồng kiến tạo thiếu đánh số thứ tự, được thể hiện khá khó hiểu, và cách thể hiện không thống nhất với mô tả ở trang trước Do đó cần xem xét lại và có cách thể hiện phù hợp hơn, thể hiện được rõ nội hàm đã được mô tả
- Về mục I.6 – Văn hóa và kỷ luật học đường:
+ Không cần viết hoa chữ “Nhà” trong “Nhà trường”
+ Cách định nghĩa: “văn hóa học đường là văn hóa sống và làm việc xuất phát ra từ bên trong mỗi người” chưa phù hợp vì “văn hóa sống và làm việc xuất phát ra từ bên trong
Trang 16mỗi người” không chỉ là văn hóa học đường Cần có cách định nghĩa lại rõ ràng hơn về văn hóa học đường
+ Cách diễn đạt: “Văn hóa học đường là bản sắc văn hóa của Vietschool” khá tối nghĩa vì văn hóa học đường phải là văn hóa gắn liền với các hoạt động của nhà trường, do đó, chỉ
có thể nói văn hóa học đường được Vietschool rất chú trọng, tập trung vào các yếu tố: Chủ động, chân thật, chính trực, bao dung Tuy nhiên, cũng cần có sự lí giải tại sao lại là 4 yếu tố này mà không phải là các yếu tố khác Ken Robinson, nhà giáo dục đương đại người
Mỹ, cho rằng có 3 yếu tố đưa nhân loại phát triển đến ngày hôm nay Đó là sự tò mò, đa dạng, và sáng tạo Vậy tại sao 3 yếu tố này không nằm trong những yếu tố cần được chú trọng của Vietschool? Bên cạnh đó, chân thật và chính trực là hai giá trị khá gần gũi với nhau, tạo ra cảm giác trùng lặp, trong khi đó còn có những giá trị quan trọng khác nữa cũng liên quan đến văn hóa văn minh, hiện đại, chẳng hạn như: lịch sự, tôn trọng, nhân
ái, tích cực, chăm chỉ…
+ Hình minh họa cho Cấu trúc văn hóa học đường tại Vietschool cũng chưa thể hiện được
tính biện chứng trong mối quan hệ giữa các yếu tố Bên cạnh đó, người đọc có thể sẽ cảm thấy khó hiểu tại sao chủ động lại được xếp là yếu tố phát triển “chân” hoặc “hòa”…
+ Kỷ luật học đường: cũng cần được thể hiện gắn với hệ thống những hoạt động quản lí hành vi học sinh mà ở đó có những cách thức, cấp độ xử lí tương ứng với những hành vi chưa đúng mực (với cả học sinh và giáo viên, nếu cần)
+ Việc đưa ra các yếu tố: Trách nhiệm – Đúng giờ - Giữ lời – Tôn trọng người khác mà
không có sự lí giải cụ thể cũng dễ khiến người đọc băn khoăn, thắc mắc: Tại sao lại là
những yếu tố đó mà không phải là những yếu tố khác? Chẳng hạn như Chăm chỉ, Sạch sẽ, Thân thiện, Đoàn kết, Tử tế… Bên cạnh đó, có thể có câu hỏi nảy sinh như: 4 yếu tố của
Kỷ luật học đường có phải là văn hóa học đường mà Vietschool muốn hướng đến không? Nếu vậy, tại sao không xếp chúng vào Văn hóa học đường?
+ Có lỗi đánh máy: áp đặt được viết thành áp đạt
+ Hình minh họa thể hiện Cấu trúc học đường tại Vietschool cũng bị thiếu số thứ tự để
định vị và chưa thật thuyết phục Tại sao đúng giờ chứ không phải tử tế là hướng đến thiện, tại sao giữ lời lại là hướng đến mỹ, tại sao trách nhiệm lại là hướng đến chân? Cơ
Trang 17sở nào mà có sự sắp xếp như vậy và giữa chúng có mối liên hệ như thế nào… là những nội dung chưa được thể hiện rõ
- Về mục I.7 – Mục tiêu giáo dục:
+ Đặt ở phần cuối cùng của phần giới thiệu chung về chương trình giáo dục Vietschool là chưa phù hợp, tạo nên sự không hợp lý trong cấu trúc trình bày Mục tiêu giáo dục cần được đặt trước Mô hình giáo dục, Cách tiếp cận (hay phương pháp) giáo dục vì mục tiêu
là yếu tố chi phối trong việc lựa chọn mô hình và thực hiện cách tiếp cận giáo dục, phương pháp dạy học Nó là kim chỉ nam cho các hoạt động diễn ra trong nhà trường
+ Cách diễn đạt về mục tiêu giáo dục chưa thật rõ ràng, dễ đọc và có sự trùng lặp với cách diễn đạt triết lý giáo dục của Vietschool Cách làm như vậy khiến cho các khái niệm đưa
ra bị rối và chưa thể hiện rõ tính cấu trúc, mối quan hệ giữa các thành phần trong việc xây dựng chương trình Khi đã xác định mục tiêu giáo dục cụ thể được quy định bởi chương trình giáo dục quốc gia, cần có sự trình bày các mục tiêu cụ thể đó và thể hiện được rõ sự thống nhất với mục tiêu của chương trình giáo dục quốc gia Sau khi đã diễn đạt mục tiêu
rõ ràng, không cần phải viết thêm “Đó là hình mẫu người Vietschool, cũng là mục tiêu giáo dục mà Vietschool hướng đến” Cách viết như vậy khiến đoạn văn bị rối rắm, trở nên luẩn quẩn Nên bỏ đi hoặc diễn đạt lại
+ Mục tiêu giáo dục cũng như triết lý giáo dục của Vietschool mới nhấn mạnh đến con người có khả năng sống tốt và phát triển tốt bản thân, vì mình là chủ yếu, mà chưa thấy
có sự hướng đến đóng góp cho cộng đồng, xã hội chung (vì người khác, vì mọi người) Trong khi đó, việc giáo dục con người không chỉ có khả năng phát triển tốt bản thân mà còn có khả năng đóng góp cho xã hội lại là một khía cạnh được chú trọng trong nhiều chương trình giáo dục đổi mới hiện nay Điều này xuất phát từ thực tiễn đang ngày càng
có nhiều những mối nguy cơ, bất an và đe dọa Do đó, để có được sự phát triển bền vững của cuộc sống nói chung cần có ý thức đóng góp cho cộng đồng ở từng cá nhân con người
+ Cách so sánh mỗi người Vietschool là một ngôi nhà cần phải xem xét lại vì có sự khá bất hợp lí: mỗi con người Vietschool được so sánh như một ngôi nhà trong khi đó mái nhà lại
là con người tự do, trong khi đó mái nhà chỉ là một bộ phận của ngôi nhà Trong khi đó, con người là sự tổng hợp và hài hòa của các yếu tố như: thể chất, tình cảm, nhận thức, thái độ, hành vi Phát triển toàn diện con người với các yếu tố trên cũng được nhận thấy
Trang 18qua chương trình giáo dục các môn học của Vietschool, do đó, hình mẫu con người của Vietschool nên chăng là:
o Khỏe mạnh, cân đối về thể chất
o Biết yêu thương, giúp đỡ, đồng cảm với người, vật có hoàn cảnh khó khăn
o Có năng lực tư duy (óc phân tích, phản biện, sáng tạo…) và năng lực thẩm mĩ
o Có thái độ sống tích cực: trách nhiệm, trung thực, chủ động, tôn trọng, hướng thiện
o Hành vi: có khả năng lãnh đạo bản thân, làm chủ cuộc sống, đóng góp cho cộng đồng
- Về mục I.8 – Đội ngũ giáo viên:
+ Thông tin đưa ra hơi ít Cần chi tiết và cụ thể hơn Nên hướng đến chuẩn năng lực nghề nghiệp của giáo viên để mô tả đặc điểm của người giáo viên ở Vietschool
+ Lỗi chính tả: không chỉ bị viết là không chủ
- Thiếu nội dung hoạt động kiểm tra đánh giá
c Phần II: Bố cục chương trình và danh mục môn học
- Hệ Việt: Cách diễn đạt “tạo ra những thế hệ học sinh không chỉ xuất sắc về năng lực và học thuật” có lẽ cần diễn đạt lại cho phù hợp hơn vì đây là một mục tiêu rất cao và không
dễ đạt được Việc xác định mục tiêu như thế này dẫn tới suy nghĩ cần xây dựng cách kiểm tra, đánh giá như thế nào để biết được học sinh xuất sắc về năng lực và học thuật Điều này có nghĩa là cần có bảng mô tả những yêu cầu cần đạt với những biểu hiện cụ thể có thể đo lường được ở học sinh, tương ứng với chuẩn đầu ra cao mà nhà trường xác định
- Cách trình bày Hệ Việt: nên có khoảng cách với heading Hệ đào tạo ở bên trên, nếu không nhìn vào có cảm giác bí, chỗ thì thưa quá, chỗ thì bí quá trong trình bày văn bản
- Về thời khóa biểu: Cần có sự lí giải về cách phân bố chương trình, bài học Cụ thể:
Với khối 1
+ Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học thông thường thường có 10-12 tiết/tuần Vietschool
có 8 tiết Cần có sự lí giải tại sao lại như vậy
Trang 19+ Môn Toán ở trường tiểu học thông thường thường có 3 tiết/tuần Vietschool có 4 tiết/tuần Cần có sự lí giải tại sao lại như vậy
+ Môn Âm nhạc và Mỹ thuật ở trường tiểu học thông thường thường có 2 tiết/2 môn/tuần Vietschool có 4 tiết/2 môn/tuần Cần có sự lí giải tại sao lại như vậy
+ Tiếng Anh ở trường tiểu học thông thường thường có 2 tiết/tuần Vietschool có 8 tiết/tuần Cần có sự lí giải tại sao lại như vậy
+ Hoạt động trải nghiệm gồm 3 tiết/tuần, trong đó có 1 tiết là sinh hoạt lớp Vietschool chỉ có 1 tiết sinh hoạt lớp cho Hoạt động trải nghiệm Cần có sự lí giải tại sao lại như vậy
- Cách trình bày Phân bố chương trình các môn học: cần có sự thống nhất trong cách trình bày, theo một format nhất định
3 Chương trình môn Đạo đức
- Cấu trúc chưa thật hợp lý Nên bao gồm các mục:
+ Căn cứ xây dựng
+ Mục tiêu
+ Yêu cầu cần đạt/chuẩn đầu ra (càng chi tiết càng tốt) Ở đây, không nên chỉ là viết lại vắn tắt triết lý giáo dục, giá trị cốt lõi như đã trình bày ở phần trước mà cần thể hiện mối quan hệ, sự chi phối của triết lí giáo dục, giá trị cốt lõi đến việc lựa chọn nội dung, phương thức dạy học Nên thành bảng chi tiết thể hiện mối quan hệ giữa các thành phần: tiêu chuẩn (đầu ra) – tiêu chí – chỉ báo – minh chứng liên quan đến kiến thức, kĩ năng, thái độ của năng lực, phẩm chất cần được hình thành qua môn Đạo đức Điều này sẽ góp phần giúp cho việc đánh giá dạy – học dễ dàng hơn, đồng thời giúp giáo viên có căn cứ vào đó
để thực hiện các hoạt động dạy học cho phù hợp
Trang 20- Chương trình Giáo dục phổ thông môn Đạo đức của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có bản chính thức, cần dựa vào bản chính thức thay cho bản dự thảo vì giữa hai bản có nhiều điểm khác nhau
- Phương pháp dạy học: dựa vào lối tiếp cận đồng kiến tạo và định hướng phát triển năng lực, theo đó, bài học nên dựa theo quy trình của dạy học giải quyết vấn đề với các hoạt động được tập trung vào hoạt động học của học sinh hơn là hoạt động dạy của giáo viên
- Phân bổ chương trình môn Đạo đức 1: nên được rà soát, đối chiếu lại với Chương trình
môn Đạo đức, Chương trình môn Tự nhiên Xã hội, Chương trình hoạt động trải nghiệm – bản chính thức của Bộ Giáo dục – Đào tạo để tránh hiện tượng có những bài bị trùng lặp quá nhiều hoặc có những bài không nằm trong chương trình Những bài dưới đây là những bài không nằm trong chương trình Đạo đức lớp 1 của Bộ Giáo dục – Đào tạo:
+ Em là học sinh lớp 1
+ Nghiêm trang khi chào cờ
+ Em và các bạn
+ Cảm ơn và xin lỗi
+ Chào hỏi và tạm biệt
+ Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng
+ Đi bộ đúng nơi quy định
- Những bài dưới đây cần xem xét, cấu trúc lại cho phù hợp với chương trình Đạo đức 1 của Bộ Giáo dục – Đào tạo gắn với các chủ đề cụ thể:
+ Đi bộ đúng quy định: trùng với môn Tự nhiên Xã hội 1
+ Bài Gọn gàng sạch sẽ (có sự trùng lặp nội dung với môn Tự nhiên Xã hội 1): có thể cho vào chủ đề Tự giác làm việc của mình, Sinh hoạt nền nếp, hay Tự chăm sóc bản thân (xem Chương trình Đạo đức 1 – bản mới được ban hành)
+ Bài Giữ gìn sách vở (có sự trùng lặp nội dung với môn Tự nhiên Xã hội 1): có thể cho vào chủ đề Tự giác làm việc của mình
Trang 21+ Bài Gia đình em, Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ (có sự trùng lặp nội dung với môn Tự nhiên Xã hội 1): có thể cho vào chủ đề Yêu thương gia đình hoặc Quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình
+ Bài Đi học đều và đúng giờ, Trật tự trong trường học, Lễ phép, vâng lời thầy cô giáo: có thể cho vào Chủ đề Thực hiện nội quy trường lớp
- Như vậy, chương trình Đạo đức 1 của Vietschool bị thiếu 2 chủ đề: Thật thà và Phòng tránh tai nạn thương tích Cần bổ sung 2 chủ đề này vào chương trình (với các bài học cụ thể hoặc bài học được thiết kế theo chủ đề)
- Phân bổ Chương trình Đạo đức 2 và 3 của Vietschool có cách trình bày rõ ràng, hợp lý
hơn so với cách trình bày Chương trình Đạo đức 1 với 5 yếu tố được đưa ra trong 1 bảng Phân phối nội dung bài học: Tuần, Bài học, Mục tiêu cần đạt, Gợi ý triển khai, Ghi chú Nên có một cách trình bày thống nhất đối với hoạt động phân bổ chương trình trong toàn các môn học của Vietschool Như vậy, người quản lí sẽ dễ giám sát và giáo viên cũng sẽ
dễ dàng thực hiện chương trình hơn
- Phân bổ Chương trình Đạo đức 2 của Vietschool nên được rà soát, đối chiếu lại với Chương trình môn Đạo đức, Chương trình môn Tự nhiên Xã hội, Chương trình hoạt động trải nghiệm – bản chính thức của Bộ Giáo dục – Đào tạo để tránh hiện tượng có những bài không nằm trong chương trình hoặc bị trùng lặp quá nhiều lần Những bài dưới đây là những bài không nằm trong chương trình Đạo đức lớp 2 của Bộ Giáo dục – Đào tạo:
+ Chăm làm việc nhà
+ Chăm chỉ học tập
+ Giữ gìn trường lớp sạch đẹp
+ Biết nói lời yêu cầu, đề nghị
+ Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại
+ Lịch sự khi đến nhà người khác
+ Giúp đỡ người khuyết tật
+ Bảo vệ loài vật có ích
Trang 22- Những bài dưới đây cần xem xét, cấu trúc lại cho phù hợp với chương trình Đạo đức 2 của Bộ Giáo dục – Đào tạo gắn với các chủ đề cụ thể:
+ Bài Học tập, sinh hoạt đúng giờ: có trùng nội dung với môn Đạo đức 1 của Vietschool (bài Đi học đều và đúng giờ) và nằm trong chủ đề Quý trọng thời gian của Đạo đức 2 (Bộ GD-ĐT)
+ Bài Gọn gàng, ngăn nắp: có trùng nội dung với môn Đạo đức 1 của Vietschool (bài Gọn gàng, sạch sẽ), trùng nội dung với môn Tự nhiên Xã hội 1 của Bộ GD-ĐT Có thể thiết kế thành bài mới dựa vào chủ đề Bảo quản đồ dùng cá nhân và gia đình trong chương trình Đạo đức 2 của Bộ GD-ĐT
+ Bài Quan tâm giúp đỡ bạn: xem chủ đề Kính trọng thầy cô giáo và yêu quý bạn bè trong chương trình Đạo đức 2 của Bộ
+ Bài Giữ trật tự vệ sinh nơi công cộng: xem chủ đề Tuân thủ quy định nơi công cộng trong chương trình Đạo đức 2 của Bộ
+ Bài Trả lại của rơi: trùng với chủ đề Thật thà trong Đạo đức 1
- Mục tiêu cần đạt: cần xem và đối chiếu với yêu cầu cần đạt trong chương trình Đạo đức
2 của Bộ
- Một số chủ đề trong chương trình của Bộ GD-ĐT bị thiếu trong chương trình Đạo đức 2 của Vietschool Cần bổ sung những bài học có nội dung thuộc chủ đề này vào trong chương trình Đạo đức 2 của Vietschool
+ Tự làm lấy việc của mình: nằm trong Đạo đức 1 của Bộ GD-ĐT
Trang 23+ Quan tâm, chăm sóc ông bà cha mẹ anh chị em: nằm trong Đạo đức 1 của Bộ
GD-ĐT
+ Chia sẻ buồn vui cùng bạn
+ Tích cực tham gia việc lớp, việc trường (xem xét để lồng vào chủ đề Tích cực hoàn thành nhiệm vụ)
+ Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế
+ Tôn trọng khách nước ngoài
+ Tôn trọng đám tang
+ Tôn trọng thư từ, tài sản của người khác
+ Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước
+ Chăm sóc cây trồng, vật nuôi
- Bài Biết ơn gia đình thương binh liệt sĩ cần lồng vào trong chủ đề Em yêu Tổ quốc Việt Nam để đầy đủ nội dung yêu cầu cần đạt
- Thiếu các chủ đề: Ham học hỏi, Tích cực hoàn thành nhiệm vụ, Khám phá bản thân, Xử
lí bất hòa với bạn bè, Tuân thủ quy tắc an toàn giao thông Cần bổ sung các chủ đề này vào trong các bài học Đạo đức 3 của Vietschool
- Gợi ý triển khai: cách viết chưa hợp lí Ví dụ: “Biết nhắc nhở…” không phải là gợi ý triển khai mà nằm trong yêu cầu cần đạt của bài học Cách viết Gợi ý triển khai và Mục tiêu cần đạt tương đối giống nhau Gợi ý triển khai nên là gợi ý về cách tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên và của học sinh Mục tiêu cần đạt nên càng cụ thể càng tốt, hoặc thể hiện dưới dạng Yêu cầu cần đạt vì Mục tiêu khó đong đo đếm một cách trực quan, rõ ràng trong khi Yêu cầu cần đạt thì có thể thể hiện được điều đó (nghe được, nhìn thấy được, đọc được, viết được…) Dựa vào đó, giáo viên có thể đánh giá quá trình và kết quả học tập của học sinh
- Cần bổ sung hoạt động Đánh giá trong Phân bổ chương trình môn học
- Cần có bài soạn minh họa sử dụng mẫu giáo án (template) đã được đưa ra
- Template giáo án: nên được viết là Mẫu giáo án
Trang 244 Chương trình môn Tự nhiên Xã hội
- Phần 1: Có ý kiến, góp ý giống như đã thể hiện ở trong chương trình môn Đạo đức (xem phần trên và tài liệu viết tay trong cuốn Phân phối chương trình môn Đạo đức)
- Phần Phân bổ chương trình Tự nhiên Xã hội: Nội dung 1, 2, 3, 4 (Thông tin chung, Yêu cầu chung, Yêu cầu với Vietschool, Căn cứ xây dựng): ý kiến, góp ý giống như đã thể hiện
ở trong chương trình môn Đạo đức (xem phần trên và tài liệu viết tay trong cuốn Phân phối chương trình môn Đạo đức)
- Phương pháp dạy học: Nên có cách trình bày, diễn đạt thống nhất giữa các môn học, cần nói rõ dựa vào lối tiếp cận đồng kiến tạo và định hướng phát triển năng lực, theo đó, bài học nên dựa theo quy trình của dạy học giải quyết vấn đề, đẩy mạnh hoạt động tương tác, thực hành, khám phá với các hoạt động được tập trung vào hoạt động học của học sinh hơn là hoạt động dạy của giáo viên
- Cần bổ sung yêu cầu cần đạt đối với năng lực cần phát triển ở học sinh qua môn Tự nhiên
Xã hội
- Cần có sự rà soát, đối chiếu lại với nội dung, bài học với các nội dung, bài học trong chương trình môn Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm và Vietskills để tránh sự trùng lặp Các bài học giữa các môn có thể gần gũi, liên quan với nhau, trợ nhau nhưng không nên là sự trùng lặp nội dung Sự trùng lặp về nội dung, bài học có thể khiến học sinh chán học, thấy giờ học tẻ nhạt vì phải học lại những nội dung cũ Trong khi đó, những thời gian đó có thể dùng để học sinh học nhiều nội dung khác ý nghĩa, cần thiết với các em
- Mục 7 – Kế hoạch phân bổ chương trình: Mối quan hệ giữa Mục tiêu cần đạt và Biểu hiện cụ thể ở một số bài vẫn còn chưa liên quan đến nhau Cần phải xây dựng lại cho hợp
lí hơn Ví dụ các bài: Cơ thể chúng ta – Mục tiêu cần đạt được diễn đạt là: Nhận ra 3 phần chính của cơ thể: đầu, mình, chân, tay và một số bộ phận bên ngoài như tóc, tai, mắt, mũi, miệng, lưng, bụng Biểu hiện cụ thể được diễn đạt là: Phân biệt được bên phải, bên trái cơ thể Trong khi đó, biểu hiện cụ thể của việc “Nhận ra 3 phần chính của cơ thể: đầu, mình, chân, tay và một số bộ phận bên ngoài như tóc, tai, mắt, mũi, miệng, lưng, bụng” phải là: Xác định/chỉ ra được trên hình vẽ người hoặc dựa trên người thật 3 phần chính
Trang 25của cơ thể và gọi tên/viết tên/điền tên các bộ phận một cách phù hợp dựa trên hình vẽ/người thật đó
Bài học của
Vietschool Ý kiến của chuyên gia
Tự nhiên Xã hội 1
Cơ thể chúng ta Cần bổ sung yêu cầu cần đạt: Xác định được tên, hoạt động
các bộ phận bên ngoài của cơ thể; phân biệt được con trai và con gái
Chúng ta đang lớn Không có trong chương trình của Bộ GD-ĐT
Nhận biết các vật
xung quanh
- Mục tiêu cần đạt hơi mỏng so với yêu cầu cần đạt theo Bộ GD-ĐT, cần bổ sung thêm
+ Nêu được tên, chức năng của các giác quan
+ Giải thích được ở mức độ đơn giản tại sao cần phải bảo vệ các giác quan
+ Thực hiện được việc làm để bảo vệ các giác quan trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt biết cách phòng tránh cận thị học đường
- Dạy trong 1 tiết là ít về thời lượng Cần xem xét lại và có thể
để thành nhiều bài học hoặc tiếp cận bài học theo chủ đề
Bảo vệ mắt và tai - Nên gộp vào chủ đề Giác quan của cơ thể
- Cần bổ sung bài vê mũi, lưỡi, da
Vệ sinh thân thể
Mục tiêu cần đạt hơi mỏng so với yêu cầu cần đạt theo Bộ GD-ĐT về chủ đề Con người và sức khỏe, cần bổ sung thêm: Chăm sóc bảo vệ răng
Trang 26Ăn uống hàng ngày - Cần bổ sung thêm về Mục tiêu cần đạt vì Yêu cầu cần đạt theo
Bộ GD-ĐT là: Nêu được số bữa cần ăn trong ngày và tên một
số thức ăn, đồ uống giúp cho cơ thể khoẻ mạnh và an toàn qua quan sát tranh ảnh và (hoặc) video; tự nhận xét được thói quen ăn uống của bản thân
- Xem lại cách diễn đạt của câu “Biết ăn nhiều loại thức ăn và uống đủ nước” để có thể diễn tả đúng ý muốn nói
Hoạt động và nghỉ
ngơi
- Cách diễn đạt Mục tiêu cần đạt chưa phù hợp dựa theo Yêu cầu cần đạt của Bộ GD-ĐT: Xác định được các hoạt động vận động và nghỉ ngơi có lợi cho sức khoẻ qua quan sát tranh ảnh
và (hoặc) video; liên hệ với những hoạt động hằng ngày của bản thân và đưa ra được hoạt động nào cần dành nhiều thời gian để cơ thể khoẻ mạnh
Lưu ý Bị thiếu các nội dung sau để dạy HS:
+ Nhận biết được vùng riêng tư của cơ thể cần được bảo vệ
+ Thực hành nói không và tránh xa người có hành vi động chạm hay đe doạ đến sự an toàn của bản thân
+ Thực hành nói với người lớn tin cậy để được giúp đỡ khi cần
Ôn tập con người và
sức khỏe
- Mục tiêu đưa ra khó để đánh giá được: Có thói quen vệ sinh
cá nhân hàng ngày Cần có cách diễn đạt lại phù hợp hơn
Trang 27Bài học của
Vietschool Ý kiến của chuyên gia
- Nội dung củng cố còn thiếu các vấn đề liên quan đến ăn uống, nghỉ ngơi
Gia đình - Cần bổ sung về Mục tiêu cần đạt vì Yêu cầu cần đạt của Bộ
GD-ĐT có nhiều hơn:
+ Giới thiệu được bản thân và các thành viên trong gia đình
+ Nêu được ví dụ về bản thân và các thành viên trong gia đình làm công việc nhà vàchia sẻ thời gian nghỉ ngơi, vui chơi cùng nhau
+ Thể hiện được tình cảm và cách ứng xử phù hợp với các thành viên trong gia đình
Nhà ở - Xem lại Mục tiêu cần đạt, hơi đơn giản so với Yêu cầu cần đạt
của Bộ GD-ĐT:
+ Nêu được địa chỉ nơi gia đình đang ở
+ Nêu được một số đặc điểm của ngôi nhà hoặc căn hộ nơi gia đình đang ở, các phòng trong ngôi nhà hoặc căn hộ và một số đặc điểm xung quanh nơi ở
+ Đặt được câu hỏi để tìm hiểu về một số đồ dùng, thiết bị trong gia đình
Công việc nhà Nên tích hợp vào bài Nhà ở
An toàn khi ở nhà - Xem lại cách diễn đạt Mục tiêu cần đạt vì Yêu cầu cần đạt của
Bộ GD-ĐT nhiều hơn:
+ Chỉ ra hoặc nêu được tên đồ dùng, thiết bị trong nhà nếu sử dụng không cẩn thận có thể làm bản thân hoặc người khác gặp nguy hiểm
Trang 28Bài học của
Vietschool Ý kiến của chuyên gia
+ Nêu được cách sử dụng an toàn một số đồ dùng trong gia đình và lựa chọn được cách xử lí tình huống khi bản thân hoặc người nhà có nguy cơ bị thương hoặc đã bị thương do sử dụng một số đồ dùng không cẩn thận
- Biết gọi người lớn khi có tai nạn xảy ra chỉ là một trong những cách cần biết khi xử lí tai nạn xảy ra trong nhà
Lưu ý Thiếu bài học về Sắp xếp đồ dùng cá nhân gọn gàng, ngăn nắp
Lớp học - Thiếu nội dung về cơ sở vật chất của lớp học
- Thiếu nội dung liên quan đến nhiệm vụ của một số thành viên trong lớp học
- Mục tiêu cần đạt hơi mỏng so với Yêu cầu cần đạt mà Bộ
GD-ĐT đưa ra
Hoạt động ở lớp - Mục tiêu cần đạt hơi mỏng so với Yêu cầu cần đạt mà Bộ
GD-ĐT đưa ra: Kể được tên các hoạt động chính trong lớp học và trường học; nêu được cảm nhận của bản thân khi tham gia các hoạt động đó
- Thiếu nội dung liên quan đến An toàn khi vui chơi ở trường
Trang 29- Cảnh quang nên được viết là quang cảnh hoặc cảnh quan
An toàn trên đường
Cây rau Bổ sung thêm Yêu cầu cần đạt: Chăm sóc và bảo vệ cây trồng
Cây hoa
Cây gỗ
Con cá Bổ sung thêm nội dung/hoạt động về chăm sóc và bảo vệ vật
nuôi Con gà
Con mèo
Con muỗi
Nhận biết cây cối và
con vật
Nên cho thành bài đầu của chủ đề Thực vật và Động vật
Trời nắng, trời mưa
Trang 30Trời nóng, trời rét Nên đặt tên là Trời nóng, trời lạnh
Thời tiết Có thể gộp nội dung vào các bài Trời nắng, trời mưa và Trời
nóng, trời lạnh Không nên tách thành bài riêng và để ở phía dưới như thế này
Tự nhiên Xã hội 2
Vietschools
Ý kiến chuyên gia
Cơ quan vận động Thiếu Yêu cầu cần đạt theo chương trình của Bộ GD-ĐT, đó là:
Nhận biết được chức năng của các cơ quan nêu trên ở mức độ đơn giản ban đầu qua hoạt động hằng ngày của bản thân
Bộ xương Mục tiêu cần đạt cao so với yêu cầu cần đạt của Bộ GD-ĐT
Hệ cơ Mục tiêu cần đạt cao so với yêu cầu cần đạt của Bộ GD-ĐT
Làm gì để xương và cơ
phát triển
Không nằm trong chương trình của Bộ GD-ĐT
Cơ quan tiêu hóa Không nằm trong chương trình của Bộ GD-ĐT
Tiêu hóa thức ăn Không nằm trong chương trình của Bộ GD-ĐT