Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)Đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Anh – tiếng Việt chuyên ngành kĩ thuật điện (tt)
Trang 11
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ THÙY MAI
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ TRONG TIẾNG ANH – TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH KĨ THUẬT ĐIỆN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: Prof Dr Nguyen Duc Ton
Phản biện 1: GS.TS Le Quang Thiem
Phản biện 2: GS.TS Nguyen Thien Giap
Phản biện 3: PGS.TS Kieu Thu Huong
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội
Vào hồi…giờ…phút, ngày…tháng…năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luận án tập trung vào khảo sát, nghiên cứu đối chiếu hệ thống TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện cấu tạo, định danh để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt của hệ TNKTĐ trong hai ngôn ngữ, góp phần bổ sung, hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống TNKTĐ tiếng Việt, từ đó có thể góp phần hoàn chỉnh lí thuyết chung về thuật ngữ học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở so sánh - đối chiếu làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và định danh của hệ thống TNKTĐ trong tiếng Anh và Việt, luận án xác định một số phương hướng, biện pháp cụ thể để xây dựng
và chuẩn hóa TNKTĐ tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau: Hệ thống hóa quan điểm lí thuyết về thuật ngữ khoa học; So sánh, đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt; Xác định kiểu loại mô hình phổ biến nhất kết hợp các thành tố để cấu tạo TNKTĐ ở từng ngôn ngữ; So sánh, đối chiểu để chỉ ra những điểm giống và khác nhau về đặc điểm định danh của TNKTĐ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt; Nêu phương hướng, biện pháp cụ thể để có thể xây dựng và chuẩn hóa TNKTĐ tiếng Việt
3 Đối tượng, tư liệu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và tư liệu nghiên cứu
Đối tượng đã thu thập để nghiên cứu của luận án là trên 2.000 thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Anh được tổng hợp từ bộ từ vựng
Trang 4– thuật ngữ kĩ thuật điện quốc tế do Ủy ban kĩ thuật điện quốc tế (IEC) ban hành và trên 2.000 thuật ngữ kĩ thuật điện tiếng Việt tương ứng được thu thập từ bộ từ vựng - thuật ngữ kĩ thuật điện Việt Nam - TCVN 8095 do Tổng cục Đo lường Chất lượng Việt Nam ban hành Ngoài ra, các TNKTĐ còn được thu thập từ các cuốn từ điển giải thích, những giáo trình, sách báo, tạp chí chuyên ngành về điện
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp phân tích thành tố trực tiếp và thủ pháp thống kê
5 Cái mới của luận án
Có thể nói đây là công trình luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm
cơ bản của hệ TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện cấu tạo và định danh Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất phương hướng, biện pháp cụ thể khả thi nhằm xây dựng và chuẩn hóa các TNKTĐ trong tiếng Việt
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa lí luận: Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng lí
thuyết chung về thuật ngữ học và lí luận về chuẩn hóa ngôn ngữ, chuẩn hoá thuật ngữ nói riêng, góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng bộ luật ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kì hội
nhập và toàn cầu hoá
Trang 5Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cho phép đề xuất
phương hướng để chuẩn hoá hệ thống TNKTĐ hiện có của tiếng Việt, đặc biệt chú ý tới bộ TCVN 8095 về TNKTĐ Đây cũng là cơ
sở để chỉnh lý các từ điển TNKTĐ tiếng Việt đã có hoặc biên soạn các bộ từ điển, sách cẩm nang mới về TNKTĐ Luận án cũng có thể phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy và biên soạn giáo trình chuyên ngành kĩ thuật điện
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới
Có thể tóm lược sự phát triển của thuật ngữ qua 3 giai đoạn quan trọng: Giai đoạn thế kỷ 18, 19 và nửa đầu thế kỷ 20; Giai đoạn nửa cuối thể kỷ 20 và Giai đoạn 1975-1985 Theo Teresa Cabré M [125,5] thuật ngữ học hiện đại có 4 giai đoạn phát triển cơ bản: Giai đoạn hình thành (1930 - 1960), Giai đoạn xác lập các chuyên ngành,
Trang 6lĩnh vực (1960 - 1975); Giai đoạn bùng nổ (1975 - 1985); và Giai đoạn mở rộng (1985 đến nay)
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Việt Nam
Nhiều công trình nghiên cứu lí thuyết về thuật ngữ tiếng Việt
đã được công bố gắn với những tên tuổi các nhà Việt ngữ học, như: Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Như Ý, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Lê Khả
Kế, Nguyễn Thiện Giáp, Vương Toàn, Lê Quang Thiêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng Ý kiến của các nhà Việt ngữ học đều tập trung vào thảo luận một số vấn đề lí luận chung về thuật ngữ như: khái niệm thuật ngữ, các tiêu chuẩn của thuật ngữ, những phương thức đặt thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài, và chuẩn hóa thuật ngữ
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng các luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành tiếng Việt cũng như đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành tiếng Việt với thuật ngữ của các thứ tiếng nước ngoài, có thể thấy rõ sự phát triển đáng kể số lượng các từ điển chuyên ngành, từ điển đối chiếu thuật ngữ ở Việt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện trên thế giới
Công trình nghiên cứu có thể nói là vô cùng quan trọng là luận
án tiến sĩ năm 1930 của E.Vjuster với đề tài Chuẩn hóa thuật ngữ
quốc tế về kĩ thuật, đặc biệt thuật ngữ kĩ thuật điện Ngoài luận án
tiến sĩ, E.Vjuster còn đóng góp nhiều công trình nghiên cứu khác cho công tác xây dựng thuật ngữ kĩ thuật điện quốc tế
Công tác biên soạn từ điển có thể nói được thực hiện từ rất sớm Cuốn từ điển của T.O'Conor [139] xuất bản năm 1892 Năm
Trang 71983, Ủy ban về thuật ngữ của IEC đã xuất bản cuốn Từ điển kĩ thuật
điện lần thứ nhất và tái bản năm 1970 Tính đến năm 2000, cuốn từ
điển này gồm 10.000 mục từ và 11.000 thuật ngữ trong 9 thứ tiếng
[125,197] Bên cạnh đó, hiện nay đáng chú ý nhất là Bộ tiêu chuẩn kĩ
thuật điện quốc tế IEC 60050, trong đó bao gồm các tiêu chuẩn liên
quan đến từ vựng – thuật ngữ trong từng lĩnh vực kĩ thuật điện
1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật điện ở Việt Nam
Nhà nước ta đã và đang xây dựng, dần hoàn thiện Bộ tiêu chuẩn quốc gia liên quan đến từ vựng – thuật ngữ kĩ thuật điện TCVN 8095 tương thích với Bộ Tiêu chuẩn quốc tế về thuật ngữ kĩ thuật điện do Tổ chức Tiêu chuẩn Kĩ thuật điện quốc tế IEC ban hành IEC 60050
Về công tác nghiên cứu chuyên sâu hệ thuật ngữ kĩ thuật điện, hiện mới chỉ có một vài luận văn cao học, luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật ngữ các chuyên ngành có liên quan đến chuyên ngành kĩ thuật điện
1.3 Cơ sở lý luận
1.3.1 Khái niệm “thuật ngữ”
Chúng tôi quan niệm thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố
định biểu hiện khái niệm hay đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn
Trên cơ sở định nghĩa chung về thuật ngữ, trong luận án này,
chúng tôi quan niệm TNKTĐ là những từ hoặc cụm từ cố định biểu
hiện các khái niệm hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực kĩ thuật điện, bao gồm hai chuyên ngành cơ bản nhất của ngành điện là Hệ thống điện
và Thiết bị điện, như: thiết bị điện - thiết bị từ, máy điện, phép đo - dụng cụ đo điện, hệ thống phát - truyền tải - phân phối điện, cách điện, chiếu sáng và một số thiết bị - hoạt động liên quan
Trang 81.3.2 Xác định khái niệm “thuật ngữ kĩ thuật điện” và hệ thuật ngữ kĩ thuật điện
1.3.2.1 Phân biệt các khái niệm “kĩ thuật điện” và “điện”
Luận án sử dụng thuật ngữ kĩ thuật điện trong quá trình triển
khai thực hiện đề tài nghiên cứu nên đã phân biệt các khái niệm về
điện và kỹ thuật điện Từ đó xác định cụ thể hơn hệ TNKTĐ được
nghiên cứu trong luận án này là hệ thống các TNKTĐ thuộc hai
chuyên ngành chính, cơ bản nhất của ngành điện: Hệ thống điện và
Thiết bị điện,
1.3.2.2 Phân biệt các ngành Vật lí – Điện – Điện tử
Trong phạm vi luận án này, các lĩnh vực vật lí và điện tử sẽ không được nghiên cứu, tuy nhiên để xác định rõ phạm vi nghiên cứu, luận án
đề cập đến 2 lĩnh vực này để giới hạn phạm vi nghiên cứu
1.3.2.3 Các chuyên ngành hẹp của Kĩ thuật điện
Để xác định phạm vi nghiên cứu, luận án sẽ dựa theo sự phân ngành chuyên môn của Trường Đại học Bách khoa Hà Nôi Theo đó, ngành kĩ thuật điện truyền thống bao gồm hai chuyên ngành hẹp cốt lõi là Hệ thống điện và Thiết bị điện
Luận án đi tới xác định khái niệm về TNKTĐ: TNKTĐ là
những từ hoặc cụm từ cố định biểu hiện các khái niệm hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực kĩ thuật điện, bao gồm hai chuyên ngành cơ bản nhất của ngành điện là Hệ thống điện và Thiết bị điện
1.3.3 Phân biệt thuật ngữ với danh pháp, từ thông thường và từ nghề nghiệp
A.A Reformatxki chỉ rõ “hệ thuật ngữ trước hết gắn với một
hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn” cho đối tượng của nó” và “danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học.” (dẫn theo [102,34]) Danh pháp, như
Trang 9vậy, chỉ là tên riêng (nhãn) của sự vật trong một ngành khoa học
hoặc chuyên môn
Nguyễn Thiện Giáp quan niệm thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ, là một chuỗi các con số hay bất kỳ cách gọi võ đoán nào.[24,270]
Luận án dựa trên quan điểm của Nguyễn Đức Tồn về “Cái biểu hiện” và “Cái được biểu hiện” của thuật ngữ để phân biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường và từ nghề nghiệp
1.3.4 Những tiêu chuẩn cần thiết của thuật ngữ
Các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây nhấn mạnh đến tính chính xác, tính ngắn gọn, tính hệ thống và tính đơn nghĩa của thuật ngữ Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu như Hoàng Xuân Hãn, Lê Khả
Kế, Lê Văn Thới, Nguyễn Văn Tu, Hồng Dân, Như Ý, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra những quan niệm về đặc điểm
cơ bản của thuật ngữ như: tính chính xác, tính đơn nghĩa, tính ngắn gọn; kết cấu chặt chẽ, tính hệ thống, tính quốc tế Có những nhà khoa học còn bổ sung thêm tính dân tộc và tính đại chúng
Theo quan niệm của chúng tôi, hai tiêu chuẩn thuộc bản thể
của thuật ngữ là tính khoa học và tính quốc tế
1.3.5 Các phương thức đặt thuật ngữ
1.3.5.1 Hiện trạng của vấn đề
Theo quan niệm của Lê Khả Kế, có hai phương thức xây dựng thuật ngữ Đó là:1 Đặt thuật ngữ trên cơ sở tiếng Việt; 2.Tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài [47,142] Trong tiếng Anh, Sager cho rằng có
ba phương thức tạo thuật ngữ mới gồm sử dụng các thuật ngữ hiện có
Trang 10trong ngôn ngữ chung; Tạo thuật ngữ mới dựa trên nguồn thuật ngữ hiện có bằng các phương thức phụ gia, ghép, chuyển từ loại và viết tắt; Tạo ra thuật ngữ mới cho ngôn ngữ chuyên ngành dựa trên các khái niệm mới (Dẫn theo [102,40])
1.3.5.2 Phương thức tự tạo thuật ngữ
a) Thuật ngữ hoá từ toàn dân
b) Tạo thuật ngữ theo cơ chế định danh khái niệm, đối tượng
1.3.5.3 Phương thức vay mượn thuật ngữ nước ngoài
Việc vay mượn thuật ngữ nước ngoài được thực hiện chủ yếu theo cách sao phỏng hoặc phiên chuyển Tùy theo từng giai đoạn mà hình thức vay mượn nào - phiên âm hay chuyển tự, được chiếm ưu thế
1.3.6 Lí thuyết điển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ kĩ thuật
1.3.7 Về nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
Bùi Mạnh Hùng phân biệt phạm vi đối chiếu trên cơ sở phân biệt các bình diện phân tích ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng [39,151] Trong luận án của chúng tôi, phạm vi đối chiếu chính là từ vựng, mà cụ thể là TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Về phương thức và thủ pháp nghiên cứu đối chiếu, Bùi Mạnh Hùng chỉ ra việc phân tích đối chiếu được xác định theo hai giai đoạn
là miêu tả và đối chiếu Đồng thời, những cách tiếp cận cơ bản trong
Trang 11nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ gồm nghiên cứu đối chiếu hai (hay nhiều) chiều và nghiên cứu đối chiếu một chiều [39,151-168] Trong luận án này, chúng tôi đi theo cách đối chiếu theo hai giai đoạn và đối chiếu một chiều
1.4 Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, nêu rõ lịch sử nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ nói chung và TNKTĐ nói riêng
Để có cơ sở lí luận nghiên cứu các vấn đề được đặt ra trong
luận án, chúng tôi đưa ra quan niệm về thuật ngữ và TNKTĐ, các
tính chất cần thiết của thuật ngữ, phân biệt giữa thuật ngữ và danh pháp và các phương thức cấu tạo thuật ngữ Bênh cạnh đó, lí thuyết điển mẫu được đề cập với mục đích vận dụng lí thuyết điển mẫu để
để chuẩn hóa TNKTĐ
Ngoài ra, chương 1 cũng trình bày một số vấn đề cơ bản của lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, làm cơ sở quan trọng để đối chiếu giữa hai hệ thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt
CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ
KĨ THUẬT ĐIỆN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1 Hệ thuật ngữ kĩ thuật điện và thành tố cấu tạo thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt
Khái niệm “thuật tố” - thành tố cấu tạo TNKTĐ
Luận án tiếp thu quan điểm của Nguyễn Đức Tồn
[102,125-126] gọi đơn vị cơ sở để cấu tạo thuật ngữ là thuật tố Đây là thành tố
Trang 12trực tiếp cuối cùng trong thành phần cấu tạo của một thuật ngữ Mỗi
thuật tố - yếu tố cấu tạo thuật ngữ, thường có dạng phổ biến là một từ
và là thực từ biểu hiện một khái niệm hay đối tượng hoàn chỉnh hoặc
có thể biểu hiện khái niệm bộ phận hay đặc trưng của khái niệm, đối
tượng trong một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn Do đó mỗi thuật
tố đều có nghĩa Đơn vị được coi là một thuật tố khi nó có nghĩa từ
vựng và tham gia vào cấu tạo các thuật ngữ khác nhau trong một lĩnh vực khoa học hay một lĩnh vực chuyên môn
Luận án vận dụng lí thuyết điển mẫu trong việc lựa chọn thuật ngữ đạt chuẩn để phân tích, miêu tả TNKTĐ Sự có mặt các quan hệ
từ (giới từ, liên từ) thừa dư khiến cho các cụm từ chứa chúng bị mất tính chất định danh, mang tính miêu tả, định nghĩa khái niệm Vì vậy, các TNKTĐ có cấu tạo là những cụm từ có chứa hư từ, quan hệ từ thừa dư trong kết cấu nội bộ của chúng đều không phải là TNKTĐ chuẩn mực Do đó, trong chương này, chúng tôi chỉ phân tích, miêu tả
và đối chiếu 1700 TNKTĐ tiếng Việt tiêu biểu với 1700 TNKTĐ tiếng Anh tương ứng
2.2 Thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt xét theo số lượng thuật tố và từ loại
Bảng 2.1 Số liệu về TNKTĐ tiếng Anh và tiếng Việt theo số lượng thuật tố
2.2.1 TNKTĐ có cấu tạo một thuật tố
Bảng 2.2 Thống kê TNKTĐ tiếng Anh 1 thuật tố theo từ loại Bảng 2.3 Thống kê TNKTĐ tiếng Việt 1 thuật tố theo từ loại
2.2.2 TNKTĐ có cấu tạo hai thuật tố
Bảng 2.4 Thống kê TNKTĐ tiếng Anh 2 thuật tố theo từ loại Bảng 2.5 Thống kê TNKTĐ tiếng Việt 2 thuật tố theo từ loại
2.2.3 TNKTĐ có cấu tạo ba thuật tố
Trang 13Bảng 2.6 Thống kê TNKTĐ TA& TV ba thuật tố theo từ loại
2.2.4 TNKTĐ có cấu tạo bốn thuật tố
Bảng 2.7 Thống kê từ loại của TNKTĐ TA&TV bốn thuật tố
2.2.5 TNKTĐ có cấu tạo năm thuật tố
Bảng 2.8 Thống kê từ loại của TNKTĐ TA&TV năm thuật tố
2.2.6 TNKTĐ là từ viết tắt
Trong hệ TNKTĐ tiếng Việt không có cách tạo thuật ngữ mới bằng cách viết tắt thuật ngữ đã có như trong tiếng Anh Theo thống
kế, có 150 thuật ngữ tiếng Anh là từ viết tắt Trong đó 71% thuật ngữ
có cấu tạo gồm các chữ cái đầu tiên của các thuật tố cấu tạo nên thuật ngữ, 24% là thuật ngữ có cấu tạo là cụm chữ cái đầu của thuật tố hay thuật ngữ, và 5% còn lại là thuật ngữ là các kí tự Latin Trong đó
có 28 kí hiệu kĩ thuật điện thông dụng, chiếm 18,67% Các kí hiệu này bao gồm hầu hết các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Anh và một số kí tự Latin
Bảng 2.9 Tổng hợp về từ loại của hệ TNKTĐ trong tiếng Anh và tiếng Việt
2.3 Thuật ngữ kĩ thuật điện trong tiếng Anh và tiếng Việt xét theo mô hình cấu tạo
Chúng tôi kí hiệu T là thuật tố cấu tạo thuật ngữ; T1 là thuật tố cấu tạo thứ nhất, T2 là thuật tố cấu tạo thứ hai và Tn là thuật tố cấu tạo thứ n
2.3.1 Mô hình cấu tạo 1
Mô hình 1 có 838/1700 TNKTĐ tiếng Anh chiếm 49,29%; và
có 525/1700 TNKTĐ tiếng Việt chiếm 30,89%
2.3.2 Mô hình cấu tạo 2
Mô hình 2 có 115/1700 TNKTĐ tiếng Anh, chiếm 6,76%; và
có 290/1700 TNKTĐ tiếng Việt, chiếm 17,06%