Sưu tầm 02 bản án về thừa kế theo pháp luật đã được tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết. Yêu cầu:1. Đính kèm toàn văn 02 bản án trong bài tập nhóm.2. Tóm tắt nội dung bản án.3. Nêu các vấn đề pháp lý được giải quyết trong từng bản án.4. Nêu quan điểm của nhóm về nội dung giải quyết của tòa án.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ
KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày: Địa điểm:
Nhóm số: Lớp: Khóa:
Tổng số thành viên của nhóm:
Có mặt: ………
Vắng mặt: Có lý do: ……… Không lý do:
Nội dung: ………
Tên bài tập:
Môn học: ………
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số: Kết quả như sau:
STT Mã SV Họ và tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của GV A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV ký tên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Hà Nội, ngày…… tháng 0 năm 2019 Kết quả điểm bài viết: NHÓM TRƯỞNG - Giáo viên chấm thứ nhất:.………
- Giáo viên chấm thứ hai:.……….
Kết quả điểm thuyết trình:……….
- Giáo viên cho thuyết trình:……….
Điểm kết luận cuối cùng:………
- Giáo viên đánh giá cuối cùng:…………
MỤC LỤC:
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1NỘI DUNG 1
Trang 5Bộ luật dân sự nước ta cũng như nhiều Bộ luật dân sự của các nước trên thếgiới, các quy định về thừa kế giữ vai trò quan trọng, nó thường được cấuthành thành một cơ cấu riêng Trong giao lưu dân sự, vấn đề thừa kế càng có
ý nghĩa quan trọng , đặc biệt là khi cùng với sự phát triển của nền kinh tế thịtrường , tài sản của thành viên trong xã hội cũng được tăng lên đáng kể cả về
số lượng và giá trị của nó Thừa kế theo pháp luật là việc xác định khối di sảnthừa kế và phân chia di sản là một trong những yếu tố pháp lí hết sức quantrọng Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật là vô cùng phức tạp và có rấtnhiều tình huống xảy ra Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, nhóm em xin đượcchọn đề tài số 3
NỘI DUNG
1 Tóm tắt nội dung bản án.
-Bản án số: 22/2019/DS-PT Ngày: 22-03-2019
(Tranh chấp về thừa kế tài sản nhà, đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
Các thành phần tham gia (A)
cụ L mất, ông C đã làm thủ tục kê khai cụ L chỉ có 01 mình ông C là con đẻ
để được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đối với thửa đất của cụ L để lạitheo giấy chứng nhận mang tên ông C, bà D Sau khi ông C, bà D được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 30/5/2017, ông C và bà D chuyểnnhượng toàn bộ diện tích đất 169,8m2 tại 09 Đường B1, thành phố K1 cho vợchồng anh G, chị H với số tiền 2.950.000.000đ, đến ngày 08/7/2017, anh G,chị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vàtài sản gắn liền đối với thửa đất trên
Trang 6Nay, bă A khởi kiện yíu cầu chia 1/3 (tương đương 1.000.000.000đ ) giâ trị
tăi sản thừa kế đối với nhă, đất mă cụ L để lại cho bă Đ, ông E, ông F vă băA; yíu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vă tăi sản gắnliền với đất giữa ông C, bă D với anh G, chị H; yíu cầu hủy giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất quyền sở hữu nhă ở vă tăi sản khâc gắn liền với đất mangtín anh G, chị H; yíu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tínông C, bă D
-Bị đơn ông C, bă D: Trong quâ trình giải quyết vụ ân, Tòa ân đê tống đạttrực tiếp văn bản tố tụng nhưng ông C, bă D từ chối nhận văn bản tố tụng,vắng mặt tại địa phương, ông C, bă D không hợp tâc vă cũng không tham gia
tố tụng
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liín quan: Đại diện hợp phâp của bă D, ông E,ông F – ông B trình băy: Thống nhất với yíu cầu khởi kiện của bă A, chia 1/3( tương đương 1.000.000.000đ) giâ trị tăi sản thừa kế nhă, đất đó cho bă D, ông E, ông F vă bă A
+Anh G, chị H trình băy: do anh G, chị H nhận sang nhượng của ông C, bă Dvới số tiền 2.950.000.000đ vă anh G vă chị H được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhă ở vă tăi sản gắn liền với đất, việc nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất của anh G,chị H đúng quy định phâp luật,nay câc đương sự tranh chấp thừa kế tăi sản, đề nghị Tòa ân bảo vệ quyền lợicho vợ chồng anh, chị
+Đại diện hợp phâp của Ủy ban nhđn dđn thănh phố K1 theo bản ý kiến ngăy04/12/2017 trình băy: Dựa trín hồ sơ lăm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của ông C, nguồn gốc đất do cụ L để lại cho con trai duy nhất lẵng C, do đó Ủy ban nhđn dđn thănh phố K1 đê cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông C, bă D lă đúng quy định theo khoản 1, 2 Điều 50 Luậtđất đai 2003; Điều136 Nghị định 181/2004/NĐ-CP Đến nay phât sinh tranhchấp về chia tăi sản thừa kế, do đó vụ ân thuộc thẩm quyền của Tòa ân giảiquyết
Quyết định.
Không chấp nhận đơn khâng câo của Bă A giữ nguyín quyết định của Bản
Trang 7án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 26-9-2018 của Tòa án nhân ântỉnh Kon Tum Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về chia thừa kế tài sảncủa bà A
Không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà A đề ngày 03/10/2017đơn khởi kiện ngày 13/10/2017 về việc khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứngnhận quyền sử dụng đất số AM505782 mang tên ông C, bà D; yêu cầu hủyhợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữabên chuyển nhượng ông C, bà D với bên nhận chuyển nhượng anh G, chị Hngày 30/5/2017; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sởhữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK500088 cấp ngày 08/7/2017mang tên anh G, chị H.Anh G, chị H được quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ởtại số 09 đường B1, phường Q, thành phố K1, tỉnh Kon Tum, theo giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất số CK500088 cấp ngày 08/7/2017 mang tên anh G, chị H
Lê Tấn Đ còn xịt thuốc khai hoang, sửa đổi phần đất vườn và chặt phá hoa lợitrên đất của bà 120 nhánh chanh không hạt
Trang 8Bị đơn ông Lê Tấn Đ trình bày: Phần đất đất này là của cha mẹ ông Sau khi
mẹ chết, cha ông sống với bà Lê Thị Ph vào năm 1974 và bà canh tác trên đấtnày Năm 2007,sau khi ông C chết ông Đ lấy lại và trồng chanh không hạt.Ông Đ thừa nhận có ký tên vào biên bản nhưng khi đó do bà Ph lừa ông nói là
để vay tiền; Ông Đ không đồng ý với đơn kiện của nguyên đơn và có đơn yêucầu phản tố
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Tấn Ngọc N, Lê Tấn Ngọc E, LêThị Ngọc Th1, Lê Tấn Ngọc H1 có yêu cầu độc lập yêu cầu chia thừa kế củaông Lê Tấn C đối với phần đất, ủy quyền cho bà Lê Thị Ph và thống nhất vớilời trình bày của bà; Lê Tấn Thành, Lê Thị Đ, Lê Tấn Ng, Lê Thị U, ủy quyềncho Lê Tấn Đ và thống nhất phần trình bày của ông Đ; Trần Ngọc Nh thốngnhất với phần trình bày của ông Đ, yêu cầu ông và con Trần Ngọc Ch đượcnhận phần di sản của bà Lê Thị Thụy; Trần Ngọc Ch thống nhất với lời trìnhbày của ông Trần Ngọc Nh và không có ý kiến gì thêm;Đại diện ủy quyền của
Ủy ban nhân dân huyện C ông Muôn trình bày: Việc cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của ông Lê Tấn C là đúng trình tự thủ tục theo Luật đất đai
1993 Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Ph làkhông đúng trình tự thủ tục quy định Phần đất tranh chấp hiện nay chưa cóquyết định quy hoạch hoặc thông báo thu hồi đất
Quyết định.
Công nhận cho ông Lê Tấn Đ phần đất có tổng diện tích 4.145,3 m2 Trong
đó giá trị thừa kế ông được hưởng là 20.914.922đ (Hai mươi triệu chín trămbốn ngàn chín trăm hai mươi đồng)
Buộc Lê Tấn Đ trả cho bà Lê Thị Ph 153.376.100đ (Một trăm năm mươi batriệu, ba trăm bảy mươi sáu nghìn một trăm đồng)
Buộc Lê Tấn Đ chia thừa kế cho Lê Tấn Thành (Ông Thành chết), có con là
Lê Long H, Lê Thị Ch, Lê Thị M, Lê Thị M1 số tiền 20.914.922đ ( Hai mươitriệu chín trăm mười bốn ngàn chín trăm hai mươi đồng)
Buộc Lê Tấn Đ chia thừa kế cho Lê Thị Th (chết), có chồng là Trần Văn Nh
Trang 9và con là Trần Ngọc Nh số tiền 20.914.922đ ( Hai mươi triệu chín trăm mườibốn ngàn chín trăm hai mươi đồng).
Buộc Lê Tấn Đ chia thừa kế cho Lê Thi Đ, Lê Tấn Ng, Lê Thị B, Lê Thị Umỗi người số tiền 20.914.922đ ( Hai mươi triệu chín trăm mười bốn ngàn chíntrăm hai mươi đồng)
Buộc Lê Tấn Đ chia thừa kế cho Lê Tấn Nhọc N, Lê Tấn Ngọc E, Lê TấnNgọc H1, Lê thị Ngọc Th1, mỗi người số tiền là 1.742.910đ (Một triệu bảytrăm bốn mươi hai ngàn chín trăm mười đồng)
2 Nêu các vấn đề pháp lý được giải quyết trong từng bản án.
-Bản án số: 22/2019/DS-PT
1 Xác định các vấn đề pháp lý
Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào nội dụng vụ án nêu trên có thể xác định quan
hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất giữa nguyễn đơn là bàA; bị đơn ông C, bà D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông E, ông
F, bà Đ, anh G và chị H
2 Các vấn đề pháp lý cần giải quyết
a Chứng nhận đất số AM505782 mang tên ông C, bà D
Nhà, đất tại số 09 đường B1, phường Q, thành phố K1 được cụ L tạo lập vàđăng ký kê khai nhà Tuy nhiên khi cụ L mất không có để lại di chúc thừa kếcho ai Tuy nhiên, ngày 31/3/2008, ông C là một trong những người thừa kếcủa cụ L lại làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửađất trên, với việc ông C khai nguồn gốc đất do cha mẹ để lại cho ông C làngười duy nhất ở, có xác nhận của Ủy ban nhân nhân dân phường Q, ngày15/5/2008, ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốAM505782
b Xác định quyền sở hữu đất, sở hữu nhà của anh G và chị H tại số 09 đườngB1, phương Q, thành phố K1, tỉnh Kon Tum
Ngày 30/5/2017, ông C và bà D ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
Trang 10đất và tài sản gắn liền với đất tại 09 đường B1, phường Q, thành phố K1 choanh G và chị H, do đó quyền sử dụng đất đã chuyển giao cho anh G và chị H.Đến ngày 08/7/2017 anh G, chị H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK500088; anh G, chị
H đã nhận tài sản phá bỏ căn nhà cũ, xây dựng căn nhà mới Khi ký hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với ông C, bà D; ông C,
bà D đã gian dối trong việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất không đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh G và chị H không biết
và cũng không thuộc trách nhiệm anh G và chị H cần phải biết Việc nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của anh G, chị H
là ngay tình, phù hợp với điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quyđịnh tại điều 117 BLDS 2015 và đến nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, đông thời đã xâydựng nhà ở trên đất; đối với nội dung thuế, cơ quan thuế có thể truy thu thuế,vấn đề thuế không làm vô hiệu hợp đồng Căn cứ khoản 2 điều 133 BLDS
2015 thì anh G và chị H được quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
c kháng cáo của bà A không được chấp nhận
Đối với tài sản là di sản thừa kế của cụ L để lại, ông C có trách nhiệm bồithường lại cho những người con khác, cụ thể là bà A, ông E, ông F, bà Đ
-Bản án số: 78/2019/DS-PT
1 Xác định các vấn đề pháp lý
Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào nội dụng vụ án nêu trên có thể xác định quan
hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất và thừa kế về tài sản giữanguyễn đơn: Bà Lê Thị Ph Địa chỉ: Ấp T, xã T1, huyện P, tỉnh Hậu Giang và
bị đơn là: Ông Lê Tấn Đ Địa chỉ: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang.-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: (B1)
2 Các vấn đề pháp lý cần giải quyết:
Trang 11a Nguồn gốc phần đất tranh.
+Nguồn gốc đất tranh chấp có diện tích 4.145,3m2 là tài sản chung của ông
Lê Tấn C và bà Phan Thị T có trước năm 1974; Năm 1973 bà T chết, năm
1974 ông C cưới bà Lê Thị Ph và đem phần đất này sử dụng chung trong giađình với bà Ph Vào năm 1999, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất
b Xác định quyền sở hữu đất
+Thời điểm hôn nhân của ông C, bà Ph được xác lập vào thời điểm điềuchỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Do đó được công nhận là hônnhân thực tế, và theo Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quiđịnh“Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhauđối với tài sản có trước và sau khi cưới” Như vậy tài sản của ông C là2.072,65m2, sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng ông C và bà Ph vàđương nhiên bà Ph có được ½ diện tích 2.072,65m2 khối tài sản đang tranh chấp; ½ diện tích 2.072,65m2 còn lại là của ông C
+Xét về hàng thừa kế của bà T: Ông C chung sống với bà T có 10 người con;Trong đó có 3 người là Lê Tấn V; Lê Tấn M; Lê Tấn Đ1, chết trước bà T vàkhông người thừa kế còn lại 07 người con là Lê Tấn Thành (chết năm 1968,
có con là Lê Long H, Lê Thị Ch, Lê Thị M, Lê Thị M1); Lê Thị Th(chết năm
2015, có chồng là Trần Văn Nhàn và con là Trần Ngọc Ch); Lê Thị Đ; Lê TấnNg; Lê Thị B; Lê Thị U và Lê Tấn Đ Như vậy, hàng thừa kế của bà T gồm
08 người gồm có chồng là ông C và 07 người con của ông C và bà T
c Kháng cáo của bị đơn ông Lê Tấn Đ không được chấp nhận
Đối với tài sản là di sản thừa kế của bà Phan Thị T và ông Lê Tấn C khai phá,khi bà T chết ông C lấy bà Ph và chuyển giao quyền sử dụng đất cho bà Ph.Năm 1999 bà Ph được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Ông Lê Tấn Đ được hưởng phần đất tại vị trí (1), (2), (3), (4) có tổng diệntích 4.145,3m2 theo mãnh trích đo địa chính số 01-2016/TT.KTTN&MTngày 06/7/2017 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Hậu
Trang 12Giang, phần đất tọa lạc tại ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang (Cólược đồ kèm theo); Trong đó có giá trị suất thừa kế ông được hưởng là20.914.922đ (Hai mươi triệu chín trăm mười bốn ngàn chín trăm hai mươi haiđồng) Ông Lê Tấn Đ phải trả cho bà Lê Thị Ph 153.376.100đ(Một trăm nămmươi ba triệu, ba trăm bảy mươi sáu nghìn một trăm đồng) Ông Lê Tấn Đphải chia thừa kế cho Lê Tấn Thành (Ông Thành chết), có con là Lê Long H,
Lê Thị Ch, Lê Thị M, Lê Thị M1 số tiền là 20.914.922đ (Hai mươi triệu chíntrăm mười bốn ngàn chín trăm hai mươi hai đồng)
Ông Lê Tấn Đ phải chia thừa kế cho Lê Thị Th(chết), có chồng là Trần Văn
Nh và con là Trần Ngọc Ch số tiền là 20.914.922đ (Hai mươi triệu chín trămmười bốn ngàn chin trăm hai mươi hai đồng) Ông Lê Tấn Đ phải chia thừa
kế cho Lê Thị Đ, Lê Tấn Ng, Lê Thị B, Lê Thị U, mỗi người số tiền là20.914.922đ(Hai mươi triệu chín trăm mười bốn ngàn chín trăm hai mươi haiđồng) Ông Lê Tấn Đ phải chia thừa kế cho Lê Tấn Ngọc N, Lê Tấn Ngọc E,
Lê Tấn Ngọc H1, Lê Thị Ngọc Th1, mỗi người số tiền là 1.742.910đ ( Mộttriệu bảy trăm bốn mươi hai ngàn chín trăm mười đồng)
3 Nêu quan điểm của nhóm về nội dung giải quyết của tòa án.
Sau khi ông C, bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốAM505782 ngày 15/5/2008, đến ngày 30/5/2017 ông C, bà D ký hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 09 Đường
Trang 13B1, phường Q, thành phố K1 cho anh G, chị H, do đó quyền và nghĩa vụ theogiấy chứng nhận quyền sử dụng đất không còn mà đã chuyển giao cho anh G,chị H
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông C, bà D không còn giá trịpháp lý vì đã thu hồi
Căn cứ Khoản 2 Điều 133 Bộ luật dân sự 2015: “ Trường hợp giao dịch dân
sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho ngườithứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thựchiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu” anh G, chị H được quyền sửdụng đất, sở hữu nhà ở tại số 09 đường B1, phường Q, thành phố K1, tỉnhKon Tum, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vàtài sản khác gắn liền với đất số CK500088 cấp ngày 08/7/2017 mang tên anh
G, chị H với diện tích 169,8m2, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 18 là đúng đắnvì:
Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền vớiđất ông C, bà D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốAM505782 ngày 15/5/2008, việc ông C, bà D đã gian dối làm thủ tục cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng theo quy định pháp luậtnhưng anh G, chị H không biết và cũng không thuộc trách nhiệm của anh G,chị H phải biết Anh G, chị H đã căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụngđất đã được cấp cho ông C, bà D để thực hiện giao dịch là ký hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 30/5/2017 Anh G, chị H là ngay tình vì ông C, bà D có sự gian dối trốn tránh nghĩa vụcủa người thứ ba là cơ quan thuế (hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất và tài sản gắn liền với đất thể hiện giá chuyển nhượng trong hợp đồng500.000.000đ, nhưng thỏa thuận giữa ông C, bà D với anh G, chị H là2.950.000.000đ)
Bên cạnh đó, đối với tài sản là di sản thừa kế của những hàng thừa kế của cụ