1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học tthcm cơ sở lý luận hình thành tư tưởng hồ chí minh về nhà nước của dân , do dân, vì dân

35 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học tthcm cơ sở lý luận hình thành tư tưởng hồ chí minh về nhà nước của dân , do dân , vì dân
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 51,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. NỀN TẢNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN , DO DÂN , VÌ DÂN (18)
    • 1.1. Quan điểm của Mác-Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa (6)
    • 1.2. Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin (11)
    • 1.3. Bối cảnh thực tiễn trong nước (14)
  • Chương 2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN (0)
    • 2.1. Nhà nước của dân (19)
    • 2.2. Nhà nước do dân (22)
  • KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (35)

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dành thắng lợi”. Theo Người, Nhân dân có vai trò cực kỳ to lớn trong đời sống chính trị xã hội của nước ta. Quyền lực của dân đứng ở vị trí tối thượng trong hệ thống quyền lực của đất nước. Trong hệ thống cấu trúc quyền lực nhà nước mới của nước ta từ tháng 91945 đến nay đã được ghi vào 05 bản Hiến pháp là: tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh rằng, nhân dân lao động làm chủ, còn Đảng, Chính phủ cũng như cán bộ, đảng viên, công chức chỉ là công bộc, là đầy tớ của nhân dân. Đây là một vấn đề trở thành nguyên tắc khi xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng phải đi đôi với xây dựng một xã hội công dân. Có thể nói khát vọng cháy bỏng trong cuộc đời sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh là giành độc lập cho dân tộc, đêm lại sự tự do hạnh phúc cho nhân dân “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,ai cũng được học hành”. Vì thế, để thực hiện vai trò của dân, Người đã đề ra đường lối, chính sách và kiên trì xây dựng một nhà nước thật sự dân chủ nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đối với Người, mọi quyền lợi, quyền hạn chỉ có giá trị khi nó phục vụ nhân dân “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” .Khát vọng và lý tưởng ấy xuyên suốt mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời cách mạng của người. Ngày 291945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, mở ra một trang sử mới trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta từ kiếp nô lệ trở thành người làm chủ đất nước,nước ta từ một nước thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có chủ quyền, tự quyết định vận mệnh của mình. Nhà nước ta được xây dựng từ cách mạng tháng 81945 là nhà nước kiểu mới nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân. Với tư cách là người làm chủ đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã lập nên những chiến công trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện công cuộc đổi mới 25 năm qua, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn đưa đất nước từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,lạc hậu về kinh tế văn hóa xã hội ngày càng phát triển,dân chủ được mở rộng đời sống tinh thần của người dân được cải thiện. Thành công của công cuộc đổi mới càng làm cho chúng ta thấm thía bài học của chủ tịch Hồ Chí Minh “dân là gốc”. Nhận thức được ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân , do dân, vì dân ; với mong muốn tìm hiểu cơ sở lý luận hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả quyết định chọn đề tài “Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân , do dân, vì dân” làm đề tài tiểu luận .

NỀN TẢNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN , DO DÂN , VÌ DÂN

Quan điểm của Mác-Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, con đường xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa bắt buộc phải trải qua cuộc cách mạng; giai cấp vô sản sử dụng bạo lực để giành chính quyền và thành lập nhà nước chuyên chính vô sản Nhà nước chuyên chính vô sản ban đầu chỉ là phương tiện tạm thời để xóa bỏ mọi giai cấp và hướng tới xã hội không giai cấp, không nhà nước, còn gọi là "nhà nước nửa nhà nước".

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen nhấn mạnh mục tiêu xây dựng một xã hội mới, nơi nhà nước tổ chức đời sống chung của nhân dân để đảm bảo sự phát triển tự do tối đa và "phát triển toàn diện con người" "Tự do" được C Mác hiểu là biến nhà nước, cơ quan tối cao, thành một phần phụ thuộc hoàn toàn vào xã hội, góp phần thúc đẩy tự do thực sự cho cá nhân Mức độ tự do của các hình thức nhà nước phụ thuộc vào khả năng hạn chế "tự do của nhà nước" đó, và điều này được quy định rõ trong hệ thống pháp luật mà cơ quan và viên chức nhà nước phải tuân thủ.

Dựa trên những tiêu chí đề cao dân chủ, pháp luật và tính nhân văn của pháp luật như những giá trị cốt lõi của nhà nước pháp quyền, C Mác và Ph Ăngghen hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự của xã hội mới C Mác chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt để, trong đó dân chủ do nhân dân tự quyết, phản ánh bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, từ nhân dân của nhà nước sang nhà nước của nhân dân Dân chủ bắt nguồn từ con người và pháp luật cũng vì con người, nhằm thay thế xã hội tư sản cũ với các giai cấp đối kháng bằng một liên minh, nơi mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện để phát triển tự do của tất cả mọi người Xã hội mới sẽ tạo điều kiện để giải phóng cá nhân, bởi vì xã hội không thể tự giải phóng chính mình nếu không giải phóng từng cá nhân Do đó, xã hội này nhất thiết phải được xây dựng dựa trên nền tảng pháp luật.

V.I Lênin đã phát triển lý luận về nhà nước xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và chủ nghĩa đế quốc, nhấn mạnh rằng chuyên chính vô sản là nhà nước kiểu mới, dân chủ mới dành cho những người không có của, đồng thời là hình thức chống lại giai cấp tư sản Chuyên chính vô sản được xem là tổ chức đội tiền phong của những người bị áp bức nhằm giữ vững thành quả cách mạng, không chỉ dựa trên bạo lực mà còn dựa vào tính tổ chức, kỷ luật và vai trò làm chủ của giai cấp công nhân và người lao động Các nhà lý luận Mác – Lênin đã kế thừa và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền qua phân tích kinh tế nhằm hiểu rõ nguồn gốc của nhà nước và pháp luật từ điều kiện kinh tế và giai cấp nắm giữ quyền lực, từ đó xác định rằng muốn thay đổi nhà nước cần thay đổi quan hệ sở hữu, chuyển từ chế độ tư bản chủ nghĩa sang chế độ công hữu, xã hội chủ nghĩa Quan điểm này làm rõ rằng nhà nước không phải là quyền lực từ bên ngoài áp đặt xã hội, mà là sản phẩm của các quan hệ kinh tế và giai cấp trong xã hội.

Hêghen khẳng định rằng "hiện thực của ý niệm đạo đức" chính là "hình ảnh và hiện thực của lý tính" Tính hiện thực của nhà nước chủ yếu dựa trên nội dung kinh tế, vì pháp quyền không thể vượt quá trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của xã hội V.I Lênin, trước khi cộng sản Nga giành chính quyền, đã tiếp thu các tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về nhà nước và pháp luật, cho rằng trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, còn tồn tại những tập tục và tàn tích của chủ nghĩa tư bản, dẫn đến việc duy trì pháp quyền tư sản trong giai đoạn đầu của chế độ cộng sản.

Trước khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, V.I Lênin đã suy nghĩ về việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Nga dựa trên những tư tưởng tiến bộ về nhà nước của các nhà tư tưởng trước đó Ông nhận định rằng, trong một giai đoạn nhất định dưới chế độ cộng sản, pháp quyền tư sản vẫn tồn tại, nhà nước kiểu tư sản vẫn duy trì, nhưng giai cấp tư sản sẽ không còn tồn tại trong xã hội mới.

Sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công, V.I Lênin đã tiếp thu và phát triển những tư tưởng về nhà nước, xác định rõ mục tiêu của chính quyền Xôviết là thu hút người lao động tham gia quản lý nhà nước và xây dựng nền dân chủ rộng rãi nhằm giải phóng và phát triển toàn diện con người trong xã hội mới Theo V.I Lênin, chế độ dân chủ là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội thành công, vì giai cấp vô sản cần đấu tranh cho chế độ dân chủ để hoàn thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời, chủ nghĩa xã hội thắng lợi cần duy trì chế độ dân chủ để giữ vững thành quả và hướng tới chế độ nhà nước vô sản.

V.I Lênin khẳng định rằng, xây dựng nhà nước kiểu mới đòi hỏi phải thay đổi quan niệm truyền thống về nhà nước, chuyển từ nhà nước "nguyên nghĩa" sang hình thái "nửa nhà nước" hay nhà nước quá độ Theo ông, nhà nước cách mạng khi bắt đầu vận hành cần thực hiện ngay chế độ dân chủ để hướng tới mục tiêu chế độ tự quản Điều này phản ánh tầm quan trọng của việc xây dựng một nhà nước phù hợp với tình hình cách mạng, trong đó vai trò của dân chủ và quá trình chuyển đổi diễn ra đồng bộ nhằm tiến tới chế độ tự quản lý vận hành.

Quyền bầu cử được thực hiện ngay và dần dần mở rộng, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín là nền tảng tiến bộ của nền dân chủ hiện đại Chính quyền nhân dân được thể hiện rõ nét qua quyền bầu cử, nơi người lao động tự do lựa chọn những người xứng đáng nhất đại diện cho mình để quản lý công việc của nhà nước và xã hội.

Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thể hiện vai trò làm chủ của mình Việc này giúp tăng cường sự đóng góp của người lao động vào quá trình phát triển đất nước Quyền tham gia quản lý nhà nước của người lao động đảm bảo họ có tiếng nói trong các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống và quyền lợi của họ Tất cả đều không trừ bất kỳ ai, qua đó thúc đẩy sự công bằng và dân chủ trong quản lý xã hội Chính sự tham gia của mọi người góp phần xây dựng một hệ thống chính trị, xã hội vững mạnh, phát triển bền vững.

Quyền bãi miễn là quyền quan trọng trong chế độ dân chủ, giúp tăng trách nhiệm của đại biểu đối với cử tri và xã hội Nó đảm bảo nguyên tắc phục tùng thực sự của người được bầu đối với nhân dân, từ đó thúc đẩy thực thi triệt để nguyên tắc dân chủ và đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Pháp luật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý xã hội mới theo chủ nghĩa Mác – Lênin, là điều kiện nền tảng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Sau cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga, không chỉ đập tan bộ máy nhà nước tư sản mà còn cần xóa bỏ hệ thống pháp luật tư sản, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với dân chủ xã hội chủ nghĩa Theo V.I Lênin, việc loại bỏ chủ nghĩa tư bản không tự nhiên dẫn đến các tiêu chuẩn pháp quyền, và nền tảng kinh tế cần thiết cho sự thay đổi xã hội chưa thể tự nhiên hình thành ngay sau cách mạng.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa khác biệt hoàn toàn với các hình thức pháp luật của các nhà nước trước đó, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động – lực lượng chiếm đa số trong xã hội Nó mang trong mình nội dung mới, có đặc trưng riêng, đồng thời kế thừa giá trị của nền văn minh pháp luật nhân loại, thể hiện tính nhân đạo và phản ánh bước tiến xã hội, đồng thời phổ quát trong ứng dụng Pháp luật xã hội chủ nghĩa khẳng định vị trí pháp lý và bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo an toàn pháp lý cho nhân dân Tính dân chủ là đặc trưng cốt lõi của chế độ pháp luật xã hội chủ nghĩa, khác biệt hoàn toàn với dân chủ trong chế độ tư bản, nơi mà V.I Lênin đã nhấn mạnh rằng, trong chế độ tư bản, dân chủ chỉ là hình thức, khi các giai cấp bóc lột cố tình giả tạo norm nhân đạo để che đậy những bất công, trong khi người lao động còn bị bóc lột và thiếu thốn trầm trọng.

Chính quyền toàn dân hay dân chủ nói chung thường bị hiểu lầm là chế độ phản ánh ý chí của nhân dân, tuy nhiên, thực tế chế độ cộng hòa dân chủ lại là công cụ nắm giữ quyền lực của giai cấp tư sản Trong đó, chính quyền này trở thành một công cụ chuyên chính của những kẻ bóc lột quần chúng lao động, phục vụ lợi ích của giới tư sản thay vì bảo vệ quyền lợi của nhân dân.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội dựa trên sở hữu xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý phù hợp, nhằm bảo vệ quyền tự do, dân chủ của đại đa số nhân dân lao động Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, các biện pháp giáo dục và thuyết phục được sử dụng rộng rãi, giúp thúc đẩy ý thức cộng đồng và lao động có trách nhiệm Đồng thời, tính cưỡng chế của pháp luật xã hội chủ nghĩa mang nội dung và phương thức khác biệt so với pháp luật của chế độ bóc lột, nhằm duy trì trật tự xã hội một cách công bằng và bền vững. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu bài viết của mình theo chuẩn SEO? Hãy để [Novakid Global ARABIC](https://pollinations.ai/redirect-nexad/Xz1F7ofG) giúp bạn! Pháp luật xã hội chủ nghĩa điều chỉnh các quan hệ kinh tế dựa trên sở hữu xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền tự do của người lao động, đảm bảo tính công bằng Biện pháp giáo dục và thuyết phục được ưu tiên, khác biệt với tính cưỡng chế trong các chế độ bóc lột, giúp bạn truyền tải thông điệp một cách hiệu quả và thu hút.

Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước được hình thành dựa trên sự kết hợp giữa truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa phương Đông, góp phần làm rõ vai trò của văn hóa trong xây dựng nhà nước Đồng thời, tư tưởng đó còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, mang lại sự cân đối giữa các yếu tố nội tại và yếu tố cải cách, phát triển của nhà nước Việt Nam Sự hòa quyện giữa truyền thống văn hóa dân tộc và lý luận phương Tây giúp hình thành một hệ tư tưởng độc đáo, mang tính cách mạng và phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới.

Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được ghi nhận trong các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí Các bộ luật nổi tiếng như Hình thư (thời Lý), Quốc triều hình luật (thời Trần), và bộ luật Hồng Đức (thời Lê) phản ánh rõ nét những nguyên tắc trị nước của tổ tiên, có giá trị sánh ngang với các bộ luật danh tiếng của phương Đông Đặc biệt, các tư tưởng tiến bộ về quyền bình đẳng giới, như quyền ly hôn, quyền thừa kế tài sản và công nhận những đóng góp chung của vợ chồng trong vấn đề tài sản, đã xuất hiện từ sớm, thậm chí còn dựa trên những nguyên lý còn sớm hơn so với các nền luật pháp phương Tây.

Trong lịch sử dân tộc, Nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến thịnh vượng thể hiện những yếu tố tích cực như sự đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, chính quyền có trách nhiệm bảo vệ dân chủ và đem lại an sinh xã hội Hình ảnh lý tưởng về nhà nước "Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn" đã trở thành biểu tượng của một mẫu hình nhà nước lý tưởng, đại diện cho sự trí tuệ, nhân ái và vì dân của các vị vua cổ đại Những bài học quý giá từ thời kỳ này là hành trang đầu tiên giúp Hồ Chí Minh xây dựng và phát triển hệ thống nhà nước dựa trên nguyên tắc phục vụ nhân dân, hướng tới một nhà nước vững mạnh, dân chủ, công bằng.

Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập.

Trên con đường học hỏi, Hồ Chí Minh đã không ngừng làm giàu vốn tri thức của mình bằng cách tiếp thu và kế thừa các di sản quý báu của văn hóa nhân loại một cách đơn giản nhưng sâu sắc Người đã phân tích các học thuyết một cách khách quan, tìm ra những yếu tố tích cực và hợp lý để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Khi tiếp thu tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh đã loại bỏ tính duy tâm thiên mệnh và khôi phục lại quan hệ bình đẳng hai chiều trong mối quan hệ giữa người với người, nhấn mạnh rằng dù là Chủ tịch nước, người vẫn tuân thủ các nguyên tắc giá trị nhân đạo và bình đẳng.

Bộ trưởng, công nhân , nông dân, bộ đội hay người phục vụ nấu ăn, quét rác,

Những người không hoàn thành nhiệm vụ được giao được xem là người tồi, trong khi những người làm tốt hơn so với người khác được công nhận là anh hùng, chiến sĩ thi đua và những "thánh nhân" Họ thể hiện phẩm chất xuất sắc trong công việc và đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của tập thể Việc hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc không chỉ nâng cao giá trị cá nhân mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức.

Tư tưởng nhân dân trong học thuyết chính trị của Nho giáo nhấn mạnh vai trò quan trọng của dân trong xây dựng đất nước Khổng Tử từng nhận định “dân là gốc của nước”, thể hiện ý nghĩa trọng yếu của nhân dân trong chính trị Mạnh Tử khẳng định rằng trong nước, dân là quý nhất, còn vua chỉ là người đứng sau, phản ánh tầm quan trọng của lòng dân trong việc xác định quyền lực Việc đề cao dân trong tư tưởng Nho giáo không chỉ nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân mà còn nhấn mạnh sức mạnh của quần chúng trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng những nguyên tắc này để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, thể hiện rõ trách nhiệm và vai trò của nhân dân trong công cuộc cách mạng và kiến thiết đất nước.

“Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thăng lợi trên nền nhân dân”

Hồ Chí Minh đã nhận thức và phát triển tư tưởng Nho giáo về đạo của người quân tử trong vai trò người cầm quyền, mở rộng nội dung phù hợp với yêu cầu của cách mạng Các giá trị như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm, trung do Nho giáo đề ra được Hồ Chí Minh vận dụng trong quá trình rèn luyện đạo đức cách mạng cho người lãnh đạo, đồng thời còn phát triển thêm những nội dung mới để phù hợp với mục tiêu cách mạng Ví dụ, chữ “trung” trong Nho giáo ban đầu chỉ mang ý nghĩa trung với cá nhân và trung với vua, nhưng được Hồ Chí Minh mở rộng thành trung với đất nước, nhân dân và lý tưởng cách mạng.

Hồ Chí Minh dùng chữ “trung” với nghĩa mới hơn là trung với nước, trung với Đảng, tức là trung với cả tập thể.

Tư tưởng chính trị của Mặc gia chủ trương chính sách kiêm ái trong công cuộc cai trị, nhấn mạnh rằng nhà cầm quyền phải yêu thương nhân dân và tận tụy vì lợi ích của nhân dân Tuy nhiên, thuyết kiêm ái của Mặc gia hạn chế ở tính duy tâm và phi giai cấp Hồ Chí Minh đã loại bỏ những hạn chế này, tiếp thu tinh thần “làm đầy tớ” cho nhân dân của Mặc Tử để xây dựng một chính sách lãnh đạo công bằng và hướng về nhân dân.

Các lý thuyết về tổ chức nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các mô hình thực tiễn của các quốc gia tư bản như Mỹ và Pháp Những nguyên lý này đã ảnh hưởng đáng kể đến cách thức tổ chức quyền lực và chức năng của chính phủ, góp phần định hình quá trình hoạt động của Chủ tịch trong hệ thống chính trị Hiểu biết về các mô hình tổ chức nhà nước giúp làm rõ hơn vai trò và quyền hạn của lãnh đạo, nhất là trong bối cảnh các quốc gia có hệ thống chính trị đa dạng và phức tạp.

Hồ Chí Minh tìm kiếm một mô hình tổ chức nhà nước phù hợp cho Việt Nam, dựa trên học thuyết của các nhà tư tưởng cách mạng tư sản về quyền lực nhà nước Ông chịu ảnh hưởng từ chính thể cộng hòa tổng thống của Mỹ và chính thể cộng hòa đại nghị của Pháp trong quá trình xây dựng mô hình nhà nước phù hợp cho cách mạng Việt Nam Cụ thể, chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 1946 có nhiều điểm tương đồng với chế định Tổng thống trong Hiến pháp Mỹ.

Tư tưởng của Tôn Trung Sơn và cách mạng Tân Hợi đã giới thiệu chủ nghĩa tam dân cùng chính sách “thân Nga, liên Cộng, phù trợ công nông” với những ý tưởng tiến bộ có thể vận dụng vào cách mạng Việt Nam Khẩu hiệu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Hồ Chí Minh năm 1945 được hình thành dựa trên chủ nghĩa tam dân, kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc, và tư tưởng “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” của cách mạng tư sản Pháp, nhưng đã được phát triển thành một luận điểm mới mang tính giai cấp, nhân dân, dân tộc và cách mạng triệt để của cuộc đấu tranh dân tộc dân chủ trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Ngoài truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh rõ nét sự hòa quyện giữa các giá trị truyền thống và hiện đại Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa các giá trị văn hóa dân tộc mà còn tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng nền tảng tư tưởng vững chắc cho sự phát triển của đất nước Việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng và phong phú trong hệ tư duy của vị lãnh tụ vĩ đại Đây là cơ sở để phát huy các giá trị truyền thống cùng những tiến bộ của nhân loại vào công cuộc cách mạng và phát triển đất nước.

Chủ nghĩa Mác – Lênin giữ vai trò quan trọng trong lý luận về nhà nước của Hồ Chí Minh, giúp Người tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để xác định con đường đúng đắn Lý luận Mác – xít về nhà nước cách mạng vô sản là nền tảng để đánh giá và phê phán các học thuyết tổ chức nhà nước của các nước tư bản, đồng thời mô hình nhà nước Xô Viết do Lênin tổng kết là hình mẫu Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng tại Việt Nam Lênin đã chỉ rõ các nguyên tắc xây dựng nhà nước mới, gồm quyền lực toàn bộ của nhân dân, sự thống nhất của quyền lực nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhà nước pháp quyền và nguyên tắc tập trung dân chủ Những nguyên tắc này, sau khi được tiếp thu và vận dụng sáng tạo bởi Hồ Chí Minh, đã hình thành nên một nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.

Bối cảnh thực tiễn trong nước

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh rằng, thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh Những kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh cách mạng đã góp phần định hình tư duy, lý luận của Hồ Chí Minh, trở thành nền tảng vững chắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Chính hoạt động thực tiễn phong phú của Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sở quyết định trong việc phát triển tư tưởng của Người, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã từng chứng kiến cuộc sống cực khổ của người dân Việt Nam, trải nghiệm thực tế về những bất công trong xã hội Những điều kiện lịch sử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã giúp Nguyễn Tất Thành hiểu rõ về nhà nước phong kiến quân chủ chuyên chế cùng với hệ thống thực dân nửa phong kiến đang thống trị đất nước Nhận thức này đã góp phần hình thành nên tư duy cách mạng và lý tưởng cứu nước của Người.

Nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến, do một số ít người nắm giữ quyền lực Trong chế độ này, tồn tại hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân Mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp này xuất phát từ chế độ bóc lột của địa chủ đối với nông dân, trở thành xung đột chủ yếu trong xã hội phong kiến.

Trong xã hội phong kiến, mặc dù có nhiều người yêu nước thương dân, trong đó có cả các vua phong kiến, nhưng tinh thần này còn hạn chế và chưa đủ để xây dựng một xã hội thân dân thực sự Chính chế độ phong kiến đã hạn chế sự phát triển của tinh thần yêu nước, bởi hệ thống giai cấp thống trị không từ bỏ địa vị của mình và không thực sự đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu.

Con đường “Thân dân” chưa trở thành hiện thực rõ ràng, vẫn mang hình thái của sự ban ơn hơn là sự phục vụ tận tụy vì lợi ích của nhân dân Sau khi thực dân Pháp xâm lược, rõ ràng hơn về sự yếu ớt của chế độ phong kiến và xuất hiện những mâu thuẫn đối kháng không thể hòa giải Nếu không có cuộc xâm lược của thực dân Pháp, thì nhà nước phong kiến cũng khó tồn tại, mặc dù có những ưu điểm nhưng về bản chất, nhà nước phong kiến đã lỗi thời và lạc hậu, không phù hợp với con đường phát triển của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

Nhà nước thuộc địa nửa phong kiến là chế độ phản động, tàn bạo về kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam, đến năm 1884 kiểm soát và xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới sau hiệp ước Pa-tơ-nốt Nguyễn Tất Thành chứng kiến chính sách chuyên chế về chính trị, bóp nghẹt tự do, đem lại bất bình đẳng xã hội, và thực thi chính sách chia để trị; đồng thời cũng chịu tác động của chính sách kinh tế độc quyền, bóc lột trong công nghiệp và nông nghiệp, kiểm soát phân phối hàng hóa và tiền tệ Chính sách nô dịch về văn hóa của chế độ thực hiện qua việc ngu dân, bán rượu, bán thuốc phiện nhằm suy kiệt nhân dân ta, tạo ra một chế độ phản động và thối nát hơn cả phong kiến Thời kỳ này là giai đoạn Nguyễn Tất Thành chứng kiến sự thất bại trong việc tìm ra mô hình nhà nước mới cho cách mạng Việt Nam, khi các phong trào như Cần Vương, Yên Thế đều không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử Các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Việt Nam quốc dân Đảng đều mong muốn xây dựng một nhà nước mới, nhưng đều thất bại, cho thấy bức tranh tối tăm, bế tắc của các phong trào cách mạng trong việc tìm ra con đường cứu nước và phát triển mô hình nhà nước phù hợp cho Việt Nam.

Sống dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta phải chịu cảnh

Trong xã hội phong kiến Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và nhà Nguyễn, người dân phải chịu đựng sự bóc lột dưới họng súng và thanh gươm, dẫn đến sự hình thành hai mâu thuẫn chính: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân (đa phần là nông dân) với địa chủ phong kiến Trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc và đế quốc là vấn đề cấp thiết nhất, đòi hỏi giải quyết ngay để giành độc lập tự do Chính thực tiễn đó đã thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và xây dựng một mô hình nhà nước mới phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đi nhiều nước tư bản như Anh, Pháp, Mỹ và các quốc gia thuộc địa trên khắp các châu lục, sống và lao động như một người công nhân để nghiên cứu đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các tầng lớp nhân dân Người luôn xem xét các phương thức tổ chức xã hội và nhà nước, chế độ chính trị hiện tại, đồng thời lắng nghe nguyện vọng và hoạt động đấu tranh của các dân tộc Qua hai cuộc chiến tranh thế giới với những tổn thất lớn, Hồ Chí Minh đã chứng kiến sự hy sinh và hậu quả lâu dài của chiến tranh, đồng thời nhận thấy sức mạnh quật khởi của các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng Đặc biệt, trong những năm sống và làm việc tại Liên Xô, Người đã mô tả rõ nét về ưu việt của chế độ và nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô viết, nhấn mạnh các giá trị xây dựng và phát triển của hệ thống này.

Hồ Chí Minh đã đi nhiều nơi, làm nhiều công việc, nghiên cứu và học tập kinh nghiệm của các nước để phục vụ sự nghiệp cách mạng của đất nước Người đã đào tạo và tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Với vai trò lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Người đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam đánh thắng hai đế quốc lớn và xây dựng xã hội mới Những thành tựu này tạo nền tảng thực tiễn vững chắc cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phát triển phong phú, toàn diện, đặc biệt về chính trị, về Đảng và Nhà nước Tư tưởng của Người là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và hành động, lý luận và thực tiễn, giúp Người ngày càng tiếp cận sâu sắc với chân lý của thời đại.

Trong quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú, Hồ Chí Minh đã đúc kết các quy luật thành lý luận về nhà nước Trong thời gian bôn ba tại các nước tư bản phát triển, Người nghiên cứu cách tổ chức nhà nước, phê phán các mặt tiêu cực và tiếp thu những yếu tố hợp lý để xây dựng mô hình Nhà nước cách mạng Việt Nam Nhờ thực tiễn cách mạng, tư tưởng của Người về hình thức nhà nước đã có nhiều bước tiến quan trọng, thể hiện sự chuyển biến từ nhà nước quyền lực thuộc về số đông đến Nhà nước công nông binh và cuối cùng là Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA

DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nhà nước của dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, tập hợp cán bộ, công chức có đủ đạo đức và tài năng để tham gia xây dựng nhà nước Nhà nước này phải thật sự “của dân, do dân, vì dân”, phản ánh ý chí và lợi ích của nhân dân Tuy nhiên, khái niệm nhà nước “của dân, do dân, vì dân” không phải do Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề xuất; Tổng Thống Mỹ Abraham Lincoln là người đặt nền móng cho tư tưởng này trong cuộc chiến chống chế độ nô lệ tại Mỹ Lincoln từng tuyên bố rằng: “Chế độ dân chủ là chính quyền của dân, do dân và vì dân Một chính quyền như vậy sẽ không tàn lụi khỏi trái đất này”.

Khái niệm “Nhà nước của dân, do dân, vì dân” lần đầu tiên được Hồ Chí Minh dùng vào năm 1927 tại Quảng Châu, khi Người trình bày ý tưởng của nhà cách mạng Tôn Trung Sơn về việc thành lập một chính phủ của dân, do dân và vì dân dựa trên ba nguyên tắc lớn của Quốc dân đảng Sau đó, trong bài viết “Dân vận” trên báo Sự thật số 120 ngày 15/10/1949, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: “Chính phủ của dân, do dân và vì dân là nền tảng cốt lõi của chế độ dân chủ, nhằm đảm bảo lợi ích của nhân dân và xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh."

“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Bài viết đó đã khái quát ngắn gọn, súc tích quan niệm về một nhà nuowvs của dân , do dân, vì dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Nhà nước của dân

Thứ nhất, mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Theo Hồ Chí Minh, nhà nước của dân nghĩa trước tiên là quyền lực thuộc về nhân dân, điều này được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 1946 do chính Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo Chính phủ và hệ thống chính quyền đều phải phục vụ lợi ích của nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Tư tưởng này nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân dân trong việc quyết định vận mệnh quốc gia, thể hiện sự dân chủ và công bằng trong hệ thống chính trị Việt Nam.

“Điều thứ 1 Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa

Trong Hiến pháp Việt Nam, tất cả quyền bính trong nước thuộc về toàn thể nhân dân, không phân biệt giới tính, trình độ, giàu nghèo hay tôn giáo, thể hiện nguyên tắc dân chủ bình đẳng Điều 32 quy định rằng những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ được đưa ra ý kiến phúc quyết của nhân dân, khi có ít nhất hai phần ba số nghị viên đồng ý, thể hiện hình thức trưng cầu dân ý—a form of direct democracy được phát triển sớm tại Việt Nam.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, gồm toàn bộ nhân dân trừ bọn phản quốc Người coi trọng và yêu thương nhân dân, nhận thức rõ nguồn gốc sức mạnh vô tận của nhân dân trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực của mình Chính nhân dân mới là lực lượng duy nhất đủ khả năng giữ vững quyền lực nhà nước và xây dựng đất nước phồn vinh.

Vì vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải thực hiện cho được khối đại đoàn kết toàn dân tộc để phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.

Thứ hai, dân có quyền dân chủ, có quyền làm bất cứ việc gì pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ được hiểu theo hai nghĩa chính: dân là chủ, thể hiện vị thế và tư cách xã hội của nhân dân, và dân làm chủ, đề cập đến trách nhiệm và năng lực của người dân trong việc xây dựng đất nước Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt và khoảng cách có thể rất lớn giữa tư cách và trách nhiệm của dân, từ đó đề cao vai trò của dân chủ trong phát triển xã hội và xây dựng nền móng dân chủ vững chắc.

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng “dân làm chủ” đòi hỏi không chỉ quyền mà còn cần năng lực để làm chủ Nguyên tắc “dân là chủ” đặt ra yêu cầu nhà nước phải giúp nhân dân biết hưởng và sử dụng quyền dân chủ của mình Theo Người, để thực hiện tốt vai trò làm chủ, nhân dân cần có khả năng và năng lực thích hợp Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, quan tâm này vẫn luôn hiện hữu trong suy nghĩ của Người suốt cả thế kỷ Trong dịp thăm và chúc Tết ngày Mồng Hai Tết Đinh Mùi năm 1967, lời nhắn gửi của Người tới các xã viên hợp tác xã Tảo Dương, xã Hồng Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, thể hiện rõ mong muốn giúp nhân dân biết dùng quyền dân chủ một cách tự tin và dám hành động, như một lời di chúc về ý nghĩa của việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Để nâng cao năng lực làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc bồi dưỡng sức dân trong chương trình hành động của Chính phủ lâm thời Các nhiệm vụ cấp bách được đặt ra đều nhằm mục tiêu phát triển dân trí, nuôi dưỡng dân khí và thúc đẩy ý thức làm chủ đất nước Những nội dung này góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thức trách nhiệm của từng người dân và các tầng lớp nhân dân đối với vận mệnh của Tổ quốc Việt Nam sau khi giành độc lập, tự do.

Nói đến quyền dân chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh luôn đi kèm với nó là tính từ “thực sự”, “thật sự”, “đầy đủ để gián tiếp đối lập nó với một thứ dân chủ chung chung, hình thức, chưa thực sự hoặc không thực sự Theo Người, “thực sự”, “thật sự” phải là một thuộc tính, một dấu hiệu không thể thiếu của nền dân chủ của xã hội ta: “Nước ta phải đi đến dân chủ thực sự”. Trong xã hội ta, “thực sự dân chủ” phải trở thành một điều kiện, một thứ thước đo thực chất của chính quyền Đồng thời, việc thực sự phát huy dân chủ có tác dụng như một chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ đó là do tính chất Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”?

Như vậy, dù là trong lý luận hay hành động thực tiễn, dân chủ, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ và năng lực làm chủ của nhân dân đã trở thành mục tiêu hoạt động của Hồ Chí Minh nói chung và nhà nước kiểu mới do Người xây dựng nói riêng Bởi những đặc trưng đó mà Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập sau cách mạng Tháng Tám 1945 thực sự xứng đáng là một nhà nước của dân.

Người dân có quyền kiểm soát và giám sát mọi hoạt động của nhà nước, đảm bảo chính quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và đáp ứng nhu cầu của nhân dân Ngoài ra, dân còn có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nếu không thực hiện đúng trách nhiệm hoặc phản ánh không đúng nguyện vọng của cử tri Quyền này thể hiện vai trò quan trọng của nhân dân trong việc giữ gìn nền dân chủ và thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Trong tư duy của Hồ Chí Minh, quyền của nhân dân trong việc bãi miễn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thể hiện rõ qua việc dân có khả năng kiểm soát và giám sát hoạt động của các đại biểu, phản ánh tinh thần dân chủ thực sự Ngài đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền tự do và quyền giữ gìn tính mạng, của cải của mỗi người, dựa trên giá trị của phong trào cách mạng Mỹ 1776, khẳng định rằng “Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác” Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh khẳng định nguyên tắc này trong tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền, dân chủ mới của nhân dân, do nhân dân làm chủ, với lời nhấn mạnh: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Cơ chế bãi miễn dân chủ nhằm đảm bảo sự trong sạch và phẩm chất của Quốc hội, giữ vững năng lực hoạt động hiệu quả Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc bãi miễn dân chủ là phương pháp để duy trì tính chính đáng và độc lập của Quốc hội trong quá trình thực thi quyền lực Chính sách này góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước, thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội.

Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân khi những người này thiếu xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Không có ngoại lệ nào, từ chủ tịch nước đến các chức vụ thấp hơn như giao thông viên, nếu không phục vụ tốt cho dân, thì nhân dân có quyền không cần đến họ nữa Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng quyền làm chủ của nhân dân là rất khó thực hiện, nhưng điều này thể hiện rõ tư cách làm chủ nhà nước và năng lực thực hành dân chủ của quần chúng lao động.

Các đại biểu được bầu ra với vai trò làm chủ nhà nước phải có trách nhiệm gần gũi, lắng nghe ý kiến của nhân dân để hiểu rõ nhu cầu và vấn đề thực tiễn Theo Hồ Chí Minh, đại biểu cần duy trì mối liên hệ thường xuyên với nhân dân để thể hiện rõ vai trò của nhân dân lao động làm chủ nhà nước, tránh xa sự quan liêu và trì trệ, đảm bảo nhà nước phù hợp với bản chất dân chủ đích thực của nhà nước kiểu mới Việc thoát ly khỏi mối liên hệ này khiến nhà nước dễ rơi vào tình trạng độc đoán, đứng trên đầu nhân dân, phản ánh sự cần thiết của sự trách nhiệm và gắn bó với dân trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.

Thông qua Tổng tuyển cử, nhân dân có thể bầu cử và bãi miễn đại biểu, đảm bảo quyền chính trị cơ bản của mình và thể hiện vai trò làm chủ nhà nước Nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng trong việc kiểm soát nhà nước, với quyền lợi được bảo đảm thực chất, chứ không chỉ trên danh nghĩa Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng chính phủ là của nhân dân, có nhiệm vụ phụng sự lợi ích của nhân dân, đồng thời mong muốn nhân dân giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình chính phủ để thực hiện tốt trách nhiệm của mình.

Nhà nước do dân

Nhà nước do dân lập ra đã được khẳng định rõ trong lịch sử Việt Nam Trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng hơn 100 năm chống thực dân Pháp, Nhật đảo chính Pháp, và Nhật hàng, dân tộc Việt Nam đã đánh đổ xiềng xích thực dân, lập nên đất nước độc lập và chế độ Dân chủ Cộng hòa Ông khẳng định rằng sự tự do và độc lập của dân tộc Việt Nam là thành quả của sự hy sinh và đấu tranh của biết bao người yêu nước, dựa trên tinh thần quần chúng nhân dân góp công lập nên nền móng của nhà nước Điều này nhằm nhấn mạnh rằng nhà nước Việt Nam không phải do ý chí của một số ít mà là sản phẩm của ý chí và xương máu của toàn thể nhân dân.

Thứ hai, dân bầu ra đại biểu thay mặt dân vào cơ quan nhà nước thông qua chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu, dân chủ trực tiếp

Vào ngày 3/9/1945, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời đã nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiến hành Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội, đảm bảo chế độ bầu cử phổ thông trực tiếp, bình đẳng và bỏ phiếu kín Đồng thời, việc xây dựng hiến pháp là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách nhằm xác lập nền móng pháp lý vững chắc cho quốc gia mới độc lập.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh Tổng tuyển cử là quyền chính trị của nhân dân được giành từ đấu tranh cách mạng, thể hiện dân chủ và năng lực thực hành dân chủ của nhân dân Ông cho biết, cuộc Tổng tuyển cử là dịp để toàn dân lựa chọn những người có đức, có tài để gánh vác công việc đất nước, và mọi công dân đều có quyền ứng cử, đi bầu cử Thành công của cuộc bầu cử Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946 dù trong điều kiện khó khăn đã kết quả là 333 đại biểu, trong đó phần lớn là trí thức, phản ánh sự đoàn kết của toàn dân Việt Nam trong cuộc cách mạng giành độc lập Hồ Chí Minh đánh giá cao sự kiện này là bước ngoặt lịch sử, thể hiện sức mạnh đoàn kết của toàn dân Việt Nam không kể già trẻ, tôn giáo hay dân tộc, để tranh lấy nền độc lập tự do cho tổ quốc.

Thứ ba, dân có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhà nước

Nhân dân có quyền thực thi quyền lực của mình qua cơ chế dân chủ, đồng thời có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ nhà nước để ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng quyền dân chủ không chỉ là quyền của nhân dân mà còn đi cùng trách nhiệm xây dựng và bảo vệ nhà nước, thể hiện tinh thần cách mạng kiên trì và nhất quán.

Chế độ của chúng ta là chế độ dân chủ, trong đó nhân dân là chủ và Chính phủ là đày tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ nhằm thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước Chính phủ cam kết mọi công việc, dù lớn hay nhỏ, đều hướng tới mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và phát triển bền vững.

Nhân dân có nhiệm vụ hỗ trợ Chính phủ thực hiện đúng kỷ luật và chính sách của nhà nước Sự đoàn kết và phối hợp chặt chẽ giữa nhân dân và Chính phủ là yếu tố quan trọng để Chính phủ hoàn thành trách nhiệm được nhân dân giao phó Việc giúp đỡ Chính phủ đúng theo quy định và chính sách chính là trách nhiệm của nhân dân nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.

Nét độc đáo, đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ nhà nước của nhân dân nằm ở chỗ quan niệm nghĩa vụ công dân không chỉ dựa trên tinh thần pháp luật mà còn gắn liền với đạo đức, nhân cách của người công dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trách nhiệm của công dân không chỉ thực hiện theo quy định của pháp luật mà còn thể hiện qua phẩm chất đạo đức và nhân cách cao đẹp Tư tưởng này nhấn mạnh vai trò của đạo đức và nhân cách trong việc xây dựng nền chính trị dân chủ, công bằng và văn minh Người chỉ rõ rằng, quyền làm chủ của nhân dân là quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cần được thể hiện cả trong hành động pháp lý lẫn trong phẩm chất đạo đức cá nhân Điều này góp phần nâng cao ý thức công dân, thúc đẩy sự tham gia tích cực vào xây dựng và bảo vệ nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nước ta là một nước dân chủ, nơi nhân dân có quyền làm chủ đất nước Để thực hiện quyền làm chủ này, nhân dân cần tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân, giữ gìn đạo đức công dân và làm tròn trách nhiệm của mình trong xã hội Việc tuân thủ các bổn phận công dân không chỉ giúp đảm bảo quyền lợi của chính mình mà còn góp phần xây dựng đất nước phát triển bền vững.

- Tuân theo pháp luật nhà nước

- Tuân theo kỷ luật lao động

- Giữ gìn trật tự chung

- Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số để xây dựng lợi ích chung

- Hăng hái tham gia công việc chung

Bảo vệ tài sản công cộng là trách nhiệm của mỗi người dân trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của tài sản chung, góp phần bảo vệ Tổ quốc Ý thức làm chủ và thực hiện nghĩa vụ làm chủ cần trở thành hành động tự giác, ăn sâu vào ý thức mỗi cá nhân Việc này phải thể hiện rõ trong từng công việc cụ thể hàng ngày, giúp nâng cao ý thức trách nhiệm và góp phần xây dựng cộng đồng vững mạnh.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, người chủ cần tự mình lo toan, gánh vác nhiệm vụ, không dựa dẫm hoặc chờ đợi người khác Mọi cá nhân đều phải tích cực đóng góp công sức và của cải để xây dựng đất nước Ông cảnh báo không nên “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”, nhấn mạnh tinh thần chủ động, trách nhiệm và đoàn kết trong công cuộc xây dựng quê hương.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự khác biệt giữa ý thức làm chủ nhà nước và quyền làm chủ nhà nước của công dân, trong đó ý thức làm chủ mang tính phương pháp luận và chỉ đạo thực tiễn sâu sắc Người cho rằng, nhận thức rõ ràng về trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân trong việc xây dựng và bảo vệ nhà nước là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước Việc nâng cao ý thức làm chủ nhà nước không chỉ thúc đẩy sự tham gia tích cực của công dân mà còn góp phần củng cố nền dân chủ, góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng làm chủ không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm đạo đức, pháp lý của công dân, vì nó gắn liền với khái niệm “công dân” Theo Hồ Chí Minh, trong chế độ của ta, lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân là thống nhất; do đó, công dân vừa hưởng quyền lợi từ nhà nước vừa tự giác thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và tập thể Nhà nước đóng vai trò là người điều phối, tổ chức và quản lý, không phải là người ban ơn hay làm phước, phản ánh tinh thần đấu tranh giải phóng giai cấp và xã hội của nhân dân các nước thuộc địa Tư tưởng tự lực cánh sinh, “dựa vào sức mình là chính”, trở thành nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng nhà nước, xã hội mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh, làm nền tảng chỉ đạo quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến pháp, đồng thời là nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước, cán bộ và công dân một cách đúng đắn.

Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, đảm bảo sự trong sạch và năng lực thực hiện nhiệm vụ Nhà nước cần kiệm, liêm chính và chí công vô tư để đảm bảo công bằng và phát triển bền vững cho xã hội Điều đó thể hiện rõ qua việc các cơ quan công quyền hoạt động minh bạch, hướng tới lợi ích của nhân dân và không chạy theo lợi ích cá nhân hay nhóm lợi ích Chính phủ và cộng đồng có trách nhiệm xây dựng một chính quyền trong sạch, liêm chính, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị.

Thứ nhất, nhà nước phục vụ nhân dân.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng một nhà nước thực sự của dân, do dân mới có thể là nhà nước vì dân, với mục tiêu duy nhất là phục vụ nhân dân Nhà nước vì dân hướng tới lấy lợi ích của nhân dân làm tiêu chuẩn hoạt động, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của người dân Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ phải đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu trong mọi hoạt động, thể hiện trách nhiệm phục vụ cộng đồng và xây dựng một nhà nước gắn bó mật thiết với nhân dân.

| “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”

Trong nhà nước dân chủ, con người đóng vai trò trung tâm vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng và phát triển xã hội Bản chất dân chủ thể hiện rõ qua việc quản lý xã hội dựa trên nguyên tắc lo cho dân, không đàn áp hay áp đặt lên dân, phản ánh quan điểm phát triển mang đậm nhân văn và tôn trọng quyền lợi của mỗi cá nhân.

Hồ Chí Minh xem việc phục vụ nhân dân là một vinh dự cao quý, bởi

“trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”,

Ngày đăng: 03/04/2023, 16:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Lộc (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân , vì dân , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân
Tác giả: Nguyễn Đình Lộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
2. Võ Nguyên Giáp ( chủ biên) (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Năm: 2003
3. Hồ Chí Minh(2011), Toàn tập, nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) , Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
5. Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Ncb LLCT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc
Tác giả: Song Thành
Nhà XB: Ncb LLCT
Năm: 2005
6. Bộ giáo dục và Đào tạo, (2005), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Đặng Xuân Kỳ (2004), Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. Phạm Ngọc Anh , Bùi Đình phong ,(2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình phong
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w