Đề: Truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao và truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân đều viết về tình cảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945.. - Bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh
Trang 1Đề: Phong cách nghệ thuật của Nam Cao
BÀI LÀM
Mở bài
Nam Cao ( 1917-1951 ) là một nhà văn hiện thực lớn có tư tưởng nhân đạo sâu sắc mới mẻ, có phong cách nghệ thuật độc đáo
Thân bài
1 Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh trong cuộc sống hàng ngày, từ đó, đặt ra
vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, những triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật Truyện của Nam Cao tuy giàu triết lý, nhưng triết lý mà không khô khan, vì nó xuất phát từ cuộc sống thực và từ tâm tư đau đớn, dằn vặt của tác giả
2 Nam Cao có tài đặc biệt trong việc phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật Ông có hứng thú khám phá
“con người trong con người” Ngòi bút của ông có thể thâm nhập vào những quá trình tâm lý phức tạp, những
ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn con người; từ đó dựng lên được những nhân vật tư tưởng vừa có tầm khái quát lớn vừa có cá tính độc đáo Theo dòng cảm nghĩ của nhân vật, mạch tự sự của tác phẩm Nam Cao, thường đảo lộn trật tự của thời gian, không gian tạo nên lối kết cấu vừa linh hoạt vừa hết sức chặt chẽ
3 Cũng vì am hiểu sâu sắc tâm lý nhân vật mà Nam Cao đã tạo được nhiều đoạn đối thoại và độc thoại
nội tâm rất chân thực, sinh động
4 Truyện của Nam Cao luôn luôn thay đổi giọng điệu, có khi là giọng tỉnh táo và sắc lạnh; có khi là
giọng đằm thắm, trữ tình sôi nổi, nặng trĩu yêu thương Hai giọng văn đối lập nhau cứ chuyển hoá qua lại, tạo nên những trang viết thú vị, hấp dẫn
Kết luận
ngôn ngữ phong phú, sinh động, uyển chuyển tinh tế rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng Ông xứng đáng là một trong những nhà văn hiện thực lớn nhất của văn học Cách mạng thế kỷ XX
TÁC GIA NAM CAO TÀI LIỆU BÀI GIẢNG
Đây là tài liệu tóm lược các kiến thức đi kèm với bài giảng Tác gia Nam Cao thuộc khóa học Luyện thi Đại học
KIT-1 môn Ngữ văn – thầy Nguyễn Quang Ninh tại website Hocmai.vn Để có thể nắm vững kiến thức về tác gia
Nam Cao, Bạn cần kết hợp xem tài liệu cùng với bài giảng này
Trang 2Đề: Truyện ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao và truyện ngắn "Vợ nhặt" của Kim Lân đều viết về tình
cảnh người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945
a) Phân tích những khám phá riêng của mỗi tác giả về số phận và cảnh ngộ của người nông dân trong
mỗi tác phẩm
b) Chỉ ra sự khác nhau trong cách kết thúc hai thiên truyện Giải thích vì sao có sự khác nhau ấy Nêu
ý nghĩa của mỗi cách kết thúc?
c) Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm
Đáp án:
Ý chính cần có:
1 Giới thiệu khái quát về Nam Cao và truyện ngắn "Chí Phèo", Kim Lân và truyện ngắn: "Vợ nhặt"
2 Khám phá riêng của mỗi tác gia
a Khám phá riêng của Nam Cao trong "Chí Phèo"
- Thân phận khốn khổ của người nông dân: Chí Phèo từ đứa trẻ bị bỏ rơi, bơ vơ, không nhà cửa, không
họ hàng thân thích đến khi làm canh điền cho nhà Bá Kiến rồi bị đẩy vào tù
- Bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình, bị gạt bỏ ra
ngoài xã hội loài người, trở thành "con quỷ dữ của làng Vũ Đại."
- Khi thức tỉnh nhân tính, Chí Phèo khao khát trở về cuộc sống lương thiện, nhưng bị xã hội làng Vũ Đại lạnh lùng cự tuyệt Chí phèo rơi vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người dẫn đến cái chết đầy bi phẫn
- Qua "Chí Phèo", Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước
Cách mạng: một bộ phận người dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá
b Khám phá riêng của Kim Lân trong "Vợ nhặt"
- Thân phận nghèo hèn của mẹ con Tràng (dân ngụ cư, nghèo túng không lấy nổi vợ)
- Tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 Cảnh ngộ của người đàn bà vợ Tràng, câu chuyện nhặt được vợ của Tràng và cảnh rước nàng dâu về nhà chồng đã phơi bày tất cả
sự nghèo đói và tình trạng thê thảm của thân phận con người
3 Về kết thúc của hai thiên truyện
a Sự khác nhau
Truyện "Chí Phèo" kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh cái lò gạch cũ đã xuất hiện ở phần đầu tác
phẩm Khi nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong đầu thị thoáng hiện ra hình ảnh cái lò gạch cũ bỏ không và vắng người qua lại
Còn truyện "Vợ nhặt" kết thúc bằng hình ảnh hiện lên trong đầu Tràng: đoàn người đi phá kho thóc của Nhật
cùng với lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới Hình ảnh này đối lập với hình ảnh về cuộc sống thê thảm của người nông dân được miêu tả ở những phần trước của thiên truyện
Trang 3b Giải thích vì sao có sự khác nhau
- Do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử: "Chí Phèo" viết trước cách mạng (viết năm 1940, in năm 1941) trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam đương thời Còn "Vợ nhặt" viết sau 1945 khi quần
chúng đã được cách mạng giải phóng
- "Chí Phèo" thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán, chưa nhìn thấy lối thoát của người nông dân Còn "Vợ nhặt" là tác phẩm của nền văn học cách mạng từ sau 1945 có khả năng và cần thiết phải
chỉ ra chiều hướng phát triển tích cực của đời sống xã hội
c Kết thúc của "Chí Phèo" đầy ám ảnh, góp phần tạo nên kết cấu theo kiểu vòng tròn, thể hiện sự bế
tắc của số phận người nông dân; đồng thời cho ta thấy "hiện tượng Chí phèo" vẫn tiếp tục tồn tại trong xã hội
cũ Còn kết thúc của "Vợ nhặt" mở ra một hướng giải thoát cho số phận các nhân vật, chỉ ra con đường sống
của người nông dân, và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng đến cách mạng
4 Phân tích nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm
a Của "Chí Phèo"
- Tố cáo tội ác của xã hội cũ đẩy người nông dân lương thiện vào tình trạng tha hoá, lưu manh hoá, huỷ hoại cả nhân hình và nhân tính của con người
- Tiếng kêu khẩn khiết đòi quyền sống, quyền làm người lương thiện cho những người cùng khổ trong
xã hội
- Thể hiện niềm tin vào bản chất lương thiện của người lao động Khẳng định khát vọng lương thiện
của người lao độngngay cả khi họ bị đẩy vào tình trạng lưu manh hoá Với "Chí Phèo", Nam Cao là nhà văn
đồng tình với khát vọng lương thiện của con người
b Của "Vợ nhặt"
- Sự cảm thông với tình trạng đói khổ cùng cực của người dân lao động
- Khẳng định bản chất tốt đẹp của người nông dân lao động Trong cảnh cùng đường, đói khát, họ vẫn cưu mang, đùm bọc lẫn nhau
- Thể hiện khát vọng đầy tính nhân bản của con người Khi bị đẩy tới bước đường cùng, người dân lao động vẫn không bao giờ mất hết niềm tin, vẫn khát khao có một mái ấm gia đình, khao khát hạnh phúc
BÀI LÀM
Mở bài
Đau đớn, quằn quại, Chí Phèo chết ngay trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời lương thiện Mòn mỏi,
lay lắt, những kiếp người trong "Vợ nhặt" của Kim Lân sống trong nghèo khổ, tủi nhục và âm thầm tiến đến
bên bờ vực của cái chết, ngay khi đang sống Mỗi trang văn của Nam Cao và Kim Lân như thấm đẫm những day dứt, đau đớn về số phận con người, đau đáu một khát khao cho hạnh phúc nhân thế và ngời sáng một niềm tin bất diệt về con người Dẫu hai tác phẩm đã có những hướng đi khác nhau, một bên là sự trăn trở
Trang 4trước nỗi khổ của một số phận bị chà đạp, mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, không được quyền làm người, một bên là nỗi đau đớn của những thân phận bị rẻ rúng trong cái đói, nghèo, nhưng hai nhà văn đã gặp nhau ở
nơi hội tụ của mọi ánh sáng văn chương chân chính: ấy là cảm hứng nhân đạo thiết tha
Thân bài
1 a Nam Cao (1915-1951) là nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất của văn học Việt Nam giai
đoạn 1939-1945 Năm 1941, tác phẩm "Chí Phèo" ra đời đã gây một tiếng vang lớn, đưa tên tuổi của Nam
Cao lên đến đỉnh vinh quang của thành công nghệ thuật về đề tài người nông dân Trước đó, văn học Việt Nam cũng đã xây dựng được những hình tượng người nông dân khá hấp dẫn trong xã hội cũ như chị Dâu
trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, anh Pha trong "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan nhưng phải đến khi Chí Phèo " ngật ngưỡng" bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta mới thực sự thấy được
hình tượng điển hình sắc sảo nhất cho nỗi thống khổ của người nông dân trước Cách mạng
b Cùng viết đề tài người nông dân trước 1945, trong nền văn học Cách mạng (1945-1975), Kim Lân
đã viết truyện ngắn "Vợ nhặt" dựa trên một chương truyện dài "Xóm ngụ cư" cho ta thấy được tình cảnh khốn
cùng của người nông dân trong nạn đói 1945 khủng khiếp Ý của truyện là " Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết thảm đạm để mà vui, mà hy vọng"
2 Từ đề tài chung đó, mỗi tác phẩm đã có những khám phá riêng về số phận và cảnh ngộ của người
nông dân trước Cách mạng tháng Tám - 1945
a Khám phá mới mẻ của Nam Cao là khám phá về cuộc sống của người nông dân trong tột cùng nỗi
khổ, trong bi kịch bị tha hoá, bị đày đoạ lăng nhục, bị cự tuyệt quyền làm người Họ khao khát, ước mơ một
cuộc sống lương thiện nhưng lại bị chà đạp tàn bạo về nhân phẩm khiến không những không được làm người
mà còn bị biến thành quỷ dữ, bị xã hội xa lánh Chí Phèo vốn có một thân phận khốn khổ từ khi sinh ra: hắn là đứa trẻ bị bỏ rơi, không nhà cửa, không họ hàng thân thích Tuy nhiên, đã có một thời Chí cũng là một người
nông dân lương thiện khoẻ mạnh về thể xác, lành mạnh về tâm hồn Cả đời hắn chỉ có một ước mơ bình dị: có
một gia đình, chồng cày thuê, cuốc mướn, vợ dệt vải Nhưng rồi cái mơ ước bé nhỏ và chính đáng ấy cũng không bao giờ thực hiện được Bi kịch cuộc đời Chí bắt đầu từ khi hắn làm canh điền cho nhà Bá Kiến, bị bắt
đi ở tù mà không hiểu vì sao! Từ một thanh niên hiền lành, nhà tù thực dân đã biến Chí thành một tên lưu
manh, mang diện mạo của một con quỷ dữ, mất cả nhân tính lẫn nhân hình, khi trở về làng Chính vì thế, Chí
Phèo đã phải chịu nỗi khổ đầu tiên là bị con người xa lánh, bị cả xã hội ruồng bỏ Hình ảnh Chí Phèo với "cái
đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết"
khật khưỡng vừa đi vừa chửi bới, nguyền rủa lảm nhảm mà không có một lời đáp lại là biểu tượng cho nỗi
cô đơn tột đỉnh của Chí Niềm khát khao giao hoà với cuộc sống của Chí đã bị cái ngoảnh mặt lạnh lùng của
xã hội dập tắt Người ta không thèm ném cho hắn dù chỉ là một tiếng chửi Số phận của người nông dân là thế,
từ Năm Thọ, Binh Chức đến Chí Phèo, cuộc đời bị bọn thống trị độc ác và nhà tù tàn bạo của chế độ thực dân làm cho tha hoá, và bị gạt bỏ ra ngoài xã hội loài người
Trang 5- Đỉnh cao của những nỗi khổ trên là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người Giữa bóng tối mênh mông
của cuộc đời, vào một đêm trăng thơ mộng, Chí Phèo được gặp Thị Nở Được sự săn sóc giản dị với bát cháo
hành hiện thân của nhân tình, ý thức nhân tính trong con người Chí Phèo đã thức dậy Chí Phèo khao khát trở
về cuộc sống bằng phẳng của những con người lương thiện "Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm
hoà với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn" Chí Phèo hồi hộp hi vọng Nhưng cánh cửa hi
vọng vừa hé mở thì đã bị đóng sầm ngay lại Vì bà cô Thị Nở hiện thân của những thành kiến, định kiến bất
công, tồi tệ, vô nhân đạo của xã hội cũ đã không cho Thị Nở "đâm đầu đi lấy một thằng chỉ có một nghề là
rạch mặt ăn vạ" Thế là Chí Phèo thực sự lâm vào một tấn bi kịch tâm hồn đau đớn: bi kịch bị xã hội dứt khoát cự tuyệt làm người Kết cục Chí Phèo phải tìm đến một cái chết đầy bi phẫn, thảm thương của một con
vật
- Qua "Chí Phèo", Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng: một bộ phận người nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá
b Trong "Vợ nhặt" của Kim Lân, thân phận nghèo hèn của mẹ con Tràng, dân ngụ cư thật tội nghiệp:
nghèo tới mức một đời khao khát lấy được một người vợ để có được một mái ấm gia đình mà cũng không được
- Khi nạn đói khủng khiếp năm 1945 tràn đến, thân phận người nông dân hiện ra mới thảm thương làm
sao! "Cái đói đã tràn đến xóm ngụ cư từ lúc nào Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngỗn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng về không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi gây của xác người", "Tiếng quạ cứ gào lên từng hồi thê thiết " Cái đói đã huỷ hoại cả hình thức lẫn tâm hồn người vợ nhặt "Nom chị ta rách rưới quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa" Chị ta "gầy xọp", "khuôn mặt lưỡi cày xám xịt" Cái đói khiến thị phải gợi ý Tràng
cho ăn và chị cắm đầu một chặp bốn bát bánh đúc liền rồi "ton ton" chạy theo về làm "vợ nhặt" người đàn ông
xa lạ kia Cái cảnh rước dâu diễn ra thật thương tâm: Thị cúi đầu lầm lũi, thèn thẹn đi cách Tràng vài bước
trong lời trêu chọc và ánh mắt của trẻ con và người lớn xóm ngụ cư Và bữa cỗ ngày cưới cũng thật tội
nghiệp: "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm ra chuối thái rối, và một cái đĩa muối ăn với cháo" Cùng với một nồi cháo cám "đắng chát và nghẹn bứ trong cổ" Tất cả những điều ấy đã phơi bày được sự nghèo đói và tình
trạng thê thảm của con người trong bối cảnh lúc bấy giờ
3 Sự kết thúc của hai thiên truyện
a Sự khác nhau:
Truyện "Chí Phèo" kết thúc bằng cách lặp lại hình ảnh cái lò gạch cũ đã xuất hiện ở phần đầu tác
phẩm Khi nghe tin Chí Phèo chết, Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và trong óc thị thoáng hiện ra hình ảnh cái
lò gạch cũ bỏ không và vắng bóng người qua lại
Trang 6Còn truyện "Vợ nhặt" kết thúc bằng hình ảnh hiện lên trong óc Tràng: đoàn người đi phá kho thóc của Nhật cùng với hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh bay phấp phới Hình ảnh này đối lập với hình ảnh về cuộc
sống thê thảm của người nông dân được miêu tả trong những phần trước của thiên truyện
b Giải thích vì sao có sự khác nhau:
- Do hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh lịch sử: "Chí Phèo" viết trước cách mạng (viết năm 1940, in năm 1941) trong hoàn cảnh đen tối của xã hội Việt Nam đương thời Còn "Vợ nhặt" là tác phẩm của nền văn
học cách mạng từ sau 1945 có khả năng và cần thiết phải chỉ ra chiều hướng tích cực của đời sống xã hội
c Kết thúc "Chí Phèo" đầy ám ảnh, góp phần tạo nên kết cấu theo kiểu vòng tròn, thể hiện sự luẩn
quẩn bế tắc của số phận người nông dân; đồng thời cho ta thấy "hiện tượng Chí Phèo" vẫn tiếp tục tồn tại
trong xã hội cũ Còn kết thúc "Vợ nhặt" mở ra một hướng giải thoát cho số phận các nhân vật, chỉ ra con
đường sống của người nông dân, và cho thấy khi bị đẩy vào tình trạng đói khát cùng đường thì những người nông dân nghèo khổ sẽ hướng tới Cách mạng
4 Phân tích những nét đặc sắc trong tư tưởng nhân đạo của mỗi tác phẩm
a) Nhà văn Sêkhốp đã từng nói: "Mỗi nhà văn chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tuỷ"
Điều này rất đúng với Nam Cao và Kim Lân Trên mỗi trang sách của hai nhà văn luôn luôn có một trái tim đập thổn thức vì nỗi đau của con người và một tấm lòng trân trọng trước vẻ đẹp của họ Tuy nhiên mỗi nhà
văn đã có những cách thể hiện, khám phá riêng rất đặc sắc để làm nên tính sinh động, đa dạng, hấp dẫn cho
từng tác phẩm
b) Ở tác phẩm "Chí Phèo", điểm đặc sắc riêng của Nam Cao là đã lớn tiếng tố cáo tội ác của xã hội
thực dân phong kiến đã đấy người nông dân lương thiện vào tình trạng tha hoá, lưu manh hoá, huỷ hoại cả
nhân tính và nhân hình của con người Từ đó, tác phẩm đã vút lên tiếng kêu khẩn thiết đòi quyền sống, quyền làm người lương thiện cho những con người cùng khổ trong xã hội cũ Điều đặc biệt là Nam Cao vẫn có niềm tin bất diệt vào bản chất lương thiện của người lao động và khẳng định khát vọng lương thiện của họ ngay cả
khi họ bị đẩy vào tình trạng lưu manh hoá Với "Chí Phèo" , Nam Cao là nhà văn đồng tình với khát vọng
lương thiện của con người
c) Còn trong "Vợ nhặt", Kim Lân đã bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với tình trạng đói khổ cùng cực
của người nông dân lao động Nhà văn khẳng định bản chất tốt đẹp của họ Trong cảnh cùng đường đói khát,
họ vẫn cưu mang đùm bọc lẫn nhau Ánh sáng của tình người là thứ ánh sáng đẹp nhất, rạng rỡ nhất trong những ánh sáng le lói trong bầu không khí ảm đạm của tác phẩm Kim Lân còn thể hiện một khát vọng nhân
bản của con người Khi bị đẩy đến bước đường cùng, người lao động vẫn không bao giờ mất hết niềm tin, họ vẫn khao khát hạnh phúc, khao khát sống, bám lấy sự sống như một quy luật sinh tồn tất yếu Điều đặc biệt là
"Vợ nhặt" còn mở ra một con đường giải quyết cái đói nghèo, bế tắc, đó là cách mạng
Trang 7Kết luận:
Trải qua bao nhiêu năm, "Chí Phèo" và "Vợ nhặt" vẫn là những tác phẩm xuất sắc về đề tài người
nông dân trước năm 1945 Với một đề tài cũ, song hai tác phẩm đã thể hiện sự phát hiện, khám phá mới mẻ về
cảnh ngộ người nông dân và tư tưởng nhân đạo sâu sắc Đó là những tác phẩm sẽ "Vượt qua sự băng hoại của
thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết" (Sêđrin)
Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh Nguồn: Hocmai.vn