xu thế phát triển giáo dục Sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong xu thế toàn cầu hoá với sự cạnh tranh gay gắt, hàm lượng chất xám “giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lược cuộc sống”.
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay, cả nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ của trí tuệ, của nền kinh
tế tri thức, vấn đề con người đã được đặt ra ở tầm cao mới, coi con người là vốn quý nhất, coi sự phát triển nguồn nhân lực con người là cuộc cách mạng trong bối cảnh thế giới đang biến động mạnh mẽ, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh Nguồn lực con người là số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực
và phẩm chất
Có thể thấy rằng, giáo dục có một vai trò rất quan trọng đối với vận mệnh của đất nước Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước ta luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Điều đó có nghĩa là sự nghiệp giáo dục và chính sách giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu, là nhân tố quyết định sự bền vững đối với một quốc gia Các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối diện với những thách thức trong giáo dục, nhất là khi thực hiện quốc tế hóa giáo dục
Hiện nay, trong nhiều lĩnh vực đều đã và đang thực hiện quốc tế hóa: chính trị, kinh
tế, văn hóa… Đặc biệt, giáo dục đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi đây là nguồn gốc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Trong thời đại hội nhập quốc tế, việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm giáo dục của các nước và chú ý đến những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế sẽ giúp đất nước giảm bớt khó khăn và đi đúng hướng văn minh của thời đại Khi đó, nguồn nhân lực được đào tạo mới đủ trình độ và sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trên toàn cầu
Do đó, vai trò của giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục trong quá trình Quốc tế hoá càng trở nên quan trọng và trở thành quốc sách hàng đầu đối với nhiều quốc gia Các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối diện với những thách thức trong giáo dục, nhất là khi thực hiện quốc tế hóa giáo dục Chúng ta phải tập trung chăm sóc, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy sức mạnh của con người Việt Nam thành lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất đủ bản lĩnh và kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đủ sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sức mạnh của con người và các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam phải thể hiện thành sức mạnh của đội ngũ nhân lực, trong đó
có bộ phận nhân tài, trên nền sức mạnh dân trí với cốt lõi là nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân tộc Vì vậy, cần phải học hỏi những kinh nghiệm, chuẩn mực và giá trị quốc
tế tiên tiến làm cơ sở và đích đến cho nền giáo dục Việt Nam Quốc tế hóa toàn diện nền giáo dục, từ tư duy đến hành động để nhằm tạo ra thế hệ người Việt Nam mới, thành thạo các kỹ năng sống, làm việc và cạnh tranh có văn hóa trên phạm vi thế giới
Trang 2NỘI DUNG
I Khái quát về quốc tế hóa trong giáo dục đào tạo
“Quốc tế hóa giáo dục là xu hướng mang tính toàn cầu, nhằm chia sẻ những kinh nghiệm tốt nhất giữa các quốc gia về mọi lĩnh vực trong giáo dục, từ đào tạo tới nghiên cứu, từ phương pháp dạy học tới biên soạn giáo trình, từ việc sử dụng công nghệ trong giáo dục tới các nguồn tài liệu học tập, từ các vấn đề về giáo viên tới các vấn đề quản lý, kiểm định và đánh giá chất lượng Toàn cầu hóa giáo dục nhằm mục đích cải tổ quá trình học tập cho tất cả mọi người và xây dựng những nguyên tắc, giá trị chung giữa các nền giáo dục trong bối cảnh thế giới đang tiến tới nền kinh tế trí thức toàn cầu” (GS.Mai Trọng Thuận)
Theo J Knight (1993), quốc tế hóa giáo dục đại học là quá trình hội nhập quốc tế
về giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ của các đại học trên thế giới Theo Hans De Wit (2011), quốc tế hóa trong giáo dục đại học tại Châu Âu đã hình thành và phát triển từ 20 năm trước, đầu tiên chỉ là một mối quan tâm thứ yếu nhưng dần đã trở thành một nhân tố trung tâm
Từ năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị phải quốc tế hóa nhanh chóng, toàn diện
và triệt để nền giáo dục Trung Quốc Với Việt Nam, năm 1994 tại một Hội nghị về đổi mới giáo dục, đã khuyến nghị cần phải “hội nhập quốc tế” nhanh chóng và triệt để về giáo dục, nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc dân tộc
Thực tế “Hóa rồng” Kinh nghiệm – Thực tiễn nhờ giáo dục của một số quốc gia
trong vòng 25, 50 hoặc 100 năm qua, như Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc,
… là khoa học, giáo dục, nguồn nhân lực và nói cho rõ hơn là nhà nước đã thực sự hiểu vai trò quốc sách hàng đầu của khoa học, giáo dục và quan tâm, chỉ đạo, đầu tư quyết liệt cho nó Nhật Bản có Vua Minh Trị, Singapore có Lý Quang Diệu, Hàn Quốc có Park Chung Hee, Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình,… Nhiều nguyên nhân, bài học kinh nghiệm quý báu của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức đã được phân tích và đúc kết rất công phu trong một số đề tài nghiên cứu mấy năm trước đây Tuy nhiên, trong 5 hay 7 nguyên nhân “hóa rồng” đã được đúc kết của các nước này, tôi vẫn cứ muốn tìm hiểu hội nhập quốc tế trong giáo dục Việt Nam hiện nay
II Mục đích và mục tiêu của quốc tế hoá giáo dục
1 Mục đích của việc quốc tế hoá giáo dục
Trang 3- Theo đà phát triển của thế giới, thế kỷ 21 là một thế kỷ của “Toàn cầu hoá” cho nên Việt Nam phải chủ động hội nhập cùng với thế giới Việc hội nhập với thế giới không chỉ riêng về phát triển kinh tế mà còn nhằm vào phát triển văn hoá và xã hội mà trong đó, giáo dục là phần chủ yếu vì giáo dục nhằm vào việc đào tạo một thế hệ rường cột để xây dựng nước nhà
- Bên cạnh đó, nếu đánh giá đúng đắn về chất lượng giáo dục của Việt nam so với các quốc gia khác trong cùng khu vực thì giáo dục Việt Nam vẫn đang ở mức thấp so về kết quả học tập và kỹ năng thực tế của sinh viên Thực sự, có một khoảng cách rất lớn cũng như một sự khác biệt rất rõ ràng trong trình dộ và trong cùng lức tuổi của học sinh
- Cuối năm 2006, VN chính thức gia nhập WTO Đối với ngành giáo dục, khi gia nhập WTO, Việt Nam phải trang bị cho mình để đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của WTO và
để đáp ứng được các điều kiện trong nước
2 Mục tiêu
Vì giáo dục là một trong những thành tố quyết định sự phát triển của con người và nhằm vào mục đích xây dựng mối quan hệ với các nước khác, Việt Nam cần phải xác định mục tiêu của nình trong việc hợp tác với nước ngoài về hội nhập về văn hoá và giáo dục VN cần phải xác định:
- Mục đích xây dựng mối quan hệ phù hợp với nền giáo dục trong nuớc và nền giáo dục hội nhập
- Chất lượng giáo dục Việt nam phải ngang tầm với các nước khác trong cùng khu vực
- Xây dựng một mô hình công dân toàn cầu, có thể sống và làm việc bất kỳ nơi đâu, nắm bắt thông tin nhanh nhạy, thông thạo ngoại ngữ, đầy đủ kiến thức Tăng cường hợp tác với nước ngoài trong việc giảng dạy nhằm vào việc vừa thỏa mãn nhu cầu học tập của mọi người vừa nhằm vào việc đào tạo một tầng lớp công dân có trình dộ, có ý thức trách nhiệm, và có tư duy độc lập
III Những tồn tại và hướng khắc phục đối với việc quốc tế hoá giáo dục
Sau những năm mở cửa đón nhận và thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế
về giáo dục, ngành giáo dục Việt Nam đã đạt được một số thành quả và có một bước tiến trong việc nâng cao tri thức, kiến thức và kỹ năng cho các tầng lớp học sinh và sinh viên nói riêng và tất cả những người đi học nói chung
Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có tính hai mặï¨t của nó Quốc tế hoá giáo dục cũng vậy Bên cạnh những thành tựu, việc quốc tế hoá cũng đã lộ ra rất nhiều hạn chế mà nếu không sớm khắc phực, hậu quả sẽ trở nên nghiêm trọng và việc xử lý sẽ không đơn giản
1 Những tồn tại trong việc quốc tế hoá giáo dục
Trang 4i Về liên kết đào tạo: bên cạnh ưu điểm, việc liên kết trong đào tạo còn nhiều bất cập
như:
Chưa giám sát được các dự án đầu tư giáo ducï quốc tế tại VN, chưa đánh giá chính xác về tầm cỡ của các dự án dó, cơ sở vật chất chưa đầy đủ
Thiếu xác minh nguồn vốn của đối tác Thiếu thông tin về khả năng chuyên môn cũng như khả năng tài chính của đối tác Không có nguồn hoặc nguồn thông tin không chính xác, thiếu dộ tin cậy
Phát triển quá nhanh làm phát sinh nhiều bất cập như chất lượng đào tạo, quản lý, giảøng dạy, thành phần giáo viên… Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng trường quốc tế, hay nói chung là trường học có yếu tố nước ngoài, khiến cho chất lượng giảng dạy không đảnm bảo, không xác định được thành phần và đội ngũ giáo viên, thiếu bộ phận chuyên môn đủ khả năng để nhận xét và đánh giá chất lượng
Tầm nhìn chiến lược chưa hoàn chỉnh, thiếu cơ chế quản lý Chưa đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chưa chú trọng đến đánh gía và tự đánh giá Các trường quốc tế hiện nay chỉ đơn thuần là dạy học những môn phổ thông và ngoại ngữ là chủ yếu, Ngoài
ra, một số trường quốc tế để chuyên dạy cho con em người nước ngoài đang làm việc tai TPHCM nên việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học chua được quan tâm và đẩy mạnh Học sinh chủ yếu là học theo chương trình của nhà trường mà hiện nay, việc kiểm tra và đánh giá chất lượng chương trình vẫn chưa chặt chẽ và hiệu qủa
Chưa hệ thống hoá các loại văn bằng, tạo sự chênh lệch về giá trị và giá trị sử dụng của văn bằng Trừ những chứng chỉ đánh giá trình độ học sinh về ngoại ngữ đã được công nhận chính thức theo từng quoấ gia (Td TOEIC, TOEFE là của các trường thuộc khu vực châu Aâu và châu Mỹ, IELTS là hệ thống trường của Uùc), các loại văn bằng khác vẫn chưa được hệ thống, tạo sự chênh lệch về giá trị của văn bằng cũng như sự sử dụng của văn bằng đó trên thế giới
Nghiêng về phần kinh doanh, thu học phí cao Một số trường khi nâng lên chữ
“Quốc tê’” thì tự động nâng học phí trong khi cơ sở vật chất thì không có và không dủ tiêu chuẩn theo yêu cầu Ngoài ra, việc du học dễ dàng, học bổng được cấp nhiều và rộng rãi, thu hút nhân tài cho phía nước ngoài, xảy ra hiện tượng chảy máu chất xám mà hiện nay, ta chưa có chế độ đãi ngộ đúng mức đối với những người có trình độ cao khiến cho
du học sinh đi nhiều về ít
ii Về xây dựng chương trình:
Chưa chủ động trong chương trình, chưa xác định rõ chuyên môn phù hợp Mỗi trường tự quảng cáo cho mình một chương trình riêng, các cơ quan giáo dục Việt Nam thực sự chưa kiểm tra hay quản lý tất cả các chương trình đó Ngoài ra, mỗi nơi đều có
Trang 5một số giáo viên cơ hữu và giáo giêng dạy theo giờ, Do đó, ta chưa thể kiểm soát hết khả năng và kỷ năng của giáo viên gây ra sự sai lệch trong tiếp thu của học sinh
Thiếu chuyên môn về lập dự án và thiếu dự báo phát triển lâu dài Chính sự phát triển tràn lan mà một số trường mang danh nghĩa quốc tế sau khi hoạt động một vài tháng, một vài năm, đã lẳng lặn đóng của, để lại các em học sinh giữa dòng mà các cơ quan chức năng phải đau đầu xử lý Khi lên kế hoạch thành lập nhà trường, ta không chú ý đến dự báo phát triển của trường đó
Hợp tác không đúng chức năng và chuyên môn giữa các khoa, ngành
iii Về hệ thống pháp lý:
Năng lực cán bộ còn hạn chế, thiếu ngoại ngữ để giao tiếp và kiểâm tra Muốn kiểm tra và điều hành tốt, người cán bộ quản lý phải có đủ năng lực và có ngoại ngữ tốt Thiếu ngoại ngữ sẽ phát sinh ra tâm lý mặc cảm, ngại nói, ngại tiếp xúc
Nặng về nguyên tắc hành chính, thiếu năng động, còn giữ tính bao cấp, không sâu sát trong chuyên môn, không quan tâm đến kết quả thưcï tế mà chỉ kiểm tra theo dõi theo báo cáo giấy
Chưa xây dựng chính sách thích hợp để cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học Trong khi giáo dục đã mở cửa một thời gian khá lâu, ta vẫn chưa có một chính sách thích hợp để các cán lộ tham gia mà mọi chương trình phó thác cho phía nước ngoài Ngay cả một đại học tại Việt nam mang danh nghĩa trường Quốc tế, ban giám hiệu nhà trường tự ý sắp đặt một số môn gọi là quốc tế trong khi thực chất chỉ là những môn rất bình thường, không mang tính học thuật, không mang tính khoa học và thiếu cán bộ chuyên trách môn
đó
Không nắm vững hệ thống văn bản pháp qui để quản lý và tiếp nhận dự án Cán
bộ quản lý thiếu kiến thức về luật pháp không phải là ít Những cán bộ tham gia công tác quản lý và kiểm tra các trường quốc tế phải nắm vững các văn bản pháp luật để có cơ sở kiểm tra, thẩm định các dự án về mặt pháp luật, pháp qui
2 Hướng khắc phục và giải pháp thực hiện
Trước mắt, để việc quốc tế hoá đi đúng hướng và đạt hiệu quả, cần phải: Có một chương trình hợp tác cụ thể, về phương thức hợp tác, về phương thức đào tạo, về phương thức liên kết… , hợp tác với các trường nước ngoài, trao đổi sinh viên, trao đổi giáo viên, trao đổi các chuyển giao phát minh, sở hữu trí tuệ…
Lấy người học làm trọng tâm, hợp tác trao đổi về nội dung đào tạo, kinh nghiệm đào tạo và tạo sự tương đồng và bình đảng trong giáo viên và học sinh Để thực hiện được việc trao đổi như trên, ta cần phải liên kết với các trường, liên kết bán phầøn, toàn phần, xây dựng chương trình đào tạo từ xa, du học tại chỗ, cấp học bỗng hoặc tài trợ…
Trang 6Phân định rõ những loại bằng cấp khác nhau, bằng được cấp và công nhận tại nước ngoài, bằng được cấp tại Việt Nam, giá trị và giá trị sử dụng của bằng cấp…
Cần định hướng giáo dục về con người, môi trường, về phương pháp dẫn đến xác định mục tiêu, chất lượng, uy tín nhà trường Giáo dục con em trong việc hoà nhập mà không hoà tan
Qui định Luật giáo dục, thị trường hoá giáo dục và sự điều tiết của nhà nước, ngăn ngừa tiêu cực trong các trường quốc tế tại VN hiện nay (VD: ĐH Hồng Bàng), Tư doanh hoá trường công, xây dựng tập đoàn trường học và liên kết đào tạo trường nghề, Nhà nước phải hỗ trợ và có chiến lược vĩ mô, tránh trường hợp cấp giấy phép đại trà gây
ra thiếu kểim soát Nhà nước phải bảo đảm các chính sách và chế độ cho các trường học
có yếu tốâ nước ngoài hoạt động tốt và đúng pháp luật Tránh thay đổi văn bản, qui định liên tục và nên sửa dổi các văn bản cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay
Hợp tác chặt chẽ với trường nước ngoài trong việc xây dựng chương trình, trao đổi sinh viên, trao đổi chuyển giao phát minh, thay đổi phương pháp dạy và học, lấy người học làm trọng tâm, trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên và ban lãnh đạo
IV Kinh nghiệm về hội nhập quốc tế trong giáo dục đào tạo của các nước
1 Nhật Bản
Chúng ta đã chứng kiến câu chuyện thần kỳ về vua Minh Trị (1852 - 1912) đã canh tân đưa Nhật Bản phát triển lên thành một quốc gia hiện đại, thoát khỏi nguy cơ trở thành một nước thuộc địa Nhật Bản cũng tự xác định, nước mình không được ưu ái gì về tài nguyên thiên nhiên, ngược lại còn bị động đất liên miên, nên ngay từ đầu họ đã chú ý xây dựng và khai thác nguồn tài nguyên con người Tinh thần mở cửa của vua Minh Trị được thể hiện cụ thể trong công thức “Tinh thần, đạo đức phương Đông và khoa học phương Tây” (“Eastern ethics and West - ern science”) do nhà công nghệ nổi tiếng Sakuma Sho-zan (1811-1864) đề xuất Vua Minh Trị, một mặt mời các nước tư bản phương Tây vào làm ăn buôn bán, mặt khác cử hơn 200 thanh niên, sinh viên, chuyên gia trên một chuyến tàu đi tham quan học tập một năm rưỡi vòng quanh thế giới, qua Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga,… Đến nước nào Đoàn cũng để lại người tiếp tục học tập và nghiên cứu, quá nửa là ở
Mỹ Ngay từ ngày ấy nước Nhật đã có sự lựa chọn rất chiến lược và cụ thể cần học cái gì, học ở đâu Sau Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã học hỏi khoa học y tế và quân sự từ nước Đức, hải quân thì phần lớn học từ nước Anh và mỹ thuật, luật dân sự từ nước Pháp Sau chiến tranh Thế giới thứ II, họ tiếp tục học được nhiều kỹ thuật quan trọng từ công nghiệp sản xuất xe hơi của Mỹ, khoa học hạt nhân của Pháp, công nghiệp sản xuất máy móc và dược phẩm của Đức
2 Trung Quốc
Trang 7Theo đánh giá của Trung Quốc và các nước, các tổ chức quốc tế, sở dĩ kinh tế Trung Quốc tăng trưởng liên tục hơn 10% trong suốt 30 năm qua, một nguyên nhân cơ bản là nguồn nhân lực của nước này có chất lượng cao Để đạt được điều này, Trung Quốc đã hiện đại hóa, quốc tế hóa nền giáo dục nước mình trong việc thiết kế chương trình, sách giáo khoa, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn mực quốc tế, đào tạo giáo viên và xây dựng cơ sở vật chất Trung Quốc chủ trương dùng tối đa các chương trình, sách giáo khoa hiện đại quốc tế và giảng dạy trực tiếp bằng tiếng Anh các môn khoa học, công nghệ, tăng cường mời giáo sư, chuyên gia, hiệu trưởn, viện trưởng là Hoa kiều hoặc người nước ngoài
Từ năm 1978, sau chuyến thăm Mỹ về, Đặng Tiểu Bình đã bắt đầu nhiều cải cách quan trọng trong phát triển kinh tế, trong đối nội, đối ngoại, nói riêng là trong khoa học và giáo dục của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã chỉ đạo: Muốn Trung Quốc phát triển và hội nhập quốc tế nhanh chóng thì nền giáo dục Trung Quốc phải được quốc tế hóa trước một bước, thanh niên, học sinh, sinh viên phải tăng cường học tiếng Anh, phải lập các trung tâm học và thi TOEFL, IELTS tại các thành phố, phải tăng cường hợp tác quốc tế
về giáo dục và gửi học sinh, sinh viên đi du học nước ngoài, theo phương châm 12 chữ vàng “chi trì lưu học, cổ lệ hồi quốc, lai khứ tự do” (“khuyến khích du học, động viên về nước, đi về tự do”) Chính vì vậy, đã hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày đó, nền giáo dục Trung Quốc đã tạo ra nguồn nhân lực vừa có quy mô lớn vừa có chất lượng cao, đủ sức lan tỏa và cạnh tranh trên toàn thế giới Trung Quốc đã cử được gần một triệu lưu học sinh, kể cả tự túc, đi học ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ, mà quá nửa là đi Mỹ Một phần ba trong số này đã trở về nước trực tiếp góp phần xây dựng và phát triển Trung Hoa hiện đại, 2/3 còn lại là cầu nối và cộng tác viên quan trọng giúp Trung Quốc hợp tác, làm
ăn với cả thế giới “Về nước là yêu nước, chưa về ngay hoặc ở lại nước ngoài cũng là yêu nước” Đó là quan điểm và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc Nước này phấn đấu đến năm 2049 (100 năm nước CHND Trung Hoa) sẽ có người Trung Quốc ở trong nước được nhận giải Nobel, mặc dù cho đến nay đã có khong ít Hoa kiều được nhận giải Nobel, Fields và các giải thưởng cao quý khác
3 Anh
Nền giáo dục Anh quốc có những nét đặc trưng khác các nền giáo dục khác và khi nói chuyện, người Anh rất tự hào về điều này Đó là: Giáo viên và sách giáo khoa nước Anh trước hết chú ý rèn cho học sinh, sinh viên của họ học để sáng tạo chứ không học để thuộc lòng, học chỉ để có kiến thức Có lẽ họ là những điển hình trung thành với nguyên tắc “Trí tưởng tượng quan trọng hơn cả kiến thức” (“Imagination is more important than knowledge”) của nhà bác học vĩ đại nhất mọi thời đại Albert Einstein, hoặc quan điểm của William A Warrd: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng” Các nhà giáo dục Anh quốc thường “chê” nhà trường ở một số nước khác, vì dạy học sinh
Trang 8học thuộc lòng quá nhiều, vì “cứng nhắc” và “bảo thủ” Sự tự tin đó của các học giả người Anh cũng có những cơ sở nhất định Theo kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến đáng tin cậy trên toàn thế giới, trong số 10 phát minh khoa học vĩ đại nhất của loài người từ xưa đến nay thì có 4 là do người Anh nắm giữ
Trong số 10 đại học đứng hàng đầu thế giới thì thường Mỹ chiếm 7, Anh 2 và Pháp
1 (École Polytechnique, thành lập năm 1794) và bốn đại học hàng đầu thế giới là Harvard (Mỹ, thành lập năm 1636), MIT (Mỹ, 1861), Oxford (Anh, 1096) và Cam-bridge (Anh, 1209) Nhưng sẽ rất thú vị khi phân tích kĩ lịch sử hình thành của chúng: Harvard là “con đẻ” của Oxford và Cambridge! Nói rộng ra, nền giáo dục và đại học nước Anh đã góp phần tạo ra và tiếp tục có ảnh hưởng to lớn trong vòng hai thế kỷ vừa qua đến các nước ở Bắc Mỹ, Úc, Nam Á, nam ASEAN, Hongkong và các nước khác thuộc khối Liên hiệp Vương Quốc Anh Có thể đây cũng là một trong các lý do làm cho tiếng Anh ngày càng trở nên phổ dụng trên toàn thế giới? Theo thống kê mấy năm trước đây của Hội đồng Anh (BC): Có 370 trieju người bản ngữ nói tiếng Anh và 375 triệu người sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ Như vậy, có 745 triệu người nói tiếng Anh Con số này chắc tăng nhanh lên hàng ngày Đó là chưa kể đến hàng tỷ máy tính trên khắp thế giới này lại chỉ được con người “dạy” để “nói” tiếng Anh Vì thế người ta nói: Tiếng Anh có nhiều nước nói nhất, còn tiếng Trung Qốc có nhiều người nói nhất
4 Singapore và Malaysia
Năm 1965, Singapore tách ra thành một đảo quốc độc lập từ Malaysia và Ông Lý Quang Diệu (sinh năm 1923), cựu sinh viên luật của ĐH Cam-birdge, nước Anh, là Thủ tưởng trong suốt 31 năm, từ 1959 cho đến 1990 Với diện tích 697,25 km2, chỉ xấp xỉ bằng huyện Cần Giờ, TP HCM, và dân số 5,1 triệu người (2010), Singapore xuất phát từ một làng chài nghèo, đến nước uống cũng không có, phải mua của Malaysia Vì thế Thủ tướng lý Quang Diệu ngay từ đầu đã xác định rằng nước mình không có một nguồn tài nguyên nào hết, tất cả phải nhờ cái đầu, đi lên bằng cài đầu, bằng nguồn nhân lực và tài năng Singapore có ba nhóm người chính là Hoa, Ấn Độ và Mã Lai Cả ba vẫn duy trì tiếng nói, văn hóa và bản sắc của mình, nhưng ngôn ngữ chính thức được sử dụng chung trong hành chính và giáo dục là tiếng Anh
Hiện nay 20% số sinh viên trên đất Singapore là người nước ngoài, có thể bằng học bổng của Singapore, nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ thì
ở lại làm việc tại Singapore để trả nợ Một số trường phổ thông chất lượng cao và đại học
có uy tín quốc tế của Singapore đã trực tiếp sang Việt Nam hoặc qua internet, tổ chức hội thảo du học, trại hè,… để tìm học sinh, sinh viên và NCS tài năng thu hút về học tập và nghiên cứu ở nước họ Như vậy, họ không chỉ biết khai thác trí tuệ của 4-5 triệu người của mình mà cả hàng triệu người nước ngoài, nhất là người có tài Sự khôn ngoan của họ lại làm tôi nhớ đến câu thơ rất hay của Cao Bá Quát “kho trời chung, mà vô tận của mình
Trang 9riêng” Trong một số lần sang thăm và trả lời phỏng vấn tại Việt Nam, Ông Lý Quang Diệu cho rằng đó là lợi thế của nước mình trong hội nhập quốc tế và còn khuyên thế hệ trẻ nước ta ngày nay phải nhanh chóng thành thạo tiếng Anh thì mới làm ăn và cạnh tranh được trên thế giới
Trong suốt 20 năm đầu khi mới thành lập nhà nước Singapore, Ông Lý Quang Diệu chỉ đạo Bộ Giáo dục nước này dùng luôn sách giáo khoa phổ thông của nước Anh cho trường học của mình, nhất là đối với các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ Đây có lẽ là một trong số các cách nhanh nhất, khoa học nhất, tiết kiệm nhất để cập nhật, hiện đại hóa nền giáo dục và nói riêng là biên soạn sách giáo khoa, bảo đảm các nguyên tắc của khoa học sư phạm hiện đại, vì các nước phát triển lâu đời như nước Anh
đã có truyền thống với nhiều chuyên gia khoa học và giáo dục rất giỏi Đương nhiên khi viết sách giáo khoa, các tác giả người Anh đã kết hợp tài tình những kinh nghiệm truyền thống của họ được cả thế giới khâm phục với những bài học quốc tế đắt giá
Trong khi đó Malaysia, nước láng giềng bên cạnh, thì lại chủ trương dùng tiếng Malay là chủ yếu Kết quả là rất nhiều học sinh, sinh viên nước này bỏ ra học nước ngoài, trong đó có nhiều thanh thiếu niên, con nhà giàu, khiến mỗi năm bị chảy máu ngoại tệ nhiều tỷ Đô la Mỹ và chất lượng đại học đi xuống Cách đây ít năm, sau 22 năm làm Thủ tướng, ông Mahathir Mohamad đã rút ra bài học kinh nghiệm đắt giá về giáo dục và yêu cầu mọi người Mã Lai hãy trở lại với tiếng Anh và cá nhân Ông gương mẫu học trước Nói vậy thôi, nhưng có lần vào khoảng đầu những năm 2000, khi tham dự Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Giáo dục ASEAN (SEAMEC) được tổ chức tại Kinnabalu (Malaysia), tôi nghe Ông phát biểu trơn tru bằng tiếng Anh thứ thiệt trong suốt một giờ đồng hồ mà không cần cầm giấy tờ, trợ lý, phiên dịch gì cả
V Bài học kinh nghiệm cho giáo dục đào tạo Việt Nam trong hội nhập quốc tế
Trong thời đại hội nhập quốc tế và thế giới phẳng ngày nay, việc tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm giáo dục của các nước và chú ý đến những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, trước hết là các cơ quan của Liên Hiệp Quốc như UNESCO, UNICEF,… sẽ giúp chúng ta giảm bớt khó khăn, bớt mày mò và đi đúng hướng văn minh của thời đại Và cũng chỉ khi đó, nguồn nhân lực do chúng ta tạo ra mới đủ trình độ và sức mạnh để hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trên toàn cầu
Trong suốt thời gian qua, giáo dục đào tạo Việt Nam đã và đang cố gắng học hỏi được nhiều nhất những cái hay của thiên hạ và quan trọng hơn nữa là học hỏi ngay chính những cái tốt trong lịch sử giáo dục nước nhà, một quốc gia có nền văn hiến mấy nghìn năm, sẽ giúp chúng ta bớt “loay hoay” Thực tế chưa có ai, chưa có nước nào trên thế giới này ngăn cấm Việt Nam học hỏi và tham khảo có chọn lọc chứ không phải sao chép Hơn nữa, không có loại “thức ăn sẵn” nào trong giáo dục Từ tư duy đến hành động, từ triết lý đến triển khai giáo dục, cần thiết và có thể vận dụng triệt để các bài học quốc tế và lịch sử
Trang 10có giá trị và phù hợp với mình Chỉ như vậy chúng ta mới có thể hy vọng tiến nhanh hơn (so với chính mình ở giai đoạn trước) và giảm bớt dần khoảng cách so với khu vực và thế giới phát triển Chúng ta chưa dám nói là chúng ta sẽ “đi tắt, đón đầu” các nước có nền giáo dục tiên tiến Vì khi ta cố “tiến lên” thì họ đâu có dừng mà còn “tiến lên” với tốc độ lớn hơn Nói theo ngôn ngữ vật lý thì không chỉ tốc độ mà gia tốc của các nước tiên tiến đều lớn hơn ta
Đối với việc xây dựng chương trình và sách giáo khoa: Cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham khảo có chọn lọc các kinh nghiêm quốc tế trong giáo dục, đặc biệt là trong việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa Thực tế là ngay từ những ngày đầu tiên của nền giáo dục cách mạng, Việt Nam đã chú ý đến vấn đề này Chúng ta đã tham khảo cách làm giáo dục, tham khảo các sách giáo khoa chuẩn mực, có chọn lọc và rất cơ bản của Liên Xô (cũ), của Nga, Pháp, Mỹ, Trung Quốc và các nước XHCN khác, như: các cuốn sách giáo khoa phổ thông mỏng dính, kiến thức chắt lọc, nhưng về cơ bản vẫn “đủ chất” cho học sinh, kể cả “chất để làm người”, dù học tiếp lên đại học ở trong hoặc ngoài nước, học cao đẳng hay đi học nghề hoặc đi làm Ví dụ trong môn Toán, các cuốn sách giáo khoa cấp II và III ngày ấy do thầy Lê Hải Châu và thầy GS Hoàng Tụy biên soạn vừa ngắn gọn, súc tích vừa cơ bản
Hiện nay khi biên soạn lại và hiện đại hóa sách giáo khoa chúng ta đã chú ý hơn nữa đến việc học hỏi những kinh nghiệm quốc tế Đó là cách làm rất khoa học, tiết kiệm
và hội nhập trong thời đại “thế giới phẳng” ngày nay Nhưng chúng tôi cho rằng cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc tham khảo có chọn lọc và sử dụng nguồn thông tin, sách giáo khoa trên thế giới, đặc biệt là đối với các môn khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, không chỉ ở bậc phổ thông mà ngay cả ở bậc đại học và sau đại học Ngay cả đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn, chất liệu về cơ bản đương nhiên là của chúng
ta, nhưng vẫn cần xem họ lại thiết kế chương trình và dạy ra sao, để học sinh chúng ta luôn tiếp cận được những tư tưởng tiến bộ nhất trong văn hóa, nghệ thuật, hiểu được và hướng tới những giá trị nhân văn cao cả của thời đại ngày nay
VI Nội dung Chương trình hành động của ngành Giáo dục Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo
Thứ nhất, tiếp tục thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đem lại từ hợp tác quốc
tế cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học Ưu tiên nguồn vốn ODA cho các cơ sở giáo dục, vùng còn nhiều khó khăn, các trường/đại học, viện nghiên cứu và đào tạo trọng điểm Ưu tiên các chỉ tiêu cho các trường/đại học, viên nghiên cứu và đào tạo trọng điểm
đi học tại nước ngoài theo các đề án sử dụng ngân sách nhà nước và các chương trình học bổng của nước ngoài, đào tạo tiến sĩ cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài