1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO dục hà NHẬT THĂNG

93 853 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 521 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, hiểu sâu sắc xu thế phát triển giáo dục có một ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả mọi người, trước hết đối với các nhà quản lý các cấp của Đảng, Nhà nước, các cán bộ quản lý giáo dục các cấp và đội ngũ thầy cô giáo các ngành học, cấp học, đặc biệt quan trọng đối với các cán bộ nghiên cứu khoa học về con người và khoa học giáo dục. Ngoài ra hiểu xu thế giáo dục sẽ giúp tất cả mọi người như các bậc cha mẹ, các nhà quản lý kinh tế, khoa học công nghệ, sinh viên các trường Đại học khối sư phạm

Trang 2

Nghiên cứu, hiểu sâu sắc xu thế phát triển giáo dục có một ý nghĩarất quan trọng đối với tất cả mọi người, trước hết đối với các nhà quản lý cáccấp của Đảng, Nhà nước, các cán bộ quản lý giáo dục các cấp và đội ngũthầy cô giáo các ngành học, cấp học, đặc biệt quan trọng đối với các cán bộnghiên cứu khoa học về con người và khoa học giáo dục Ngoài ra hiểu xuthế giáo dục sẽ giúp tất cả mọi người như các bậc cha mẹ, các nhà quản lýkinh tế, khoa học công nghệ, sinh viên các trường Đại học khối sư phạm chủ động sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức giáo dục, kinh nghiệm hoạtđộng giáo dục, văn hoá xã hội, có khả năng tự lý giải được những tồn tại,những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong cuộc sống thực tế và trong giáo dục.

Hiểu xu thế phát triển giáo dục thực chất là hiểu sự vận động củacác quy luật khách quan chi phối, chế ước quá trình giáo dục nhằm pháttriển nguồn lực người Đồng thời hiểu sự sáng tạo của con người trong việcvận dụng những quy luật khách quan để phát triển con người, phát triển xãhội và khai thác tài nguyên thiên nhiên

Nghiên cứu nắm vững xu thế phát triển giáo dục giúp cho các nhàquản lý, các cán bộ nghiên cứu khoa học đề xuất được những phươnghướng, xác định chiến lược, đề xuất những biện pháp phát triển giáo dụcnhằm khai thác nguồn tài nguyên người có hiệu quả nhất, tối ưu nhất, chắcchắn sẽ tránh được sự mò mẫm, lúng túng, thậm chí những thất bại, cácnước đã phải trả giá Nắm vững xu thế phát triển giáo dục giúp mỗi người tựtin tiếp thu kinh nghiệm của lịch sử, của người khác, tránh được hiện tượngduy ý chí trong hoạt động nghiên cứu khoa học, trong quản lý và hoạt độnggiáo dục Chẳng hạn các nước phát triển đã đoạn tuyệt với quan điểm củaphái nhi đồng học từ những năm 30 - 40 của thế kỷ XX vì những hậu quả nóđem lại cho sự phát triển cá tính của con người và không ổn định xã hội.Nhưng ở Việt Nam vào những năm 80 90 của thế kỷ trước lại có một số nhàkhoa học bị ám ảnh và mắc vào sai lầm mà các nước đã phạm phải từ thế kỷXIX

Trang 3

Có thể nói, nắm vững xu thế phát triển giáo dục qua các thời kỳ lịch

sử, nhất là trong giai đoạn hiện nay giúp chúng ta biết tiếp thu có chọn lọc lýluận và kinh nghiệm, tự tin, bình tĩnh và tìm ra con đường riêng rút ngắnkhoảng cách phát triển giáo dục so với các nước phát triển để giáo dục thực

sự là nhân tố góp phần quyết định thành công của CNH, HĐH đất nước

Trong cuốn sách nhỏ này, chúng tôi có ý định trình bày một số nộidung cơ bản sau đây:

- Quan niệm về xu thế phát triển giáo dục

- Những đặc trưng của xu thế phát triển giáo dục qua các thời kỳ lịch sử

- Những xu thế phát triển giáo dục hiện nay trên thế giới

- Những định hướng lớn của cuộc cách mạng giáo dục Việt Nam(cuộc đổi mới giáo dục) đang tiến hành

Tác giả không có ý định phân tích những biến đổi cụ thể, mà trìnhbày khái quát những diễn biến để thấy những quy luật khách quan của quátrình phát triển giáo dục, từ đó chủ động, sáng tạo xác định phương hướngnghiên cứu khoa học giáo dục, đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động thựctiễn giáo dục cho phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển giáodục, phát triển xã hội

CHƯƠNG I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

1 Một số quan niệm về xu thế phát triển giáo dục

2 Những quy luật chủ yếu của xu thế phát triển giáo dục

3 Đặc điểm phát triển giáo dục qua các nền văn minh của nhân loại

CHƯƠNG II

NHỮNG XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THẾ GIỚI VÀ

VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 4

1 Hoàn cảnh tự nhiên, xã hội (Thế giới, Việt Nam vào thế kỷ XXI.

1.1 Những biến đổi của tự nhiên

1.2 Sự phát triển xã hội

1.3 Những hách thức đối với nhân loại

1.4 Nhiệm vụ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2 Sự phát triển nguồn lực bền vững trong hoàn cảnh Việt Nam giao thoa các nền văn minh.

2.1 Những đặc trưng của con người phát triển toàn diện (CNPTTD)2.2 Phát triển toàn diện cong người PTTDCN là xu thế tất yếu

3 Những xu thế phát triển giáo dục chủ yếu của nhân loại và Việt Nam.

3.1 Xây dựng một chiến lược phát triển giáo dục

3.2 Giáo dục mở, nhà trường mở, học suốt đời

3.3 Phát triển các năng lực (8 năng lực)

3.4 Phát triển tối đa các tố chất (trí lực, tâm lực, thể lực)

3.5 Đối tượng của giáo dục

3.6 Coi hoạt động là nhân tố quyết định con người sáng tạo

3.7 Quan niệm môi trường giáo dục

3.8 Giáo dục gia đình

3.9 Các nguyên tắc giáo dục

3.10 Đào tạo nguồn nhân lực cao

3.11 Đổi mói quan niệm quản lý giáo dục

Vì khả năng và điều kiện có hạn, cuốn sách chắc chắn còn nhiềuđiều không đáp ứng mong muốn của đọc giả, tác giả thành tâm kính mongbạn đọc lượng thứ và đóng góp ý kiến để sửa chữa

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Hà Nhật Thăng

CHƯƠNG I

Trang 5

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

Để hiểu giới hạn phạm trù xu thế phát triển giáo dục, cần thốngnhất nội hàm một số khái niệm làm tiêu chí xác định xu thế phát triểngiáo dục

1.1 Khái niệm giáo dục

Trước hết khái niệm giáo dục có rất nhiều cấp độ, trong phạm trù

xu thế phát triển giáo dục nên hiểu theo cấp độ nào? Đó là vấn đề cầnthống nhất

- Thông thường theo các giáo trình Giáo dục học, khái niệm giáodục nguyên có 2 cấp độ: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa rộng thườngđược định nghĩa là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có

kế hoạch nhằm phát triển nhân cách theo yêu cầu của xã hội Nói cáchkhác giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm quá trình tổ chức dạy học và quátrình phát triển các phẩm chất đạo đức, hệ thống thái độ và phát triển các

kỹ năng giao tiếp ứng xử và hoạt động xã hội

Còn theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình giáo dục đạo đức, pháttriển hệ thống thái độ thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ học vănhoá (hoạt động dạy học)

Hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp theo quan niệm như trên thì giáodục là một hình thái ý thức xã hội cũng như đạo đức, pháp quyền, tôngiáo là hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, bị chế ước bởiđiều kiện kinh tế, lực lượng sản xuất, khoa học kỹ thuật và những điềukiện tự nhiên khác, tựu chung đó là hạ tầng cơ sở Mối quan hệ giữa hạtầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc là quan hệ chế ước, chi phối tươngứng, nghĩa là một lực lượng sản xuất, một phương thức nhất định sẽ làm

Trang 6

nẩy sinh một ý thức xã hội tương ứng, chẳng hạn một phương thức sảnxuất lạc hậu con trâu đi trước, cái cầy theo sau, lấy gia đình làm đơn vịsản xuất chính của sản xuất xã hội thì sẽ nẩy sinh tư tưởng tiểu nông, hạnhẹp, làm ăn lề mề, tuỳ tiện, không kế hoạch… và những giá trị đạo đức xãhội phổ biến là dựa trên quan hệ giao tiếp ứng xử của con người trongcuộc sống cộng đồng, chứ chưa dựa trên quyền hạn trách nhiệm trong laođộng sản xuất như sau này Vậy dựa trên cơ sở nào để phân loại mức độnội hàm của khái niệm giáo dục và ngày nay phạm trù khái niệm giáo dụcnên hiểu theo mấy cấp độ.

1.1.1 Cấp độ rộng nhất phải hiểu giáo dục là một hoạt động đặc trưng của con người, của xã hội loài người có định hướng của con người và xã hội loài người vì sự phát triển xã hội và mỗi con người.

Hiện tượng giáo dục là một hiện tượng văn hoá người vì đó là

hoạt động truyền thụ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động, các thế hệlớn tuổi truyền kinh nghiệm trực tiếp cho các thế hệ trẻ theo phương thức

trực tiếp “Người đi trước và người đi sau, người ăn trước và người ăn

theo, người làm trước và người làm theo…” lúc đầu tính bản năng

trong hành động truyền thụ kinh nghiệm còn nặng, đôi khi nhiều nhànghiên cứu coi đó là bản năng tự nhiên của loài vật Ta thừa nhận cái bản

năng “bắt chước” đó ở hiện tượng giáo dục ban đầu của con người,

nhưng cái bản năngđó ở con người đã có ý thức, nghĩa là có mục đích, có

ý tưởng trước khi hành động và vì vậy hiện tượng bắt chước và truyền thụkinh nghiệm ở người mới được gọi là hiện tượng giáo dục Ăngghen đã sosánh ý thức người và bản năng của động vật trong hành động khá điểnhình Ông nói rằng: Người kiến trúc sư tài ba đến mấy cũng không xâydựng được tổ ong, nhưng người kiến trúc sư tồi nhất trước khi xây dựngmột toà lâu đài còn xấu thì toà lâu đài đó đã có trước trong đầu người

Trang 7

công trình sư, và đó là sự khác biệt của hành động giữa con người và con

vật Một ví dụ khác cũng là một hiện tượng cho con bú, ở người mẹ khác

con vật cho con bú là khi ấy trong đầu người mẹ xẩy ra hàng loạt thao táccủa tư duy, suy nghĩ về tương lai, gửi gắm vào dòng sữa mẹ với một hoài

bão, mong muốn “Hậu sinh khả uý”- thế hệ sau khoẻ hơn, tốt hơn Cũng

nhờ có tư duy mà con người đã vượt qua cái bản năng, vượt qua muônloài để trở thành NGƯỜI

Nhờ lao động, nhờ có tư duy, sau đó là ngôn ngữ nói, rồi ngônngữ viết… việc truyền thụ kinh nghiệm ngày càng phong phú, đa dạngđược rút ngắn dần lại, đó là hiện tượng giáo dục Nhờ có hiện tượng giáodục (truyền thụ và bắt chước nhưng có ý thức) những kinh nghiệm loàingười phải trải qua hàng triệu năm được nhanh chóng truyền từ thế hệ nàysang thế hệ khác, chẳng hạn vào rừng những quả không có chim, thú ănthì chớ có ăn; thấy nấm có sâu, kiến ăn thì người ăn được không sợ chết,những loại củ có thú ăn thì người ăn không sợ nguy hiểm

Kinh nghiệm của con người ngày càng phong phú Hoạt động

giáo dục lúc mới hình thành xã hội chính là truyền thụ kinh nghiệm, có

thể phân làm 3 loại: Kinh nghiệm sống và tồn tại đó là kinh nghiệm ăn,

uống, ở, lao động kiếm sống săn bắt, hái lượm, chế tác cộng cụ và laođộng… Đây là mục tiêu, nội dung hoạt động giáo dục đầu tiên và quan

trọng nhất đối với con người ở thời đại bình minh của loài người; loại

kinh nghiệm thứ 2 là giao tiếp ứng xử xã hội Đó là những quy ước về

cách ứng xử giữa mọi người trong cuộc sống xã hội, trong đó có cả sự

phân công việc trong thị tộc bộ lạc… loại kinh nghiệm thứ 3 là tổ chức

lễ nghi tôn giáo Tôn giáo ra đời cùng với sự ra đời xã hội loài người, do

con người bất lực trước thiên nhiên nên thường mỗi thị tộc bộ lạc thờcúng một thứ gì đó họ cho là linh thiêng che chở cho con người hoặc làm

Trang 8

hại con người vì vậy phải tôn thờ… lễ nghi tôn giáo được tổ chức rấtthành kính, tổ chức rất nghiêm túc, chẳng hạn lễ cầu mưa thuận gió hoà ởcác nước thời kỳ văn minh nông nghiệp, vua (Hoàng đế) phải ngủ riêng từ

3 đến 7 ngày, phải tắm rửa sạch sẽ trước khi hành lễ bởi họ tin rằng cácđấng thần linh nhìn thấu mọi điều, nếu không thành tâm sẽ bị trừng phạt

Do vậy, nghi thức tổ chức cúng tế sẽ được duy trì và truyền từ thế hệ nàyđến thế hệ khác

Khi xuất hiện con người, xã hội loài người thì hiện tượng giáo dụccũng đồng thời xuất hiện và ngay từ thủa ban đầu của xã hội loài ngườihiện tượng giáo dục đã là một hoạt động đặc trưng của con người Mộthoạt động có định hướng vì sự phát triển của con người, phát triển củacộng đồng xã hội người Và ngay từ đầu hiện tượng giáo dục đã luôn bịchế ước chi phối bởi những điều kiện tự nhiên, nhu cầu của con người,của xã hội Giáo dục theo nghĩa rộng có thể hiểu như sau:

Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất ở phạm trù xã hội học là một hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người; một hoạt động truyền thụ và tiếp thu kinh nghiệm có mục đích, có tổ chức của tất cả mọi người, mọi thế hệ; khai thác triệt để, có hiệu quả các yếu tố tự nhiên và xã hội phát triển con người, phát triển kinh tế xã hội, khẳng định vị trí, vai trò của con người trước muôn loài.

1.1.2 Khái niệm giáo dục theo XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC (Giáo dục xã hội)

Hiểu theo cấp độ giáo dục xã hội, nghĩa là những hoạt động có

mục đích, có tổ chức của một nhà nước, sử dụng và tổ chức các tổ chức xã hội liên quan đến sự phát triển nhân cách con người, khai thác nguồn lực người với tư cách con người là tài nguyên, là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, nhằm phục vụ quyền lợi giai

Trang 9

cấp cầm quyền Chúng ta cần hiểu ở cấp độ giáo dục xã hội là một hoạt

động xã hội có liên quan đến khai thác, phát triển nguồn lực người, nhữngnhà quản lý xã hội sử dụng, tận dụng bộ máy nhà nước (các đảng cầmquyền, chính quyền,…), các cơ quan thông tấn, báo chí, văn hoá nghệthuật, thể dục thể thao, trong đó có cơ quan chuyên trách giáo dục (BộGD- ĐT)… để thực hiện mục đích giáo dục

Ở mỗi thời kỳ lịch sử, giáo dục phụ thuộc vào tính chất, mức độ

phát triển của kinh tế xã hội, của khoa học kỹ thuật, phụ thuộc vào những

yếu tố của tự nhiên Đồng thời còn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của

tập đoàn nắm chính quyền Tư tưởng giáo dục, mục đích chính thống

của các thời đại khi xuất hiện nhà nước đều bị chi phối của tư tưởng, mụcđích giáo dục của tập đoàn thống trị Có thể nói, mục đích giáo dục xã hội

từ nền văn minh nông nghiệp cho tới nay đều là mục đích sử dụng giáodục như là một phương tiện, một công cụ để bảo vệ vị trí, củng cố quyềnlực và lợi ích của tập đoàn thống trị nhà nước

Như vậy giáo dục xã hội chính là tư tưởng giáo dục, là hệ thống lý luận và quản lý, tổ chức hoạt động tất cả các tổ chức xã hội dưới sự giám sát của tập đoàn cầm quyền nhằm khai thác sức người, tài

nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất xã hội phục vụ cho quyền lợi của họ

Khi nói đến giáo dục xã hội là nói tới định hướng phát triển lý luận và thực tiễn giáo dục theo một mục đích nhất định Mục đích ấy do tập đoàn

cầm quyền áp đặt

Chừng mực nào quyền lợi của tập đoàn cầm quyền phù hợp với quyền lợi của cộng đồng dân tộc, biết tận dụng quy luật khách quan, khai

thác hợp lý tiềm năng sức người, sức của, thoả mãn nguyện vọng của

quần chúng lao động… thì sẽ đề ra được phương hướng đúng đắn, phát

Trang 10

huy được vai trò, tác dụng của giáo dục để phát triển nguồn lực người, phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ được thiên nhiên.

Bản chất của giáo dục xã hội là tính tương đồng của hệ thống quy

luật khách quan và ý tưởng, phương hướng phát triển giáo dục của tậpđoàn cầm quyền thông qua Nhà nước và đó chính là xu thế phát triển giáo

dục của mỗi thời đại, mỗi dân tộc, quốc gia Khi bàn xu thế phát triển

giáo dục liên quan mật thiết với phạm trù khái niệm giáo dục xã hội.

Khái niệm giáo dục theo nghĩa xã hội học (là rộng nhất) và giáodục theo nghĩa giáo dục xã hội hay gọi là xã hội học giáo dục (theo nghĩa

rộng thứ 2) khác nhau chính là chỗ mục tiêu giáo dục ở phạm trù xã hội

học, giáo dục được coi là một hoạt động riêng biệt, đặc trưng của loài người, của tất cả mọi người Mong muốn được hưởng thụ giáo dục để

được sống, được tồn tại, được giao lưu để phát triển cá nhân và gíp phần

phát triển xã hội Việc tổ chức hoạt động giáo dục được thực hiện theo

quy luật tự nhiên khách quan các mối quan hệ chế ước chi phối của các

yếu tố tự nhiên, xã hội và con người Mọi người tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục là hoàn toàn tự giác vì có sự tồn tại và mong muốn

được phát triển

Còn khái niệm giáo dục theo nghĩa giáo dục xã hội (xã hội học

giáo dục) là sự định hướng có chủ định, có tổ chức của một nhà nước

cụ thể với ý định sử dụng những quy luật khách quan (vốn tồn tại ngoài ý

muốn) vì quyền lợi của tập đoàn thống trị xã hội Họ sử dụng toàn bộ hệthống tổ chức chính trị, sử dụng những điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất

xã hội và đặc biệt xác định cơ chế tổ chức, xác định những yếu tố tinhthần, tư tưởng vào việc thực hiện giáo dục đào tạo con người Trong đóđặc biệt quan tâm tới thiết chế xây dựng gia đình, nhà trường và các tổchức xã hội để thực hiện mục đích giáo dục của tầng lớp thống trị áp đặt

Trang 11

vào các hoạt động buộc mọi người, mọi tổ chức xã hội thực hiện Khi nàonhững ý muốn chủ quan của nhà nước phù hợp với quy luật khách quanthì tạo ra sự phát triển đồng bộ và các nhân tố được thúc đẩy nhau cùngphát triển Hay nói cách khác, nhà nước nắm vững quy luật, biết vận dụngquy luật phù hợp với thực tiễn thì giáo dục, con người, kinh tế xã hộicùng phát triển.

1.1.3 Cấp độ rộng thứ 3 là hoạt động giáo dục của nhà trường.

Giáo dục nhà trường là toàn bộ hoạt động dạy học, giáo dục của

hệ thống nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục Quốc dân Hệ thốnggiáo dục này được phân làm 4 cấp quản lý: ở cấp Trung ương là Bộ GD -ĐT; xuống dưới là Sở GD - ĐT, phòng GD - ĐT và nhà trường (cấp cơ sởcủa ngành GD - ĐT)

Đứng ở góc độ đối tượng giáo dục bao gồm mọi lứa tuổi, từ mầmnon, phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học…

Giáo dục nhà trường là một hệ thống tổ chức giáo dục chuyên biệt theo một hệ thống quản lý chặt chẽ về mục tiêu, chương trình, nội dung, điều kiện phương tiện, các quy trình thực hiện giáo dục toàn diện thế hệ trẻ (ngày nay người học không chỉ là thế hệ trẻ mà cả những

người lao động có tuổi)

Về lý thuyết, quản lý giáo dục nhà trường là quản lý hoạt động

của 5 mặt giáo dục (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục và giáo dục

lao động) nhằm phát triển toàn diện trí tuệ; đạo đức lối sống; sức khoẻ

(sức khoẻ thể lực và sức khoẻ tinh thần); óc thẩm mỹ, sáng tạo cái đẹp;

thái độ và kỹ năng lao động Quản lý nhà trường là quản lý quy trình (từ mục tiêu, nội dung, kiểm tra đánh giá) và quản lý các điều kiện thực

hiện các quá trình đó như đội ngũ thầy trò, trang thiết bị, phương tiện,

Trang 12

không gian, thời gian thực hiện mục tiêu và nội dung chương trình (trướcđây chỉ có 9 tháng trong năm học bây giờ là suốt 12 tháng kể cả hè).

Song trên thực tế, nhiều năm nay giáo dục trường học được coinhư dạy học là hoạt động chủ yếu và chung nhất Cũng có quan điểm chorằng giáo dục nhà trường gồm 2 quá trình: Quá trình dạy học các môn vănhoá nhằm phát triển trí tuệ và quá trình tổ chức các hoạt động nhằm hìnhthành, phát triển các phẩm chất, hệ thống thái độ và các kỹ năng cần thiết

Trong nhiều giáo trình giáo dục học coi giáo dục nhà trường là khái niệm rộng gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục đạo đức.

Những quan điểm trên đúng với những thời kỳ lịch sử nhất địnhkhi nhận thức của con người về những quy luật phát triển giáo dục cònhạn chế Ngày nay thực tế buộc chính ta phải có những nhận thức mới,tiếp cận với chân lý khách quan hơn: mọi sự phân định nội hàm các kháiniệm chỉ là tương đối, trên thực tế nó đan xen, nó giao thoa nhau tồn tại,

nó ràng buộc nhau trong quá trình phát triển và vì vậy giáo dục nhà

trường có tính giáo dục xã hội, bị giáo dục xã hội quy định và ngược lại, giáo dục nhà trường là chuẩn hoá, cụ thể hoá những yêu cầu giáo dục

xã hội

1.1.4 Giáo dục theo nghĩa hẹp (giáo dục đạo đức)

Giáo dục theo nghĩa hẹp là quá trình giáo dục, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống, kỹ năng sống cho thế

hệ trẻ trong nhà trường

Giáo dục theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động chính trị xã hội,hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao, hạot động tập thể tự quảncủa thanh niên, học sinh, sinh viên bao gồm các hoạt động của lớp, tổchức Đội, Đoàn thanh niên, các hoạt động vui chơi có tổ chức của nhàtrường, các hoạt động câu lạc bộ theo chủ đề, theo năng khiếu, sở thích

Trang 13

của học sinh, sinh viên Để phát huy hiệu quả của hoạt động giáo dụctrong và ngoài nhà trường, trong cuộc đổi mới giáo dục đang tiến hànhnàh trường, trực tiếp là Bộ GD- ĐT đã quyết định thực hiện một chươngtrình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) thống nhất toànquốc từ lớp 1 đến lớp 12.

Chương trình HĐGDNGLL được thiết kế trên cơ sở mục tiêu cácchuẩn mực đạo đức, pháp luật, những kỹ năng cơ bản của con người ViệtNam thời kỳ CNH, HĐH, đảm bảo hệ thống, phát triển phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý của học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông Lầnđầu tiên chương trình HĐGDNGLL được đưa vào trường phổ thông coinhư một thể chất, coi như một điều kiện để thực hiện quá trình giáo dụcđạo đức (theo nghĩa hẹp) và phát triển nhân cách học sinh, thực hiện mục

tiêu giáo dục thời kỳ CNH, HĐH: Con người phát triển toàn diện.

Để thực hiện giáo dục theo nghĩa hẹp cũng đòi hỏi phải tận dụngtất cả các điều kiện, xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài nhàtrường lành mạnh và thu hút mọi lực lượng xã hội, xây dựng một cơ chếphối hợp hoạt động thống nhất giữa nhà trường với cộng đồng dân cư, các

tổ chức xã hội… Để thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thôngcũng như sinh viên các trường cao đẳng, đại học, hệ thống giáo dụcchuyên nghiệp thì nhà trường phải giữ vị trí trọng yếu với tư cách làngười tổ chức phối hợp các hoạt động giáo dục ngoài giờ học văn hoá

Tóm lại, trong hoàn cảnh hiện nay khi bàn về xu thế phát triển

giáo dục, việc xác định nội hàm mức độ của phạm trù khái niệm giáo dục

có ý nghĩa rất quan trọng Chỉ có thể xác định phạm trù xu thế phát triểngiáo dục khi ta xác định “giáo dục” ở mức độ nào để thấy đúng nhữngquy luật chi phối quá trình phát triển giáo dục, chủ động vạch ra phươnghướng phát triển giáo dục để không “rơi” vào tình trạng duy ý chí

Trang 14

- Chính vì tính TẦNG BẬC, GIAO THOA của phạm trù giáo

dục mà XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC cũng có nội hàm khác nhau Ở mỗi góc đọ có cách nhìn khác nhau, chẳng hạn tầng bậc vĩ mô

cần có cách nhìn khái quát, phổ biến nhất của thời đại Nhưng nếu xemxét xu thế biến đổi của một môn học, một cấp học, một mặt giáo dục cụthể ở một địa phương nào đó diễn ra trong một thời gian ngắn hay dài…thì chúng ta phân tích, xem xét xu thế phát triển giáo dục trong mối quan

hệ cụ thể nhất định

- Trong khuôn khổ cuốn sách nhỏ này, chúng tôi chỉ có thể bàn tớinhững điều kịên chế ước xu thế phát triển giáo dục ở tầng khái quát nhất, vĩ

mô nhất của sự phát triển giáo dục Nghĩa là tầng bậc Xã hội hoá Giáo dục

1.2 Khái niệm xu thế phát triển giáo dục và những đặc trưng của nó

Bàn về xu thế phát triển giáo dục, có nhiều quan niệm khác nhau

về các mức độ khác nhau

- Có quan niệm cho rằng khi bàn về xu thế phát triển giáo dục là

giới hạn trong việc nghiên cứu lý luận giáo dục, tưc là những phương

hướng đổi mới trong nghiên cứu khoa học giáo dục (GDH) Không quantâm tới sự biến đổi của thực tiễn và mối quan hệ của thực tiễn với lý luận.Quan niệm đó không giải đáp được câu hỏi tại sao lại có sự biến đổi, và

sự biến đổi đó đúng hay sai, ví dụ: khái niệm con người phát triển toàndiện được K.Mác giải thích khá đầy đủ, dựa trên ý tưởng của các nhànhân văn chủ nghĩa thế kỷ XVI, XVII và K.Mác khẳng định đó là mụcđích giáo dục của một xã hội tượng lai- chế độ cộng sản chủ nghĩa Tưtưởng đó của Mác hoàn toàn đúng ở hoàn cảnh giữa thế kỷ XIX khi họcthuyết Mác ra đời Nhưng sau đó, không ít những nhà nghiên cứu về xãhội, về giáo dục lại cho rằng K.Mác chỉ coi con người phát triển toàn diệnnhư là chỉ riêng cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mà chưa thấy

đó như là một quy luật khách quan, một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển

Trang 15

kinh tế xã hội, đặc biệt của sự phát triển công nghệ cao, của cường độ laođộng căng thẳng, của một phương thức sản xuất hiện đại, còn tạo cho conngười phát triển lại là xu thế phát triển chủ quan do con người đã hiểuquy luật khách quan tất yếu.

Nếu nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục mà chỉ nghiên cứunhững biến đổi của lý luận giáo dục tức là mới thấy cái ngọn cây mà chưathấy cái gốc, sẽ dễ dàng mắc phải sự ngộ nhận theo kiểu duy ý chí Chínhchúng ta cũng đã có những sai lầm trước đây bắt chước kinh nghiệm dập

khuôn… chẳng hạn “Giáo dục kỹ thuật tổng hợp” là một phạm trù giáo

dục có tính nguyên tắc, định hướng cần phải quán triệt trong toàn bộ hoạtđộng dạy học các môn học và các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhàtrường do yêu cầu đào tạo, giáo dục con người có tư duy, có kỹ năng hoạt

động kỹ thuật Trong “Đề cương giáo dục kỹ thuật tổng hợp” do

N.C.Krupxcaia soạn thảo từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX đã phântích rất rõ sự khác biệt giáo dục kỹ thuật tổng hợp với dạy học kỹ thuật

Nhưng vào những năm sau hoà bình lập lại ở miền Bắc, nhiều nhà

nghiên cứu quản lý lại hiểu giáo dục kỹ thuật tổng hợp là dạy nhiều loại kỹ thuật vì vậy xây dựng chương trình cho học sinh phổ thông học

mộc, nguội, rèn, tiện, điện, chăn nuôi, trồng trọt… nhằm trang bị kỹ nănglao động mà không phát triển tư duy kỹ thuật, không quan tâm đúng mứctới phát triển óc sáng tạo, ham khám phá và ứng dụng sáng tạo thành tựukhoa học công nghệ vào thực tế

Nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục mà chỉ nhìn sự biến đổi bộphận, thấy hiện tượng mà không khám phá nguồn gốc nguyên nhân củacác sự kiện giáo dục thì sẽ không thấy tính khách quan tất yếu của tiếntrình phát triển giáo dục của các thời kỳ lịch sử

Trang 16

- Cũng có một số cán bộ nghiên cứu ở một lĩnh vực hẹp của khoa

học giáo dục như quản lý, lý luận giáo dục, lý luận dạy học … Khi nghiên

cứu xu thế phát triển giáo dục lại chỉ thấy những biến đổi của từng bộ

phận riêng lẻ trong tổng thể hệ thống lý luận giáo dục, không thấy quan hệ biện chứng của các thành tố lý luận và thực tiến đang vận động, biến đổi, chế ước phụ thuộc nhau.

Cách tiếp cận xu thế phát triển giáo dục như trên tồn tại trongnghiên cứu Khoa học giáo dục nhiều năm, chẳng khác nào thấy cây màkhông thấy rừng, không thấy mối quan hệ biện chứng của các yếu tố kinh

tế - xã hội, các điều kiện lịch sử, tự nhiên như một quy luật khách quan Ởmột góc độ nào đó những diễn biến riêng lẻ, bộ phận trong lý luận giáodục đã thông qua ý thức chủ quan của người nghiên cứu Nếu chỉ nghiêncứu sự biến đổi của các thành tố riêng lẻ thì khó giải thích được nguồngốc của sự biến đổi và khó rút ra quy luật phổ biến chung của các xu thế-tính tất yếu của sự vận động khách quan và những quy luật bộ phận đã cótác động có chủ định của con người

Nhiều nhà nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục lại căn cứ vào

các văn bản hoặc ý kiến riêng của một vài cá nhân người nghiên cứu

và coi đó là cơ sở lý luận của sự phát triển giáo dục, coi các văn bản như là cơ sở chế ước chi phối xu thế phát triển giáo dục tự nhiên đang vận động Đó là một sai lầm trong tư duy khoa học bởi lẽ nội dung trong các văn bản hay quan niệm riêng của mỗi cá nhân là phản ánh nhận thức chủ quan của con người trong một giới hạn nhất định.

Nhận thức của con người về thực tiễn là có hạn, thực tiễn đang vận độngmới là vô hạn Thực tiễn là tồn tại khách quan, con người chỉ tiếp cận vớithực tiễn khách quan mà thôi

Trang 17

Tuy nhiên có những văn bản pháp quy, có những quan niệm xuấtphát từ những biến đổi tổng thể thì những nội dung văn bản, những quan

niệm đó phù hợp với quy luật, có tính phổ biến Đừng nhầm lẫn cơ sở lý

luận của vấn đề nghiên cứu khoa học với cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý xã hội Nghiên cứu khoa học là phát hiện những mâu thuẫn

khách quan của thực tiễn, phát hiện mối quan hệ biện chứng của cácthành phần trong quá trình phát triển giáo dục và nêu lên những đề xuấtxây dựng các chủ trương, chính sách, phương hướng giải pháp để các cơ

quan quản lý điều hành hoạt động thống nhất Vì vậy khi quản lý phải

tuân theo những quy định chung, đôi khi những văn bản pháp quy chưathật chính xác, chẳng hạn ta quy định giáo viên tiểu học dạy đủ 9 mônhọc Trên thực tế đào tạo của các trường sư phạm chưa đủ trang bị chosinh viên khi ra trường có thể dạy tốt 9 môn ở tiểu học (ở các nước giáoviên tiểu học dạy tốt 9 môn vì họ được giáo dục toàn diện từ phổ thông vàquá trình đào tạo của các trường sư phạm) Chính xuất phát từ thực trạnggiáo viên không đủ khả năng dạy tốt 9 môn nên qua nghiên cứu khoa học,

các nhà khoa học đã đề xuất ở tiểu học không bắt buộc giáo viên dạy đủ

9 môn mà là học sinh được học đủ 9 môn Đương nhiên kết quả nghiên

cứu khoa học đã là cơ sở cho công tác quản lý, cho việc đề xuất các vănbản pháp quy, thậm chí kết quả nghiên cứu khoa học giúp các nhà quản lýđiều chỉnh chủ trương, chính sách, văn bản để quản lý

Một số cán bộ quản lý, một số cán bộ nghiên cứu khoa học giáodục không nắm được xu thế phát triển thực chất là không hiểu thật sâu sắcnhững quy luật của quá trình phát triển giáo dục nên thiếu cách tiếp cậntổng thể, chỉ thấy các lĩnh vực cụ thể, không nắm vững lịch sử phát triểngiáo dục cho nên nhìn xu thế phát triển giáo dục trong một phạm vi hẹp

Có thể nói các nhà nghiên cứu từng bộ phận của giáo dục mới chỉ nhìn

Trang 18

thấy xu thế phát triển ở tầng bậc trung mô và vi mô, chưa nhìn thấy tầng

vĩ mô, chưa thấy cấu trúc hệ thống của một chỉnh thể vận động đan xen,giao thoa của các thành tố ảnh hưởng đến việc phát triển giáo dục theo ýnghĩa rộng

Xu thế phát triển giáo dục nên hiểu như thế nào? chưa có mộtđịnh nghĩa có sức thuyết phục và còn nhiều điều cần bàn luận Tạm thờichúng ta nêu lên một số đặc trưng, phản ánh nội hàm của phạm trù xu thếphát triển giáo dục

Xu thế phát triển giáo dục là một quá trình vận động, phát triển của lý luận và thực tiễn giáo dục một cách khách quan do bị chế ước, chi phối đan xen, giao thoa của các yếu tố tự nhiên, xã hội và con người trong điều kiện lịch sử nhất định Sự vận động và phát triển đó tồn tại khách quan ngoài ý muốn chủ quan của mỗi cá nhân Con người chỉ có thể vận dụng quy luật đưa ra những định hướng phát triển phù hợp với quy luật thì sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển con người, xã hội và sự ổn định của điều kiện tự nhiên.

Xu thế phát triển giáo dục có những đặc trưng sau đây:

1.2.1 Bị giao thoa, chế ước lẫn nhau của hàng loạt các yếu tố

Nội hàm cơ bản của phạm trù xu thế phát triển giáo dục cũng cócác tầng bậc khác nhau xuất phát từ mức độ của khái niệm giáo dục theo

3 cấp độ (theo góc độ xã hội học giáo dục, giáo dục nhà trường, giáo dục

đạo đức) và xu thế phát triển giáo dục còn theo từng mặt giáo dục, từng

nội dung giáo dục, các cấp học… chẳng hạn xu thế phát triển các ngành học: Mầm non, phổ thông, đại học, đào tạo nghề, giáo dục đặc biệt

người khuyết tật, giáo dục chính quy, không chính quy,… giáo dục tậptrung hay giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa… Mỗi lĩnh vực hoạt

Trang 19

động đó cũng có những xu thế riêng biệt, nhưng cũng có mối quan hệ lẫnnhau.

- Xu thế phát triển giáo dục theo các mặt giáo dục, chẳng hạn xu

thế phát triển trí dục, đức dục, thể dục, thẩm mỹ, giáo dục lao động, giáodục hướng nghiệp dạy nghề, giáo dục môi trường, những năm gần đâycòn giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ, giáo dục pháp luật…

- Xu thế phát triển giáo dục các đối tượng giáo dục lao động xã

hội, chẳng hạn nghề thầy giáo, thầy thuốc, công nghiệp, nông nghiệp,

buôn bán, dịch vụ Những người quản lý nhà nước, quản lý các mặt củacuộc sống, đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, hoạt động văn hoá nghệthuật, thể dục thể thao… Chưa bao giờ yêu cầu phát triển xã hội, pháttriển nguồn lực người trong bối cảnh giao lưu hội nhập, ngành nghề GD -

ĐT lại phát triển phong phú, đa dạng như ngày nay… cần có cách tiếpcận “Cái riêng trong cái chung, bị cái chung chi phối, chế ước” và ngượclại

Xác định tầng bậc của xu thế phát triển giáo dục chính là xác địnhmối quan hệ của các quy luật phát triển giáo dục để thấy quy luật chungchi phối quy luật bộ phận, quy luật phổ biến chi phối quy luật đặc thù…trong quá trình nghiên cứu lý luận và tổ chức hoạt động thực tiễn giáodục

Dù nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục ở góc độ nào thì cũngphải xem xét sự phát triển giáo dục trong mối quan hệ đan xen của hàngloạt các yếu tố khách quan và chủ quan và của ngay tầng bậc các xu thếphát triển giáo dục Xu thế phát triển vĩ mô ở tầng bậc xã hội học giáodục sẽ chi phối, chế ước xu thế phát triển giáo dục bộ phận nhỏ, cụ thể.Ngay khi xem xét một yếu tố khách quan nào đó như kinh tế xã hội, tựnhiên của một địa phương ảnh hưởng tới xu thế phát triển của địa phương

Trang 20

đó thì cũng phải xem xét trong bối cảnh của cả quốc gia, khu vực và toàncầu Chẳng hạn khi xem xét hệ thống trường học ở một tỉnh nên phát triểnnhư thế nào thì không chỉ phân tích sự gia tăng dân số, dân số học đường,đòi hỏi nguồn lực lao động, phát triển kinh tế xã hội của địa phương … màcòn phải phân tích xem xét ở phạm vi quốc gia, toàn cầu có ảnh hưởngđến địa phương đó trong hệ thống các yếu tố… ví dụ sự phát triển và ứngdụng khoa học công nghệ của nhà nước và của các nước nhất định chiphối nội dung, chương trình dạy học của một trường, của một địa phương.

Trong quá trình phát triển giáo dục luôn bị chế ước, GIAO THOA

của rất nhiều yếu tố điều kiện theo tầng bậc, ta có thể mô hình hoá mốiquan hệ ấy bằng mô hình sau (xem mô hình 1)

Ghi chú:

: Con người và sự phát triển nhân cách.

- a1; a1; a3; an là những điều kiện TN, XH từ vĩ mô đến vi mô.

- b1, b2, bn … là các vòng tròn thể hiện xu thế giáo dục ở các mức độ

khác nhau.

Qua mô hình ta thấy sự chế ước của các yếu tố theo nguyên tắc

đồng tâm GIAO THOA, hết sức phức tạp, chẳng hạn khi xem xét một xu

Mô hình 1: Tính vận động giao thoa của các yếu tố ảnh hưởng đến

xu thế phát triển giáo dục

Trang 21

thế phát triển vi mô (một lĩnh vực giáo dục cụ thể) là B1 luôn bị chế ước của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ (a1; a2; a3…) từ vĩ mô đến vi mô, từ điều kiện thực tế của địa phương đến điều

kiện của quốc gia, quốc tế Song, B1 còn bị chi phối chế ước của các xu

thế phát triển giáo dục vĩ mô và vi mô khác, đó là B2, B3, Bn, v.v

Nhận biết tính đồng tâm giao thoa phức tạp của các xu thế pháttriển giúp người nghiên cứu có cơ sở phân tích xem xét cơ sở lý luận vàthực tiễn của các hiênk tượng giáo dục, đồng thời đưa ra được những dựbáo của xu thế phát triển giáo dục, đề xuất được phương hướng, mô hìnhphát triển giáo dục phù hợp với quy luật khách quan

Nhận biết tính đồng tâm giao thoa phức tạp của các yếu tố vĩ mô

và vi mô ảnh hưởng đến xu thế phát triển giáo dục sẽ giúp ta hiểu bảnchất của phạm trù xu thế phát triển giáo dục và xác định cấp độ của hệthống phạm trù xu thế Dù ở cấp độ nào của phạm trù khái niệm cũng bịchế ước của những diều kiện khách quan và những yếu tố vận động chủquan của hoạt động giáo dục và nhận thức của con người về những yếu tốđó

1.2.2 Đặc trưng thứ 2 của xu thế phát triển giáo dục là các yếu

tố ảnh hưởng đến giáo dục luôn luôn vận động

Giáo dục là đặc trưng của xã hội loài người, cũng như hoạt độngsản xuất vật chất, hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao… ở mộtgóc nào đó chúng ta khẳng định đó là hoạt động xã hội, hoạt động của

con người- điều đó hoàn toàn đúng Nhưng xét ở một góc độ khác, hoạt

động giáo dục có thể coi là một hoạt động giao thoa giữa hoạt động tự nhiên và hoạt động xã hội Theo nghĩa hẹp của khái niệm giáo dục thì

giáo dục là một hình thái ý thức xã hội Nhưng nếu nhìn giáo dục ở nghĩa

rộng thì giáo dục vừa là hình thái ý thức vừa là hoạt động vật chất, bản

Trang 22

thân trong hoạt động giáo dục chứa đựng vật chất như điều kiện tự nhiên,

xã hội và chính con người chủ thể tham gia các hoạt động giáo dục cũng

là sản phẩm phát triển của tự nhiên và xã hội Bản chất con người có tính

tự nhiên và xã hội, trướcư hết con người là một thực thể tự nhiên và cùngvới tính tự nhiên và luôn luôn song hành, tồn tại với tự nhiên là yếu tố xãhội và tuỳ thuộc ở hoàn cảnh cụ thể của lịch sử và đặc diểm của đối tượngtham gia hoạt động giáo dục mà tính tự nhiên hay tính xã hội (tính người)nổi trội hơn Chẳng hạn ở nền văn minh mông muội thì tính tự nhiên cóphần chiếm ưu thế, nhưng sang nền văn minh nông nghiệp, đặc biệt vănminh công nghiệp và hậu công nghiệp thì tính xã hội trở thành yếu tố bảnchất của nhân cách người Ngay trong cùng một chế độ xã hội, trong cùngmột hoàn cảnh, cái bản năng tự nhiênhay ý thức xã hội ở mỗi người cũngthể hiện, phản ánh khác nhau, dẫn đến sự khác biệt về nhân cách ở ngườinày có thể luôn vươn tới cái chân, thiện, mỹ, ham muốn hoàn thiệnnhânghiên cứuách vươn tới cái cao thượng, giá trị tinh thần…, ngược lại

có người chỉ đam mê cái tầm thường, giá trị vật chất trước mặt htoả mãn

nhu cầu bản năng tồn tại của PHẦN CON mà quên đi phần NGƯỜI.

Người nào giải quyết hợp lý nhu cầu vật chất và tinh thần, giữa cái các nhân và yêu cầu của xã hội… thì họ là một nhân cách phù hợp với quy luật chung.

Có thể thấy hoạt động giáo dục, quá trình giáo dục xã hội là mộthoạt động đặc trưng của xã hội người và của con người, nó vừa có tínhvật chất vừa có tính ý thức xã hội và vì vậy giáo dục không chỉ thuộcthượng tầng kiến trúc mà nó còn thuộc hạ tầng cơ sở

Đã đến lúc cần xem xét vị trí, vai trò của giáo dục không chỉ làmối quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc với hạ tầng cơ sở, giữa ý thức vàvật chất, xem xét giáo dục như tính năng động của ý thức, của tinh thần

Trang 23

đến sự phát triển kinh tế xã hội mà cần xem xét sức mạnh của giáo dục,vai trò của giáo dục là sự kết hợp cả sức mạnh vật chất thực sự và cả tínhnăng động của ý thức Đặc trưng đó của giáo dục vốn tồn tại khách quan,song có lẽ đến nay do những điều kiện thực tế mới cho phép chúng tanhận thức ra chân lý khách quan, có tính quy luật của sự phát triển giáodục, phát triển kinh tế xã hội và tự nhiên, đồng thời quy luật ấy cũng nóilên vai trò của giáo dục, đặc điểm của giáo dục trong quá trình phát triểnnguồn lực người trong lịch sử xã hội., nhận thức sâu sắc về vai trò củagiáo dục, về quy luật của sự phát triển biện chứng giữa giáo dục với cácyếu tố kinh tế xã hội, khoa học, con người và văn hoá Ngày nay đã đượcmọi người thừa nhận : Giáo dục là lực lượng sản xuất trựt tiếp1.

Như vậy, đặc trưng thứ 2 của xu thế phát triển giáo dục là các

yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục tồn tại khách quan, luôn luôn vận động, tác động lẫn nhau thúc đẩy nhau phát triển Đó là một quy luật tồn tại ngoài ý muốn của con người, con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn và tìm cách vận dụng quy luật đó để phát huy vai trò của giáo dục.

1.2.3 Đặc trưng thứ 3 của xu thế giáo dục là giữa lý luận và thực tiễn luôn thúc đẩy nhau cùng phát triển.

Trong khuôn khổ chuyên đề “Xu thế phát triển giáo dục”, chúng

ta không đi sâu phân tích khái niệm “Phát triển” mà chỉ bàn về đặc trưng của “Xu thế phát triển giáo dục” vậy chỉ đề cập tới mối quan hệ phát

triển giữa lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục.

- Trước hết “Lý luận giáo dục” cũng có các cấp độ khác nhau vì

lý luận được tổng kết từ những thực tiễn ở các mức độ khác nhau, cónhững lý luận giáo dục bắt nguồn từ thực tiễn và ngược lại có những lý

1 Xem Hà Nhật Thăng, Giáo dục hệ thống giá trị, NXB Giáo dục 1998.

Trang 24

luận chi phối, định hướng của sự phát triển thực tiễn V.I.Lênin đã từngnói “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”.Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước chỉ xuất phát từ lòngyêu nước, thương dân, chưa biết nên bắt đầu từ đâu? làm gì? làm bằngcách nào? Nên khi đọc được Đề cương của Lênin về dân quyền màNgười muốn khóc vì sung sướng và Người muốn nói to trong phòng kíncái Người đang cần chính là Đề cương của Lênin Có thể nói đó là lýluận, là kim chỉ nam, là phương hướng soi đường cho hoạt động thực tiễn

mà Người đang lúng túng Ngày 15/ 11/ 1945 trong buổi lễ tốt nghiệp củatrường huấn luyện cán bộ Việt Nam, khi phân tích về ý nghĩa của lý luận

đã học được, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một ví dụ rất dễ hiểu: “Các anh

em cần đi Sài Gòn, người chỉ đường cho anh em nói phải đi về phươngNam và đi qua những tỉnh Thanh Hoá, Vinh, Huế, Nha Trang v v…Người chỉ đường chỉ có thể chỉ cho anh em thế thôi Đã có phương hướngsẵn anh em cứ theo đó mà đi Đến tỉnh nào phải qua những con sông nào,những hòn núi gì, anh em sẽ tìm hiểu sau Miễn là anh em biết theophương Nam mà tiến Trường huấn luyện đã giúp anh em biết phươnghướng, biết nhằm đích mà đi Như vậy anh em học ít nhưng bổ íchnhiều ”1 Đó chính là vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn

- Lý luận là tri thức rút ra từ hoạt động thực tiễn, bắt nguồn từ

hoạt động thực tiễn và lại là kim chỉ nam cho hoạt động Dù lý luận ở

cấp độ nào cũng nẩy sinh từ thực tế, có thể đó là một hệ thống học thuyết,

tư tưởng hay kinh nghiệm cụ thể cũng nẩy sinh từ hoạt động thực tiễn.Chẳng hạn ở thời kỳ văn minh mông muội, khi con người sống còn nhờvào sự ban phát của thiên nhiên, thời đó con người chưa lao động làm racủa cải vật chất, hoàn toàn sử dụng cái có sẵn của tự nhiên bằng săn bắt,

1 Hồ Chí Minh bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, H1962, tr 29.

Trang 25

hái lượm, đào bới phải trải qua hàng ngàn năm, phải trả giá của nhiềuthế hệ mới rút ta được một kinh nghiệm: Các loại quả trong rừng mà chimthú ăn được thì người ăn được; Tất cả các loại nấm có sâu, có kiến ăn làloại nấm lành, tất cả các loại củ mà chim, thú trong rừng đã ăn thì conngười có thể sử dụng Tổng kết từ thực tiễn hoạt động rút ra được kinhnghiệm có tính lý luận đó là đã phải trải qua không biết bao nhiêu năm vàbao nhiêu người phải chết vì chưa có lý luận soi đường.

Nhưng khi đã xuất hiện lý luận Dù đơn giản thì hoạt động thựctiễn của con người có hiệu quả hơn rất nhiều Các thế hệ sau tiếp thu kinhnghiệm không còn phải theo hình thức hoạt động giáo dục trực tiếp

“người đi trước và người đi sau, người làm trước và làm theo, ăn trước

và ăn theo ” như trước nữa Với lý luận “quả gì, củ gì đã có chim, thú

ăn được thì con người có thể ăn không chết ” đã là kim chỉ nam cho

con người tìm kiếm thức ăn một cách chủ động, sáng tạo hơn nhiều

Con người càng hoàn thiện, xã hội loài người càng phát triển hoạtđộng thực tiễn của con người càng đa dạng, càng phong phú, càng phứctạp… thì những kinh nghiệm càng nhiều, càng đa dạng… và hệ thống lýluận càng sâu sắc

Khi xã hội loài người có của cải “dư thừa” theo nghĩa tương đốithì sẽ nẩy sinh một bộ phận muốn chiếm đoạt của chung thành của riêng,

xã hội xuất hiện người có của, có quyền và đại bộ phận trở thành “vô sản”

thế là xã hội nẩy sinh mâu thuẫn giai cấp Ta không thể phủ nhận những

tác hại, tính chất dã man, tàn bạo của xã hội có giai cấp đối kháng , gia

cấp thống trị vô tình hay cố ý lẩn tránh quy luật phát triển kinh tế xã hộimột cách khách quan, bằng những quy định chủ quan (hệ thống pháp luật

lý luận) và hệ thống tổ chức quản lý (tổ chức nhà nước) nhằm phục vụ,bảo vệ quyền lợi của tầng lớp thống trị Trải qua mấy ngàn năm của lịch

Trang 26

sử nhân loại mâu thuẫn giữa lý luận và hoạt động thực tiễn đã kìm hãm sựphát triển của xã hội loài người, đã gây ra cho con người và thiên nhiênnhững tác hại chưa từng có và hiện nay nhân loại đang phải đối mặt với

nó khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba Nhiều thế kỷ qua, tầng lớp thống trị

đã vi phạm những quy luật khách quan rất cơ bản khi phát triển giáo dục

- Tính cân bằng của sự phát triển tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội

và con người, giữa sự phát triển vật chất và tinh thần, giữa cái chung vàcái riêng, giữa cá nhân, quốc gia và quốc tế, giữa quyền lợi và nghĩa vụcủa mỗi cá nhân, quốc gia và khu vực là yếu tố thúc đẩy sự phát triển lýluận và hoạt động thực tiễn trên tất cả các mặt của cuộc sống xã hội trong

đó có sự phát triển của giáo dục

1.3 Khái niệm dự báo giáo dục.

Dự báo giáo dục là một khoa học, có liên quan mật thiết với xu thế phát triển giáo dục, nhưng không phải là một Nó tương tự như

“Lịch sử giáo dục” và “Giáo dục so sánh” Không ít cán bộ nghiên cứu

“Giáo dục so sánh” kể cả một số cán bộ nghiên cứu ở nước ngoài họ

nghiên cứu tình hình phát triển giáo dục đã và đang diễn ra ở từng nước,từng khu vực nêu lên một bức tranh về tình hình phát triển giáo dục của

các nước, họ gọi là xây dựng một bức tranh bổ ngang sự phát triển giáo

dục của các nước, và coi đó là Giáo dục so sánh Không ít tài liệu, giáo

trình coi giáo dục so sánh là một tập tư liệu tình hình giáo dục của cácnước, tương tự như một niên giáp thống kê về giáo dục của Tổng cụcthống kê Vậy hiểu Giáo dục so sánh như thế nào2 Giáo dục so sánh lànghiên cứu cự giống nhau và khác nhau giữa các hệ thống giáo dục, cácquan điểm giáo dục của thời kỳ lịch sử nhằm tìm ra những quy luậtchung, có tính phổ biến và quy luật đặc thù, quy luật riêng trong quá trình

2 Xem Hà Nhật Thăng, Đàm Thanh Âm, lịch sử giáo dục thế giới, NXB giáo dục 1997.

Trang 27

phát triển thực tiễn và lý luận, kinh nghiệm giáo dục Đồng thời lý giảinguyên nhân và quy luật chung và riêng Như vậy muốn nghiên cứu sựgiống nhau và khác nhau của quá trình phát triển của giáo dục phải căn cứvào sự kiện hiện tượng giáo dục (cả lý luận và thực tiễn) Như vậy đốitượng nghiên cứu của Giáo dục so sánh là sự giống nhau, khác nhau vànguyên nhân của sự khác nhau giống nhau đó.

Xu thế phát triển giáo dục và dự báo phát triển giáo dục cũng cóquan hệ gần như vậy nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục là tìm ranhững logic biện chứng khách quan của những yếu tố ảnh hưởng đến quátrình hình thành phát triển giáo dục có tính phổ biến và đặc trưng Trên cơ

sở đó so sánh với các yếu tố đang tồn tại và diễn biến sắp tới đưa ranhững phương hướng, những khả năng cần thực hiện để phát triển giáodục cả về mặt nghiên cứu lý luận, cách thức tổ chức hoạt động giáo dục

và các phong trào giáo dục

Dự báo giáo dục là một khoa học dựa trên xu thế phát triển giáo dục đưa ra những khả năng cần nghiên cứu về lý luận, đề xuất những phương hướng tổ chức đổi mới hoạt động quản lý, tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục toàn diện hay từng thành tố từng bộ phận của

hệ thống giáo dục như mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, điều kiện, phương tiện… của hoạt động giáo dục của một ngành, một cấp học, một môn học Dự báo là điều sẽ có thể xẩy ra.

- Đặc trưng thứ nhất của dự báo giáo dục là nó sẽ xẩy ra, có thể xẩy ra, nhưng cũng có thể không xẩy ra, hoặc mới manh nha (mới bắt

đầu) trong thực tiễn, chưa trở thành phổ biến đại trà trên một diện

rộng.

Dự báo là một khoa học Chẳng hạn dự báo thời tiết, dự báo sự

phát triển dân số, dự báo phát triển kinh tế xã hội… Đã là dự báo thì có

Trang 28

nghĩa là điều đó chưa xẩy ra, hoặc đang mới hình thành vì vậy nó có thểxẩy ra Điều đó phụ thuộc vào sự phân tích các nhân tố chủ quan và kháchquan ảnh hưởng đến sự kiện dự báo Dự báo giáo dục là một việc làm khó

vì mỗi hiện tượng giáo dục bị phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Nhất lànhững dự báo giáo dục có tính chiến lược bị chế ước càng nhiều nhữngyếu tố tự nhiên - xã hội và bản thân các yếu tố nhất là các yếu tố xã hộilại luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng

- Đặc trưng thứ 2 của dự báo là các đề xuất có thể trở thành hiện thực và cũng có thể không trở thành hiện thực vì phụ thuộc vào nhà quản lý.

Trở thành hiện thực với hai điều kiện: thứ nhất những dự báo đềxuất được đưa ra dựa trên xu thế phát triển giáo dục, phân tích tổng hợpnhững quy luật, những yếu tố khách quan phổ biến và đặc thù liên quanđến vấn đề dự báo Điều kiện thứ 2, những người quản lý (yếu tố chủ

quan) có Tâm, có Tầm, có Năng lực tổ chức thực hiện phương hướng

phát triển giáo dục vì sự phát triển xã hội, vì tương lai hay không

Trong thực tế không phải không có những nhà quản lý nhận thứcđược xu thế phát triển cần phải thực hiện những dự báo phát triển kinh tế,khoa học công nghệ, văn hoá giáo dục… Song, vì quyền lợi của cá nhân

họ không thực hiện những nhiệm vụ, công việc đáng phải làm, mà họ làmnhững việc để có lợi kinh tế hoặc tạo ra một danh vọng trước mắt gây

“tiếng vang” cho việc củng cố địa vi hoặc leo lên một nấc thang cao hơn, hoặc để lại một “dấu ấn” của một nhiệm kỳ quản lý… chỉ có những người

trong cuộc mới hiểu rõ vì sao nhiều công việc rất đáng làm vì dân vì nước

vì tương lai lại không được thực hiện và nếu thực hiện thì không đến nơiđến trốn Ngược lại, có những việc chưa thật cấp thiết thì lại được quantâm đầu tư, nhưng không được kiểm tra dẫn tới chất lượng kém, không

Trang 29

được sử dụng đôi khi còn có hại cho quốc kế dân sinh như nhập hế liệucông nghiệp, làm ô nhiễm sông ngòi của các xí nghiệp sản xuất côngnghiệp…

Thông thường dưa ra dự báo là kết quả nghiên cứu của các cán bộkhoa học, các cơ quan nghiên cứu khoa học Về triển khai thực hiện các

dự báo (tất cả các lĩnh vực) lại do các tổ chức quản lý Nhà nước, các banngành vì vậy dẫn tới hiện tượng “lệch pha” giữa dự báo và kế hoạch thựchiện Chừng mực nào thiết kế chién lược, kế hoạch phát triển kinh tế xãhội, giáo dục của các nhà quản lý Nhà nước dựa trên nghiên cứu xu thế,dựa vào đề xuất dự báo thì hiệu quả nghiên cứu và hiệu quả hoạt độngthực tế càng cao, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển con người, giáo dục,kinh tế xã hội Như vậy rõ ràng dự báo không phải lúc nào cũng trở thànhhiện thực

Đặc trưng thứ 3: Dự báo giáo dục (cũng như khoa học dự báo khác) chỉ có thể đưa ra những phương hướng chung cần nghiên cứu, cần thực hiện để phát triển giáo dục.

Vì dự báo là những đề xuất chưa trở thành hiện thực hoặc mới bắtđầu hình thành nên chưa có kinh nghiệm, chưa có biện pháp và hình thứcthực hiện Tuỳ theo nội dung dự báo mà khả năng đưa ra biện pháp cótính khả thi nhiều hay ít Có những dự báo chiến lược (có tính lâu dài,liên quan đến nhiều lĩnh vực của giáo dục và xã hội thì lại càng khó có

những biện pháp cụ thể), chẳng hạn như K.Mác khẳng định giáo dục kỹ

thuật tổng hợp là một đòi hỏi tất yếu của giáo dục trong tương lai Khi

loài người đang ở nền văn minh công nghiệp thì đó là một dự báo chiếnlược, nên K.Mác chỉ có thể phân tích tính tất yếu và nêu ra những yêu cầuchung của giáo dục kỹ thuật tổng hợp Từ đó đến nay thực tế thực hiện

Trang 30

giáo dục kỹ thuật tổng hợp đã làm phong phú thêm lý luận, dự báo củaK.Mác.

Căn cứ vào xu thế phát triển chung, mỗi quốc gia có thể có những

dự báo giáo dục và tìm cách thực hiện những vự báo đó theo những cáchkhác nhau phù hợp với thực tế của mỗi nước Dự báo là cái chưa xẩy ra,

sẽ xẩy ra, có thể xẩy ra vì vậy kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng cụ thể đểthực hiện chưa được tổng kết và vì vậy các dự báo chỉ là phương hướng

có tính mục tiêu, giải pháp lớn Trừ những dự báo trong một thời gianngắn, một hoạt động cụ thể ví dụ dự báo hiệu quả của một giờ lên lớp,một hoạt động giáo dục…

Như vậy dự báo giáo dục có quan hệ với xu thế phát triển giáodục, có thể nói dự báo là những phán đoán những hiện tượng giáo dục cóthể, sẽ xẩy ra dựa trên xu thế phát triển giáo dục Xu thế dựa trên quy luậtkhách quan của sự phát triển giáo dục, phát triển tự nhiên, xã hội và conngười Xu thế phát triển giáo dục cũng là một loại dự báo nhưng có tínhchiến lược của một giai đoạn dài hoặc tương đối dài Còn dự báo giáo dục

có phân tích trên những yếu tố chủ quan để đề xuất những vấn đề gì nên,

cần phải thực hiện trong một thời kỳ nhất định Có thể nói đối tượng

nghiên cứu của xu thế phát triển giáo dục là khách thể nghiên cứu của dựbáo giáo dục

2 NHỮNG QUY LUẬT GIÁO DỤC CHỦ YẾU

Để hiểu sự phát triển giáo dục qua các thời kỳ, đặc biệt xu thếphát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay chúng ta cần hiểu sự pháttriển giáo dục bị chi phối bởi những quy luật nào?

Song trước hết cần hiểu quy luật, bản chất của quy luật là thếnào? thành tố của các quy luật chế ước sự phát triển giáo dục

2.1 Quy luật giáo dục và ý nghĩa của hiểu quy luật giáo dục

Trang 31

Theo từ điển triết học “Quy luật là sự liên hệ nội bộ của hiện

tượng, sự liên hệ quyết định sự phát triển của hiện tượng”1 Bất kỳ một

sự kiện, hiện tượng nào của tự nhiên, của xã hội, của con người cũng luôn

bị ràng buộc của các thành tố tạo ra sự kiện hiện tượng đó Sự ràng buộc,tác động lẫn nhau của các thành tố sẽ thúc đẩy sự vật, hiện tượng pháttriển (nếu như các yếu tố tích cực chiếm ưu thế) Nhưng đôi khi nhữngyếu tố tiêu cực chiếm ưu thế trong mối quan hệ nội tại thì sự vật, hiệntượng sẽ chậm phát triển, thậm chí không phát triển

Mọi hiện tượng giáo dục xã hội cũng luôn bị ràng buộc của cácyếu tố khách quan (đó là các điều kiện kinh tế xã hội, những đòi hỏi của

sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, của các phương thức sản xuất,hoạt động xã hội… ) và những yếu tố chủ quan (đó là khả năng hoạt độngthực tiễn của các chủ thể tham gia vào hoạt động giáo dục, đội ngũ cácnhà sư phạm, người học, mục tiêu, chương trình, nội dung, cách thức thựchiện dạy học và giáo dục…)

Tuỳ theo mức độ của phạm trù giáo dục, mà các thành tố ảnh

hưởng đến việc phát triển giáo dục cũng có mức độ rộng hẹp khác nhau.Phạm trù rộng hất của giáo dục thì những yếu tố chi phối, chế ước sự pháttriển giáo dục cũng cần hiểu đó là mức độ rộng nhất của các yếu tố

Hệ thống quy luật giáo dục cũng ở các tầng bậc khác nhau Quyluật vĩ mô sẽ chế ước, chi phối quy luật bộ phận; quy luật chung chế ước,chi phối quy luật riêng

Quy luật giáo dục là gì?

Quy luật giáo dục là sự tồn tại khách quan của quá trình nẩy sinh, vận động, phát triển của các hiện tượng giáo dục, nó tồn tại độc lập với nhận thức và ý muốn chủ quan của con người Con người chỉ có

1 Từ điển triết học, Nxb Sự thật, H 1957, tr 622.

Trang 32

thể nhận biết, phản ánh quy luật, vận dụng, lợi dụng, không thể thay đổiquy luật.

Những yếu tố khách quan ảnh hưởng tới sự phát triển hệ thốnggiáo dục cũng như tác động đến quá trình phát triển nhân cách con ngườithì không thay đổi, nhưng nội dung của các yếu tố đó lại luôn biến đổi và

vì vậy nhận thức tự giác, sáng tạo của con người là nhận thức ra sự biếnđổi của các yếu tố khách quan đang tồn tại

Nhân cách của con người luôn bị chế ước của các yếu tố tự nhiên(TN) là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội bao gồm cơ sở kinh tế, quan hệ xãhội, những phương tiện lao động và hoạt động xã hội… Gọi chung là cácyếu tố của xã hội (XH), bởi lẽ con người vừa là sản phẩm của TN vừa làsản phẩm của XH Đó là một quy luật khách quan Nhưng các yếu tố TN

và XH lại luôn biến đổi, sự biến đổi của TN và XH là không ngừng vì vậyhiểu sự biến đổi, vận dụng sự biến đổi đó, phát huy những yếu tố tích cựccủa TN và XH cho sự phát triển nhân cách phù hợp với quy luật phát triểnnhân cách là một đòi hỏi đối với các nhà khoa học, các cán bộ quản lý

- Quy luật phát triển giáo dục có tính vĩnh hằng và có tính lịch sử.Tính vĩnh hằng là sự tồn tại lâu dài, khách quan của sự chi phối lôgic biệnchứng của các thành tố trong tiến trình phát triển của các hiện tượng, sựkiện giáo dục Chẳng hạn quan hệ thầy trò là một quy luật của giáo dụcnhà trường, nó bắt nguồn từ một hiện tượng giáo dục xã hội ngay khi nẩysinh con người, xã hội loài người và giáo dục, đó là hiện tượng truyền thụ

và bắt chước kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động của các thế hệ, củamỗi người Để tồn tại và phát triển con người, phát triển xã hội thì việctruyền thụ kinh nghiệm (của người có kinh nghiệm, của các thế hệ đitrước) và bắt chước kinh nghiệm (của người thiếu kinh nghiệm, của thế

hệ sau) là một đòi hỏi khách quan của sự phát triển xã hội, phát triển con

32

Trang 33

người…Vận dụng quy luật đó vào giáo dục nhà trường, đó là mối quan hệgiữa thầy và trò Quan hệ GV HS là một quy luật tồn tạilâu dài, khi xuất hiện giáo dục nhà trường thì có sự chế ước, chi phối giữa

2 chủ thể thầy và trò được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, có phươngpháp… nên kinh nghiệm của loài người ngày càng rút ngắn lại Ngày nay,tri thức loài người càng phát triển thì mối quan hệ giữa người có kinhnghiệm và người chưa có kinh nghiệm, như quan hệ thầy và trò càng trởnên cần thiết và chừng mực nào xã hội càng phát triển, càng đòi hỏi vaitrò của giáo dục nhà trường thì mối quan hệ tương hỗ giữa thầy và trò làmột quy luật phát triển khách quan của sự phát triển giáo dục nhà trường.Song, yêu cầu của sản xuất và cuộc sống xã hội càng phong phú thì quan

hệ thầy trò càng phong phú và luôn luôn biến đổi do các yếu tố của TN,

XH tác động vào quan hệ thầy trò Sự biến đổi thường xuyên của các yếu

tố thành phần lại là một quy luật Mọi hiện tượng giáo dục luôn luôn vậnđộng, sự biến đổi của các thành phần tác động vào các hiện tượng giáodục nên làm cho hiện tượng giáo dục luôn biến đổi, phát triển Sự biếnđổi ấy qua các thời kỳ là một quy luật và được gọi là tính lịch sử, tính xãhội

Tính vĩnh hằng và tính lịch sử xã hội không mâu thuẫn và nó hỗtrợ cho các sự kiện, hiện tượng của cuộc sống xã hội nói chung và hiệntượng giáo dục nói riêng phát triển, vận động không ngừng Chính mốiquan hệ khách quan trên đã dẫn tới một tính chất nữa của quy luật giáodục đó là tình lôgíc

Như vậy bản chất của quy luật giáo dục là sự chế ước, chi phốicủa các yếu tố khách quan và chủ quan, quy luật giáo dục là sự vận động

không ngừng, sự tác động đan xen của các thành tố Cái bất biến của các

quy luật giáo dục là sự vận động, là sự tác động đan xen của các thành tố

GV HS

Trang 34

theo một lôgic cực kỳ phức tạp Cái bất biến đó là tính phổ biến của các

quy luật giáo dục Nhưng chính vì luôn vận động, phát triển và các thành

tố luôn biến đổi, tính chất chế ước, chi phối, mức độ và cường độ tác

động đan xen lại luôn thay đổi nên các quy luật giáo dục lại luôn biến

động, biến đổi Hai mặt đó không mâu thuẫn mà hỗ trợ nhau, làm cho các hiện tượng giáo dục luôn phát triển.

Hiểu biết bản chất của quy luật giáo dục giúp chúng ta tránh đượcthái độ duy ý chí, duy tâm, đồng thời giúp ta sáng tạo, vận dụng các quyluật vào thực tiễn một cách chủ động, tránh sự vận dụng một cách máymóc kinh nghiệm giáo dục của các nước, của người khác, tránh đượcnhững thất bại đáng tiếc Đặc biệt nắm vững bản chất quy luật giáo dụcgiúp các nhà hoạch định chiến lược giáo dục soạn thảo các văn bản vềgiáo dục có cơ sở khoa học

Nắm vững đặc trưng của các quy luật phát triển giáo dục giúpchúng ta có phương pháp luận trong nghiên cứu và hoạt động không chỉđối với các nhà hoạt động trực tiếp về giáo dục mà còn giúp các nhà quản

lý xã hội, các nhà hoạt động kinh tế có ý tưởng định hướng phát triển xãhội, sản xuất kinh doanh Không lấy gì làm lạ rất nhiều các nhà doanhnghiệp nước ngoài muốn thắng lợi trong kinh doanh ở Việt Nam họ đã bắtđầu từ văn hoá, giáo dục cùng với việc tìm hiểu thể chế chính trị, phápluật, họ nghiên cứu tâm lý dân tộc, sở thích, truyền thống văn hoá, trình

độ dân trí, cơ cấu tổ chức giáo dục quốc dân, chất lượng giáo dục- đào tạonguồn nhân lực của Việt Nam… Nhiều nhà ngoại giao, quân sự, tình báo,kinh doanh họ chủ động tìm hiểu lịch sử, văn hoá, định hướng phát triểngiáo dục… Nắm chắc được quy luật giáo dục, những xu thế phát triểngiáo dục Việt Nam trước khi họ có kế hoạch đầu tư vào sản xuất, kinhdoanh, hoạt động chính trị, quân sự

Trang 35

Có thể khẳng định hiểu sâu sắc các đặc trưng của quy luật giáodục là chúng ta có kim chỉ nam cho hoạt động xã hội nói chung và hoạtđộng giáo dục nói riêng Trong lịch sử giáo dục của nhân loại trong thế kỷXXI, có hai nhà hoạt động chính trị lỗi lạc khởi đầu bằng hoạt động giáodục, đó là N.K.Crupxcaia và Chủ tịch Hồ Chí Minh Riêng Crúpxcaia đãtừng tâm sự rằng: không có con đường nào đến với giai cấp công nhâncần lao nhanh hơn và hiệu quả hơn bằng hoạt động giáo dục và thông quahoạt động giáo dục có thể giác ngộ quần chúng, đoàn kết họ thực hiệnmục đích giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại thực hiện một xã hộimới- xã hội xã hội chủ nghĩa Chỉ hiểu quy luật của quá trình phát triểngiáo dục mới thấy hết ý nghĩa, vai trò của giáo dục đối với sự phát triểnkinh tế xã hội.

Hiểu được quy luật của giáo dục mới có khả năng xác địnhphương hướng (xác định xu thế) phát triển giáo dục một cách hợp lý, khảthi Xin nêu một ví dụ, ngay sau cách mạng tháng 8 năm 1945, trong mộtbuổi nghe Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Văn Huyên báo cáo về phươnghướng phát triển giáo dục Được biết những ý tưởng của Bộ trưởng vềphát triển hệ thống giáo dục quốc dân, nhất là phát triển giáo dục đại học,Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đã khuyên chúng ta: lấy gì để phát triểngiáo dục đại học khi 95% đồng bào còn mù chữ… và thế là diệt giặc dốtđược coi là một trong ba nhiệm vụ chính trị sau cách mạng tháng Tám.Chỉ qua sự việc trên cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu sâu sắcquy luật phát triển của giáo dục và vai trò của giáo dục đối với sự pháttriển văn hoá Trong lời kêu gọi chống giặc dốt, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định:

“Nhân dân Việt Nam

Muốn giữ vững nền độc lập,

Muốn làm cho dân mạnh, nươc giầu

Trang 36

Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phậncủa mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc xâydựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ ”( Lờikêu gọi chống nạn thất học, tháng 10/ 1945).

Thật ngắn gọn, dễ hiểu nhưng thật xúc tích, thật triết lý thể hiệnđầy đủ lôgíc biện chứng của sự phát triển giáo dục, con người và xã hội

Có thể khẳng định trong suốt quá trình đi tìm đường cứu nước, ngay từnăm 1909 đến khi đi xa… vì nắm được quy luật của sự phát triển giáo dục

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đưa ra được những định hướng xây dựng,phát triển giáo dục hợp lý, phát huy tối đa vai trò của giáo dục đối vớinhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng thời kỳ, nhưng đồng

thời đón đầu sự đòi hỏi của lịch sử Chẳng hạn, khi chưa giành được độc

lập dân tộc, Người tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, vận động đồng bàogiáo dục con em, gửi thanh thiếu niên ra nước ngoài học tập, như năm

1925 gửi một đoàn thiếu niên Việt nam sang Nga Xô Viết, vào nhữngnăm 30 gửi cán bộ sang học ở trường đại học Phương Đông và các lĩnhvực quân sự, văn hoá… chuẩn bị cho cuộc cách mạng chính trị và xâydựng đất nước Sau giải phóng biên giới 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta đã liên tiếp gửi thanh niên, học sinh, cán bộ sang các nước Xãhội chủ nghĩa để đào tạo chuyên gia cho các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹthuật Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam vôcùng gay go quyết liệt, kẻ thù của chúng ta muốn đưa Việt Nam trở vềthời kỳ đồ đá bằng chiến tranh phá hoại B52, Chủ tịch Hồ Chí Minh lạichỉ thị “Dù khó khăn đến mấy cũng phải dạy thật tốt, học thật tốt”, pháttriển cả số lượng, cả chất lượng để chuẩn bị cho xây dựng đất nước “tođẹp hơn, đàng hoàng hơn” Chính nhờ nắm vững quy luật phát triển giáodục và ý nghĩa của giáo dục với tư cách là nhân tố thúc đẩy tiến trình củacách mạng Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tiến hành ngaynhững cuộc cải cách giáo dục mới khi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

có những chuyển giai đoạn, chẳng hạn năm 1950 giải phóng biên giới là

Trang 37

cơ hội để chuẩn bị cho cuộc tổng phản công thì năm 1951 Chủ tich HồChí Minh yêu cầu cải cách giáo dục Năm 1955 miền Bắc hoàn toàn giảiphóng, phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng CNXH vừaphải viện trợ cho miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước thống nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chỉ đạo tiến hành cảicách giáo dục ngay vào tháng 1/1956 với những nhiệm vụ mới nhằm đápứng những đòi hỏi nguồn nhân lực phát triển kinh tế xã hội ở miền Bắc vàxây dựng lực lượng quân đội chuẩn bị cho giải phóng miền Nam.

Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta khẳng định “Giáo dục là quốcsách hàng đầu” là thể hiện nhận thức sâu sắc mối quan hệ lôgic biệnchứng vai trò của giáo dục và những quy luật phát triển giáo dục tronggiai đoạn mới Vậy những quy luật chủ yếu của sự phát triển giáo dục lànhững quy luật nào và nó có ý nghĩa như thế nào đến việc dự báo xu thếphát triển giáo dục?

2.2 Một số quy luật giáo dục chủ yếu ảnh hưởng tới xu thế phát triển giáo dục.

Quy luật của sự phát triển giáo dục có rất nhiều cấp độ khác nhau.Trong khuôn khổ tài liệu bàn về xu thế phát triển giáo dục chung nhất củamột thời kỳ lịch sử, nhất là xu thế phát triển giáo dục của cuộc cách mạnggiáo dục lần thứ hai đang thực hiện ở hầu hết các nước để chuyển từ vănminh công nghiệp sang nền văn minh hậu công nghiệp

2.2.1 Quá trình giáo dục phát triển nhân cách toàn diện luôn bị chế ước, chi phối bởi những điều kiện tự nhiên, những điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật của quá khứ, hiện tại và xu thế phát triển của đất nước và thế giới (mô hình 2)

Mô hình 2: Quan hệ giữa TN, XH và GD.

TN, XH, CNQuá khứ, hiện tại và tương lai GD (từ R đến H)

Trang 38

- Trước hết ta hiểu các yếu tố tự nhiên (TN) bao gồm địa hình,khí hậu, sông ngòi… không gian Còn các yếu tố xã hội (XH) bao gồmcon người và xã hội loài người trải qua quá trình phát triển do con ngườisáng tạo ra bao gồm di sản vật chất và di sản tinh thần, quan hệ con ngườivới con người trong sản xuất, trong giao lưu xã hội ở gia đình, cộng đồng,

họ hàng, vui chơi, văn hoá, tôn giáo, khác giới… cái quan hệ quan trọng

nhất của con người, chi phối quá trình phát triển nhân cách, phát triển

giáo dục ở mỗi thời kỳ lịc sử không chỉ là quan hệ của những con

người đang sống, đang hoạt động mà còn chịu ảnh hưởng của quá khứ

và tương lai Bất kỳ một dân tộc nào, mỗi người đang tồn tại cùng chịu

ảnh hưởng tâm lý xã hội của quá khứ và mong muốn duy trì, phát huynhững giá trị tốt đẹp của các thế hệ đã qua! Quy luật của giáo dục là tiếpthu, kế thừa, phát triển các giá trị của quá khứ và cho tương lai để cho conngười, xã hội ngày càng tốt đẹp hơn

Yếu tố giáo dục (GD) trong quy luật này cần hiểu theo khái niệm

từ rộng đến hẹp nhất, có nghĩa là những hoạt động giáo dục dù nhỏ nhất(như hình thành một thói quen, một giá trị hay tổ chức dạy một bài…)đến khái niệm rộng nhất là quá trình hình thành phát triển nhân cách (mộtcon người, một thế hệ, hoạt động giáo dục của một địa phương, một quốcgia, của một thời kỳ lịch sử dài hay ngắn…) cũng luôn bị chế ước, chiphối của những điều kiện tự nhiên, xã hội của quá khứ và hiện tại, cũngnhư xu thế phát triển của TN, XH, CN

2.2.2 Quy luật thứ 2: Giáo dục hiểu theo cấp độ nào, ở thời kỳ nào thì vẫn luôn luôn là nhân tố thúc đẩy, quyết định tốc độ phát triển (cả số lượng và chất lượng) nguồn lực người, khoa học công nghệ, kinh

tế xã hội Chính vì vậy ngày nay Đảng ta khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Dù ở góc độ nào, ở thời kỳ nào thì giáo dục vẫn là yếu tố quyếtđịnh tốc độ phát triển con người, kinh tế xã hội và thực tiễn Song khôngphải loài người đã sớm nhận ra ngay sức mạnh của giáo dục Thời kỳ văn

Trang 39

minh mông muội, loài người thực hiện các hoạt động truyền thụ và bắtchước kinh nghiệm sống để tồn tại còn nặng về bản năng xã hội Nhờ có ýthức nên các hoạt động giáo dục như là một hoạt động khách quan để conngười tồn tại và phát triển chứ chưa phải đã nhận thức đầy đủ vai trò, ýnghĩa của tổ chức hoạt động giáo dục Theo tiến trình của lịch sử dần dần

co người càng nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục tác động vào cácyếu tố tự nhiện, xã hội và nguồn lực người

Xin nêu một ví dụ về nhận thức của con người về vai trò của giáodục đối với sự phát triển kinh tế xã hội và khả năng vận dụng quy luậtphát triển giáo dục trong lịch sử Đã một thời gian dài chúng ta giới hạnkhái niệm “giáo dục” theo nghĩa hẹp, nên luôn coi giáo dục là hình thái ýthức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc, vì vậy thường đánh giá tác dụngcủa giáo dục như sự năng động của ý thức Nhưng trên thực tế, giáo dụchiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần vì vậyvai trò của giáo dục cần phải được xem xét lại

- Với quan niệm cũ giáo dục là hình thái ý thức xã hội, chưa thấy

sức mạnh vật chất của giáo dục, cho nên đầu tư cho giáo dục coi như

đầu tư gián tiếp, đầu tư phúc lợi, đầu tư chiến lược lâu dài vì vậy ngân sách, kinh phí đầu tư vào sản xuất là chủ yếu và đầu tư ch sản xuất được ưu tiên số một.

Quan niệm cũ về vai trò của giáo dục, ta có thể mô hình hoá nhưsau (xem mô hình 3)

Ghi chú: + GD: Giáo dục theo nghĩa rộng

+ CN: Con người (cá nhân và thế hệ)

+ SX: Sản xuất vật chất và tinh thần

+ HQKTXH: Hiệu quả kinh tế xã hội

GD CN KHKT SX HQKTXH

Trang 40

Mô hình 3: Quan niệm cũ về vai trò của giáo dục là yếu tố gián tiếp tới sự phát triển kinh tế xã hội.

Xuất phát từ nhận thức vai trò của giáo dục như trên nên đã nhiềuthế kỷ, nhiều nước đầu tư cho giáo dục rất hạn chế, thường chỉ chiếm

khoảng 6 đến 7% ngân sách quốc gia và có thể nhận xét là: Đầu tư cho

giáo dục vừa ít, vừa chậm và không kịp thời, không đúng trọng tâm.

Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây nhiều nước phát triển

và đang phát triển ý thức sâu sắc vai trò của giáo dục nên đã coi đầu tư

cho giáo dục không chỉ là đầu tư chiến lược lâu dài mà còn coi là đầu tư

cho sản xuất trực tiếp vì giáo dục là yếu tố thúc đẩy, tác động làm chuyển biến nhanh chóng các yếu tố làm tăng trưởng kinh tế xã hội bền vững Nhận thức mới về vai trò của giáo dục, vận dụng quy luật phát

triển giáo dục trong giai đoạn mới có thể mô hình hoá (xem mô hình 4)

CN

KH-KT

SX-XH GD

Ngày đăng: 12/12/2016, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w