Dù cho đến trước cuối thế kỉ XVIII trên bán đảo chỉ mỗiMalacca bị thực dân chiếm, nhưng sự hiện diện của bọn này đã tác động đến tình hìnhphát triển của các tiểu quốc Malaya trong các qu
Trang 1VÀ(TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN NHỮNG NĂM CỦA THẬP NIÊN 1980)
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MALAYA
CHƯƠNG I: THỜI CẬN ĐẠI
I Malacca dưới ách thống trị của Bồ Đào Nha và Hà Lan (1511 – 1824)
II Thực dân Anh bành trướng ở Malaya (1786 – 1910)
III Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Malaya
CHƯƠNG II: TRONG THỜI KÌ KHỦNG HOẢNG CỦA CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
I Giữa hai cuộc chiến (1918 – 1941)
II Những năm bị Nhật chiếm đóng (1941 – 1945)
CHƯƠNG III: ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP VÀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
I Từ sau chiến tranh thế giới thứ Hai
II Liên bang Malaysia (8.1957 – 9.1963)
III Malaysia (9.1963 )
PHẦN II SINGAPORE
PHẦN III BRUNEI
Trang 3Do vị trí địa lí nằm án ngữ ngay trên đường biển nối liền các nước Tây Âu vớinhững vủng đất trồng cây hương liệu và các loại cây nhiệt đới phương Đông, Malayatrở thành vùng đầu tiên ở Đông Nam Á có quan hệ thương mại với những lái buôn -cướp biển Bồ Đào Nha, những kẻ tiên phong của chủ nghĩa tư bản thực dân Tây Âu.Năm 1505, một đoàn tàu Bồ Đào Nha gần 40 chiếc do Francisco de Almeida chỉ huybỏ neo ngoài khơi Malacca Ngay đầu năm sau, vua Bồ Đào Nha đã ra lệnh choAlmeida tìm cách lập ngay tại hải cảng này một pháo đài kiêm thương điếm nhằm hỗtrợ cho việc phát triển hoạt động buôn bán hương liệu và khống chế đường biển từ Tâysang Đông ngang qua eo biển cùng tên
Malacca vào thời điểm này thuộc lãnh thổ vương triều Hồi giáo Malacca, ra đờinăm 1400 Từ một làng nhỏ nằm trên cửa sông Malacca vào đầu thế kỉ XV, nhờ một sốđiều kiện thuận lợi mà Malacca đã mau chóng phát triển thành một thành phố cảngphồn thịnh nhất trong vùng, trung tâm của một vương quốc hùng mạnh mà lãnh thổ lúccực thịnh của nó dưới triều vua Mahmud (1488 – 1511) đã bao gồm phần lớn bán đảoMalaya (lãnh thổ cực bắc lan rộng đến Patani), một phần Đông Bắc Sumatra Như vậytoàn bộ eo biển Malacca đều bị vương quốc cảng nàykhống chế
Thực ra ngay trong thời kì cực thịnh, Malacca đã chứa trong lòng không ít nhượcđiểm cơ bản
Do Malacca buôn bán với nhiều vùng khác nhau trên thế giới mà ở vương quốccảng tập trung nhiều sắc dân khác nhau: người Ả Rập từ Cairo, Mecca và Aden, ngườiẤn từ Gujerat, Malabar và Coromandel, thương nhân Xiêm từ Arakan, Pegu, ngườiChàm, Khmer, Trung Quốc, những người sống ở Java, Maluku, Banda và những đảokhác Tomes Pires ước tính ở Malacca người ta nói đến 84 thứ tiếng Những ngườinước ngoài đến đây để làm giàu trong khi người bản xứ lại có mức sống thấp kém hơnrất nhiều Nông nghiệp, nghề sinh sống chủ yếu của người bản xứ, không được chú ýphát triển Là người sở hữu chủ tất cả đất đai, sultan hầu như không làm gì cả để cảitiến tình trạng lạc hậu của nông nghiệp Hậu quả là Malacca phải thường xuyên đốiphó với nạn thiếu hụt thực phẩm Giá sinh họat cao bất thường, và tình trạng này càngthêm trầm trọng do các sắc thuế đặc biệt đánh trên thực phẩm Giới nông dân, ngư phủvà lao động nhập cư cũng như binh sĩ người Malaya có một mức sống chỉ đủ để tồn tại
Một chỗ nhược khác của các sultanat Malacca nói riêng, các sultanat Malayanói chung, là những cuộc đấu tranh xâu xé nội bộ để giành quyền thừa kế ngai vàng vàcả chức vụ bendahara giữa hai dòng họ có thế lực nhất và kình chống nhau rất ác liệt làTun Perat và Tun Ali đã làm lực lượng bị suy yếu và gây chia rẽ trầm trọng trong nộibộ Trên bán đảo Malaya trước đó chưa bao giờ tồn tại một quốc gia hùng mạnh đủsức lấn át các tiểu quốc khác để cho ra đời một đất nước thống nhất Quan hệ giữa cáctiểu quốc Malaya với nhau là quan hệ thân thuộc và thống trị Từ thế kỉ VII đến thế kỉXVI, các tiểu quốc Malaya phải thần phục các vương triều ở Java và Sumatra Phải đợiđến khi vương quốc Majapahit bị sụp đổ đầu thế kỉ XV thì Malacca mới có cơ hội
Trang 4khẳng định vai trò của nó trong lịch sử Malaya như là quốc gia đầu tiên có lãnh thổ baogồm gần như toàn bộ bán đảo Malaya hiện nay Sự nghiệp thống nhất các tiểu quốcMalaya chỉ thật sự diễn ra từ năm 1456, dưới triều vua Mansur (1459 – 1477) Nhưvậy quốc gia Malaya thống nhất – nếu có thể được gọi như vậy – ra đời không lâutrước khi chạm trán với người Bồ Đào Nha Triều đại cực thịnh của Mahmud chưa làmđược gì nhiều để cố kết quốc gia non trẻ này thành một khối chặt chẽ Quan hệ giữaMalacca và các tiểu quốc vẫn còn là quan hệ thần phục của các thế lực phong kiến cátcứ trước chính phủ phong kiến tập quyền trung ương Ý thức dân tộc chưa có điều kiệnbắt rễ sâu vào đời sống dân tộc để trở thành một thứ tình cảm không thể thiếu được,một nhân tố đoàn kết các tiểu quốc Malaya vào sự nghiệp chung đối phó với mối đedoạ xâm lược từ bên ngoài
Một nguyên nhân khác khiến quan hệ giữa các tiểu quốc Malaya cho đến thế kỉXVI còn lỏng lẻo là vì trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói chung còn rấtthấp: ngoại trừ một số rất ít cảng có được bộ mặt phồn thịnh nhờ buôn bán với thế giớibên ngoài như Malacca, còn kì dư trên đại bộ phận lãnh thổ còn lại nền kinh tế hoàntoàn mang tính chất tự nhiên Vả chăng, Malacca là một cảng – kho hàng đầu mối muabán và phân phối các nguồn hàng được vận chuyển từ nơi khác đến chứ không phải lànơi buôn bán các sản phẩm địa phương
Thành phần cư dân phức tạp, có tinh thần dân tộc yếu ớt, tình trạng khan hiếmlương thực, tình trạng nội bộ xâu xé, mối quan hệ rời rạc với các chư hầu; đó là nhữngchỗ yếu cơ bản khiến Malacca bị thất thủ trước một lực lượng xâm lược không lấy gìlàm đông, tạo cơ hội cho chủ nghĩa thực dân phương Tây có được chỗ đứng thuận lợitrong buổi đầu bành trướng của nó ở Đông Nam Á
I MALACCA DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA BỒ ĐÀO NHA VÀ HÀ LAN (1511 – 1825)
Từ năm 1511, lịch sử Malaya gắn liền với lịch sử bành trướng thuộc địa của thựcdân châu Âu ở Đông Nam Á Dù cho đến trước cuối thế kỉ XVIII trên bán đảo chỉ mỗiMalacca bị thực dân chiếm, nhưng sự hiện diện của bọn này đã tác động đến tình hìnhphát triển của các tiểu quốc Malaya trong các quan hệ kinh tế và chính trị của phần đấtnày ở Đông Nam Á
I.1.Thực dân Bồ Đào Nha tổ chức cai trị Malacca
Sau khi chiếm được Malacca, người Bồ Đào Nha đã dựng lên ở đó một pháo đàivững chắc hầu biến thành phố cảng này thành một trong những cứ điểm chính của đếquốc thực dân Bồ Đào Nha ở phương Đông, cùng với Goa, Daman, Diu, Ormuz vàSokotra
Trang 5Việc cai trị Malacca được tổ chức theo cách sau: người giữ trọng trách kinh tế là
tư lệnh pháo đài (từ năm 1571 mang danh hiệu Thống đốc phương Nam) do vua BồĐào Nha bổ nhiệm theo nhiệm kì 3 hoặc 4 năm Giúp việc cho ông này là Hội đồngthành phố gồm một số thành viên do phó vương Goa chỉ định, thẩm phán chính, thư kíhội đồng, 7 thẩm phán được bầu để phụ trách công tác tư pháp và tài chính của thànhphố và một số thành viên vì nghĩa vụ (giám mục ) Quân đồn trú và hạm đội Malacca
do viên tổng tư lệnh chỉ huy, cũng được phó vương bổ nhiệm trong thời hạn 3 năm
Người Bồ Đào Nha giữ lại một số chức vụ của sultanat cũ: bendahara phụ tráchtất cả những dân cư không theo đạo Thiên Chúa và người nước ngoài; temenggong caiquản dân bản địa (Malaya và Menangkabau) sinh sống ở vùng Malacca; shahbandar –người giúp việc của bendahara – được giao trách nhiệm đánh thuế các tàu thuyềnkhông phải của người Bồ Đào Nha và tiếp đãi các phái viên ngoại quốc đưa họ đếngặp thống đốc Các cộng đồng người châu Á – Trung Quốc, Java, Tamil – đều cóngười phụ trách riêng Nhiệm vụ của họ là đại diện chính quyền Bồ Đào Nha để đảmbảo luật pháp và trật tự công cộng
Chính sách cai trị của người Bồ Đào Nha ở Malacca mang nhiều mâu thuẫn Họchủ tâm duy trì thành phố cảng này như là thương cảng-kho hàng giống như trước, nơiluồng hàng hoá từ Ấn Độ phải đi ngang qua đó để đến vùng quần đảo, đồng thời họ lạimuốn biến Malacca thành một trong những pháo đài chính bảo vệ độc quyền thươngmại của Bồ Đào Nha ở các vùng biển phía Nam Chính quyền thuộc địa muốn tất cảcác tàu thuyền qua lại eo biển chỉ được cập bến mỗi Malacca và sẵn sàng áp dụng chếđộ khủng bố tàn bạo để duy trì chính sách độc quyền thương mại này, nhưng lại đánhthuế rất cao trong khi để cho tàu của người Bồ Đào Nha được hưởng mọi ưu đãi
Tất cả các tình hình trên đã khiến các thương nhân châu A,Ù nhất là thương nhânHồi giáo, bỏ đến các cảng khác ở Bắc và Đông Sumatra, ở Nam bán đảo Malaya, TâyJava Nạm tham nhũng lan tràn trong các viên chức Một nhược điểm khác trong chếđộ thống trị của Bồ Đào Nha là chính sách hẹp hòi tôn giáo đã dẫn đến những hànhđộng tàn bạo đối với cư dân địa phương vốn theo Hồi giáo
Tồn tại trong một thế giới Malaya-Indonesia Hồi giáo thù địch, quyền lực củathực dân Bồ Đào Nha ở Malaya chưa bao giờ vượt quá phạm vị Malacca và vùng phụcận Mặt Nam, Đông và Bắc Malacca bị bao vây bởi các tiểu quốc Johore, Pahang vàPerak nằm dưới quyền cai trị của các hậu duệ triều Malacca, vốn rất thù hận kẻ xâmlược
Ngay sau khi chiếm được Malacca và trong suốt thời kì thống trị ở đây, thực dânBồ Đào Nha đã phải đương đầu với sự chống đối của cộng đồng người Java đông đúc.Các sultanat Bắc và Đông Java thường xuyên đe dọa con đường thương mại từ Malaccađến quần đảo Maluku – trung tâm buôn bán gia vị vốn cũng đã bị thực dân Bồ ĐàoNha khống chế
Trang 6I.2.Cuộc chiến tranh tam giác Johore-Acheh-Malacca trong thế kỉ XVI – XVII
Đối thủ chính của thực dân Bồ Đào Nha là sultanat Johore vốn chiếm vai tròhàng đầu trong số các tiểu quốc Malaya trong các thế kỉ XVI- XVIII
Johore ngay từ đầu đã quyết liệt chống người Bồ Đào Nha nhằm hai mục đích:cản trở thực dân Bồ Đào Nha xác lập độc quyền thương mại ở eo biển, chiếm lại vàphục hồi sultanat Malacca Trong nửa đầu thế kỉ XVI, trước khi cuộc chiến tranh tamgiác Johore-Acheh-Malacca thuộc Bồ Đào Nha khởi sự, sultanat Johore đã nhiều lần(1515 -1519, 1523, 1524) tổ chức các cuộc tiến công vào Malacca hoặc vây hãm ngặtnghèo thành phố cảng này; nhưng chính nó cũng bị thực dân Bồ Đào Nha tiến công(1526, 1536)
Nằm ở cực Bắc Sumatra, sultanat Acheh chỉ một thời gian ngắn sau khi Malacca
bị thất thủ đã vươn lên thành một trong những trung tâm thương mại chính của quầnđảo nhờ việc các thương nhân châu Á không còn sử dụng đường hàng hải đi gnang qua
eo biển Malacca, mà đi đường vòng qua Bắc Sumatra, chạy dọc theo bờ biển Tây namđảo này và vòng lên eo biển Sondes để đến vùng quần đảo
Sau khi khuất phục các cảng Pedir và Pasé ở Bắc Sumatra, Acheh đã lao vàocuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát đường hàng hải qua eo biển Malacca chốnglại thực dân Bồ Đào Nha và sultan Johore
Kéo dài gần một thế kỉ , từ năm 1530 đến năm 1636, khi Iskandar Shah củaAcheh từ trần, đánh dấu thời kì suy sụp của sultanat này, cuộc chiến tranh tam giácJohore-Acheh-Bồ Đào Nha đã đào sâu mâu thuẫn giữa hai tiểu quốc Malaya-Indonesiachính của thời này khiến chúng không thể tập hợp lực lượng đánh đuổi kẻ thù xâmlược, làm cho thực dân Bồ Đào Nha duy trì được ách thống trị ở Malacca vốn dĩ chưabao giờ đóng một vai trò gì lớn hơn là một pháo đài thương điếm giữa một thế giớiMalaya-Indonesia thù địch trong suốt 130 năm để rồi cuối cùng bị đánh bật khỏi đây,không phải bởi người bản xứ mà bởi hai cường quốc thực dân khác – Anh và Hà Lan
Đến đây cũng cần đề cập đến sự kiện là cuộc đấu tranh chống thực dân Bồ ĐàoNha đã tạo điều kiện cho đạo Hồi tăng cường ảnh hưởng ở các sultanat ven biển Cácnước này đã trở thành trung tâm truyền bá đạo Hồi đến quần đảo Chính trong thế kỉXVI mà đạo Hồi đã giành được ưu thế trong thế giới Malaya-Indonesia Chiến thắngcủa đạo Hồi không chỉ tác động đến các mối quan hệ nội tại của vùng bờ biển ĐôngNam Á, mà còn ảnh hưởng cả đến các quan hệ phát triển hơn về văn hóa giữa ĐôngNam Á với Ấn Độ và các nước Trung, Cận Đông; đạo Hồi, đến lượt nó, đã trở thànhngọn cờ duy nhất tập hợp các sultanat ven biển trong cuộc chiến tranh chống lại bọnthực dân ngoại nhập
I.3 Thực dân Anh và Hà Lan xuất hiện ở vùng eo biển Malacca
Trang 7Cũng giống như người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, người Anh và Hà Lan đếnĐông Nam Á là để săn tìm hương liệu Năm 1592, đoàn tàu thám hiểm của Anh đã cậpbến đảo Penang Năm 1995, đoàn tàu thám hiểm của Hà Lan đã đi ngang qua eo biểnMalacca để đến quần đảo Indonesia
Dù tập trung sự chú ý vào Maluku, Anh và Hà Lan vẫn hoạt động tích cực ở Tâyvà Nam Malaya, cố đặt cơ sở ở vùng chiến lược quan trọng này Phù hợp với quanđiểm dựa vào sức mạnh của hải quân để bành trướng hoạt động thương mại cướp đoạt,Công ty Đông Ấn Hà Lan (V.O.C.) đã tìm cách tấn công cứ điểm vững chắc nhất củaBồ Đào Nha ở Malacca để đánh bạt ảnh hưởng của nước này khỏi Đông Nam Á Năm
1637, Hà Lan đã lập liên minh với Johore Từ tháng 6.1640 đến tháng 1.1641, quân độiliên minh Hà Lan-Johore đã tiến công Malacca Ngày 14.1.1461, Malacca bị thất thủvào tay thực dân Hà Lan
I.4.Ách thống trị của thực dân Hà Lan ở Malacca và trên bán đảo Malaya
Đối với người Hà Lan, giá trị của Malacca chủ yếu nằm trong lĩnh vực quân sự:đây là một pháo đài vững chắc án ngữ con đường đi ngang qua eo biển Malacca
Malacca không còn là địa điểm quốc tế nữa vì V.O.C cố gắng tập trung hoạtđộng tạo dựng một nền thương mại giữa Viễn Đông và quần đảo Indonesia, Ấn Độ vàBatavia Vả chăng phầlớn thương nhân cũng đã rời bỏ thành phố từ năm 1635 Dân sốcũng bị sút giảm nhiều – từ 20.000 xuống còn 1.600 khi thành phố bị Hà Lan chiếm.Malacca chỉ còn là pháo đài ở eo biển và trung tâm thương mại của bán đảo Các sảnphẩm gia vị từ Java, Xiêm, Sumatra và Bengal cũng như vải từ Ấn Độ là những mặthàng chính nhập vào Malacca, còn mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất là thiếc Cũngnhư người Bồ Đào Nha, V.O.C cố gắng giành độc quyền thương mại, buộc các tàuthuyền đi ngang qua eo biển phải cập bến Malacca và đóng thuế cao Công ty đã épcác sultan trên bán đảo, nhất là Perak và Kedah kí các hiệp ước theo đó họ bị buộcphải bán cho công ty thiếc và hồ tiêu với giá hạ, phong toả bờ biển, xây dựng pháođài, nhất là dọc theo bờ biển Negri-Sembilan, Selangor và cả Perak, và cho tàu tuầnphòng eo biển
Perak và Kedah đã đấu tranh không ngừng chống lại chính sách độc quyềnthương mại của Hà Lan Trong nửa sau thế kỉ XVII, các pháo đài và thương điếm màcông ty đã ngang nhiên xây dựng trên lãnh thổ của hai sultanat này lần lượt bị triệt hạ
Nhằm củng cố vị trí ở Malacca, V.O.C đã chinh phục tiểu quốc Naning củangười Menangkabau nằm gần đó Tuy nhiên, trên thực tế quyền hành của người HàLan, giống như người Bồ Đào Nha trước đó, bị giới hạn trong thành phố, và những mưutoan của họ nhằm tăng cường quyền hành ở vùng khác trên đảo Malacca đều khôngmang lại kết quả
Trang 8I.5.Johore từ giữa thế kỉ XVII đầu đến thế kỉ XVIII
Năm 1641 mở ra thời kì phát triển hùng mạnh và thịnh vượng của Johore Haiđối thủ nguy hiểm nhất: thực dân Bồ Đào Nha bị loại khỏi Malacca, sultan Acheh bịsuy yếu sau cái chết của sultanat Iskandar Tani
Sultan Abdul Jalil-Shah III (1623 – 1677) đã khuất phục Pahang, Đông Sumatra(Kampar, Siak, Indragiri), lập các liên minh thân cận với Patani, Jambi, mở rộng ảnhhưởng đến các tiểu quốc của người Menangkabau ở trung bộ Malacca Hàng hóa từ cácnơi này được chở đến kinh đô Johore là Batu Sawar đã biến nơi này thành trung tâmthương mại lớn, cạnh tranh có hiệu quả với Malacca Nhưng cảnh phồn thịnh này chỉkéo dài có 25 năm Một loạt biến cố đã khiến sultanat phải sụp đổ
Do sự kình địch của hai phe phái trong triều mà cuộc hôn nhân giữa người thừakế của sultan Johore và con gái của panregan (vua) Jambi bất thành Cho là bị xúcphạm, vua Jambi đã cầm quân sang đánh vào kinh đô Batu Sawar Năm 1673, kinh đô
bị thất thủ Thất bại này đã đánh dấu thời kì suy yếu và tan rã của Johore SultanJohore là Abdul Jalil IV (1677 – 1722) đã cầu viện đến sự giúp đỡ của các đội thânbinh Bugis thiện chiến Quân đội Jambi bị đẩy lui, nhưng ảnh hưởng của người Bugisđã tăng lên mau chóng đến mức khống chế cả Johore và một số sultanat vốn trước đâylà chư hầu của Johore
Người Hà Lan đã mau chóng tìm cách lợi dụng khó khăn của Johore để giànhđộc quyền thương mại Năm 1689, hai bên đã kí hiệp ước theo đó Hà Lan có quyềnbuôn bán mà không bị đánh thuế ở Johore và cấm thương nhân Ấn Độ không được ngụ
cư trên lãnh thổ của sultanat
Năm 1718, vua Siak là Kechil đã đánh chiếm kinh đô Johore và tự xưng làsultan xứ này
I.6.Người Bugis ở Malaya và cuộc chiến đấu của họ chống thực dân Hà Lan
Trong thế kỉ XVIII trên chính trường Malaya đã xuất hiện một lực lượng mới làngười Bugis, vốn là những thủy thủ can đảm, khéo léo, sinh sống bằng nghề cướp biển,buôn bán hoặc đánh thuê Quê hương của họ là vùng Tây Nam bán đảo Sulawesi
Sau khi bị người Hà Lan chiếm năm 1667, người Bugis đã di cư hàng loạt sangbán đảo Malacca Tại đây, khả năng thiện chiến của họ đã được giới quý tộc Johore sửdụng vào việc tranh chấp giành giật ngôi vua Kết quả là năm 1722, Kechil bị đánhđuổi về Siak, em trai của Abdul-Jalil IV là Sulaiman (1722 -1760) Lên cầm quyền,còn một trong những thủ lĩnh của người Bugis là Daining Merewah làm phó vương(Yam-tuan-Muda) Từ đó, quyền hành thực tế ở sultanat lọt vào tay người Bugis
Trang 9Từ Johore, các thủ lĩnh Bugis tích cực mở rộng ảnh hưởng sang các sultanatKechah, Perak, Selangor Tình hình này đã khiến thực dân Hà Lan lo lắng Thêm mộtlý do khác để họ bực dọc là các hoạt động thương mại và cướp biển của người Bugisđã phá tan chính sách độc quyền thương mại của Hà Lan Dưới thời Yam-tuan-MudaDaing Kamboja (1745 – 1777) và Raja Jahi (1777-1784), Riau – trung tâm của Johorevào thời kì này – đã trở thành một cảng phồn thịnh cạnh tranh với Malacca, thu hút cácthương nhân Âu, Ấn, Hoa và Malaya
Thực dân Hà Lan đã tìm cách khai thác sự bất mãn của một bộ phận phong kiếnMalaya bị người Bugis chèn ép Cầm đầu họ là Mansur, sultan Trengganu Ông này đãâm mưu với Sulaiman, sultan Johore, kêu gọi người Hà Lan giúp đỡ Năm 1755, ởMalacca, V.O.C và Sulaiman đã kí hiệp ước theo đo V.O.C được độc quyền mua bánthiếc và quyền buôn bán trên lãnh thổ Johore mà không phải chịu thuế, còn nhữngngười Âu khác bị cấm hoạt động thương mại ở Johore Bù lại V.O.C hứa giúp sultankhôi phục quyền hành của mình, nghĩa là đánh đuổi người Bugis
Bị đánh bại, năm 1758 người Bugis phải kí hiệp ước thừa nhận quyền lực củasultanat Johore và độc quyền mua bán thiếc của V.O.C Nhưng chỉ sau năm đó, cáclãnh tụ Bugis đã khôi phục quyền hành của mình ở Johore, và lợi dụng sự suy yếu củaV.O.C., người Bugis đã phục hồi nền thương mại phồn thịnh của Riau Một nguồn sửliệu của Hà Lan thế kỉ XVIII đã chép rằng các thương nhân người Anh, Hoa, Bồ Đào
Nha, Ấn Độ và cả từ Xiêm, Acheh và những vùng đất khác của quần đảo "đã đến Riau
mua thuốc phiện, vải nâu, các hàng hoá Trung Quốc khác và đổi hàng hoá của mình và dân cư Riau bán và mua mà không lấy lời nhiều"
Sự hồi phục ảnh hưởng của người Bugis đã làm mối quan hệ giữa họ và ngườiHà Lan căng thẳng trở lại Năm 1873, chiến tranh giữa hai bên lại bùng nổ Dứơi sự trợlực của Selangor và Rembau, người Bugis lúc đầu đã giành được thắng lợi lớn, nhưngsau khi vị thống soái của họ là Rajah Hagi tử trận (6.1784), thì tình hình trở nên bất lợicho họ Cuối tháng 10, người Bugis bị hạm đội Hà Lan đánh bại ở Riau Ngày1.11.1784, sultan Johore ký hiệp ước đầu hàng, chịu thừa nhận vị thế là chư hầu củaV.O.C phục hồi hiệp ước 1758, những người Bugis nào không sinh ở Riau phải rờiquần đảo này Còn sultan Selangor năm 1786 phải kí hiệp ước trao cho Công ty độcquyền mua bán thiếc Tháng 2.1788, Công ty đã ép sultan Johore kí hiệp ước mới đặtsultanat dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của họ Kể từ nay, mọi công việc quan trọngđều do viên trú sứ Hà Lan giải quyết, kể cả quan hệ pháp lí giữa người ngoài và dânđịa phương
Năm 1797, nhờ người Anh chiếm các thuộc địa của Hà Lan ở phương Đông,người Bugis mới có cơ hội quay lại Riau Năm 1801, phong kiến Malaya và Bugis kíhiệp ước phân chia quyền hành ở quần đảo Riau Linga: người Bugis nắm chức Yam-tuan-Muda, người Malaya – Temanggong
Trang 10I.7.Tình hình chính trị và xã hội-kinh tế các tiểu quốc Malaya cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.
Phần phía bắc đảo (Patani, Ligor ) thuộc ảnh hưởng của Xiêm Các sultanatmiền Bắc (Kedah, Kelantan, Trengganu) cũng tự coi là chư hầu của Xiêm Tuy nhiên,mối quan hệ thân thuộc này chủ yếu là hình thức
Cuối thế kỉ XVIII, vương quốc Kelantan ra đời trên cơ sở gồm thâu một số tiểuquốc nhỏ hơn
Nằm ở phía Nam Kedak và tiếp giáp về phía Đông với Kelantan và Pahang,sultanat Perak đã một thời mạnh lên dứơi triều Iskandar (1756 – 1770), nhưng sau đóđã rơi vào tình trạng nội bộ xâu xé lẫn nhau
Sultanat Selangor nằm ở phía Nam Perak Quan hệ giữa hai bên thường mangtính chất thù địch Thậm chí năm 1804, sultan Salengor đã chiếm và thống trị Peraktrong hai năm
Từ biên giới Selangor trải dài về phía Đông Nam là Negri- Sembilan, vùng đấtngụ cư của người Menangkabau Năm 1773, chín tiểu quốc của họ đã tập hợp thànhliên bang mang tên Negri- Sembilan (9 vương quốc) Chỉ riêng tiểu quốc Maning chịuthần phục Malacca thuộc Hà Lan
Như vậy vào cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, bán đảo Malaya chỉ là tập hợpnhững tiểu quốc bé nhỏ, không có được bất kì một ảnh hưởng chính trị nào đáng kể.Johore bị thực dân Anh và Hà Lan xâu xé, Pahang là chư hầu của Riau Xứ này đếnlựợt mình lại lệ thuộc Hà Lan; cịn Kedak, Kelantan và Trengganu là những chư hầucủa Xiêm, riêng Kedak còn bị Anh uy hiếp và cưỡng đoạt đảo Penang và dải đất trênbán đảo Malaya đối diện; Patani và Johore bị sáp nhập vào lãnh thổ vương quốc Xiêm.Perak và Selangor đã phải hao tốn rất nhiều sức lực trong cuộc chiến đấu bảo vệquyền độc lập chính trị chống lại Xiêm Negri-Sembilan không thủ giữ một vai tròchính trị nào đáng kể
Nét độc đáo trong cấu trúc xã hội-kinh tế của các tiểu quốc Malaya từ cuối thế
kỉ XVII là sự phát triển của chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân Cuối thế kỉ XVIII, cácsultan chỉ còn thu được thuế trong phần lãnh thổ của mình, còn phần đất còn lại đãthuộc quyền sở hữu của phong kiến địa phương Lấy tư cách là đại diện chính quyềntrung ương, phong kiến đã thu thuế, bắt người dân lao dịch và chiếm giữ phần nàođáng kể thuế đoan
Ách bóc lột nông dân tăng lên Số nô lệ vì nợ tăng đến quy mô đáng kể, vànhiều người trong số này bị biến thành nô lệ gia truyền, khi họ không trả hết nơ trongmột thời hạn nhất định ï
Trang 11Nông dân đã bộc lộ nỗi bất mãn của họ bằng những cuộc khởi nghĩa, trong đóđáng kể nhất là cuộc nổi dậy năm 1712 ở Johore, lan rộng đến đảo Riau và một phầnbán đảo Malacca
Trong thế kỉ XVII – XVIII, trên bán đảo Malaya đã diễn ra một cách nhanhchóng quá trình hình thành cơ sở dân tộc cấu thành dân cư đang sinh sống hiện nay TừIndonesia, Đông và Trung bộ Sumatra, Java và Sulawesi và từ Trung Quốc dân di cưđã kéo sang bán đảo
II THỰC DÂN ANH BÀNH TRƯỚNG Ở MALAYA (1786 – 1910)
II.1 Anh chiếm đoạt đảo Penang
Như đã nói ở trên, thực dân Anh, mà quyền lợi được đại diện bởi công ty ĐôngẤn (East India Company – EIC) có mặt ở vùng biển bán đảo Malacca trước thực dânHà Lan vài năm Nhưng do không đủ lực lượng đương đầu với hạm đội Hà Lan, Công
ty đã phải nhượng bộ, chỉ còn quan hệ thương mại với sultanat Kedah, nằm ở cực Bắcbán đảo Malaya, khá xa Malacca nên đã thoát khỏi ảnh hưởng của Hà Lan
Đây cũng là lúc các cuộc chiến tranh liên tiếp giữa Anh và Pháp(1) đã thôi thúcthực dân Anh tìm một căn cứ hải quân vững chắc nằm giữa vùng bờ biển phía TâyMiến Điện và Thái Lan và bờ biển Bắc Sumatra để làm chỗ trú quân và sửa chữa tàuthuyền trong mùa gió mùa hầu có thể đối phó hữu hiệu với hạm đội Pháp cũng đanghoạt động trong vùng Thêm nữa, để đẩy mạnh việc phát triển quan hệ thương mại vớiĐông Nam Á và miền Nam Trung Quốc, EIC cũng rất cần một cảng để làm bến tiếpliệu và nghỉ ngơi nằm giữa Bombay, Madras (hay Calcutta) và Quảng Châu
Về phần mình, sultan Kedah cũng đang tìm một chỗ dựa để chiếm lại ngườiBugis đang từ Selangor lấn sang và áp lực của phong kiến Xiêm từ phía Bắc
Hai bên đã bắt đầu tiến hành thương lượng từ năm 1771, nhưng do EIC khôngchịu cam kết trợ giúp sultan về quân sự nên cuộc thương thuyết kéo dài đến 17.7.1786,Kedah mới chịu nhượng bộ Anh đảo Penang để đổi lấy một lời hứa giúp đỡ quân sự khicần thiết từ phía người cầm đầu đoàn thương thuyết của Anh
Tuy nhiên lời hứa này không được EIC chuẩn y Năm 1791, sultan đã tập trunghạm đội để tiến công lấy lại đảo Penang, nhưng Anh đã ra tay trước Kết quả là hạmđội Kedah bị đánh tan, sultan phải kí hiệp ước thuận nhường Penang cho Anh để nhậnkhoản trợ cấp hàng năm 6000 đô la
1 () Chiến tranh kế thừa ở Áo (1740 – 1748), Chiến tranh 7 năm (1756 – 1763), đó là chưa kể cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mĩ (1775 – 1783)
Trang 12Tiếp theo đó, năm 1800 Anh gây sức ép buộc sultan Kedah buộc sultan Kedahnhường thêm một dãy đất nhỏ nằm trên bán đảo, đối diện với đảo Penang, mà Anh đặttên là tỉnh Wellesley Tiền trợ cấp cho sultanat được nâng lên 10.000 đô la
II.2 Anh chiếm Singapore
Năm 1795, quân đội cách mạng Pháp tràn vào Hà Lan và chiếm đóng nước này.Vua Hà Lan là Wilhelm V bỏ chạy sang Anh Biến cố này đã giúp thực dân Anh gạtđược một đối thủ lợi hại ở vùng Viễn Đông Để các thuộc địa của Hà Lan ở vùng nàykhông rơi vào tay Pháp, Anh đã quyết định chiếm đóng chúng Năm 1795, Anh đãchiếm Malacca nhưng không làm gì để hồi phục vị trí thương mại của thành phố-cảng-kho hàng này Tháng 9.1814, sau khi cuộc chiến tranh chống Hà Lan chấm dứt, Anhmới trao trả cảng này cho Hà Lan
Tuy nhiên những năm tháng chiếm đóng Java (6.1811-8.1814) và buôn bán vớivùng quần đảo nằm ở phía Đông Java đã làm cho EIC nhận ra rằng Penang nằm quá
xa các vùng đất Đông Ấn và do đó không thể trở thành trung tâm của các hoạt độngthương mại ở vùng này Hơn thế nữa việc Hà Lan lập lại quyền kiểm soát vùng biểnĐông Ấn đã đi liền với những hạn chế gắt gao về thương mại không có lợi cho hoạtđộng của Công ty
Đó là những lý do khiến Công ty thay đổi ý định đối với vị trí của Penang vàthúc giục nó tìm một hải cảng khác nằm về phía Nam và Đông Penang
Người được giao sứ mệnh trên là Thomas Raffles, nhà hoạt động thuộc địa trứdanh với chính sách tự do mậu dịch từng được mang ra áp dụng một cách có kết quả ởJava trong nửa đầu thập niên 1810 Ngày 28.1.1819, đoàn tàu do ông ta chỉ huy đã đổbộ lên đảo Singapore thuộc quyền cai trị của temenggong Johore Lúc này trên đảo chỉmới có một làng nhỏ với khoảng 120 người Malaya và 30 người Hoa
Khai thác mối bất hịa quanh việc thừa kế ngai vàng diễn ra trong nội bộ triềuđình Johore, Raffles đã ủng hộ vị cựu sultan bị cướp ngôi để đánh đổi việc ông này và
vị temenggong cai trị đảo Singapore thuậnkí hiệp ước ngày 6.2.1819, theo đó EICđược quyền xây dựng một thương điếm trên đảo Singapore, còn sultan và temenggongkhông được phép kí hiệp ước với một nước châu Âu nào khác; Công ty hứa sẽ đảm bảo
an toàn cho sultan khi ông ta còn sống trên đảo Singapore; sultan được trợ cấp hàngnăm 5.000 đô la, còn temenggong – 3.000 Riêng ông này còn được chia phân nửa sốthuế thu được của những tàu bè ra vào hải cảng(2)
2 () Đến năm 1862, khi Abu Bakar được Anh đưa lên giữ chức maharadja Johore thì tiểu quốc này coi như đã trở thành thuộc địa của Anh
Trang 13Trái với chính sách độc quyền khắc nghiệt của Hà Lan đang áp dụng ởMalacca, Raffles đã thi hành chính sách tự do mậu dịch, biến Singapore thành cảng tự
do cho tàu bè tất cả các nước vào buôn bán Nhờ đó chỉ trong một thời gian ngắn, sốdân đến làm ăn ngày càng đông, hoạt động thương mại ngày càng trở nên sôi động,tàu thuyền từ Quảng Châu và Bombay, từ Xiêm và Trengganu ra vào mỗi ngày thêmtấp nập Chúng chở đến thiếc, hương liệu, hồ tiêu, sản phẩm bằng mây, gạo, dừa, tổyến để trao đổi với nhau Chỉ 4 tháng sau khi Singapore thụộc quyền sở hữu củaEIC, số dân trên đảo lên đến 5.000, mà đa số là người Hoa; tháng 8.1820, con số nàytăng lên gấp đôi, phần lớn dân di cư là thương nhân và thợ thủ công
Năm 1820, thu nhập của đảo đã đủ chi phí hành chính Năm 1822, hoạt độngthương mại của Singapore đã vượt Penang
Ngày 17.3.1824 tại London, Anh và Hà Lan đã kí một hiệp ước quan trọng phânchia vùng ảnh hưởng của hai nước Đông Nam Á Văn kiện gồm hai nội dung liên quanđến vấn đề lãnh thổ và vấn đề thương mại Về lãnh thổ, Hà Lan nhường cho Anh tất cảcác thương điếm ở Ấn Độ cũng như thành phố và pháo đài Malacca với toàn bộ vùngphụ thuộc; Hà Lan sẽ thôi không phản đối việc Anh chiếm Singapore Về phần mình,Anh sẽ trả Bencoolen lại cho Hà Lan Nước này cam kết không thương lượng về việcxây dựng cơ sở hay kí hiệp ước với các sultan Malaya, Anh cũng đưa ra cam kết tươngtự đối với Sumatra và các đảo Nam Singapore gồm quần đảo Carimon và quần đảoRhio-Linga Những cứ điểm thương mại vừa nêu trên nếu không được sử dụng nữa thìphải giao hoàn cho một trong hai nước kí kết (tức Anh hay Hà Lan), chứ không đượcgiao cho nước thứ ba Không một nước nào được lập thêm cứ điểm ở vùng biển Đôngnếu không được sự chấp thuận trước của chính phủ trung ương ở châu Âu Về vấn đềthương mại, tàu của nước này được phép vào cảng của nước kia với số thuế quy định.Không nước nào được phép kí với nước thứ ba hiệp ước có thể gây phương hại đếnquyền lợi thương mại của nước kia Trong khu vực quần đảo Indonesia, Hà Lan khôngđược mưu tìm độc quyền thương mại hay áp dụng chính sách phân biệt chống lại hoạtđộng thương mại của Anh Tuy nhiên, Hà Lan vẫn được độc quyền mua bán hương liệuvới Maluku Không bên nào được can dự vào quan hệ buôn bán giữa bên kia với cáccảng bản xứ, và cả hai bên phối hợp diệt trừ nạn cướp biển
Hiệp ước London kết thúc giai đoạn một trong quá trình thực dân Anh xâmchiếm bán đảo Malaya, bắt đầu từ 25 năm cuối cùng của thế kỉ XVIII Với các cứđiểm ở Penang, Malacca và Singapore, Anh đã trở thành lực lượng quyết định ởMalacca Lúc đầu, các cứ điểm này là căn cứ hổ trợ cho thuộc địa Anh ở Ấn Độ.Nhưng bước sang thế kỉ XIX, cùng với sự suy yếu của EIC, sự lỗi thời của chủ nghĩatrọng thương và cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đa õkhiến tư sản Anh quan tâm đếnviệc khai thác vùng Đông Nam Á Giá trị những vùng đất mà Anh chiếm được trên bánđảo Malaya cũng theo đó tăng dần Cũng trong giai đoạn này, trọng tâm trong chínhsách bành trướng của Anh không phải là nhằm chiếm đoạt lãnh thổ, mà là gạt ngườiHà Lan khỏi đây
Trang 14Trong thời kì được đề cập ở trên, các sultanat Malaya đang trải qua thời kìkhủng hoảng nghiêm trọng Cuộc chiến đấu chống Hà Lan trong các thế kỉ XVII-XVIIIđã làm chúng suy yếu, nền kinh tế bị suy sụp, nội bộ triều đình xâu xé lẫn nhau, khôngmột sultanat nào đủ mạnh để đối đầu với quân xâm lược Ngay cả nước lớn nhất làRhio-Johore cũng bị tan rã sau Hiệp ước London
II.3.Quan hệ giữa các sultant bờ biển phía Tây, Anh và Xiêm
Cho đến những năm 1870, Anh không chiếm thêm đất ở Malaya Công ty ĐôngẤn đã chỉ thị cho các nhân viên của mình tuyệt đối không để bị lôi cuốn vào các cuộctranh chấp nội bộ giữa các tiểu quốc Malaya Công ty không muốn bị vướng quá sâuvào bán đảo Malaya vì lúc này nhiệm vụ hàng đầu của Công ty ở Ấn Độ là đấu tranhgiành ưu thế thương mại ở Đông Nam Á và Trung Quốc Dù vậy, đây không phải làthời kì không can thiệp như quan điểm của một số sử gia người Anh
Sau nhiều lần thay đổi quy chế quản lý về hành chính, năm 1826 ba khu trú sứ(residency) – Penang (gồm cả tỉnh Wellesley), Malacca và Singapore – được kết hợp
thanh đơn vị hành chính thống nhất mang tên "Vùng đất ngụ cư eo biển (Straits
Settelements)"; năm 1832, Singapore đang trong thời kì lớn mạnh thành trung tâm
thương mại của Anh ở Đông Nam Á được chọn làm trung tâm hành chính
Trong lúc Anh đang sắp xếp việc cai trị các khu lãnh địa trên thì mâu thuẫn giữaXiêm và Anh ở bán đảo Malaya bắt đầu xuất hiện
Như đã được trình bày ở trên, cuối thế kỉ XVIII, sultanat Kedah trở thành vùngđất chiụ ảnh hưởng của triều đại Chakri Do đó vua Xiêm đã tỏ ra bực tức trước việcKedah nhường đảo Penang cho EIC thành lập tỉnh Wellesley
Năm 1821, lấy cớ sultan Ahmad Tajud-din (1798 – 1843) không thực hiện đầyđủ bổn phận của một nước chư hầu và cũng vì lí do muốn mở rộng ảnh hưởng đếnsultanat Penang, vua Xiêm đã cho vời sultan đến Bangkok Lo sợ, Tajud-din đã từ chối.Tức giận, vua Xiêm ra lệnh cho raja của sultanat Ligor kéo quân sang xâm chiếmKedah Bị đánh bất ngờ và cũng không đủ lực lượng chống đỡ, Tajud-din bỏ chạy rađảo Penang cầu khẩn người Anh can thiệp Không muốn bị lôi cuốn vào cuộc xung độtvới Xiêm và cũng vì lí do muốn phát triển quan hệ thương mại với nước này, Công tyđã từ chối, nhưng sau đó vì không phát triển được các quan hệ thương mại, Công ty đãngầm giúp đỡ các lực lượng du kích Malaya chiến đấu chống lại quân xâm lược Xiêm
Triều Chakri còn muốn nhân cơ hội ảnh hưởng của Hà Lan ở miền Nam bán đảo
bị suy yếu để thiết lập quyền lực đối với Penang và Selangor Nhưng lần này, Công typhản ứng mạnh và nhanh vì đây là hai vùng chính sản xuất thiếc của bán đảo Hai bênđã thương lượng để cuối cùng đi đến thoả thuận bằng Hiệp ước Bangkok được kí trong
Trang 15tháng 6.1826 Theo đó, Xiêm vẫn kiểm soát Kedah, sultan Ahmad Tajud-din khôngđược phép sinh sống ở Penang, tỉnh Wellesley, Penang, Selangor hay Miến Điện; Anh
không được phép cho "ông này hay những người cộng sự tiến công Kedah hay bất kì
lãnh thổ nào của Xiêm" Về phần mình, Xiêm cam kết không gây hại, tiến công hay
khuynh đảo Perak và Selangor, Anh cũng hứa không gây rối ở Perak và đảm bảo sẽkhông để Selangor tiến công Perak Còn về phần Kelantan và Trengganu, Anh thừanhận đây là hai nước phụ thuộc của Xiêm và không gây rối chúng; ngược lại Xiêm đểcho Anh phát triển quan hệ thương mại với hai tiểu quốc này Xiêm không được canthiệp vào Kelangtan và Trengganu, giống như đã làm ở Kedah và Perak, nếu khôngAnh sẽ coi hiệp ước không còn hiệu lực
Sau khi chặn đứng không cho ảnh hưởng của Xiêm lan xuống miền Nam bánđảo, Công ty tiếp tục tăng cường lôi kéo các tiểu quốc Ngày 18.10.1826, một viênchức của Công ty đã kí với sultan của Perak hiệp ước, theo đó sultan hứa không thươngthảo chính trị với Xiêm, Ligor, Selangor hay một tiểu quốc Malaya nào khác, khônggửi dồ nạp cống cho bất kì nước nào vừa kể, và không phái đoàn nào của chúng đượcphép vào địa phận của sultanat Anh đã hứa giúp đỡ Perak khi cần thiết Sultan sẽ tặngdải đất ven biển Dindings, đảo Pangkor và một số đảo phụ cận
Trong khi đó, Công ty lại tận tình giúp đỡ Xiêm trấn áp hai cuộc nổi dậy củanhân dân Kedah dưới sự lãnh đạo của sultan Tajud-din trong các năm 1831 và 1838.Cuối cùng năm 1841, sultan được đưa trở lại cầm quyền sau khi đã chịu thần phụcXiêm Lúc này tiểu quốc đã bị chia cắt thành nhiều mảnh, một trong số đó mang tênPerlis, tách hẳn khỏi Kedah và chịu ảnh hưởng của Xiêm
Giữa thế kỉ XIX, ảnh hưởng của Xiêm ở bờ biển phía Tây bán đảo Malaya đượcgiới hạn ở Perlis và Kedah, còn Perak và Selangor vẫn độc lập
II.4 Chiến tranh Anh – Naning
Lợi dụng tình trạng xung đột nội bộ giữa các tiểu quốc Negri Sembilan năm
1825, thống đốc Straits Settlements đã lấy cớ Naning là một phần lãnh thổ củaMalacca để bành trướng thế lực sang đây Chính quyền Anh đòi Naning nộp thuế 1/10hoa lợi và buộc penghulu (thủ lĩnh) của Naning là Abdul Said thu thuế nộp cho Công
ty, nhưng ông này đã từ khước Mùa hè 1831 và tháng 2.1832, Anh đã hai lần mangquân tiến đánh Naning Cuối năm 1832, Naning bị sáp nhập vào Malacca
II.5 Các sultanat ở bờ biển phía Đông trong những năm 1850 – 1860.
Ở phần phía Đông bán đảo, ảnh hưởng của Xiêm thể hiện rất rõ ở hai tiểu quốcKelantan và Trengganu Trong những năm 1830, Kelantan hoàn toàn lệ thuộc vàoXiêm, còn Trengganu tuy phải triều cống Bangkok, nhưng tương đối độc lập hơn
Trang 16Lúc đầu, chính quyền Anh không để ý đến ảnh hưởng của Xiêm ở đây Nhưngtừ khi Singapore được chọn làm thủ phủ của Straits Settlements thì người Anh bắt đầulưu tâm đến tình hình bờ biển phía Đông bán đảo Năm 1858, đã diễn ra cuộc nội chiếngiành quyền thừa kế ở Pahang, vốn là tiểu quốc Malaya duy nhất cho đến giữa thế kỉXIX hầu như không còn chịu ảnh hưởng của ngoại bang, giữa hai người con củabendahara(3) đã quá cố Người em là Wan Ahmed đã chạy sang nương tựa ở Trengganuđể cầu viện sự giúp đỡ của Xiêm, còn người anh là Tun Matahir đã dựa vào sự ủng hộcủa thống đốc Straits Settlements để chiếm lĩnh ngai vàng Năm 1826, hạm đội Xiêmđưa Tun Mahir về nước đã cập bến Trengganu để mượn đường xâm nhập vào Pahang.Nhưng Anh đã can thiệp Giữa lúc đó, Tun Matahir đột ngột qua đời (5.1863), Ahmedlên thay Ông nay khôn khéo chọn chính sách giao hảo với cả Singapore và Bangkok;nhờ đó mà nền độc lập của Pahang tạm thời vẫn được giữ nguyên
II.6.Những thay đổi về xã hội, kinh tế và chính trị (cho đến những năm 1880) trên bán đảo Malaya
Giống như những thời kì trước, bán đảo Malaya vào giữa thế kỉ XIX vẫn là mộttập hợp rời rạc các tiểu quốc Đơi khi cũng có một tiểu quốc nổi lên cầm đầu các tiểuquốc khác, như Malacca hồi thế kỉ XV, Johore hồi thế kỉ XVI-XVII Nhưng ở thời điểmđang được xem xét, không một tiểu quốc nào đóng nổi vai trò cầm đầu, quan hệ giữacác tiểu quốc không phát triển, dân Malaya coi nhau như những người xa lạ, dù họđược ràng buộc với nhau bởi đạo Hồi
Tuy sultan được coi là người cầm đầu quốc gia, nhưng quyền lực của ông ta bịhạn chế bởi ảnh hưởng của các quan đại thần Chỉ những người nào được họ ủng hộmới có thể trở thành sultan Hơn thế nữa, nhiều khi ảnh hưởng của sultan không vượtquá vùng đất kinh đô vì các quan gần như làm chủ vùng đất mà họ cai trị
Xã hội Malaya vào giữa thế kỉ XIX chia thành hai hạng người rõ rệt: quý tộc vàthứ dân (rayat) Thứ dân phải làm nhiều nghĩa vụ phong kiến cho quý tộc như lao dịch,nộp tô, thuế Ngoài ra còn có một hạng người gọi là nô tì mà gốc tích thường là connợ
Những thay đổi về xã hội, kinh tế và chính trị của các tiểu quốc Malaya trongthế kỉ XIX đều chịu tác động ít nhiều của ngành khai thác thiếc mà sản lượng đã tăngtừ 2.000 tấn trong những năm 1830 lên khoảng 6.000 tấn trong những năm 1870 Chođến những năm 1820, ngành khai thác do người Malaya khống chế, nhưng từ đó đãchuyển dần sang tay người Hoa mà số dân sinh sống trên bán đảo Malaya đã tăng lênmau chóng: 10.000 (1874) ở Lukut (Selangor) và 70.000 (những năm 1850-1860) ởLarut (Perak) Tại những vùng này họ đã đông xấp xỉ người bản địa Họ còn sinh sốngbằng buôn bán và làm một số nghề thủ công như mộc, nề, rèn Vị trí của người Hoa ở
3 () Người cầm đầu Pahang trong những năm này mang tước vị bendahara chứ không phải sultan
Trang 17Malaya bắt đầu trở nên quan trọng Điểm nổi bật của cộng đồng người Hoa ở Malayalà họ thường tham gia vào các hội kín sống ngoài vòng pháp luật
Ngành khai thác mỏ phát triển đã thúc đẩy quan hệ hàng hoá-tiền tệ Để có tiềnnộp thuế cho giai cấp phong kiến, nông dân đã bán cho các thợ mỏ gạo, trái cây, raucải mà họ trồng được Buôn bán ở vùng mỏ là một trong những nguồn chính mang lạitiền cho nông dân Sự phát triển của quan hệ hàng hoá-tiền tệ đã thu hút không chỉ thợmỏ và nông dân, mà trước hết cả giới thương nhân trung gian và những kẻ cho vay lãivốn luôn luôn gắn với quan hệ này Sự phát triển của ngành thiếc còn góp phần làmsuy yếu chính quyền phong kiến trung ương vì phong kiến địa phương đa,õ bất chấplệnh của chính quyền trung ương, cố duy trì quyền đánh thuế việc khai thác và xuấtkhẩu thiếc trên lãnh địa của họ Thậm chí có nơi phong kiến địa phương còn bỏ vốn rakhai thác thiếc
Bên cạnh đó, phong kiến địa phương đã tìm cách tăng nhanh số diện tích ruộngđất có trong tay bằng cách sử dụng sức lao động của nô tì, của con nợ và người thuêcấy rẽ mà phong kiến có quyền lấy lại ruộng đất nếu không nộp tô đúng hạn Chế độsở hữu ruộng đất tư nhân ra đời
Nhờ có ba khu lãnh địa của thực dân Anh mà ngoại thương của bán đảo Malayađã phát triển một cách đáng kể và cũng vì lí do đó mà bị lệ thuộc vào người Anh Cáctiểu quốc Malaya xuất khẩu thiếc (chủ yếu từ các tiểu quốc phía Tây), vàng (chủ yếutừ các tiểu quốc phía Đông), các loại gỗ quý và lâm sản, nhập khẩu thuốc phiện, thuốclá, vũ khí, vải, các nông cụ bằng sắt, muối
Từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, khi Malaya bị biến thành thị trường tiêuthụ sản phẩm và cung cấp nguyên liệu cho tư sản châu Âu thì hoạt động thương mạicủa quý tộc Malaya đã được kích thích Chiếm vị trí hàng đầu là thiếc, mà qúy tộc cóđược bằng con đường thu tô hay mua lại của người khai thác Lợi nhuận thu được nhờmua bán thiếc đã khiến quý tộc tìm cách chen lấn thương nhân bản xứ để giành độcquyền, làm cản trở sự ra đời của tầng lớp tư sản thương mại
Do hoạt động ngoại thương bị Anh khống chế nên một số quý tộc đã tìm cáchcầu thân với thực dân Anh; đổi lại, họ đã để thực dân can thiệp ngày càng sâu vào nộitình nước mình Hậu quả là nhân dân phải gánh chịu ách bóc lột ngày càng nặng nề, đólà chưa kể cảnh tàn phá vì những xung đột nội bộ diễn ra không ngớt, vì nạn cướp phá
II.7 Anh xâm chiếm các sultanat phía Tây
Khi chủ nghĩa tư bản Tây Âu, gồm cả Anh, chuyển từ giai đoạn cạnh tranh lêngiai đoạn độc quyền, thì Đông Nam Á đã trở thành một trong những mục tiêu chínhcủa hoạt động chạy đua bành trướng thuộc địa giữa thực dân Anh và Pháp
Trang 18Sau khi Straits Settlements được tách khỏi Ấn Độ thuộc Anh năm 1867, thì quanhệ buôn bán giữa nó và các tiểu quốc Malaya không ngừng phát triển Nền côngnghiệp lớn mạnh ở chính quốc thúc giục kiều dân tư sản Anh ở Straits Settlements đầu
tư khai thác các mỏ thiếc nằm ở phía Tây bán đảo, giữa các dãy núi và bờ biển, kênhđào Suez được khai thông năm 1869 càng làm tăng thêm ý nghĩa thương mại và chiếnlược của Singapore
Thêm nữa các hoạt động bành trướng của Hà Lan ở quần đảo Indonesia và củaPháp ở bán đảo Đông Dương trong thập niên 1860 đã thôi thúc Anh xác lập địa vịthống trị trên bán đảo Malaya
Những nạn nhân đầu tiên của thời kì bành trướng mới là Perak, Selangor vàNegri-Sembilan Đây là những vùng tập trung nhiều mỏ thiếc và nằm sát StraitsSettlements Tình hình nội bộ các tiểu quốc này đã tạo cớ cho Anh can thiệp Tất cảđều đang trải qua những cuộc tranh đoạt ngai vàng rất ác liệt và tất nhiên đầy tai hại
Ở Perak ngay từ những năm 1850-1860 trong nước đã diễn ra các cuộc xung độtvũ trang giữa hai nhóm Hoa kiều tập hợp trong hai hội kín mang tên Ghee Hin và HaiSan kình điïch nhau nhằm giành quyền kiểm soát các mỏ thiếc giàu có ở Larut Anh đãủng hộ nhóm Ghee Hin tuy chưa có những hành động can thiệp tích cực, trong lúcsultan lại bênh vực nhóm Hai San Đến những năm 1870, Hai San lại bị lôi cuốn vàocuộc tranh đoạt ngai vàng rất ác liệt giữa ba nhóm: nhóm thứ nhất do Abdul Abdulahcầm đầu được quý tộc Perak ủng hộ và mưu tìm sự ủng hộ của Anh bằng nhữngnhượng bộ thương mại; nhóm thứ hai có Ismail dựa vào quý tộc Thượng Perak vàmentri (quốc vụ khanh) Ibrahim; còn nhóm thứ ba không đáng kể Hai nhóm đầu còntìm cách lôi hai hội kín Hoa kiều nói trên về phía mình
Khi những cuộc xung đột giữa hai bên lan rộng đến vùng mỏ thiếc Larut thì Anhchủ trương can thiệp trực tiếp Tháng 11.1873, Andrew Clarke, thống đốc Straits
Settlements, nhận được chỉ thị như sau: "Chính phủ Hoàng gia cho rằng cần sử dụng
ảnh hưởng có được đối với các hoàng thân bản xứ để ráng cứu giúp các xứ giàu có và đang sản xuất khỏi nguy cơ bị phá sản nếu những cảnh rối loạn hiện nay cứ tiếp tục mà không bị chặn đứng lại" Chỉ thị cổ vũ "một sự can thiệp có giới hạn vào công việc các tiểu quốc Malaya bằng cách bổ nhiệm một viên chức chính trị hay trú sứ ở mỗi tiểu quốc"(4)
Tình hình Selangor lúc này cũng giống như ở Perak Từ năm 1866, tiểu quốc này
bị cuốn hút vào cuộc nội chiến giữa các phe phái phong kiến mà sau đó phát triểnthành cuộc xung đột giữa hai hội kín Ghee Hin và Hai San Từ mùa hè 1871, Anh bắtđầu can thiệp công khai khi As Kudin được sultan Abdul Samad chọn làm người thừakế
4 () Pierre Fistié, Singapour et la Malaise, ed PUF, Paris, 1960, p.38
Trang 19Ở Negri-Sembilan, cũng diễn ra không ngớt các cuộc xung đột tranh giành ngaivàng Quan hệ giữa hai tiểu quốc Sungei-Ujong và Rembau thường xuyên căng thẳng
vì tranh chấp việc đóng thuế số thiếc chở trên sông Linggi biên giới giữa hai nước
Như vậy, vào lúc bắt đầu bị Anh chinh phục, các sultanat phía Tây đang bị rơivào tình trạng hỗn loạn phong kiến Chính quyền trung ương bị suy yếu Các thế lựcphong kiến căm ghét lẫn nhau Phe thì dựa vào các hội kín người Hoa, phe thì mưucầu viện thực dân Anh Tất cả đều chà đạp lên quyền lợi của nhân dân Kết quả là tấtcả đều lần lượt bị Anh chiếm cứ
Tháng 1.1874, Anh đã đưa Muda Abdullah lên ngôi sultan xứ Perak Bù lại, ôngnày phải kí với Anh hiệp ước Pangkor (20.1.1874) cho phép Anh đặt một viên trú sứ
Điều 6 của Hiệp ước nói rằng "sultan tiếp nhận và cung cấp một chỗ ở thích đáng cho
viên chức Anh, được gọi là viên trú sứ, được bổ dụng đến triều đình của mình Ý kiến cố vấn của viên trú sứ cần được lưu tâm và thực hiện trong mọi vấn đề, ngoại trừ những vấn đề liên quan đến phong tục và tập quán Malaya"; điều 10 quy định rằng: "Việc thu và kiểm soát toàn bộ thu nhập và việc cai trị đất nước phải được điều hành dưới sự cố vấn của viên trú sứ này"(5)
Sau đó, ngày 1.10.1874, sultan Selangor cũng bị gây sức ép để kí vào thư gửiThống đốc Straits Settlements đề nghị ông này bổ nhiệm một viên trú sứ cho Selangor
Cũng trong tháng 10, thống đốc Clark ép tiểu quốc Sungei-Ugong nhận mộtviên chức thu thuế người Anh mà sau này được nâng lên thành trú sứ
II.8 Cuộc khởi nghĩa năm 1875-1876
Từ cuối năm 1874, các viên trú sứ bắt đầu thi hành một chính sách cai trị độcđoán nhằm bóp nghẹt tinh thần dân tộc của nhân dân Malaya
Một trong những biện pháp khiến nông dân rất oán hận là đặt ra các thứ thuếmới nhằm thu tiền trả số nợ mà các sultan đã vay của giới thương nhân và cho vay lãi
ở Straits Settlements trong thời kì xung đột tranh đoạt ngai vàng Tình cảnh của nôngdân Perak là nặng nề nhất
Các viên trú sứ tiến công cả vào phong kiến địa phương nhằm loại bỏ khỏi bộmáy chính quyền và thay vào đó các viên chức người Anh W Birch, viên trú sứ Perak,là người áp dụng rất thô bạo chính sách này Ngày 2.10.1875, tuân theo chỉ thị đưa rahồi tháng 7 của thống đốc Straits Settlements, sultan Abdullah của Perak đã ra chỉ dụnói rằng viên trú sứ và các viên chức người Anh được thống đốc Straits Settlements bổnhiệm mới có thể là quan toà ở Perak (ngay cả các quan toà người bản xứ tuy chỉ đượcphép giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo cũng phải dựa vào các viên chức
5 () D.G.E HALL., A History of South East Asia, London, Mac Millian Co., Lmt., 1961, p.476.
Trang 20người Anh) Họ còn là đại diện của sultan "trong mọi công việc của đất nước, bao gồm
cả việc thu và chi tiêu các lợi tức của nước ta "
Sự kiện trên đã làm nảy sinh một cuộc xung đột ngấm ngầm quanh vấn đềquyền lực của Abdullah và Birch Ông này còn muốn tập trung toàn bộ việc thu thuế từtay phong kiến địa phương về tay chính quyền trung ương(6)
Bị tứơc đoạt mọi quyền hành, giới phong kiến Perak đã quyết định liên minh lạivới nhau để khởi nghĩa đánh duổi thực dân Anh Phong trào mau chóng lan sang cáctiểu quốc phía Tây khác Lãnh đạo phong trào là bộ phận phong kiến thượng lưu: ởPerak có cựu sultan Ismail, ở Selangor có sultan Puas, ở Negri-Sembilan có Yang-di-pertuan Tunku Antah Lực lượng của phong trào là nông dân
Bùng nổ từ ngày 1.11 ở làng Pasir Salak, phong trào mau chóng được sự hưởngứng của nhân dân cả nước Dứơi sự lãnh đạo của giai cấp phong kiến, những ngườikhởi nghĩa đã chọn chiến thuật phòng thủ Họ bằng lòng với việc củng cố các đồn lũyvà chờ quân Anh tiến công Rõ ràng đây là sai lầm nghiêm trọng đầu tiên mà nguyênnhân là phong kiến lo sợ bọn thực dân trả thu.ø Lúc đầu chính phủ Anh cho rằng có thểmau chóng dập tắt cuộc khởi nghĩa Nhưng sau cuộc tiến công chiếm làng Pasir Salak
bị thất bại, thực dân đã lo lắng Thống đốc Straits Settlements đã gửi điện sangHongkong xin tăng viện Giữa tháng 9, sau khi được tăng cường, quân Anh bắt đầu tấncông lên phía thượng nguồn vùng Perak Lúc này sultan Abdullah và một bộ phậnphong kiến hạ Perak đã trở mặt phản bội quay sang cộng tác với quân Anh
Nhờ ưu thế của pháo binh, thực dân đã chiếm được làng Pasir Salak Biến cốnày kết thúc giai đoạn một của cuộc khởi nghĩa, khi nơng dân và phong kiến chiến đấuchung với nhau Giai đoạn hai bắt đầu từ cuối tháng 11.1875 Trong giai đoạn này,phong kiến dần dần bỏ cuộc chiến đấu Tình hình này đã ảnh hưởng đến chiến thuậtcủa những người khởi nghĩa Họ đã áp dụng chiến thuật du kích thay cho chiến thuậtphòng thủ đơn thuần Nông dân Kota Lama, người Malaya và người Hoa ở vùng TâyPerak (Laput), nông dân Selangor và Negri-Sembilan đã lần lượt nổi dậy chống quân xâmlược
Chiến thuật du kích và quy mô lớn lao của phong trào đã khiến quân Anh, dù có
ưu thế về hoả lực, phải lúng túng Nhưng được bọn phong kiến, vốn thông thuộc địabàn và tập quán, trợ giúp, quân Anh đã dần dần giành được thế chủ động Thêm nữa,quân khởi nghĩa đã phạm phải sai lầm là cố giữ các đồn lũy chắn ngang sông Kintatrong lúc quân Anh có ưu thế tuyệt đối về pháo binh Tại đây, phần lớn lực lượng củaIsmail bị đập tan
Tháng 1.1876, quân Anh đã kiểm soát được toàn bộ Perak Dù vậy, những ngườikhởi nghĩa vẫn tiếp tục chiến đấu ở miền Bắc Khắp nơi trong nước, người dân tìm
6() Wilkison, R.J Winstedt R.O., A History of Perak, Jrasms Vol.12, pt.12 1934, p.104
Trang 21cách tiến công các đồn bót và đơn vị riêng lẻ của quân xâm lược Mùa xuân 1876,Ismail bị bắt làm tù binh
Cuộc khởi nghĩa ở Selangor và Negri-Sembilan bị trấn áp mau chóng, một phần
vì ưu thế hoả lực của Anh, một phần vì thái độ ngần ngừ của sultan Negri-Sembilan làTengku Anah, còn sultan Puas của Selangor bị bắt làm tù binh do sự phản bội của mộtbộ phận phong kiến hai tiểu quốc này
Bị thất bại, những người khởi nghĩa phải chịu những biện pháp trừng phạt tànbạo của thực dân Những người ủng hộ cũng bị trừng phạt khắc nghiệt không kém Sốdân sinh sống ở vùng Hạ và Thượng Perak giảm đi hẳn Những làng mạc nằm trongvùng hoạt động của quân khởi nghĩa đều bị phá trụi
Quy mô của cuộc khởi nghĩa đã khiến chính quyền thực dân thay đổi kế hoạchban đầu: không sáp nhập ngay những tiểu quốc Malaya còn lại, mà củng cố vị thếnhững tiểu quốc đã chinh phục được; và nếu trước đây Anh dự định biến những tiểuquốc vừa chiếm được thành thuộc địa giống như Straits Settlements, thì sau cuộc khởinghĩa Anh xét thấy nên duy trì sự tồn tại, cho dù là hình thức, chế độ sultan, sử dụngphong kiến bản xứ như là công cụ thống trị của chính quyền thực dân
Sau khi trấn áp được cuộc khởi nghĩa nói trên, trong những năm 1876 – 1877,Anh đã lần lượt buộc các tiểu quốc Negri-Sembilan kí các hiệp ước cho phép cácthương nhân vào mua bán và trong những năm 1886-1889, buộc các tiểu quốc này tiếpnhận trú sứ
Sau Negri-Sembilan đến lượt Pahang, vốn cũng đang bị cuộc xung đột giữa cácphe phái xâu xé Thực dân Anh đã dựa vào các giới phong kiến thù địch với sultanAhmed để buộc ông này kí hiệp ước chấp thuận chế độ bảo hộ của Anh vào ngày8.10.1887
II.9 Cuộc nổi dậy năm 1891-1895 ở Đông Malaya
Cũng giống như ở các sultanat phía Tây, việc áp đặt ách thống trị của Anh đãlàm cho nhân dân Pahang chịu thêm một ách bóc lột nặng nề: phần lớn đất đai vùngthượng Pahang, nơi có nhiều mỏ vàng rơi vào tay bọn kinh doanh người Anh Bọn nàyép buộc nông dân phải vào làm làm trong các mỏ
Rút kinh nghiệm trong quan hệ với quý tộc các sultanat phía Tây, lần này Anhđã giành chỗ cho quý tộc Pahang trong bộ máy cai trị, cho quý tộc được hưởng trợ cấp,được tiếp tục thu thuế nông dân Như vậy, người dân Pahang rơi vào tình cảnh một cổhai tròng
Ngay từ thập niên 1880, người dân vùng Thượng Pahang đã nổi dậy chống lạithực dân và phong kiến Trong những năm 1887-1890, các cuộc va chạm giữa côngnhân và giới chủ nhân các mỏ đã diễn ra không ngớt Cuối cùng năm 1891, ở
Trang 22Semantan và Temerloh đã bùng lên một cuộc khởi nghĩa mà sau đó đã lan ra khắp cảThượng Pahang.
Cầm đầu cuộc khởi nghĩa là Abdul Rahman (hay Bahman), phong kiếnSenlantan Tham gia cuộc khởi nghĩa ngoài nông dân còn có công nhân người Malayavà người Hoa Dùng chiến thuật du kích, quân khởi nghĩa đã lần hồi quét sạch quânAnh khỏi phần lãnh thổ đáng kể Thượng Pahang, đốt phá các cơ sở của công ty khaithác mỏ
Tháng 8.1892, Anh đã tập trung một lực lượng lớn, vượt xa quân khởi nghĩa vàvới sự trợ giúp của phong kiến Pahang, đã bắt đầu đánh đuổi quân khởi nghĩa khỏinhững vùng mà họ đang chiếm giữ, nhưng quân khởi nghĩa đã rút kịp thời sangKelantan
Thực hiện chính sách chia để trị, trong thời gian khởi nghĩa Anh tiếp tục nhượngcho phong kiến thêm một số quyền lợi; kết quả là sau năm 1893, không còn một phongkiến Pahang nào gia nhập phong trào
Năm 1894, quân khởi nghĩa lại xâm nhập Pahang Lần này lợi dụng sự lơ là mấtcảnh giác của những người khởi nghĩa trước đề nghị đàm phán, phong kiến Pahang vàthực dân Anh đã tập trung một lực lượng rất lớn và đánh bật quân khởi nghĩa sangTrengganu Bị sức ép quá nặng nề, các lãnh tụ khởi nghĩa đã giải tán lực lượng vàtháng 10.1895 quy hàng chính phủ Xiêm
II.10 Liên bang các tiểu quốc Malaya được thành lập
Kinh nghiệm cai trị gián tiếp thông qua phong kiến địa phương mà viên trú sứHugh Low áp dụng ở Perak trong những năm 1877-1889 đã được phổ biến ra khắp cácsultanat thuộc địa nằm ngoài Straits Settlements Bên cạnh viên trú sứ, hội đồng chínhphủ đã được thành lập, thu hút tầng lớp phong kiến địa phương Tuy chỉ là một công cụtrong tay viên trú sứ, sự hiện diện của nó tỏ cho thấy sultanat vẫn do người Malaya caitrị Đứng đầu làng xã (mukima) là penghulu bản xứ Xét thấy quan hệ giữa các viêntrú sứ có phần khó khăn và bất lợi nhưng nếu sáp nhập luôn tất cả các sultanat thuộcđịa nằm ngoài Straits Settlements vào cơ chế này thì khó kiểm soát một cách có hiệuquả hoạt động của các viên trú sứ đó nên ngày 1.7.1896, bốn sultanat Perak, Selangor,Negri-Sembilan và Pahang được kết hợp thành một cơ chế riêng là Liên bang Malaya(Federated Malaya States) Đứng đầu là viên tổng trú sứ, dưới là các bộ chuyên môn(tư pháp, nông nghiệp ) do người Anh nắm giữ Trung tâm đặt tại Kuala Lumpur.nhưng bản thân tổng trú sứ cũng chỉ là thành viên của Hội đồng Cao cấp liên bang dothống đốc Straits Settlements phụ trách với tư cách là Cao ủy liên bang Tham gia Hộiđồng còn có 4 viên trú sứ, 4 sultan và 4 viên chức dân sự không chính thức (3 Anh, 1Trung Quốc) do cao ủy bổ nhiệm Cao ủy còn có quyền tăng số thành viên của Hộiđồng Nhiệm vụ của Hội đồng là lập ra ngân sách và ban hành các đạo luật
Trang 23Thực dân Anh tiếp tục duy trì hệ thống chính quyền bản xứ cũ, nhưng tất nhiênlà không còn thực quyền, bổ nhiệm người Malaya vào các chức vụ hành chính cấpthấp, giữ lại hệ thống toà án tôn giáo Làm như vậy, chính quyền thực dân đã tạo ramột lớp đệm giữa nó và nhân dân
II.11 Anh sáp nhập các sultanat miền Bắc
Đầu thế kỉ XX, ảnh hưởng của Xiêm đối với các sultanat miền Bắc Malaya bịgiảm sút nhanh chóng trong tình thế chính nó cũng bị o ép từ tứ phía bởi Anh và Pháp.Chính quyền Xiêm đã lần lượt nhượng bộ Pháp trong các vấn đề biên giới giữa nướchọ với hai nước láng giềng Lào và Campuchia
Lợi dụng cơ hội trên, Anh đã đẩy mạnh các hoạt động đánh bạt ảnh hưởng củaXiêm khỏi miền Bắc Malaya Năm 1902, Anh đã buộc Xiêm kí bản tuyên bố đặc biệtvề Kelantan và Trengganu, theo đó Xiêm cam kết không can thiệp vào công việc đốinội và đối ngoại của hai sultanat này Năm 1909, Anh và Xiêm kí hiệp ước theo đóXiêm nhượng cho Anh mọi quyền chủ tôn, bảo hộ và kiểm soát đối với Kelantan,Trengganu, Kedah và Perlis để đánh đổi việc Anh từ bỏ một phần quyền tại ngoạipháp quyền của các kiều dân Anh sinh sống ở Xiêm Năm 1930, các sultanat vừa kể đã
kí hiệp ước thuận trở thành thuộc địa của Anh
Các sultanat này không gia nhập Liên bang và cũng không nằm trong một bộmáy hành chính thống nhất, nhưng lại có một viên tổng trú sứ đứng đầu Phong kiếnBắc Malaya còn giữ được nhiều quyền hạn rộng rãi hơn phong kiến Liên bang Malayavà Straits Settlements Tất cả đều thuộc quyền cai trị trực tiếp của thống đốc StraitsSettlements
Tất nhiên những khác biệt vừa nói hoàn toàn không làm thay đổi tính chất thuộcđịa của toàn bộ bán đảo Malaya
Riêng ở Johore quá trình thuộc địa hoá diễn ra chậm hơn: bắt đầu tư øhiệp ướcnăm 1885, theo đó chính quyền Straits Settlements được quyền bổ nhiệm đến Johoremột viên chức có quyền tư vấn và kết thúc vào năm 1914, khi chức vụ tổng cố vấn cóquyền hạn như một viên trú sứ được thành lập Do nền kinh tế của Johore phát triểnnhư các sultanat trong Liên bang mà cách cai trị của thực dân Anh ở hai nơi đều tươngtự nhau, dù Johore không nằm trong Liên bang So với các sultan khác, sultan Johoređược hưởng nhiều quyền rộng rãi hơn, do đó thường được gọi là người phát ngôn củagiới quý tộc Malaya
Như vậy ngay trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, bán đảo Malaya đã trở thànhthuộc địa của Anh và bị chia thành 3 vùng khác nhau:
- Straits Settlements, theo quy chế thuộc địa, gồm: Singapore, Penang, Malacca,tỉnh Wellesley và đảo Dindings
Trang 24- Các tiểu quốc Liên bang Malaya (Federated Malaya States) gồm: Perak,Selangor, Negri-Sembilan và Pahang
- Các tiểu quốc Malaya không Liên bang (Unfederated Malaya States) gồm:Kedah, Perlis, Kelantan, Trengganu và Johore
Sự chia cắt lãnh thổ theo chế độ hành chính khác nhau này đã tạo ra nhiều hàngrào cản trở sự hình thành phong trào toàn Malaya chống thực dân Thêm vào đo,ù Anhvẫn tiếp tục duy trì chế độ hành chính quan liêu cũ kỹ Được thực dân Anh trả lương,các viên chức bản xứ đã trở thành những kẻ thừa hành mệnh lệnh ban hành từ bọn thựcdân chóp bu ngồi trên cao, và như vậy trở thành bức bình phong che chắn cho họ.Ngoài ra, Anh còn khôn khéo khai thác những thay đổi trong cấu trúc dân tộc đangdiễn ra trong nước Từ cuối thế kỉ XIX, từng luồng dân di cư từ Trung Quốc và Ấn Độđã nhập ồ ạt vào Malaya làm số người Trung Quốc và Ấn Độ đến cuối Chiến tranh thếgiới thứ nhất đã vượt quá số người bản xứ Trong nước đã dần thành hình giai cấp tưsản và vô sản gồm chủ yếu là người di cư, còn địa chủ và nông dân vẫn là ngườiMalaya Như vậy, giữa người di cư và người bản xứ không chỉ khác nhau về dân tộc,các sinh họat văn hóa, mà còn khác cả nghề nghiệp và do đó cả về giai cấp và địa bànsinh sống Thực dân Anh cố sức cản trở mối quan hệ giữa các cộng đồng này
II.12 Tư bản Anh xâm nhập vào Malaya
Tư bản Anh bắt đầu xâm nhập vào Malaya từ cuối thế kỉ XIX thông qua chinhánh các ngân hàng "Charted Bank of India, Australia and China", "Mercantile Bank
of India”, "London and China", "Hongkong and Shanghai Banking Corporation" ởSingapore, Penang, Selangor, Perak, Pahang, Kelantan và Trengganu
Lĩnh vực đầu tư chính của tư bản Anh là kinh tế đồn điền, trong đó cây cao suchiếm vị trí chủ yếu Được du nhập vào Malaya từ năm 1877, cây cao su mau chóngtrở thành nguồn mang lại nhiều lợi tức nhất cho tư bản chính quốc Năm 1905, Malayasản xuất 200 tấn cao su đầu tiên; năm 1920 con số này lên 196.000 tấn (chiếm 53%sản lượng của thế giới) Năm 1915, ở Malaya có đến 176 công ty cao su với số vốntrên 38,5 triệu đồng bảng Anh (trong đó 121 công ty với số vốn 28,4 triệu ra đời trongnhững năm 1906-1910)
Nếu ở thuộc địa Malaya trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, nông nghiệp hướngchủ yếu vào con đường độc canh, tập trung phát triển đồn điền cao su, thì công nghiệpcũng hướng vào việc khai thác một loại nguyên liệu – thiếc, mà sản lượng tăng từ19.600 tấn (1900) lên 51.400 tấn (1913) Tuy nhiên, cho đến cuối chiến tranh, khôngphải là tư bản Anh mà là giới chủ nhân người Hoa chiếm vị trí hàng đầu trong ngànhnày Năm 1912, sản lượng thiếc của Malaya là do người Hoa khai thác(7), đó là tỉ lệ caonhất Sau năm đó, tỉ lệ này xuống dần
7 () J Kennedy, A History of Malaya, New York, St Martin, Press, 1962, p.165
Trang 25Chính phủ thuộc địa đã thi hành nhiều chính sách kinh tế, tài chính, thuế má để khuyến khích tư sản Anh tăng cường đầu tư vào Malaya, như xây dựng đường sắt ởvùng Tây bộ, nơi tập turng nhiều mỏ thiếc và đồn điền cao su lớn, cấp phát nhiều vùngđất đai rộng lớn cho người Anh lập đồn điền
Việc tăng cường bóc lột người dân đã tăng thêm thu nhập của chính quyền thuộcđịa: từ 2.481.000 đô la Malaya(8) (1895) lên gần 44.333.000 (1913), trong đó độc quyềnthuốc phiện mang lại từ 45,9% (1898) đến 53,3% (1913) lợi tức Mãi đến thập niên
1930, các hội đoàn quốc tế và Malaya phản đối kịch liệt, chính quyền thuộc địa mớihạn chế việc buôn bán thuốc phiện, vốn chỉ chính thức bị cấm sau Chiến tranh Thếgiới thứ hai
Tình trạng phát triển một hướng của công nghiệp và nông nghiệp đã ảnh hưởngđến cấu trúc của ngoại thương: sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là thiếc và cao su Năm
1916, trong tổng giá trị hàng xuất khẩu là 162 triệu đô la Malaya, thiếc chiếm 61 tỉ,cao su chiếm trên 93 triệu Những mặt hàng nhập khẩu là gạo, thuốc phiện, thuốc lá vàvải
II.13.Di dân Hoa kiều và Ấn kiều – giai cấp vô sản và tư sản hình thành
Để có lực lượng lao động dùng trong các đồn điền và hầm mỏ, trong lúc nhândân Malaya vẫn tiếp tục bị cột chặt vào ruộng đất do chính quyền chủ trương duy trìquan hệ sản xuất phong kiến ở nông thôn nhằm thu phục giai cấp phong kiến, ngườiHoa và người Ấn đã được khuyến khích di cư sang Malaya Kiều dân hai nước này dầndần chiếm ưu thế trong tỉ lệ dân số ở Straits Settlements và Tây bộ Malaya
Từ năm 1901 đến năm 1911, số Hoa kiều tăng từ 301.500 lên 916.000 chiếm34,2% dân số, còn số người Ấn là 267.000 chiếm 10,1% dân số(9) Di dân người Hoachủ yếu dồn vào các mỏ thiếc, còn di dân người Ấn – mà đại đa số là sắc dân Tamil –tập trung vào các đồn điền
Do đó khi ra đời vào đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp vô sản ởMalaya chủ yếu gồm công nhân gốc Hoa và gốc Ấn Nét nổi bật của giai cấp này làtính lưu chuyển của nó: một số trở về nước, một số khác di cư sang Ngoài ra nó cònmang một số đặc điểm như bị lệ thuộc vào nhân viên mộ phu, sự khác biệt về tôn giáo,về dân tộc và đẳng cấp, về hội kín, thổ ngữ và nghiệp đoàn Tất cả đã cản trở sự pháttriển của ý thức giai cấp và hình thành một phong trào có tổ chức
Giai cấp tư sản ở Malaya cũng chủ yếu là người Hoa và người Ấn Thành phần
cơ bản của nó là tư sản thương mại Straits Settlements, mà ngay từ nửa sau thế kỉ XIXđã đầu tư khai thác thiếc ở các sultanat phía tây Năm 1912, các mỏ thiếc của người
8 () 1 đô la Malaya bằng 4 shillings và 2 pence
9() D.G.E HALL., A History of South East Asia, London, Mac Millian Co., Lmt., 1961, p.664.
Trang 26Hoa cung cấp đến 80% sản lượng Sự tăng cường xâm nhập của tư bản Anh đã làmphát sinh mâu thuẫn giữa tư bản chính gốc và tư bản Hoa Tuy nhiên cho đến hết Chiếntranh thế giới thứ nhất, mâu thuẫn này chưa kịp bộc lộ gay gắt
Do kết cấu dân tộc của nó, giai cấp tư sản ở Malaya dễ tiếp thu luồøng tư tưởng
tư sản dân tộc đang lan truyền ở Trung Quốc và Ấn Độ
II.14.Sự ra đời của tư tưởng khai sáng
Người đặt nền móng cho tư tưởng khai sáng ở Malaya là Abdullah AbdukakirMunsi (1796-1854) Ông đã từng làm thư kí cho Thomas Raffles và phiên dịch cho cácđoàn truyền giáo Tin lành ở Singapore và Malacca
Là người tiên khu của nền văn hóa hiện đại, ông là tác giả của một số tác phẩm
(như "Tự thuật", "Tường thuật về cuộc du hành của Abdullah bin Abdukakir từ
Singapore đến Kelantan") mới cả về hình thức và nội dung Trong các tác phẩm đó,
ông tỏ ra là người yêu nước nhiệt thành, bất nhẫn trước những bất công mà người nôngdân của nước ông phải gánh chịu, ông vạch trần những hành động xằng bậy và thóihung bạo của bọn quý tộc, bày tỏ hy vọng sẽ giáo dục được nông dân để họ vươn lênngang hàng với những dân tộc khác
Một gương mặt đáng chú ý khác là Raja Ali Haji bin Ahmad Ông viết một tác
phẩm rất nổi tiếng là "Tulifat al-Nafis" (Tặng phẩm quý giá) đề cập đến lịch sử của
Singapore, Malacca và Johore Năm 1857, ông cho in cuốn văn phạm và từ đầu tiêncủa tiếng Malaya
Đầu thế kỉ XX, luồng tư tưởng khai sáng của đạo Hồi đã được truyền từ Ai Cập
và Thổ Nhĩ Kỳ đến Malaya, qua tờ "Al-Inam" (Lãnh tụ) xuất bản ở Singapore từ năm
1906 đến năm 1908
"Al-Inam" hô hào giải phĩng cá nhân, cổ võ sự bình đẳng của con người trướcthượng đế, kêu gọi thừa nhận cho phụ nữ quyền tham gia sinh họat xã hội và khai sángdân tộc Malaya Tuy nhiên, những tư tưởng này gắn liền với thái độ phê phán côngkhai chế độ thực dân và phong kiến Giữa giới "Kaumtua" (thế hệ già) chủ trương duytrì nề nếp cổ truyền của đạo Hồi và giới “ Kaum Muda” ( Thế hệ trẻ) đã diễn ra nhữngcuộc đấu tranh ác liệt Những người này cho rằng phương tiện cơ bản để cải tiến xã hộiMalaya và phục hồi thời kì huy hoàng đã qua của nó và ảnh hưởng của đạo Hồi làcông tác giáo dục, vì công tác này có thể làm cho người Malaya nhận thức được tìnhtrạng khốn khó hiện nay của tổ quốc Họ không ngừng lặïp đi lặp lại đạo Hồi hoàn toànkhông gây trở ngại cho tiến bộ và trí thức; họ cũng kêu gọi thay đổi hệ thống giáo dụccổ truyền trong các trường tôn giáo, nơi kinh Coran được dạy và học theo kiểu từchương, nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Ả rập và những môn học được dạy trong cáctrường của người Âu, ủng hộ việc người Malaya du học ở nước ngoài, nhưng không bắt
Trang 27buộc phải vào các trường Hồi giáo Một số trường kiểu mới như vậy đã được giới "Kaum Muda" đứng ra tổ chức
Ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng hoạt động giáo dục thực tế của Kaum Mudakhông vựơt ra ngoài khuôn khổ phong trào cải cách và hiện đại hoá đạo Hồi Họ chưabao giờ vươn đến mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc cho dù là dưới hình thức tôngiáo Mức độ xa nhất trong các hoạt động của họ là thu hút nhân dân tham gia phongtrào cải cách tôn giáo bằng những hoạt động tuyên truyền về giáo dục
Như vậy, cũng giống như ở Indonesia, phong trào thức tỉnh dân tộc ở Malayacũng bắt đầu từ tư tưởng khai sáng và canh tân đạo Hồi nhưng nếu ở Indonesia, phongtrào cải cách mau chóng lùi xuống hàng thứ yếu, thì ở Malaya do trình độ phát triểncủa xã hội thấp hơn và do những cấu trúc cổ truyền còn được duy trì mà phong tràovẫn chiếm một vị trí ưu thế
II.15.Phong trào dân tộc trong cộng đồng người Hoa và người Ấn
Phong trào bừng tỉnh dân tộc ở Trung Quốc đã tác động mạnh đến người Hoa –đặc biệt là giai cấp tư sản – sinh sống ở Malaya Năm 1899, một phân bộ của đảngKhang Hữu Vi đã được thành lập ở Singapore Phân bộ đã thu thập được hơn ngàn chữ
kí phản đối việc truất phế Quang Tự Năm 1890, Khang Hữu Vi đã đến Singapore vàquyên được 10 vạn đô la Malaya Tư tưởng của ông đã được phản ánh trong báo chícủa người Hoa ở Straits Settlements
Nhưng người có ảnh hưởng lớn nhất đến cộng đồng Hoa kiều là Tôn Dật Tiên.Năm 1906, ông đã thành lập phân bộ của Đồng minh Hội ở Singapore, sau đó đến Tâybộ Malaya tuyên truyền tư tưởng cách mạng Nhờ đó mà ở một số thành phố khác, cácphân bộ của Đồng minh Hội đã lần lượt được thành lập và Tôn đã quyên được một sốtiền lớn Tháng 12.1912 ở Singapore, phân bộ của Quốc Dân Đảng đã ra mắt
Từ đầu thế kỉ XX, trong cộng đồng người Ấn đã xuất hiện một tổ chức tuyêntruyền các tư tưởng cách mạng Hoạt động của nó gắn liền với cuộc nổi dậy năm 1915
ở Singapore
Tối ngày 15.2.1915, binh lính của trung đoàn bộ binh trang bị nhẹ Madras số 50đã làm binh biến giết một số sĩ quan chỉ huy và chiếm kho chứa vũ khí Họ còn kiểmsoát các cửa ngõ dẫn vào Singapore Nhưng do không có một ban chỉ huy kiên quyếtvà thống nhất, những binh lính khởi nghĩa đã không làm được điều mà chính quyềnthực dân lo sợ nhất: tiến thẳng vào thành phố để kết hợp với một trung đoàn khác đóngngay tại ngoại ô, mà đã bỏ phí gần hai ngày đêm vào cuộc tiến công một số người Âucố thủ trong nhà gần trại quân của họ Nhờ đó, chính quyền thực dân có đủ thời giantập trung lực lượng phản công Từ ngày 17 đến ngày 21.12, lực lượng khởi nghĩa lầnlượt bị đánh bại, tuy những đơn vị lẻ tẻ vẫn còn tiếp tục chiến đấu đến đầu tháng 3
Trang 28Mang nặng tính chất âm mưu và tách rời quần chúng, cuộc khởi nghĩa khó tránhkhỏi thất bại Dẫu sao đây vẫn là cuộc đấu tranh cách mạng đầu tiên sau khi toàn bộMalaya bị biến thành thuộc địa của An
CHƯƠNG II TRONG THỜI KÌ KHỦNG HOẢNG CỦA CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA
I GIỮA HAI CUỘC CHIẾN (1918 – 1941)
- Tình hình phát triển kinh tế
Trong thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Malaya đã trở thành nguồncung cấp hàng đầu cho thị trường thế giới hai sản phẩm cơ bản sau: thiếc và cao su Cảhai đều hoàn toàn bị tư bản Anh khống chế, từ khai thác đến tiêu thụ
Trung bình hàng năm Malaya sản xuất khoảng 50.000 tấn thiếc Lợi dụng khảnăng tài chính và dựa vào sự ủng hộ của chính quyền thực dân, các công ty Anh dầndần đánh bạt tư sản Hoa kiều khỏi ngành công nghiệp hàng đầu này của Malaya.Năm 1920, các công ty Anh sản xuất 36% sản lượng thiếc; 1930: 60% và 1938: 67%
Ngoài thiếc, công nghiệp mỏ của Malaya còn khai thác cả than đá, quặng sắt,mangan, vàng, wolfram, bauxite Việc khai thác chúng phần lớn đều nằm trong tay tưbản nước ngoài
Nông nghiệp Malaya hướng chủ yếu vào sản xuất cao su Năm 1938, diện tíchtrồng cao su lên đến 1,320 triệu ha, tập trung ở Perak, Kedah, Selangor, Negri-Sembilan, Johore, Penang và Malacca Hơn 2/3 diện tích trồng cao su thuộc các đồnđiền lớn do người Anh làm chủ Người Hoa và người Ấn làm chủ các đồn điền nhỏhơn (từ 6 đến 40ha), còn những người Malaya chỉ trồng cao su trên những thửa đất nhỏbé (0,5-2ha) Sản lượng cao su tăng từ 196.000 tấn (1920) lên 361.000 tấn (1938).Ngoài cao su, nông nghiệp Malaya còn trồng dừa (24 vạn ha, mà 2/3 số này là củanông dân) tập trung ở Johore, Perak và Selangor, dứa (2 vạn ha) Do năng suất thấp vàdiện tích trồng cây luơng thực không nhiều: từ 28,3 vạn ha (1930) lên 29,7 vạn (1940),
Trang 29Malaya phải luôn luôn đối phó với vấn đề lương thực Năm 1940, nước này phải nhập2/3 số lượng gạo cần dùng Như vậy, nền công nghiệp và nông nghiệp của thuộc địaMalaya hướng chủ yếu vào việc sản xuất hai sản phẩm: thiếc và cao su và hướng ra thịtrường thế giới Tình hình này làm cho nền kinh tế Malaya bị lệ thuộc chặt chẽ vàonhững biến động trên thị trường thế giới Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933đã gây ra những hậu quả rất tai hại cho nền kinh tế Malaya Giá một tấn qưặng thiếctừ 284 (1926) sụt xuống còn 120 sterling (1931), giá cao su sụt giảm từ 12 shilling 6pens xuống 3 pens một pound
Để giảm bớt sự lệ thuộc này, Anh đã lập ra các tổ chức cartel bao gồm phần lớncác nước sản xuất thiếc và cao su để khống chế giá cả hai mặt hàng này trên thị trườngthế giới Cartel thiếc được thành lập năm 1931, gồm Malaya, Bolivia, Indonesia vàNigeria, sau thêm Thái Lan, Đông Dương và Congo thuộc Bỉ Cartel cao su ra đời năm
1934 bao gồm Malaya, Miến Điện, Indonesia, Thái Lan, Đông Dương, Ceylan, Ấn Độ,Sarawak, Bắc Borneo thuộc Anh, sản xuất 98% sản lượng cao su của cả thế giới Tấtnhiên, các tổ chức độc quyền này đều tìm cách thi hành một chính sách giá cả có lợicho tư bản chính quốc, bất chấp quyền lợi của tư bản và nông dân bản xứ
Trong những năm khủng hoảng 1929-1933, một bộ phận nông dân Malaya đã bỏ
ra thành thị hoặc đến các đồn điền xin việc Chính đây là thời kì sản sinh một tầng lớpvô sản người Malaya Còn số hầm mỏ mà người Hoa làm chủ năm 1925 sản xuất 56%tổng sản lượng thiếc, sang năm 1935 chỉ còn 34% Cuộc khủng hoảng kéo dài mãi đếnkhi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
Vốn là nước sản xuất nhiều nhất hai nguyên liệu có yêu cầu chiến lược đối vớichiến tranh là thiếc và cao su, nền kinh tế Malaya đã có cơ hội phát triển mạnh trongnhững năm đầu của chiến tranh, trước khi bị Nhật xâm chiếm Năm 1939, Malaya xuấtkhẩu 82.000 tấn thiếc, năm 1940 con số này tăng lên 131.000 tấn; còn sản lượng cao
su xuất khẩu là 549.000 tấn (1940), mang lại số tiền lớn gấp đôi năm rồi
Nhìn chung, sự phát triển của nền kinh tế đồn điền và hầm mỏ với phương thứckhai thác tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở Malayaphát triển mạnh hơn so với các nước Đông Nam Á khác
- Cấu trúc giai cấp – dân tộc
Cấu trúc dân tộc và giai cấp của Malaya vốn đã bước đầu hình thành từ cuốithế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX đã hoàn toàn được khẳng định trong 30 năm đầu thế kỉ XX
Số kiều dân người Hoa tăng từ 1,5 triệu (1911-1920) lên 2,379 triệu (1941),chiếm 43% dân số Họ chiếm tỉ lệ rất cao trong giới công nhân hầm mỏ
Trang 30Tình trạng thiếu nhân công của ngành cao su đang trong thời kì phát triển nhanhđã khiến chính quyền Anh khuyến khích người Ấn di cư sang Malaya; số kiều dân Ấntăng từ 471.000 (1921) lên 744.000 (1941), chiếm trên 10% dân số Đa số họ là côngnhân đồn điền cao su
Còn đại bộ phận người bản xứ là nông dân lĩnh canh-cấy rẽ Quan hệ tư bản chủnghĩa ở nông thôn còn rất yếu ớt Bộ mặt của nông thôn Malaya không thay đổi baonhiêu so với trước kia
Như vậy cho đến giữa thế kỉ XX, cấu trúc giai cấp-dân tộc ở Malaya là như sau:người Malaya theo đạo Hồi chiếm 42% dân số (2,278 triệu năm 1941); đa số họ lànông dân, tức còn bị chi phối bởi quan hệ sản xuất phong kiến, bị thống trị bởi cácsultan và quý tộc-địa chủ; chỉ đến cuối thập niên 1930, mới xuất hiện một số côngnhân đồn điền và hầm mỏ người Malaya, nhưng chưa thể coi là giai cấp vô sản vì họcòn sống gắn bó với nông thôn Trong bộ máy hành chính thuộc địa, người Malaya –mà phần lớn là quý tộc – chiếm giữ các chức vụ trung và sơ cấp
Người Hoa theo đạo Phật chiếm tuyệt đại bộ phận dân thành thị, chiếm đa số ởSingapore và vùng bờ biển phía tây, tức những vùng phát triển nhất về kinh tế Đa sốáp đảo công nhân thành thị là người Hoa Họ khống chế các hoạt động thương mại Đasố tiểu, trung và đại tư sản là người Hoa Một bộ phận đáng kể trí thức cũng là ngườiHoa
Người Ấn theo đạo Bà La Môn chiếm tỉ lệ cao nhất trong công nhân đồn điền.Người Ấn cũng sống ở thành thị Giới tiểu và trung tư sản người Ấn kém hơn ngườiHoa nhiều Đại tư sản người Ấn cũng không thể so sánh với đại tư sản người Hoa
Giữa ba cộng đồng này tồn tại những dị biệt nhiều khi mang tính chất xung khắcvề dân tộc, xã hội, tôn giáo, kinh tế , sự khác biệt về địa bàn sinh sống và nghềnghiệp, thêm vào đó là chính sách gây và nuôi dưỡng tình trạng chia rẽ giữa ba cộngđồng, duy trì ba loại quy chế hành chính trên đảm bảo Tất cả đã tác động xấu đếnphong trào giải phóng dân tộc ở Malaya cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ hai
Tuy là nước Đông Nam Á mà tỉ lệ công nhân trong dân số là cao nhất: cuối thậpniên 1920-đầu thập niên 1930, Malaya có 25 – 30 vạn công nhân đồn điền, 8 vạn côngnhân mỏ thiếc và hàng vạn trong các ngành giao thông, bến cảng, chế biến tập trung ởSingapore, Kuala-Lumpur trong 4,3 triệu dân (1931), phong trào công nhân khôngthực sự mạnh vì bị ngăn cách bởi hàng rào dân tộc-tôn giáo
- Phong trào giải phóng dân tộc
Trang 31Nhìn chung, phong trào giải phóng dân tộc ở Malaya chỉ phát triển với tốc độnhanh trong những năm 1929-1933 dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế Ngaytừ những bước phát triển đầu tiên, phong trào đã bị phân hoá theo màu sắc dân tộc
Ở người Malaya trước hết có phong trào nông dân, dưới sự lãnh đạo của cáclãnh tụ thời phong kiến-sultan, quý tộc và giáo sĩ Nổi tiếng nhất là cuộc đấu tranh củanông dân miền nội địa Trengganu năm 1928 do đại diện giới quý tộc địa phương làHoji Abdul Rahman liên kết với các giáo sĩ dấy lên nhằm chống lại thuế ruộng đất quácao, bảo vệ trật tự của Hồi giáo Những người khởi nghĩa đã chiếm huyện lỵ Kuala-Berang và sau đó tiến về thủ phủ của bang Trên đường đến gặp sultan mà họ vẫn còntin tưởng, cảnh sát theo lệnh của chính ông này đã nổ súng vào đoàn người tuần hànhlàm nhiều người bị trúng đạn Haji A Rahman bị bắt và bị trục xuất sang Mecca, cònnhững lãnh tụ khác bị đày sang Singapore
Một dạng khác là phong trào của giới giáo sĩ Hồi giáo
Năm 1926, hiệp hội đầu tiên của người Malaya – Liên hiệp Malaya-Singapore(Kesaten Malaya-Singapore) đã được thành lập với chủ tịch đầu tiên là MohammedUnes bin Abdullah Liên hiệp cĩ nhiệm vụ lôi kéo người Malaya tham gia hoạt động xãhội và chính trị, phát triển giáo dục, bảo vệ quyền lợi của người Malaya trước chínhquyền Thành viên của Liên hiệp bao gồm nhà báo, viên chức, thương nhân và một số
ít nhà hoạt động tôn giáo Lúc đầu hoạt động chính của tổ chức tập trung vào vấn đềgiáo dục, nhưng dần dần Liên hiệp đã phát triển theo chiều hướng bài Hoa Cộng tácvới chính quyền thực dân, các lãnh tụ của Liên hiệp đã đả kích hoạt động kinh doanhcủa người Hoa, đòi chính quyền thực dân thi hành những biện pháp tạo dễ dàng chohoạt động của người Malaya trong lĩnh vực thương mại và giáo dục
Trong những năm 1930, những người Kaum Muda – mà trung tâm hoạt động làPenang, cũng giống như những người đồng tư tưởng với họ ở Indonesia, đã tập trungvào công tác khai sáng nhân dân; họ nhấn mạnh cần hiện đại hoá cuộc sống nhưngđồng thời tuân thủ lề thói sinh họat mà đạo Hồi đã quy định, để không bị các cộngđồng khác – Hoa và Ấn – quyến dụ Những nhà tư tưởng của phong trào cải cách tôn
giáo tập trung quanh những tờ báo như "Majalah Gurn", "Majelah Cherite,
"Penghiburan" Năm 1934, ở Penang một hiệp hội toàn Malaya mang tên "Sabanat
Pena" đã được thành lập nhằm mục tiêu truyền bá quốc ngữ và tư tưởng cải cách Hồi
giáo trong cộng đồng người Malaya Năm 1937, số thành viên của nó là 1 vạn người.Cuối những năm 1930, trong nội bộ Sabanat Pena đã bùng lên cuộc đấu tranh giữatrung tâm bảo thủ ở Penang với các chi nhánh địa phương tiến bộ hơn vốn không vừalòng với mục tiêu khai sáng đơn thuần Tuy nhiên, cuộc đấu tranh không dẫn đến mộtkết quả cụ thể nào
Giới viên chức chóp bu và địa chủ quý tộc người bản xứ cũng có tham gia sinhhọat chính trị Trong những năm 1930, họ đã thành lập các tổ chức chính trị nhằm bảovệ quyền lợi riêng Năm 1937, Đại hội toàn Malaya các tổ chức đó được triệu tập ở
Trang 32Kuala Lumpua và sau đó mỗi năm đều có tổ chức cho đến khi đất nước bị Nhật xâmlược Mục tiêu của họ là đòi chính quyền Anh thu dụng nhiều người Malaya hơn vàobộ máy hành chính và giao cho họ giữ những chức vụ cao cấp hơn
Năm 1938, Ibrahim bin Haji Yakob, phó biên tập tờ Majkis xuất bản ở Kuala Lumpua và nhà báo Ishak bin Haji Mohammad lập ra tờ Kesatuan Malayu Nurde (Liên
hiệp Malaya Trẻ) Họ chỉ trích chế độ thuộc địa và các sultan đã "bán rẻ tổ quốc cho người Anh" Tờ báo tuyên truyền tư tưởng giải phóng Malaya bằng con đường đánh
đuổi người Anh và thống nhất đất nước
Đó là tình hình chung của phong trào giải phóng dân tộc trong cộng đồng ngườiMalaya Như ta thấy, tuy không đến nỗi như một nhà nghiên cứu người Pháp đã viết:
"Ttrước Chiến tranh thế giới thứ hai, người Malaya không có sinh họat chính trị"(10),nhưng quả thật là những hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc của họ không đượcnhiều và không gây được tiếng vang và ảnh hưởng nào đáng kể
Trong những năm 1930, đã xuất hiện những tổ chức chính trị đầu tiên của ngườiẤn và người Ceylan Năm 1932, tầng lớp đại tư sản Ấn kiều đã thành lập Hiệp hộingười Ấn ở Malaya Năm 1936, thêm Hiệp hội Trung tâm người Ấn ở Malaya đã ra đờivà có quan hệ khắng khít với đảng Quốc đại ở Ấn Độ Năm 1939, những tổ chức côngđoàn đầu tiên của công nhân khuân vác và đồn điền người Ấn được thành lập ở Johorevà Selangor
Đó là một số biến cố ít ỏi liên quan đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đángghi nhận nhất trong cộng đồng người Ấn sinh sống ở Malaya Như vậy, ta thấy cộngđồng này cũng không có những đóng góp gì đáng kể cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
ở Malaya
Cộng đồng người Hoa đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phong trào giảiphóng dân tộc Nét đặc thù của phong trào người Hoa ở Malaya là gắn bó rất chặt chẽvới phong trào dân tộc ở Trung Quốc Sau phong trào Ngũ Tứ, sinh họat chính trị củacộng đồng người Hoa bắt đầu phát triển mạnh bằng những cuộc biểu tình bài Nhật vàtẩy chay hàng hoá Nhật Ảnh hưởng của Quốc Dân Đảng trong những năm 1920 lanrộng trong cộng đồng người Hoa Nhiều chi nhánh Quốc Dân Đảng đã được thành lập
Chịu ảnh hưởng rõ rệt của chính biến tháng 4.1927 ở Trung Quốc, lực lượng tảkhuynh đã rút ra khỏi "Quốc Dân Đảng Malaya" để thành lập "Ủy ban Cách mạng củaQuốc Dân Đảng Malaya" Trên cơ sở đó, cũng trong năm 1927, "Phong trào Công-Nông" đã ra đời Tổ chức này tiến hành công tác trong giới lao động, trong các côngđoàn Một số nhà nghiên cứu cho rằng Phong trào Công-Nông đánh dấu một giai đoạntrong quá trình thành lập đảng cộng sản Trong những năm 1930, Quốc Dân Đảng tiếptục có ảnh hưởng đáng kể đến bộ phận tiểu tư sản trong cộng đồng người Hoa thông
10() Pierre Fistié, Singapour et la Malaise, coll QueSais- je, ed PUF, Paris, 1960, p.96.
Trang 33qua các trường học của họ Dưới thời thống đốc Clement (1930-1934), chính quyềnAnh đã kiểm soát rất nghiêm ngặt các trường học của người Hoa Những tổ chức côngđoàn dân chủ đầu tiên của công nhân được thành lập trong những năm 1921-1923, bêncạnh một vài tổ chức, phe nhóm dân chủ chống đế quốc Thực ra, chúng chỉ có cơ hộilớn mạnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933
Những tổ chức theo khuynh hướng mác xít hầu hết do người Hoa tổ chức và hoạtđộng trên một địa bàn rộng rãi hơn với Singapore là trung tâm Năm 1925, tại
Singapore, đảng Cộng sản Nam Dương được "các đồng chí lão thành tại Trung
Quốc"(11) thành lập và được xem là "chi nhánh hải ngoại của đảng Cộng sản Trung
Quốc" Cũng tại Singapore, năm 1926 Đảng thành lập Liên hiệp Thanh niên Cộng sản
và Tổng Liên đoàn Lao động Nam Dương Do không giải quyết được vấn đề chủng tộcvà do đó không thể xâm nhập được vào cộng đồng người Malaya và người Ấn mà đảngCộng sản Nam Dương và hai tổ chức công đoàn và thanh niên của nó không thêể mởrộng ảnh hưởng ra khỏi phạm vi cộng đồng người Hoa Năm 1930, khi các tổ chức
mácxít ở Malaya được tổ chức lại, PPTUS đã nhận xét như sau: "Điểm chính cần phải
nhớ là phải vươn đến cả công nhân Malaya và tuyển mộ họ trên quy mô lớn hơn trước đây, Liên đoàn Nam Dương vẫn chủ yếu là một tổ chức của người Hoa"(12)
Ngày 30.4.1930, tại một hội nghị có sự tham dự của đại diện Quốc tế Cộng sản,đảng Cộng sản Nam Dương chính thức chuyển thành đảng Cộng sản Malaya CònTổng liên đoàn Lao động Nam Dương Malaya cũng được cải tổ thành Tổng liên đoànLao động Malaya Sau khi ra đời, điều kiện hoạt động của Đảng cũng không thuận lợihơn so với trước vì đảng không sao phát triển được vào cộng đồng người Malaya và vìsau đó đa số các lãnh tụ đảng đều lần lượt bị thực dân bắt cầm tù
Ngay sau khi được thành lập, đảng Cộng sản Malaya đã bắt đầu xây dựng cáccông đoàn dân chủ và tổ chức phong trào bãi công Đảng đã gây được ảnh hưởng đángkể trong hàng ngũ công nhân và giới học sinh, sinh viên các thành phố lớn nhưSingapore, Penang, Kuala Lumpua
Nhờ đó, tháng 5.1934 bất chấp chính sách trấn áp khắc nghiệt của chính quyềnthuộc địa, đảng đã tổ chức được cuộc tổng bãi công đầu tiên của công nhân tất cả cácngành kinh tế quan trọng nhất, bắt đầu bằng cuộc bãi công của 1800 công nhân đườngsắt Kuala Lumpua Năm 1936, công nhân xí nghiệp đồ hộp và sau đó công nhân xâydựng thành phố Singapore đã bãi công Để phản đối hành động trấn áp của chínhquyền thuộc địa, làn sóng bãi công thứ hai đã dấy lên khắp Malaya Đầu năm 1937,cuộc bãi công của công nhân mỏ than Batu-Arang đã kết thúc bằng cuộc khởi nghĩachiếm giữ thị trấn này trong một thời gian ngắn Một viên chức cảnh sát người Anh sau
11 () Theo tài liệu của đảng Cộng sản Malaya công bố năm 1945 (X Mc Lane, Soviet Strategies in
Southeast Asie An Exploration of Eastern Policy under Lenin and Stalin, New Jersey, Princteton
University Press, 1966, p.132)
12 () Pan-Pacific Monthly, September-October 1930, p.40 Trích theo Mc Lane, Op.cit, p.135
Trang 34này viết rằng cuộc bãi công này là "cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất" trong lịch sử
thuộc địa Làn sóng bãi công ủng hộ tiếp diễn sau đó kéo dài mãi đến tháng 3
Yêu sách cơ bản của các cuộc bãi công vẫn còn mang nội dung kinh tế, dù đảngCộng sản đã cố gắng đưa kèm theo đó một số yêu sách chính trị Sau Đại hội VII Quốctế Cộng sản, đảng Cộng sản Malaya đã đề ra chính sách thành lập mặt trận dân tộcthống nhất Đại hội đảng được triệu tập ngay trong năm 1935 đã thông qua cương lĩnhnêu rõ mục tiêu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là thành lập nước CHDCMalaya, do mặt trận dân chủ thống nhất lãnh đạo
Tuy nhiên, phải đợi đến năm 1937 sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Thống nhấtchống Nhật ở Trung Quốc mới tạo điều kiện cho đảng Cộng sản Malaya tăng cườngcông tác quần chúng theo hướng xây dựng khối đoàn kết dân tộc chống hoạ phát xít vànguy cơ xâm lược từ phía Nhật Tháng 8.1937, đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng ởMalaya hợp tác với nhau Đảng đã cố gắng triển khai công tác thành lập mặt trậnthống nhất chống phát xít ở nhiều nơi trong nước Ở Singapore, Hiệp hội kháng nhậtcứu quốc của kiều bào người Hoa ra đời ngay trong năm 1937 nhằm đoàn kết ngườiHoa thuộc mọi xu hướng chính trị vaò sự nghiệp chống cuộc chiến tranh xâm lược củaNhật ở Trung Quốc Một tổ chức khác lấy tên là Hội ủng hộ kháng chống có mục tiêuquyên góp tiền cho sự nghiệp chống Nhật và loại trừ những phần tử thân Nhật trongcộng đồng người Hoa Năm 1939, con số hội viên của tổ chức này lên đến gần 4 vạn.Nhược điểm lớn nhất của hai tổ chức mà ta đang nói ở đây là không thoát ra ngoàiphạm vi cộng đồng người Hoa Và thậm chí trong những năm này, ảnh hưởng của đảngCộng sản trong cộng đồng người Malaya và người Ấn có xu hướng giảm sút Tình hìnhnày đã khiến ban lãnh đạo đảng lo lắng Hội nghị BCHTƯ mở rộng lần thứ 6 họp trongtháng 4.1939 đã cố gắng đề ra những biện pháp khắc phục sự giảm sút vừa nói Hội
nghị đã thông qua "Cương lĩnh đấu tranh" nêu rõ nhiệm vụ chính của đảng là thành lập một "Mặt trận thống nhất các chủng tộc phấn đấu cho một chế độ dân chủ, vãn hồi hòa
bình và hoạt động chống khối phát xít Nhật-Đức-Ý" Cương lĩnh thúc giục các đảng
viên gây sức ép để Anh trợ giúp Trung Quốc và tham gia khối "đồng minh an ninh tập
thể với Liên Xô, "cột trụ của nền hòa bình thực sự" Cương lĩnh còn đề ra những nhiệm
vụ khác như: các quyền tự do công dân, ngày làm việc 8 giờ, giảm tiền thuê đất và lãisuất, quyền của phụ nữ, giáo dục nhân dân bằng tiếng địa phương So với cương lĩnhnăm 1932, cương lĩnh này không đề cập đến việc thành lập chính quyền xô viết, tịchthu các điền trang, lật đổ các sultanat, đòi Anh trao trả độc lập ngay lập tức Hội nghị
cho rằng lực lượng của đảng còn quá đỗi "không tương xứng để nói chuyện cộng tác với
chủ nghĩa đế quốc", do đó đã thông qua đường lối không cộng tác với chính quyền thực
dân Anh(13)
Tuy nhiên, bất chấp những cố gắng trên cho đến khi bị Nhật xâm lược ảnhhưởng của Đảng vẫn không lan ra khỏi cộng đồng người Hoa Đảng Cộng sản Malayatrên thực tế vẫn là đảng của cộng đồng người Hoa Theo tư liệu của chính phủ Malaya,
13() History of the Malayan Communist Party, 1945, p.20 Trích theo Charles B Mc Lane, Op.cit, p.200
Trang 35tỉ lệ hội viên người Hoa so với hội viên người trong các tổ chức của đảng trong nhữngnăm 1930 là 15/1 và trong đảng tỉ lệ này lên đến 50/1(14)
Trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trước khi bị Nhật xâmchiếm, đảng Cộng sản đã phát động nhiều cuộc bãi công đòi tăng lương Từ tháng10.1993 đến tháng 9.1940, con số các vụ bãi công đạt mức kỉ lục – trên 150 Ngày1.5.1940, đảng đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn ở Singapore đòi ngưng truy bứcphong trào bãi công công nhân
Trong năm 1941, phong trào bãi công phát triển đặc biệt mạnh trong các đồnđiền Tháng 5, chính quyền thực dân đã tiến công các công đoàn Ấn ở Selangor, tổchức bắt bớ hàng loạt và thậm chí ngày 16.5 đã ban hành tình trạng báo động và huyđộng cả quân đội đến trấn áp những người bãi công Mãi đến cuối tháng 5, phong tràobãi công mới lắng xuống
Tháng 7.1941, sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô, Hội nghị BCHTƯ mởrộng lần thứ 7 đảng Cộng sản Malaya họp tại Singapore đã thông qua đường lối mới:
vì Anh đã trở thành đồng minh của Liên Xô cũng như của Trung Quốc, nên nhữngngười cộng sản Malaya cần cố tránh xung đột với chính quyền thuộc địa(15) Rất mạnhtay trong việc trấn áp phong trào dân chủ trong nước, chính quyền thuộc địa lại tỏ ra lơlà trong công tác tăng cường phòng thủ chống lại mối hiểm hoạ từ phía phát xít Nhậtvốn đã bắt đầu lộ rõ từ mùa hè 1940 Tin tưởng quá đáng vào ưu thế của hải quân,chính quyền thực dân đã coi thường khả năng đổ bộ của quân Nhật Họ cho rằng thànhphố pháo đài Singapore là "bất khả xâm phạm", nhưng phớt lờ việc pháo đài nàykhông thể chống trả các cuộc tiến công xuất phát từ đất liền
II NHỮNG NĂM BỊ NHẬT CHIẾM ĐÓNG (1941- 45)
- Quân Nhật đánh chiếm bán đảo
Rạng sáng ngày 7.12.1941, cùng lúc với cuộc tập kích ồ ạt và bất ngờ vào PearlHarbour, phát xít Nhật đã ném bom cửa biển và phi trường Singapore và cho quân đổbộ lên Kota-Bharu, thủ phủ Kelantan Không đầy hai ngày sau, trong một trận chiếnkéo dài 2 giờ, máy bay Nhật đã đánh đắm hai tàu chiến tối tân nhất, nhưng lại khôngđược một lực lượng không quân thích đáng bảo vệ của hạm đội Anh ở vùng viễn Đônglà thiết giáp hạm "Prince of Wales" và tuần dương hạm hạng năïng "Repsule" Thất bạinặng nề này đã làm tê liệt gần như hoàn toàn hạm đội Anh và làm cho kế hoạch phòngthủ bán đảo Malaya của Anh, vốn lấy hạm đội làm con chủ bài chính bị sụp đổ
Ngày 12, Nhật chiếm được miền bắc bán đảo, ngày 13 bắt đầu tràn xuống miềntrung Ngày 9.1.1942, lực lượng Anh rút khỏi Pahang, Selangor và Negri-Sembilan để
14() Basic paper on the Malayan Communist Party, Vol.1, Pt.2 pl Trichs Charles B Mc Lane, Op.cit., p.2020
15() Mc Lane, Op.cit, p.243
Trang 36tập trung về cố thủ ở Johore Trận chiến giành và giữ Johore kéo dài đến 27.1 thì quânAnh rút sang đảo Singapore Tại đây, được sự tăng viện của các đơn vị quân Ấn vàquân Australia, các đơn vị xe tăng và không quân, lực lượng Anh đã vượt trội quânNhật cả về quân số và vũ khí, nhưng bị lấn át về không quân, ngoài ra bộ chỉ huy quânAnh không chủ động được kế hoạch tác chiến và tổ chức kế hoạch hậu cần
Rạng ngày 8.2, quân Nhật bắt đầu đổ bộ lên đảo và đúng một tuần sau, ngày15.2, lực lượng trấn giữ đảo đã buông súng đầu hàng
- Chính sách chiếm đóng của Nhật
Kéo dài suốt ba năm rưỡi, cách thống trị của phát xít Nhật đã đè nặng lên cuộcsống của người bản xứ
Về mặt hành chính, phát xít Nhật tiếp tục chính sách chia để trị của thực dânAnh: vùng Straits Settlements đặt dưới quyền cai trị của toàn quyền Nhật mà trụ sở đặttại Singapore; phần còn lại – trừ 4 bang miền Bắc (Perlis, Kelantan, Trengganu vàKedah) sẽ được giao cho Thái Lan – của bán đảo theo chế độ bảo hộ, nhưng cũngthuộc quyền của toàn quyền
Khác với trường hợp của Miến Điện, Philippines và Indonesia, lúc đầu Nhậtkhông hề khuyến khích hy vọng của những người dân tộc chủ nghĩa Malaya là sẽ đượctiếp nhận nền độc lập từ tay Nhật Trái lại, chính quyền Nhật không ít lần bày tỏ quanđiểm coi Malaya là một phần lãnh thổ của đế chế Nhật(16) Tuy nhiên, từ mùa thu 1943khi tình hình chiến tranh bắt đầu diễn biến theo chiều hướng không còn thuận lợi nhưtrước, bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy có sự thay đổi trong chính sách củaNhật đối với Malaya, các sultan được giao thêm quyền hành, số viên chức ngườiMalaya trong bộ máy hành chính tăng lên (17), nhằm tranh thủ tầng lớp tư sản vàphong kiến quan liêu bản xứ, đào sâu thêm mâu thuẫn giữa các cộng đồng dân tộc ởnước này
Tuy vậy, mãi đến phút cuối cùng của cuộc chiến, Nhật vẫn không tính đếnchuyện thừa nhận nền độc lập của Malaya, mà muốn nước này kết hợp với Indonesiakhi Indonesia được trao trả độc lập
Về kinh tế, ách thống trị của Nhật đã làm tê liệt toàn bộ nền kinh tế củaMalaya, kể cả hai ngành tối cần cho công nghiệp chiến tranh là cao su và thiếc vì Nhậtcó thể nhận được hai nguyên liệu này từ Thái Lan và Indonesia Kết quả không tránhđược là nạn thất nghiệp lan tràn khắp nơi Thê thảm hơn cả là việc nhập khẩu lươngthực – vốn luôn là vấn đề lớn của Malaya thuộc Anh – bị đình trệ đã gây ra nạn đói
16() Xem thêm F.G Jones, Japan's New Order in Past Asie Its Rise and Fall 1937-45 London: Oxford University
Press, 1954, pp.383-85
17() Xem thêm F.G Jones, Op.cit, pp 384-85.
Trang 37hàng loạt; nông dân Malaya không muốn tăng gia sản xuất lương thực để rồi phảiđánh đổi lấy những đồng bạc mất giá
Bị thúc bách bởi cái đói, dân thành thị và công nhân đồn điền, hầm mỏ đã đivào rừng, nơi còn nhiều đất đai bị bỏ hoang Họ đã trồng rau cải, khoai lang, khoai mì,chăn nuôi heo và gia cầm Đến cuối chiến tranh, số người này – mà người ta quen gọilà dân squatter – lên đến khoảng nửa triệu Tất nhiên phần đông họ là người Hoa
Kinh tế đình trệ dưới một chế độ chiếm đóng theo đuổi chính sách "lấy chiến
tranh nuôi chiến tranh" đã làm phát sinh nạn lạm phát
Lúc đầu, vững tâm bởi những chiến thắng trên chiến trường, chính quyền chiếmđóng Nhật đã thi hành một chính sách chiếm đóng rất khắc nghiệt, nhất là đối với cộngđồng người Hoa vốn rất tích cực chống mưu đồ bành trướng của Nhật ngay từ giữanhững năm 1930 Tính ra chỉ ngay sau khi Singapore thất thủ, đã cĩ ít nhất 25 000 ngườiHoa bị giết vì đã ủng hộ quân Anh, hay vì đã gia nhập đảng Cộng sản và Quốc DânĐảng Trong những năm bị chiếm đóng, cộng đồng người Hoa là đối tượng chính củabọn Kempeitei
Cộng đồng người Ấn tỏ ra có thiện cảm với những lời lẽ tuyên truyền về một
"khu vực Đại Đông Á thịnh vượng chung" và sứ mệnh giải phóng châu Á khỏi chủ nghĩa
thực dân "da trắng" của quân đội Thiên Hoàng Lợi dụng nỗ lực của người Ấn đấutranh chống ách thống trị của Anh tại Singapore, Nhật đã cho lập Liên đoàn Độc lậpẤn và quân đội Quốc gia Ấn bao gồm 5000 tù binh người Ấn trong quân đội thuộc địaAnh Đến tháng 5.1943, số thành viên của Liên đoàn là 95.000 người Hai tổ chức nàytrở thành trung tâm của phong trào dân tộc Ấn theo xu hướng cộng tác với Nhật Ngoài
ra Nhật còn giật dây một số người Ấn đứng ra thành lập Chính phủ lâm thời tự do Ấn
Nhưng một bộ phận người Ấn khác – công nhân đồn điền – lại nếm đủ mùi bịkhắc nghiệt của chế độ chiếm đóng Trong số 6 vạn người bị huy động đi xây đườngsắt từ Thái Lan sang Miến Điện, chỉ còn 2 vạn sống sót trở về
Chỉ cộng đồng người Malaya là ít bị những thay đổi của chế độ tác động đến.Lúc đầu Nhật toan tính loại trừ tầng lớp địa chủ-phong kiến và giới chóp bu phongkiến quý tộc vì cho rằng họ dính líu nhiều với chính quyền Anh Nhưng không lâu sau,Nhật đã chuyển sang chính sách lôi cuốn họ nhằm lấy họ làm chỗ dựa thống trị dânMalaya và bù vào chỗ thiếu hậu thuẫn ở thành thị Chẳng những giới quan liêu Malayavẫn giữ được những chức vụ hành chính cấp thấp và cấp trung, mà ngay cả một số chứcvụ cao cấp bị bỏ trống sau khi chính quyền Anh bị lật đổ, cũng được giao thác cho họ
- Phong trào giải phóng dân tộc
Đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở Malaya trong những năm Chiếntranh thế giới thứ hai là tình trạng suy yếu của những lực lượng vốn có thể hoạt động
Trang 38một cách hợp pháp trong điều kiện bị Nhật chiếm đóng và địa vị ưu thế tuyệt đối củaphương thức đấu tranh vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Như đã nói ở trên, Nhật đã chủ tâm thi hành chính sách dân tộc rất thâm độc.Cộng đồng người Malaya không bị coi là đối tượng chính của chính sách trấn áp Cácviên chức hành chính người Malaya, từ sultan đến các viên chức cấp thấp , đều đượclưu dụng Nhật còn chú ý tranh thủ sự cộng tác của cộng đồng người Ấn Ngoài Liênđoàn độc lập Ấn Độ, Nhật đã cho thành lập thêm một số tổ chức khác trong cộng đồngngười Ấn và người Hoa Nhưng chính sách này gặt hái nhiều thành công hơn cả trongcộng đồng người Malaya Những nhà hoạt động dân tộc người Malaya, trong đó nổi bậtnhất là Ibrahim Yakob, mưu tính kết hợp với Indonesia để thành lập một nhà nướcMalaya-Indonesia thống nhất Tháng 9.1944, khi được tin Nhật hứa trao trả độc lập choIndonesia, họ đã đề xuất tư tưởng thành lập Đại Indonesia (Indonesia Raya) độc lập,trong đó vai trò hàng đầu thuộc về dân tộc Malaya-Indonesia
Đến nửa sau năm 1945, trước viễn cảnh đại bại ngày càng đến gần, ngày17.8.1945, đúng 2 ngày sau khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh, chính
quyền chiếm đóng Nhật đã cho phép thành lập một tổ chức dân tộc mang tên "Phong
trào nhân dân Đặc biệt" (Keketuan Rayat Istimeva – KRI) Hội nghị thành lập KRI ra
nghị quyết tiếp tục đấu tranh giành độc lập cho Malaya, và sau đó sẽ thống nhất vớiIndonesia Giữa tháng 9, KRI bị giải tán sau khi quân Anh quay trở lại bán đảo Lựclượng của nó sau này được quy tụ thành Đảng Dân tộc Malaya
Như vậy, do không được lãnh đạo bởi một giai cấp trưởng thành và một tổ chứcchính trị vững chắc, cộng đồng người Malaya cho đến khi chiến tranh chấm dứt khôngđóng góp gì nhiều cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Phong trào dân tộcmang màu sắc tư sản và tiểu tư sản ở Malaya yếu hơn nhiều so với các nước ĐôngNam Á khác
Như đã nói ở trên, chính sách chiếm đóng của Nhật đã làm tê liệt hai ngànhkinh tế chính của Malaya là đồn điền và hầm mỏ Thêm nữa, nạn khan hiếm lươngthực ngày càng trở nên trầm trọng Tình trạng này đặc biệt tác động mạnh đến cộngđồng người Hoa Vốn là một cộng đồng được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và có mốiquan hệ tương trợ bền vững, người Hoa đã mau chóng tổ chức các hoạt động chiếntranh du kích chống quân xâm lược Lực lượng lãnh đạo của những hoạt động này là
đảng Cộng sản Báo Current Notes của bộ Ngoại giao Australia nhận xét: "Mãi đến khi
chiến tranh chấm dứt, đảng Cộng sản Malaya vẫn luôn luôn đóng vai trò lãnh đạo trong các phong trào kháng chiến" Đảng đã hợp tác với các lực lượng yêu nước khác để lập
một mặt trận thống nhất
Ngay sau khi Malaya bị quân Nhật xâm lược, đảng đã mau chóng khẳng địnhvai trò của mình Ngày 21.2, BCHTƯ Đảng ra nghị quyết 4 điểm đề cập đến nhữngcông tác trước mắt: đó là đoàn kết tất cả nhân dân Malaya vào cuộc kháng chiến
Trang 39chống Nhật trong quan hệ cộng tác với Anh, võ trang tất cả đảng viên để cùng tham
gia chiến đấu chống Nhật "thông qua việc thành lập các nhóm du kích và bí mật khủng
bố có kế hoạch"(18) Nhưng thật ra nghị quyết này chỉ thu hút được hầu như toàn làngười Hoa Có thể nói rằng người Hoa hầu như chi phối toàn bộ phong trào khángchiến, không những về thành phần lãnh đạo mà cả nhân số Một tác giả người Anh tên
F Spencer Chopman, trong thời gian chiến tranh đã sống với quân du kích, có ghi lại
trong hồi ký "The Jungle is Neutral" (London: Chatte Wrindus, 1953) rằng hoạt động du
kích ở Malaya là độc quyền của người Hoa Về khách quan, tình hình này đã tạo ranhững hậu quả không có lợi cho cuộc kháng chiến sau này chống âm mưu áp đặt trở lạiách thống trị của đế quốc Anh
Tháng 4.1942, đảng Cộng sản đã thành lập Quân đội Nhân dân Malaya khángNhật (Malayan People's Anti Japnaese Army – MPAJA) nhằm thống nhất các độichiến đấu lẻ tẻ vào khoảng 1 vạn người, mà đại bộ phận là người Hoa, ngoài ra còn cómột số công nhân đồn điền Ấn Độ và nông dân Malaya MPAJA đã tiến hành các hoạtđộng du kích, phục kích những cuộc di chuyển của quân đội Nhật trên các trục lộ giaothông và tiến công các đơn vị quân Nhật riêng lẻ, trừng trị bọn cộng tác Các lực lượng
du kích được dân squatter nồng nhiệt ủng hộ Họ là nguồn bổ sung về quân số và tiếptế lương thực cho các đơn vị quân du kích Bên cạnh MPAJA, đảng Cộng sản còn thànhlập một tổ chức quần chúng mang tên Hội Liên hiệp Nhân dân Malaya kháng Nhật(Malayan People's Anti Japnaese Union – MPAJU) quy tụ khoảng 10 vạn người thuộccác giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau
Tháng 12.1943, Trung ương đảng Cộng sản cử người đại diện các tổ chức đảngCộng sản, bộ Tư lệnh MPAJA và MPAJU kí với đại diện Bộ tư lệnh quân đội Đồngminh ở Đông Nam Á một hiệp ước quân sự nhằm phối hợp hành động quân sự của cảhai bên cho công tác chuẩn bị phản công
Đầu năm 1945, MPAJA đã trở thành một lực lượng đông đảo với quân số 7000người(19) Nhờ đó quân đội đã có thể tổ chức nhiều cuộc tiến công quy mô khá lớn, giảiphóng được một số vùng lãnh thổ, thành lập được chính quyền ở những nơi đó
Không lâu trước khi Nhật đầu hàng, Đảng đã công bố cương lĩnh, gồm các mụctiêu:
- Diệt trừ quân phát xít Nhật và thành lập nước Cộng hoà Malaya
- Thiết lập chính phủ đại diện tất cả các dân tộc, cải thiện đời sống, phát triểncông nghiệp, nông nghiệp, thương mại
- Nhân dân được hưởng các quyền tự do ngôn luận, tổ chức và xoá bỏ mọi đạoluật có nội dung trấn áp
- Tăng lương, giảm thuế và xoá bỏ lãi suất
- Tổ chức các đơn vị du kích thành Quân đội Phòng vệ Quốc gia
18() Xem Mc Lane, Op.cit, p.304
19() J Kennedy, A History of Malaya, New York, St Martin, Press, 1962, p.262
Trang 40- Giáo dục miễn phí bằng các thứ tiếng Anh, Malaya, Trung Quốc và Tamil.
- Tịch thu tài sản của bọn phát xít và trao trả lại những tài sản nào bị Nhật tịchthu
- Tự trị về quan thuế trong khuônkhổ Liên hiệp Anh
- Đấu tranh giải phóng các dân tộc phương Đông
Nhờ chủ động như vậy, đảng Cộng sản đã lãnh đạo MPAJA kịp thời giải phóngtoàn bộ lãnh thổ vào tháng 8.1945 trước khi những đoàn quân đầu tiên của Anh đổ bộlên Malaya Đảng và các tổ chức quần chúng khác đã xây dựng được chính quyềnnhân dân tại các thành phố và nông thôn Trong khoảng thời gian 4 tháng kể từ lúcNhật đầu hàng đến khi người Anh quay lại, tổ chức của những người cộng sản đã hoạtđộng như một chính phủ thực sự
Do đảng Cộng sản có một lực lượng vũ trang đông đảo, đế quốc Anh đã phảidùng các biện dẽo, mời Đảng cử đại diện tham gia Ủy ban tư vấn của chính phủ quânsự Singapore Lúc bấy giờ trong hàng ngũ Đảng đã xuất hiện hai chủ trương: một hợptác với Anh, một đòi tiếp tục đường lối chống thực dân và giành độc lập Những ngườinày đã chôn giấu vũ khí, duy trì lực lượng Nhờ đó mà sau này cuộc đấu tranh vũ trangchống đế quốc Anh có cơ sở để phát triển