1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử Miến Điện - Thầy Hoàng

73 584 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Miến Điện
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 374 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, chính quyền thực dân Anh ở Ấn Độ đã giải quyết xong vấn đềAfghanistan và quan điểm của những kẻ đòi biến Miến Điện thành một thuộc địa sinhlợi bằng cách chiếm toàn bộ miền

Trang 1

Ø

Trang 2

DẪN NHẬPVài nét về tình hình Miến Điện dưới triều đại Konbaung

Năm 1754, vào lúc cuộc chiến tranh chống sự thống trị của người Môn và đánhchiếm vương quốc Manipur của người Shan sắp kết thúc, thủ lĩnh của người Miến đãlên ngôi và xưng vương hiệu là Aluanpaya (1754-1760), đặt kinh đô ở Shwebo, mở đầutriều đại mới mang tên Konbaung tồn tại đến năm 1885, khi Miến Điện bị thực dânAnh xâm chiếm và đô hộ

Dù là thời kì phát triển hưng thịnh của chế độ phong kiến, triều Konbaung vẫnphải đối phó với nhiều vấn đề phát sinh sau khi đất nước đã được thống nhất Trướchết là tình trạng đình dốn về thương mại và nông nghiệp ở vùng đồng bằng Hạ Miếntừng một thời phồn thịnh và là nơi cư trú của người Môn Là vùng có tiềm lực kinh tế

to lớn nhà nước và có nền văn minh phát triển nhất, Hạ Miến giờ trở thành hoang tànvà thưa dân Trong nước lại không có sẵn những nguồn tài nguyên và động lực khả dĩgóp phần khôi phục lại lực lượng sản xuất ở Hạ Miến, Trong lúc đó, lương thực sảnxuất được ở miền Thượng Miến vốn được tưới tiêu – Kyankse, Minbu và Shwebo –phần lớn được tiêu thụ tại chỗ

Trong những điều kiện trên, hoạt động thương mại – cả nội thương lẫn ngoạithương – không thể phát triển được Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là bông sang Ấn Độqua ngõ Arakan Nhưng do chính sách thuế mà nặng nề của nhà vua, không một cánhân nào muốn mở rộng ngành sản xuất này

Nhà vua và giới quan lại-địa chủ sở hữu đại bộ phận đất đai trong nước Nôngdân phải lĩnh canh để có đủ đất sản xuất Họ phải nộp nhiều thứ thuế và chịu một chếđộ lao dịch hà khắc Thuế thường chiếm gần nửa số thu hoạch và được thu bằng sảnvật hoặc bằng tiền ; ngoài ra, còn thêm các khoản thuế đảm phụ phong kiến khác

Vấn đề dân tộc luôn là nguồn gây không ít khó khăn cho giới thống trị và đặtquan hệ giữa các dân tộc trong tình trạng căng thẳng Dưới triều Konbaung, chính mốihiềm khích dai dẳng giữa người Miến đang chiếm địa vị thống trị và các dân tộc Shan,Môn đã đẩy đất nước vào cảnh xung đột kéo dài với hai lân bang là Trung Quốc vàXiêm Suốt từ năm 1776 đến năm 1795, Miến Điện đã phải chống trả bốn cuộc tiếncông liên tiếp phát xuất từ Trung Quốc nhằm bảo vệ chủ quyền đối với phần lãnh thổ

cư trú của người Shan

Giữa Miến Điện và Xiêm đã xuất hiện quan hệ thù địch vì cả hai đều muốngiành ưu thế ở phần phía Bắc và Đông Nam bán đảo Trung Ấn, nghĩa là vùng lãnh thổcủa người Shan, các tiểu quốc Lào và vùng bờ biển Tenasserim Quân đội hai nước đãthường xuyên giao tranh suốt từ năm 1760 đến giữa thế kỉ XIX

Trang 3

Những cuộc chiến tranh trên đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhândân và đã làm những mâu thuẫn nội tại của chế độ phong kiến thêm gay gắt Thêmvào đó, dưới thời vua Bodawpaya (1782-1819), nhân dân bị huy động vào việc xâydựng chùa chiền, đền đài, thành lũy , nhất là kinh đô mới Annarapura, nằm cách Avakhông xa Tất cả công việc xây dựng này đòi hỏi một lực lượng lao động lớn đè nặnglên vùng Thượng Miến và tộc người Môn đến mức làm cơ cấu xã hội bị rạn nứt Nhưngchính cuộc xung đột với thực dân Anh kéo dài từ năm 1824 đã đẩy chế độ quân chủKonbaung đến chỗ cáo chung

I CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG THỰC DÂN ANH (1824 – 1885)

Đầu thế kỉ XIX, sau khi mở rộng những vùng đất chiếm đóng ở Ấn Độ đến sátbiên giới Miến Điện, thực dân Anh bắt đầu quan tâm đến các cảng miền Nam xứ này,

vì chúng cho phép tăng cường vị thế của Anh trên Ấn Độ Dương Miến Điện cũng làcửa ngõ dẫn vào miền Tây Nam Trung Quốc và sự giàu có của nó sẽ bù đắp cho côngsức bỏ ra và những tổn hại mà cuộc chiến chinh phục lãnh thổ gây ra Hơn nữa, thờigian không chờ đợi Anh, vì người Pháp cũng đang dòm ngó Miến Điện Để đi trướcmột bước, ngay năm 1795, toàn quyền Anh ở Ấn Độ đã phái đến Amaranpura mộtđoàn sứ giả Vua Miến Điện thuận cho viên trú sứ Anh đến công tác ở Rangoon, đồngthời đòi Anh giao nộp những người Arakan khởi nghĩa dang nẩn náu bên trong lãnh thổẤn Và đây lại là mầm mống gây ra tình trạng căng thẳng trong quan hệ giữa Anh vàMiến Điện đầu thế kỉ XIX

Xung đột biên giới ở Arakan

Ngay sau khi cầm quyền (1782), vua Bodawpaya đã tìm cách thu hồi miềnArakan mà trước đó không lâu đã tách ra khỏi Miến Điện khi chính quyền trung ương

bị suy yếu Sau khi bị sáp nhập trở lại vào năm 1785, các nhóm quý tộc Arakan màphần động theo đạo Hồi đã bỏ chạy sang Bengal và tại đây đã tổ chức các cuộc hànhquân đột kích vào Arakan Trong lúc truy đuổi những người Arakan khởi nghĩa, quânđội Miến đã nhiều lần xâm nhập xứ Bengal Diễn biến này đã khiến thực dân Anhđang mở rộng phạm vi thống trị từ phía tây tới không an tâm, và trong thực tế đã bộcphát một số giao tranh giữa hai bên

Năm 1811, lãnh tụ người Arakan là Chin Byang (Kingbering) đã tập hợp một lựclượng đáng kể trên đất Bengal và bất thần tràn vào Arakan đánh chiếm thủ phủMrohaung Sau đó, ông phái người đến gặp người Anh đặng xin tiếp viện ; đổi lại, ônghứa công nhận quyền chủ tồn của người Anh Do chưa đủ lực lượng, Anh đã từ khướcđề nghị này Nhưng triều đình Amaranpura lại cho rằng, thực ra không phải là khôngcó cơ sở, Chin Byan không thể đánh chiếm Mrohaung nếu không được Anh đồng tình

Khi gió mùa thổi về, quân Miến phản công và một lần nữa lực lượng của ChinByan tháo chạy khỏi Mrohaung về phía biên giới Miến Điện-Ấn Độ, nhưng vẫn cố

Trang 4

chiếm giữ một vài khu dân cư gần đấy Cuộc chiến cứ tiếp diễn theo kiểu như vậy đếnđầu năm 1815 thì chấm dứt vì Chin Byan qua đời Nhưng mối nghi kị của triều đìnhAmarangpura đối với người Anh không vì thế mà giảm đi

Trong lúc đó, ở Assam xuất hiện một tình thế tương tự như ở Arakan Năm 1816,một viên quan của Assam là Bar Phukan sang cầu xin Bodawpaya trợ giúp ông tachống lại ông vua chuyên quyền xứ mình Quân Miến sang và đưa Chandrakanta Singhlên ngôi Nhưng liền sau khi quân Miến rút về, một cuộc khởi nghĩa đã bùng lên vàChandrakanta Singh phải bỏ chạy sang lãnh địa của Anh ở Ấn Độ, còn Assam thì bịsáp nhập vào Miến Điện năm 1821 Như vậy là thêm một mầm mống bất hoà với thựcdân Anh ở biên giới Ấn Độ-Miến Điện vì Chandrakanta Singh được Anh giúp sức, đãtập trung lực lượng đột kích quân Miến đóng trên lãnh thổ Assam và Anh khước từ đềnghị của Miến đòi giao nộp các thủ lĩnh khởi nghĩa này

Trong bối cảnh quan hệ giữa Miến Điện và chính quyền thống trị Anh ởmidđang căng thẳng như trên, thì những biến cố ở hầu quốc Manipur đã đẩy nó đến chỗtan vỡ Lấy cớ Raja Manipur không có mặt trong lễ đăng quang của mình, vua MiếnBagyidaw (1819-1837) đã điều quân sang đánh xứ này Raja Manipur và quần thầnphải chạy sang lánh nạn trên đất hầu quốc Char Lo lắng trước viễn cảnh quân Miếncó thể tiến công Bengal từ cả phía bắc và phía đông, nếu tràn được vào Cachar, chínhquyền Anh đã vội vàng tuyên bố đặt Cachar dưới quyền bảo hộ của mình Kể từ lúcnày, quân Anh và quân Miến trực tiếp đối đầu nhau trên dải đất dài hàng trăm km từArakan đến Cachar Cuộc chiến tranh xâm lược của Anh nhằm vào Miến là khó tránhkhỏi

Cuộc chiến tranh Anh-Miến lần thứ nhất (1824 – 1826)

Đầu năm 1824, bất chấp chủ trương bảo hộ của Anh đối với Cachar, quân độiMiến đã tràn vào hầu quốc này để truy đuổi vua tôi Manipur, đồng thời chuẩn bị tấncông Chittagong từ phía Arakan Lợi dụng cơ hội này, ngày 5.3.1824, Anh quyết địnhtuyên chiến với Miến Điện

Không nắm được kế hoạch tiến công của Anh, quân Miến, dưới quyền chỉ huycủa tướng Maha Bandula, đã tiến công về hướng Calcutta Nhưng khi hay tin quân Anhđổ bộ lên Rangoon, Maha Bandula phải ngưng cuộc hành quân vì con đường dẫn từRangoon lên phía Bắc dọc sông Irrawady đến vùng trung tâm đất nước và kinh đô đã

bị bỏ trống do binh lực Miến Điện phần lớn đã tập trung ở biên giới phía Tây

Tháng 5.1824, Rangoon và một số cảng khác lần lượt bị thất thủ Nhưng liềnsau đó, Rangoon đã bị quân Miến bao vây từ phía đất liền và do đó bị cắt lìa khỏi vùngnông thôn – nơi cung cấp lương thực; trong lúc đó, quân Anh chỉ mang theo ít lươngthực và thuốc men vì dự tính giải quân cuộc chiến trong thời gian ngắn, còn đường biểnkhông sử dụng được vì điều kiện thời tiết Trong suốt mùa mưa, bệnh sốt rét và kiết lị

Trang 5

đã gíang cho quân Anh-Ấn đòn nặng nề đến nỗi trong số 11.000 quân, chỉ còn vài trămngười đủ sức chiến đấu Nhưng quân Miến lại chậm trễ trong việc tổ chức cuộc tiếncông quyết định vì không lường hết khả năng của hạm đội Anh Trong khoảng thờigian hai tháng kéo dài từ cuối mùa mưa đến cuộc tổng tiến công (1.12.1824), hạm độiAnh đã có thể chở đến Rangoon quân tiếp viện và chiến cụ Hậu quả là cuộc tiếncông bị thất bại do ưu thế về vũ khí và pháo binh của Anh

Lợi dụng thất bại của quân Miến, quân Anh phản công và đẩy lực lượng củaMha Bandula đến phòng tuyến thứ hai ở Danubyu Tại đây, ngày 1.4.1825, Bandula bịtử trận Thừa thắng, pháo thuyền Anh theo sông Iranwady kéo lên đánh chiếm Promevà trấn đóng ở đây suốt mùa mưa 1825 Ngay trước đó, lợi dụng việc phần lớn quânMiến tập trung ở khu vực gần Rangoon, quân Anh đã lần lượt chiếm Arakan,Tenasserim, một phần Manipur và Assam

Sau khi mùa mưa 1825 chấm dứt, quân Anh tiếp tục tiến công và tiến đến sátMrohaung Triều đình Miến phải cầu hoà và ngày 24.2.1826, tại Yandabao hai bên đã

kí hoà ước, theo đó Miến Điện phải nhượng cho Anh Arakan, Tenasserim, Manipur vàAssam, trả một số chiến phí tương đương một triệu sterling, ngừng can thiệp vào côngviệc nội bộ các tiểu quốc nằm ở biên giới phía tây Miến Điện và chưa bị Anh chiếm,để cho viên trú sứ người Anh đến ở tại Amarangpura và phái một viên quan sangClacutta

Bị mất những vùng quan trọng ở miền Nam, Miến Điện bị suy yếu hẳn đi vàthực dân tiếp tục bành trướng ở đây chỉ còn là vấn đề thời gian, nhưng vua tôi Bayidawđã không ý thức được điều này và vẫn để cho các bức tường của hoàng thành che lấpnhững mối đe dọa đang mau chóng lộ rõ ở Đông Nam Á từ phía các cường quốc thựcdân tư bản phương Tây

Cuộc thương lượng giữa hai bên về các vấn đề thương mại và biên giới kéo dàiđến năm 1833 thì lập trường cứng rắn của Anh mói dịu bớt trong bối cảnh Anh đã bắtđầu nản vì những vùng không mang lại đủ lợi lộc để bù đắp các chi phí cho lực lượngchiếm đóng

Tình hình nội trị Miến Điện

Trong lúc đó tình hình nội bộ triều đình Miến trở nên phức tạp vì những cuộctranh chấp giành quyền hành xảy ra Ngay khi nhà vua còn sống nhưng đã bất lực vìbệnh tâm thần Quyền hành lúc này tập trung vào tay hoàng hậu và anh bà Minthagyi

Sau khi Bagyidaw mất, em bà Tharrawady lên kế vị (1837 – 1846) sau khi đãdùng bạo lực trấn áp thẳng tay phe cánh Minthagyi Ông là người chủ trương chống lạiHòa ước 1826 Lo ngại, viên trú sứ người Anh là Henry Burney đã vội chuyển vềRangoon và từ đó gửi thư cho toàn quyền Ấn Độ đòi tiến hành cuộc chiến tranh phòng

Trang 6

ngừa chống Miến Điện Nhưng bức thư không được phúc đáp vì lúc này Anh đang bịcuốn hút vào cuộc chiến tranh tốn kém ở Afghanistan và cả ở Trung Quốc và bị vướngbận vào các hoạt động bình định vùng Sind và người Sikh

Tình cảnh của dân chúng dưới thời Tharrawaddy vẫn rất nặng nề, nông dân nổilên đấu tranh ở khắp nơi chống lại chế độ thuế má khắc nghiệt Năm 1838 có cuộckhởi nghĩa của người Môn, 1840 của người Shan, 1844 của người Karen Tình hình vẫnkhông có gì thay đổi dứơi triều vua Pagan Min (1946 – 53) Ông này chỉ dành đượcquyền bính sau khi đã cùng với ha mình vào nhà thương và giết hại những anh em nàomà ông xem là đối thủ nguy hiểm Pagan Min và những người thân cận đã tìm cáchbức hại những người dân khá giả để cưỡng đoạt của cải của họ Kết quả là trong hainăm trời, đã có hơn 6.000 người bị giết

Trong khi đó, chính quyền thực dân Anh ở Ấn Độ đã giải quyết xong vấn đềAfghanistan và quan điểm của những kẻ đòi biến Miến Điện thành một thuộc địa sinhlợi bằng cách chiếm toàn bộ miền Nam màu mỡ sản xuất gạo đã chiếm ưu thế trở lại.Nhân cơ hội quan tổng đốc tỉnh Pegu trong tháng 7 và tháng 8.1851 phạt hai thuyềntrưởng người Anh 1.000 rupi về tội trộm cắp và giết người, Anh đã phái đến Rangoonmột hạm đội dưới quyền chỉ huy của đô đốc Lambert Chiến tranh giữa hai bên bùngnổ

Chiến tranh Anh-Miến lần thứ hai (1952 – 53)

Đầu tháng 4.1853, quân Anh đánh chiếm Martaban, sau đó đến lượt Rangoon,Bassein, Pegu và Prome Khi mùa mưa bắt đầu, quân Miến phản công và chiếm lạiPegu và Prome Nhưng đây chỉ là những thắng lợi tạm thời vìo lần gây chiến này, Anhchuẩn bị rất chu đáo về trang thiết bị, quân sự, thuốc men và liên lạc, do đó Anh đãgiành được ưu thế tuyệt đối

Trong lúc tạm ngưng chiến chờ mùa khô, người Anh đã phải lựa chọn một tronghai phương án tiến hành chiến tranh: hoặc là chiếm toàn bộ Miến Điện, hoặc là chỉchiếm miền Nam như dự tính của toàn quyền Ấn Độ Dahousie Ông này tính toán rằngnếu để mất các tỉnh miền Nam, Miến Điện sẽ bị cắt lìa khỏi biển, bị tước mất khảnăng phát triển nông nghiệp và một dân số đáng kể, do đó sẽ bị biến thành một vươngquốc khép kín, không còn tiền đồ phát triển và như vậy có thể bị kết liễu bất kì lúcnào Vả lại việc khai thác, bóc lột và kiểm soát vùng miền Nam sẽ không đòi hỏi quánhiều hao tổn như vùng đồi núi Bắc Miến Điện nơi ngụ cư của những dân tộc hiếuchiến

Mùa thu 1852, sau khi chiếm lại Prome và Pegu, Anh quyết định sáp nhập luônvùng đất mới chiếm này tức miền Hạ Miến, tỉnh Pegu với các cảng trong đó cảngchính là Rangoon – vào những vùng đất đã chiếm được trước đó và mau chóng tổ chứcviệc cai trị và khai thác chúng Cuộc đàm phán hai bên kéo dài từ cuối tháng 3 đến

Trang 7

tháng 5.1853 không mang lại kết quả gì vì Anh không chịu từ bỏ những vùng mớichiếm

Cuộc cải cách của Mindon và Thibaw

Trong lúc đó nội bộ triều đình Miến Điện trải qua một biến cố lớn: mùa xuân

1853 được sự trợ lực của các quan trong triều, Mindon Min – em cùng cha khác mẹvới Pagan Min – đã truất phế ông này và chiếm ngôi vua

Mindon chủ trương giảng hoà với Anh để có thể tiến hành cải cách trong nước.Nhưng đường lối của ông vấp phải những khó khăn rất lớn Trước hết là người Anh từchối không chịu trả những vùng đất mới chiếm được, thứ nữa Miến Điện hầu như bị cắtđứt với thế giới bên ngoài bởi miền Nam đã bị Anh chiếm Nhưng trở ngại chính là sựchống đối của một bộ phận phong kiến có thế lực trong triều do Kanun Min, người cótham vọng soán đoạt ngai vàng, cầm đầu Do đó trong những năm kế tiếp trong chínhsách của Mindon nổi rõ tính chất mâu thuẫn Một mặt chính phủ của ông tìm cách lậpquan hệ với các nước khác, đã làm được một số việc để chấn chỉnh và phát triển kinhtế, nhưng mặt khác ông và những người ủng hộ ông lại không đám đánh bạo phá vỡquan hệ phong kiến trong nước, do đó các cải cách không mang lại kết quả mongmuốn

Có thể chia các cải cách của Mindon theo hai xu hướng: xu hướng thứ nhấtnhằm Âu hoá con đường du nhập kỹ thuật và phương pháp tổ chức đúc tiền, tổ chức hệthống liên lạc bằng điện tín, mua tàu chạy bằng hơi nước, lập xưởng dệt và sản xuất vũkhí, mời các chuyên gia kỹ thuật từ châu Âu đến, nhất là từ Pháp và Italia, gửi con emcác gia đình quý tộc sang châu Âu học, khuyến khích việc học ngoại ngữ nhưng có ýnghĩa hơn cả là xu hướng thứ hai: tiến hành những thay đổi trong cơ chế quản lý hànhchính và các quan hệ kinh tế-xã hội

Nhằm giới hạn ở mức độ đáng kể quyền hành của các quan tổng đốc và huyện,Midon đã tiến hành cho cải cách khác thuế khoá và tư pháp như: hủy bỏ chế độmyosade và thay bằng chế độ trả lương bằng tiền để hạn chế việc tham ô và phù lạmcủa các viên chức, phân biệt rõ ràng các loại toà án khác nhau, tách các vụ án dân sựkhỏi các vụ án hình sự, bổ nhiệm các viên chức tư pháp chuyên trách Ông còn banhành một sắc thuế điền thổ thống nhất gọi là thethemada dựa vào chỉ số năng suất củamột vùng nào đó nhân cho số hộ, nhưng không được quá 10% thu nhập của bất kìngười đóng thuế nào Chế độ nô lệ ở kinh đô bị xoá bỏ Năm 1885, nhà vua ban bổ đạodụ về ruộng đất và thuế ruộng đất, củng cố quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất

Những cải cách của Mindon và những người kế vị ông – Thibaw (1878 – 1885)– đã tăng cường đất nước, tập trung hơn nữa quyền hành trong nước, chỉnh đốn chínhsách đối với nông dân, nhưng tất cả đều không vượt quá khuôn khổ của các cơ chế đãtồn tại từ trước và do đó không thay đổi bản chất của chúng Hơn nữa, dù đã rất hạnchế, chúng vẫn gây ra sự chống đối trong giới hoàng thân quốc thích Năm 1866, họ đã

Trang 8

gây bạo loạn giết chết em của vua vốn được coi là người thừa kế ngai vàng nhưngkhông giết được Mindon, Bị thất bại, họ đã bỏ chạy vào vùng đất chiếm đóng của Anh

ở miền Nam

Mindon cố gắng thi hành một chính sách ngoại giao năng động là tìm kiếm bạnđồng minh trong cuộc chiến đấu chống thực dân Anh Ngay từ năm 1856 – 1857, cácphái bộ ngoại giao đã được phái sang châu Âu, nhưng trong khoảng thời gian này vị trícách biệt của Miến Điện chưa thu hút sự chú ý của các cường quốc châu Âu

Mối quan tâm đối với Trung Quốc – một thị trường bao la chưa bị cường quốcchâu Âu nào chiếm đoạt – đã lần nữa kích thích sự chú ý của giới thương nhân Anh đốivới Miến Điện Ngay từ năm 1860, phòng Thương mại Manchester (ManchesterChamber of Commerce) đã gửi cho chính phủ lời thỉnh cầu mở con đường bộMoulmein – Vân Nam dẫn đến Trung Quốc Với việc người Anh khống chế sôngIrranwaddy, một con đường bộ như vậy mang lại nhiều lợi lộc hơn là đường biển Cácthương nhân đã dấy lên chiến dịch bài xích Miến Điện trong báo giới Anh

Thương ước kí năm 1867 đã nhượng bộ Anh trong nhiều mặt Hàng hoá Anhđược giảm thuế, chính phủ Miến từ bỏ chính sách độc quyền xuất khẩu hầu hết cácmặt hàng, trừ gỗ teck, dầu lửa và ruby, cho phép viên chức Anh làm việc cho các cơquan thuế đoàn Nhượng bộ quan trọng nhất là đại diện thương mại Anh được đến hoạtđộng ở thành phố Bhamo ở miền Bắc, tàu Anh được di chuyển trên sông Irrawady quakhỏi Mandalay – kinh đô Miến Điện từ năm 1857 – và các nhà thám hiểm Anh đượcthăm dò con đường bộ từ Bhamo vào Tây Trung Quốc

Thương ước trên không thể thoả mãn những tham vọng những kẻ chủ trươngchiếm Miến Điện làm thuộc địa trong chính giới và thương giới Anh Đầu thập niên

1870, quan hệ giữa Miến Điện và Ấn Độ thuộc Anh mỗi ngày thêm khó khăn vì chínhquyền thực dân Anh ở Ấn, lo ngại trước đoàn thám hiểm của Pháp do Lagrée vàCarnier cầm đầu đã ngược dòng sông Mekong lên phía bắc trong những năm 1867 –

68, đã quyết đòi được chiếm Vân Nam của Trung Quốc

Ý thức được hiểm hoạ, năm 1872 Mindon đã phái sang châu Âu một đoàn ngoạigiao nhằm mua vũ khí nếu được và bằng mọi cách lập quan hệ ngoại giao, nhưng kếtquả thu lượm được là không đáng kể

Cuộc xung đột giữa Việt Nam và Pháp năm 1873 càng thúc đẩy Anh mau chónghành động Năm 1875, kế hoạch gây chiến đã được London soạn xong nhưng chưa thểmang ra thực hiện ngay được vì Anh đang bị vướng vào cuộc khủng hoảng ở Balkans,cuộc chiến tranh ở Afghanistan và cuộc chiến tranh Boer lần thứ hai ở châu Phi

Năm 1878, Mindon mất, con là Thibaw lên thay Kế tục đường lối đối ngoại của

Trang 9

thư gửi phó vương yêu cầu lập lại quan hệ ngoại giao, nhưng phái đoàn đạ bị chặn lại ởbiên giới Miến Điện mưu toan thắt chặt quan hệ với các cường quốc châu Âu khác,đặc biệt là với Pháp Thủ tướng Pháp là Jules Ferry đã hứa bán vũ khí cho Miến Điện

Trong lúc đó, tình hình nội trị rất u ám, Thibaw không đủ sức khống chế bahoàng hậu-mẹ vợ và phe đảng Họ đã tìm cách xoá bỏ những cải cách của Mindon vàđể cho tình trạng mua quan bán bước và tệ cướp bóc lan tràn

Chiến tranh Anh-Miến lần thứ ba (1885)

Tháng 10.1885, một cơ hội gây chiến đã đến với người Anh Chính phủ Miến đãbuộc tội và đòi phạt Công ty Thương mại Bombay-Miến Điện (Bombay-BurmaTrading Corporation) của Anh vì đã khai thác gấp đôi số lượng gỗ teck được phép Phóvương Ấn Độ lập tức gửi tối hậu thư cho Miến Điện, trong đó có chứa đựng yêu sáchđòi để Anh kiểm soát quan hệ đối ngoại của Miến

Không được thoả mãn, ngày 14.11 lính Anh vựơt biên giới và đánh chiếm phầnlãnh thổ còn lại của Miến Điện Dù đã tiến hành một số cải cách, Miến Điện vẫn chưađủ sức đương đầu với Anh Đúng hai tuần sau, Mandala bị thất thủ, Thibaw và hoànggia bị bắt đày sang Calcutta Ngày 1.1.1886, phó vương Anh ra thông cáo đặt MiếnĐiện dưới quyền cai trị của các quan chức người Anh và Miến Điện thành một tỉnh củaẤn Độ thuộc người Anh

Trong lịch sử chiến tranh Anh-Miến, đây là lần xung đột ngắn nhất và ít đổ máunhất, nhưng Anh đã phải tốn nhiều thời gian và công sức để bình định Miến Điện

Lúc đầu, Anh không đủ lực lượng để trấn áp phong trào kháng chiến nên phảicố phòng thủ bám giữ Mandalay và những trục lộ giao thông chính Trong hơn mộtnăm trời, sau khi Miến Điện bị sáp nhập vào Ấn Độ: tình hình quân chiếm đóng Anhtrở nên tồi tệ đến mức báo động Phong trào khởi nghĩa lan rộng đến tận Hạ Miến.Nhưng phía lực lượng kch không thống nhất được lực lượng và đề cử người ra cầm đầuchung Do đó những cuộc tiến công mãnh liệt của quân kháng chiến vào các thành thịtuy nhiều khi đã đánh bật được quân Anh ra khỏi đây, nhưng không làm lung lay đượcách thống trị của Anh Các lực lượng kháng chiến hoạt động rời rạc, do đó dù phongtrào kháng chiến có phát triển khắp các vùng đất Anh vừa chiếm được và thậm chí lanxuống cả Hạ Miến, thắng lợi của những người khởi nghĩa chỉ mang tính chất chiếnthuật Và với thời gian cơ hội thắng lợi của họ giảm dần vì lực lượng tăng viện đã đượcgửi đến không ngừng, đưa quân số Anh ở Miến Điện lên đến 4 vạn, tức gấp 4 lần lúcđầu Để đối phó, thực dân Anh còn khéo léo khai thác mối hiềm khích giữa dân tộc ítngười và người Miến Nhờ đó, Anh dần dần bình định được những vùng biên khu, nơi ởcủa người Karen theo đạo Công giáo, của người shan (1887-88), Kachin (1892), Chin(1895) Kết quả là phong trào kch của người Miến bị rơi vào tình trạng cô lập

Trang 10

Từ sau năm 1880, những người khởi nghĩa dần dần từ bỏ các mưu toan tìm cáchđánh thành thị, mà rút về hoạt động ở vùng nông thôn và rừng núi Cuộc chiến tranh

du kích những nơi này còn kéo dài đến giữa những năm 1890 mới bị dẹp yên

II CHẾ ĐỘ THỰC DÂN ANH Ở MIẾN ĐIỆN (1885 – 1917)

Những đổi thay về chính trị và xã hội ở Miến Điện thuộc Anh

Những điều kiện đặc biệt chung quanh giai đoạn cuối của chiến tranh Anh-Miếnđã khiến cho chính sách thống trị của thực dân Anh ở Miến Điện khác nhiều so vớichính sách cai trị gián tiếp, thông qua trung gian của phong kiến bản xứ mà nó thườngtheo đuổi ở những thuộc địa khác Ở Miến, chế độ này chỉ áp dụng được ở một số vùngsinh sống của các dân tộc ít người – Shan, Karen Còn trên phần lãnh thổ chính, nơisinh sống của khối dân cư đồng nhất về quan hệ dân tộc và văn hóa, tôn giáo thì khôngthể áp dụng chính sách cai trị gián tiếp Chỉ có một số ít phong kiến – Myothugyi làthuận ra công tác với chính quyền thực dân Dưới mắt người Anh, phần đông họ đángnghi ngại vì đã tham gia phong trào kháng chiến

Thậm chí Miến Điện cũng không được hưởng quy chế của một thuộc địa riênglẻ, mà phải trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh

Cũng như Hạ Miến, vùng Thượng Miến được chia thành một số tỉnh, mỗi tỉnhđược chia thành nhiều huyện Đạo luật làng xã Miến Điện (Burma Village Act) banhành 1899 đã xoá bỏ hệ thống hành chính cao cấp và trung cấp của phong kiến cũ –Myosa và Myothugyi, vốn là chỗ dựa của phong trào kháng chiến chống Anh, để chỉgiữ lại cấp làng xã do myo-ok cầm đầu Các myo-ok thường xuyên bị hoán đổi để họkhông quen thung thổ và dân cư địa phương và do đó không thể bám rễ ở đó Đạo luậtcòn đề ra chế độ trách nhiệm liên đới và bất kì hoạt động nào chống chính quyền thựcdân của dân làng

Cải cách hành chính trên đã phá vỡ ở mức đáng kể cơ cấu phong kiến của nướcMiến Điện cũ, và đứng trên bình diện này mà xét thì đây là bước tiến bộ Nhưng điềunày không có nghĩa là chế độ phong kiến đã bị tận diệt Cuộc cải cách đã sớm để lộbản chất thuộc địa của nó Địa chủ bị tước mất quyền hành, nhưng ruộng đất vẩn còn.Hơn thế nữa, chính quyền thực dân còn tích cực tạo điều kiện cho sự xuất hiện mộttầng lớp địa chủ mới, chủ yếu là những kẻ cho vay lãi – chettyar Ấn Độ Bọn này đãxây dựng thế lực của mình ở Hạ Miến bằng con đường tước đoạt ruộng đất của nhữngnông dân Miến mắc nợ Thông thường địa chủ không bỏ chút vốn liếng đầu tư nào, màchỉ biết thu hoa lợi của người nông dân – cấy rẽ canh tác trên đất của họ Năm 1814 ởHạ Miến, nông dân lĩnh canh đến hơn 1/3 đất đai

Tình cảnh của nông dân còn thêm khốn đón bởi chính sách khai thác lúa gạo

Trang 11

Ngay sau chiến tranh Anh-Miến lần thứ hai, bọn thực dân đã bắt đầu chuyểnmột phần đáng kể ruộng đất sang độc canh lúa Vai trò của Miến Điện như là vựa lúacủa đế quốc Anh tăng nhanh sau khi kênh đào Suez được khai thông năm 1869 Việcmở rộng diện tích trồng lúa, đặc biệt là ở khu vực sông Irrawady và những vùng triềnsông của Hạ Miến đã thu hút về đây hàng trăm ngàn lao động Năm 1856, Hạ Miến cógần 1, 5 triệu dân, đầu thế kỉ XX – hơn 5 triệu, và năm 1911 – trên 6 triệu

Năm 1914, diện tích trồng lúa ở Miến Điện lên đến 4 triệu ha So với năm 1870,số lượng gạo xuất khẩu của Miến Điện năm 1900 tăng gấp 4 lần, 1914: 10 lần

Nền kinh tế hàng hoá lúa gạo xuất hiện đã đòi hỏi thêm lao động, và chínhquyền thuộc địa đã giải quyết bằng cách khuyến khích nông dân Ấn di cư sang Miến.Chỉ tính riêng năm 1913 đã có đến 28 vạn người Ấn di cư sang đây

Khu vực kinh tế tiểu nông vẫn còn tồn tại, nhưng phải chịu ách bóc lột từ phíachính quyền thực dân qua con đường cho vay nặng lãi Theo đạo luật về lợi tức đất đai

(Land Revenue Act) ban hành năm 1876, "quyền chiếm hữu" có thể được dùng làm vật

đảm bảo cho việc cho vay mượn bằng cách trả một mức thuế đang kể trong một năm.nhưng hiếm có người nông dân khai phá đất mới nào có thể trụ được 12 năm để hưởngquyền sở hữu hoàn toàn Thường thường họ bỏ mất quyền sở hữu vào tay thương nhânTrung Quốc hay bọn cho vay nặng lãi – chettyar Ấn Độ, hoặc họ bị ăn cướp trắng trợnbởi những tên chủ đất giàu có

Tình cảnh khốn khó đã biến nông dân thành cơ sở quần chúng của phong tràogiải phóng dân tộc

Sự phát triển của nền nông nghiệp Miến Điện cũng gắn liền với những đặcđiểm của một nền kinh tế thuộc địa Hầu hết công nhân làm việc trong các nhà máyxay lúa, vận chuyển gạo, một số làm việc ở khu vực khai thác dầu lửa, gỗ và quặng.Năm 1899, theo các số liệu thống kê, số công nhân trong nước là 19.000 ; 1912 là50.700 Đặc biệt quan trọng của công nhân Miến Điện trong thời kì hình thành là đại

đa số là gốc người Ấn Thành phần chủ yếu là công nhân làm theo mùa và khôngchuyên nghiệp

Giai cấp quý tộc Miến Điện hầu như bị triệt tiêu trong thời chiến tranh và khángchiến, còn tư sản đang nẩy sinh không cạnh tranh nổi với tư sản Anh và tư sản Ấn Tuyyếu ớt, tư sản Miến Điện vẫn cố giành cho mình một chỗ đứng trong hoàn cảnh mới.Và những hoạt động chính trị đối lập hợp pháp đầu tiên là phát xuất từ chính tầng lớpxã hội này

PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC NẢY SINH VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 12

Chính sách trực trị đã khiến Anh không phải bận tâm đào tạo, dù là ở bất kì quymô nào, số viên chức Tây học bản xứ cho bộ máy hành chính thuộc địa Do đó muốngắn bó với trí thức các thuộc địa Tây Ban Nha và Pháp hoặc Mỹ

Do đặc điểm trên của giới trí thức Tây học, phong trào giải phóng dân tộc kiểumới ở Miến Điện không khởi đầu bằng đấu tranh chính trị hay vũ trang Mà là đấutranh tư tưởng gắn liền với việc báo cáo nền văn hóa, tín ngưỡng và tập quán dân tộc.Không giống như Việt Nam, những bước phát triển của phong trào giải phóng dân tộckiểu mới ở Miến Điện tương đối dè dặt và không gắn bó với các cuộc khởi nghĩa củanông dân (các cuộc khởi nghĩa của nông dân và của bộ phận phong kiến không chịukhuất phục diễn ra trong các năm 1906, 1907, 1910, 1912 )

Năm 1897, tổ chức đầu tiên bảo vệ Phật giáo ra đời ở Mandalay, với tên gọi

"Buddha Sasana Noggaha" (Hội Phật giáo) Không lâu sau đó, những tổ chức tương tựlần lượt xuất hiện ở thành phố khác: "Hội Asoka" ở Bassein năm 1902, "Hiệp hội phápgiáo" ở trường Đại học Rangoon năm 1094 Tổ chức toàn Miến đầu tiên – Hiệp hộithanh niên Phật giáo (Young Men's Buddhist Assocation – YMBA) – đã được thànhlập năm 1906 tại Rangoon

Thật ra tên gọi bảo vệ Phật giáo không phản ánh sát tình hình tôn giáo ở nướcMiến Điện thuộc địa Thực dân Anh không tính đến chuyện xâm phạm tự do tínngưỡng của dân Miến Điện và can thiệp vào công việc nội bộ của Phật giáo Ba thế kỉhoạt động của các đoàn truyền giáo ở Miến Điện chỉ mang lại những kết quả rấtkhiêm nhường, trừ một số vùng lãnh thổ của dân tộc thiểu số, chẳng hạn như của ngườiKaren Cho đến đầu thế kỉ XX, con số người Miến bỏ theo đạo Thiên Chúa không vượtquá vài trăm người Như vậy, đấu tranh bảo vệ quốc giáo chống ảnh hưởng của tôngiáo ngoại lai không thể nằm trong chương trình hành động của các tổ chức bảo vệPhật giáo nói trên

Vậy vấn đề thực sự nằm ở đâu ?

Trong số các thiết chế của nước Miến Điện phong kiến, chỉ còn sót lại một –cộng đồng Phật giáo, nhưng nó bị chính quyền thực dân tước đoạt nhiều ưu đãi – quyềnxử án, độc quyền giáo dục Do đó, Phật giáo mau chóng tìm được tiếng nói chung với

tư sản dân tộc, vì giai cấp phong kiến đã bị loại khỏi chính trường từ cuối thế kỉ XIX

Được đa số tuyệt đối dân trong nước tin theo, Phật giáo trở thành ngọn cờ duynhất có thể đoàn kết toàn thể dân cư trong nước không phân biệt giai cấp và dân tộc

Đoàn kết dưới khẩu hiệu "Trong sạch hoá Phật giáo" là bước khởi đầu của sự thống

nhất chống thực dân và cũng là đặc điểm của tình hình chính trị ở Miến Điện trongnhiều thập niên sau đó

Do tình hình phát triển rất chậm chạp và dè dặt của phong trào chống thực dân

Trang 13

tưởng dân tộc Phật giáo còn được giải thích bởi lý do nó để tâm đến quyền lơi tươngđồng của tất cả các giai cấp và tầng lớp trong xã hội Miến Điện mà nó tìm cách đoànkết trên cơ sở tôn giáo

Nhưng không thể nói đến khả năng vươn lên của những tư trào tiến bộ hơn nếumột phong trào toàn dân tộc lại được triển khai dưới ngọn cờ Phật giáo Đứng đầu mộtkhối quần chúng không được tổ chức chặt chẽ và phức tạp, những nhà dân tộc Phậtgiáo trong những nhiệm vụ giáo dục, cải cách, đề ra những khẩu hiệu chung chung,không đụng chạm đến một thành phần xã hội nào có tham gia phong trào

Khác với trí thức kiểu tư sản Việt Nam, các nhà lãnh đạo YMBA lúc bấy giờkhông nghĩ đến chuyện lập quan hệ với phong trào khởi nghĩa của nông dân Năm

1910, con số thành viên của YMBA là 7364 mà đa số là viên chức thuộc địa

Hoạt động của tất cả hội đoàn nói trên không vượt quá khuôn khổ của đường lốikhai sáng trung thành Tất cả đều đề ra nhiệm vụ phục hưng Phật giáo và giáo dụcnhân dân, nhấn mạnh đến sự cần thiết của nền giáo dục Âu hoá, nhưng chúng khôngnêu ra được một yêu sách chính trị nào Tuy nhiên, chính sự tồn tại của chúng đã thứctỉnh tư tưởng nhận thức dân tộc của người Miến và tạo điều kiện cho sự ra đời của tưtưởng giải phóng dân tộc

Nhìn chung, cho đến chiến tranh thế giới thứ Nhất, những người dân tộc Phậtgiáo còn vướng bận trong công tác tổ chức Để đối phó, chính quyền thực dân tìm cáchđào sâu thêm mâu thuẫn giữa các dân tộc, đặc biệt là giữa cộng đồng Karan-ThiênChúa giáo và cộng đồng Miến-Phật giáo Tại những vùng ngoại vi, nơi sinh sống củadân tộc ít người, các đoàn truyền giáo đã giành được nhiều kết quả và do đó, phongtrào dân tộc ở đây là không đáng kể Đó là lý do khiến cho chủ nghĩa dân tộc tư sản rađời như là biến cố thuần túy Miến và gắn bó với Phật giáo

Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ Nhất, yếu tố yêu nước ngày càng giữ vaitrò quan trọng trong các tổ chức dân tộc- Phật giáo

Dù ở xa chiến trường, chiến tranh vẫn ảnh hưởng sâu đậm đến tình hình trongnước Nhu cầu của Anh về các loại nguyên liệu chiến lược đã thúc đẩy công nghiệpkhai khoáng phát triển, đặc biệt là wolfram (chiếm 1/2 sản lượng của thế giới khi chiếntranh kết thúc), chì, thiếc và bạc Kinh tế phát triển không có nghĩa là tình cảnh củanhân dân lao động cả ở thành thị và nông dân được cải thiện Mâu thuẫn này là yếu tốkích thích sự phát triển của phong trào chiến thực dân Thêm vào đó là tác động củaphong trào cách mạng từ Ấn Độ sang

Cũng trong thời gian chiến tranh, hàng ngũ lãnh đạo YMBA trải quả một thayđổi rất sâu sắc: tại Hội nghị năm 1917, quyền lãnh đạo đã chuyển sang tay nhữngngười tiến bộ hơn thuộc thế hệ trẻ, đã học ở nước ngoài và do đó có cơ hội tiếp xúc vớinhững tư tưởng tiến bộ Với những người cầm đầu như U Pa Pe, U Chi Hlai thế hệ trẻchủ trương lấy hoạt động chính trị, chứ không phải hoạt động văn hóa, làm trung tâm

Trang 14

Hội nghị đã đưa ra những đòi hỏi như Miến hoá bộ máy hành chính dân sự bầu cử các

cơ quan lập pháp, quyền tự trị dân tộc rộng rãi, tách Miến khỏi Ấn Độ và thông quanhiều nghị quyết chứa đựng nội dung, chống thực dân như chống chính sách phân biệtđối xử trong ngành vận tải, chống việc giao ruộng đất vào tay người nước ngoài , đặcbiệt có một nghị quyết mà nội dung lúc đầu tưởng chừng không quan trọng: người Âukhông được mang giầy dép khi vào các chùa Phật giáo Nhưng như người ta thườngthấy, vỏ bọc tôn giáo ẩn giấu tư tưởng chính trị Những nhà lãnh đạo trẻ tuổi đã vạch

ra rằng lòng tự trọng dân tộc đã bị xúc phạm Kết quả là "vấn đề Miến" mau chóng trởthành vấn đề quan trọng, có khi gây ra những chấn động lớn lao Chính quyền Anh đãbuộc phải nhượng bộ

Sự kiện trên đã xảy ra ngay trước khi phong trào dân tộc ở Miến Điện chuyểnsang giai đoạn kế tiếp

Phong trào giải phóng dân tộc và các cải cách chính trị (1918 – 1922)

Kế hoạch của anh và phản ứng của quần chúng

Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ Nhất chấm dứt, ở Miến Điện đã diễn ramột phong trào chống thực dân trên quy mô cả nước

Lấy cớ rằng Miến Điện "thuộc về chủng tộc khác, đang ở trong giai đoạn phát

triển chính trị khác, và những vấn đề của nó hoàn toàn mang tính chất đặc thù", chính

quyền thống trị Anh đã loại nước này ra khỏi kế hoạch cải cách mang tên

Montagu-Chelmsford, hay còn gọi là "Đạo luật cai trị Ấn Độ", hoặc "Đạo luật Dyarchy" Chính

sách phân biệt đối xử này đã gây ra nỗi bất bình to lớn ở Miến Điện Nhiều nhà hoạtđộng dân tộc chủ nghĩa đã lên tiếng đòi Anh phải vừa tách Miến Điện khỏi Ấn Độ,vừa thi hành những cải cách cho phép người Miến tham gia nhiều hơn vào bộ máyhành chính Kế hoạch cải cách của thống đốc Miến Điện Charles Craddock hoàn toànkhông nói gì đến những cuộc bầu cử trực tiếp, chỉ những trưởng làng mới được đi bầu

So với kế hoạch Montagu-Chelmsford vốn đang gây ra những làn sóng chống đối ởẤn Độ, thì đây là một bước lùi

Ở Rangoon, đã diễn ra nhiều cuộc mít tinh quần chúng của những người đòi hỏicải cách Cánh tiến bộ trong YMBA xuất hiện ở khắp nơi

Phong trào đấu tranh chống thực dân ở Ấn Độ, trong đó có cả chính sách vàphương pháp đấu tranh của Đảng Quốc Đại, trong những năm đầu sau chiến tranh đãtác động mạnh mẽ đến phong trào chống thực dân ở Miến Điện Chính những ảnhhưởng này đã gây ra sự chuyển biến khá lý thú vào năm 1921 khi phong trào chuyển từmục tiêu đòi áp dụng sang chống những cải cách nằm trong kế hoạch Montagu-Chelmsford

YMBA chuyển thành GCBA

Trang 15

Trong quá trình đấu tranh trên, YMBA từ một tổ chức khai sáng tôn giáo chuyểnthành một tổ chức chính trị Tại Hội nghị đặc biệt được tổ chức vào tháng 9.1920,YMBA đổi tên thành Đại Hội đồng các Hiệp hội Miến Điện (General Council ofBurmese Assciation – GCBA) Hội nghị đã bác bỏ các kế hoạch Craddock, đề ra kếhoạch tẩy chay hàng hoá nước ngoài, không tham gia cuộc bầu cử các cơ quan trungương ở Ấn Độ và đòi trả lại số ruộng đất mà những kẻ cho vay nặng lãi người Ấn(chattya) đã tước đoạt của nhân dân Miến Tại Hội nghị, những người chủ trương duytrì YMBA như một tổ chức thuần túy khai sáng tôn giáo đã tách ra khỏi GCBA

GCBA đã ủng hộ cuộc "tẩy chay đại học" nổi tiếng mà sinh viên Đại họcRangoon đã tổ chức vào tháng 12.1920, vài ngày sau khi Đạo luật thành lập trường nàycó hiệu lực Khởi sự như là phong trào sinh viên chống lại chính sách tách trường đạihọc khỏi sinh họat chính trị, nâng cao trình độ thi hết lớp và không giành được một ưuđãi nào cho người Miến trong việc theo học bậc đại học, phong trào đã lan sang cáctrường phổ thông và mau chóng chuểyn thành phong trào chống thực dân rộng lớn –tẩy chay hàng hoá nước ngoài, nông dân từ chối nộp thuế, công nhân và viên chức bãicông – gây chấn động cả nước Mãi đến năm 1924, phong trào mới dứt hẳn Một tác

giả người Miến viết rằng tình hình chính trị trong những năm này là cả một "làn sóng

dân tộc chủ nghĩa, mạnh chưa từng thấy kể từ sau khi đất nước bị Anh chiếm".

Tình hình chính trị trên đã khiến Anh phải nhượng bộ Tháng 3.1921, dự luật vềviệc áp dụng chế độ "dyarchy" ở Miến Điện đã được đưa ra thảo luận ở Viện CôngHuân (tức Thượng viện) Anh, nhưng đã trễ Một số tu sĩ Phật giáo, do Ottama cầm đầu,đã lên tiếng đòi quyền độc lập hoàn toàn, còn cánh tả GCBA đưa ra yêu sách đòi đượctự trị trong khuôn khổ đế chế Anh Tháng 10.1921, Hội nghị bất thường GCBA đã

cả từ "trong khuôn khổ đế chế", như vậy yêu sách của cương lĩnh là đòi độc lập

hoàn toàn

Một mặt Anh tìm cách nhượng bộ, cho phép người chủ hộ được quyền bầu cửkhi đã đến 18 tuổi, không phân biệt chủng tộc, Hội đồng luật pháp được chuyển giaoquyền kiểm soát tài nguyên rừng; mặt khác, Anh trnah thủ lôi kéo những phần từGCBA ôn hoà nhằm phân hoá tổ chức này

Chính sách trên đã mang lại một số kết quả Tháng 9.1922, 18 thành viên củaBCHTƯ đã ly khai khỏi tổ chức nhằm tỏ thái độ phản đối nghị quyết tẩy chay cuộc bầucử đã được tiến hành trong tháng 11 Ngay sau đó, thêm 20 nhà hoạt động khác theo xuhướng ôn hoà đã rời khỏi tổ chức để thành lập đảng Dân tộc

Là tổ chức chính trị chính của Miến Điện trong những năm 1920, GCBA đã thunạp tất cả những đảng phái, tổ chức cá nhân riêng lẻ nào muốn đấu tranh cho quyềnlợi dân tộc Trong GCBA, có mặt cả nhiều tổ chức của người dân tộc xuất hiện ở vùngngoại vi Năm 1921, GCBA đã quy tụ được đến 2.000 tổ chức khác nhau Giống nhưSarekat Islam ở Indonesia, GCBA là một tổ chức rộng rãi nếu xét về quan hệ xã hội

Trang 16

Phần lớn thành viên của nó là nông dân Và cũng giống như Sarekat Islam, không thểcoi GCBA như là một mặt trận hay một khối gia nhập Tuy BCHTƯ GCBA chủ trươnggiới hạn ở những người hoạt động hợp pháp, đi theo đường lối đấu tranh bất bạo độngmô phỏng theo cách đấu tranh của Ghandi, nhưng các cấp địa phương đã không tuânthủ nghiêm ngặt đường lối này Họ đấu tranh đòi xoá bỏ nợ mà nông dân mắc phải củabọn cho vay nặng lãi, bãi bỏ thuế má Nhiều cuộc đấu tranh đã dùng đến cả hình thứcbạo lực: giết trưởng làng và các viên chức kiểm lâm

Phong trào bãi công

Một nét mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Miến Điện sau chiến tranh làcuộc bãi công Tháng 8.1928 diễn ra cuộc bãi công đầu tiên của công nhân bốc vácngười Ấn ở cảng Rangoon đòi tăng lương Năm 1919, nhân viên "Burma Oil company"

ở iền Trung Miến Điện cũng bãi công đòi tăng lương Điều đáng chú ý là cuộc bãicông lần này diễn ra trong ngành khai thác dầu – ngành công nghiệp nặng uy nhấttrong nước - cũng là ngành quy tụ số công nhân phần lớn là người Miến Trong nhữngnăm 1920- 1922, đã diễn ra không dưới 14 cuộc bãi công của công nhân với số ngườitham gia lên đến gần 35.000 Năm 1922, ở vùng mỏ đầu miền Trung đã xuất hiện mộttổ chức bất hợp pháp mang tên Liên hiệp Công nhân Miến Điện, quy tụ công nhânngười Miến và người Ấn Theo các tài liệu thì đây là tổ chức của những người cánh tảGCBA

Bước sang những năm 1922 – 23, cao trảo dân tộc đầu tiên ở Miến Điện suy yếudần, sau khi hàng ngũ GCBA bị chia rẽ quanh thái độ đối với việc áp dụng những cảicách Montagu-Chelmsford

II TÌNH HÌNH NỘI TRỊ TRONG NHỮNG NĂM 1930

Trong giai đoạn này không ghi nhận một biến cố chính trị nào lớn, nhưng dứơibề mặt bình lặng này là các đợt sóng ngầm đang được tích tụ để cho kịp trỗi dậy quậtphá chế độ thuộc địa Đó là nỗi bất mãn ngày càng lớn của mọi giai cấp và tầng lớp xãhội Miến Điện chống lại chế độ cai trị hà khắc của đế quốc Anh

Tình hình xã hội

Nông dân bị tứơc đoạt mất ruộng đất ngày càng nhiều Đến cuối thập niên 1920,phân nửa số ruộng đất của nông dân ở vùng châu thổ sông Irrawady rơi vào tay địa chủvà những kẻ cho vay nặng lãi, và phần lớn ruộng đất còn lại đang trong tình trạng bịcầm cố Bị thúc bách bởi thuế và nợ, nông dân đã phải bán lúa non cho địa chủ vànhững kẻ cho vay nặng lãi với giá rẻ mạt Khi bị mất mùa hoặc có chuyện cần tiêutiền, họ phải cầm cố hoặc bán đứt ruộng đất của mình Tình trạng khốn cùng là độnglực chính thúc đẩy nông dân tham gia ngày càng động vào các sinh họat chính trị vàcác phong trào chống thực dân

Trang 17

Đời sống công nhân cũng bị khó khăn không kém Trước hết giới chủ nhân đãlợi dụng làn sóng dân di cư từ Ấn Độ(1) tràn sang để hạ thấp tiền lương và sử dụng họnhư là công cụ phá các cuộc bãi công của công nhân Miến Điện Kết quả là phần lớncông nhân ở nước này là người Ấn Tình hình này khiến những công nhân bị phá sảnkhó lòng kiếm được việc làm ở thành thị và các nhà máy Sự khác biệt về nếp sống,ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa là những yếu tố phụ thêm làm cho hố ngăn cách giữahai cộng đồng này ngày càng lớn Thực dân Anh đã thâm độc khai thác yếu tố chủngtộc nay bằng cách tuyển mộ người Ấn làm cảnh sát, làm viên chức ngành đường sắt vàtrong các văn phòng Phần lớn giới thương nhân cũng là người Ấn Tất cả không thểkhông gây ra tính kỳ thị dân tộc nơi người bản xứ Và điều không thể tránh khỏi là mộtphần đáng kể nỗi bất mãn chống thực dân Anh đã bị hướng vào mục tiêu khác – chốngngười Ấn

Giai cấp tư sản dân tộc không cạnh tranh nổi với tư sản Anh và tư sản Ấn Họkhông có vốn và thiếu kinh nghiệm Tình trạng này đã khiến mối quan hệ giữa hai bênvốn đã không lấy gì làm tốt đẹp thì nay thêm căng thẳng

Ngoài ra trong những năm sau chiến tranh ở Miến Điện đã mau chóng xuất hiệntầng lớp trí thức viên chức Được đào tạo để phục vụ bộ máy hánh chính và một số cơquan chuyên môn, một bộ phận trí thức đã trở thành những người tích cực hoạt độngchính trị, không chỉ theo chiều hướng chiến thực dân mà còn tuyên truyền những tưtưởng xã hội, kể cả chủ nghĩa Mác

Tình hình chính trị

Kế hoạch cải cách Mongtagu-Chelmsford đã mang lại quy chế dyarchy choMiến Điện từ năm 1923 Theo đó, một hội đồng lập pháp gồm 130 thành viên ( trongđó có 79 người được bầu) được thành lập Hội đồng không có quyền hành thực sự, màchỉ là cơ quan tư vấn đơn thuần vì nó chỉ có quyền hạn hành chính trong các lĩnh vực:giáo dục, y tế, nông nghiệp và lâm nghiệp, còn các lĩnh vực then chốt như ngoại giao,quốc phòng nội an, thương mại, và tài chính vẫn thuộc quyền kiểm soát của thống đốc.Ngoài ra, những vùng ngoại vi, nơi cư ngụ của các dân tộc ít người, vẫn thuộc quyềncai trị trực tiếp của chính quyền thực dân Như vậy là chính sách cách ly người Miếnvới các dân tộc khác sống trong lãnh thổ Miến Điện vẫn được tiếp tục

Thâm ý của chính quyền thực dân khi lập ra Hội đồng lập pháp là để khai tháctính bảo thi và hãnh tiến của một vài thành viên nằm trong ban lãnh đạo GCBA và cộtchặt họ vào chế độ thuộc địa Thực sự là đã có một nhóm gồm có 21 nhà hoạt độngđiều đã tách ly khỏi tổ chức để thành lập đảng "Hai mươi mốt" (hay đảng Dân tộc),đảng đã tham gia Hội đồng lập pháp

1 () Cuối thập niên 1920, số người Ấn sinh sống ở Miến Điện đã lên đến 1 triệu người, tập trung ở những thành phố lớn và vùng phụ cận ở Hạ Miến

Trang 18

Trong giai đoạn này, GCBA nhìn chung vẫn tiếp tục đường lối tẩy chay Trongvòng vài năm, nó đã trở thành tổ chức quần chúng Năm 1923, GCBA quy tụ đến 8.000hiệp hội, trong đó Hiệp hội nhỏ nhất chỉ có 20 thành viên, lớn nhất: 500 Tuy nhiên nộibộ GCBA thường xuyên diễn ra các cuộc đấu tranh giữa những phần tử tiến bộ và ônhoà Năm 1935, GCBA bị phân rã thành hai cánh Một theo xu hướng ôn hoà-trung tâm

do U Chit Nlaing lãnh đạo Cánh kia có xu hướng tiến bộ theo Uso Tein, được sự hậuthuẫn của một nhóm giáo sĩ do U ottama và U Visar cầm đầu Cánh này đòi tăngcường sách lược tẩy chay và chuyển từ yêu sách đòi quy chế dominion sang yêu sáchđòi độc lập

Phong trào đấu tranh

Trong những năm 1924 – 1929, phong trào bãi công tiếp tục phát triển, đặc biệt

ở vùng mỏ dầu Trung bộ Miến Điện Các cuộc bãi công năm 1923 ở đây đã thu hút sựtham gia của 6.500 công nhân và kéo dài đến gần 5 tháng Đây là cuộc bãi công lớnnhất tính từ khi phong trào công nhân xuất hiện cho đến cuối năm 1930 Tuy nhiên,cuộc bãi công không thành công lắm Năm 1926, công nhân dầu mỏ lại bãi công, lầnnày số người tham dự khoảng từ 4.000 đến 10.000

Năm 1925, Đạo luật về công đoàn được ban hành để hợp pháp hoá hoạt độngcủa công đoàn Nhưng những công đoàn đúng nghĩa của nó chỉ xuất hiện trong thậpniên 1930

Trung tâm các cuộc đấu tranh ở Miến Điện vào giữa thập niên 1920 là làng mạc

ở nông thôn Lãnh đạo chúng là những nông hội cũ "Hội phủ định" hay bất cộng tác,

"Học kinh tế" Nông dân từ chối không nộp thuế, xem thường quyền lực của chínhquyền địa phương, đả kích xã trưởng, kiều dân nước ngoài (đặc biệt là những kẻ chovay nặng lãi người Ấn), phú hộ, chiếm đoạt tài sản của họ Một vài tổ chức của nôngdân còn đề ra cả yêu sách độc lập Năm 1924- 25, ở các huyện vùng Hạ Miến đã diễn

ra nhiều cuộc đấu tranh của nông dân mang tính chính trị Năm 1926 ở Thượng Miếncó cuộc khởi nghĩa lớn chống Anh dưới sự lãnh đạo của tu sĩ Phật giáo Năm 1927,phong trào phản kháng của nông dân Hạ Miến lại bùng lên

Trong các cuộc đấu tranh kể trên, tu sĩ Phật giáo đã thủ giữ vị trí rất quan trọng:người cổ võ và lãnh đạo

III NHỮNG NĂM KHỦNG HOẢNG KINH TẾ (1929 – 1933)

Tình hình kinh tế

Giá gạo – mặt hàng xuất khẩu chính mà việc trồng trọt và chế biến nó là nguồnsinh sống của hàng triệu gia đình nông dân – bắt đầu giảm sụt ngay từ đầu năm 1926.Vào giữa những năm 1920, giá 100 thùng thóc từ 180 đến 200 rupi cuối năm 1929giảm xuống còn 160, năm 1930 – 130 và tháng 6.1931 – 64 Trong khi đó, chỉ cần giá

Trang 19

gạo sụt đến mức 150 rupi là đủ để người nông dân bị khánh kiệt Và đó là giá ở thịtrường Rangoon Ở nông thôn, tình trạng bi thảm đến mức khó tưởng tượng ; 100 thùnggiá chỉ khoảng 10 – 15 rupi Hậu quả là ruộng của hàng trăm ngàn nông dân bị lọt vàotay địa chủ – những kẻ cho vay lãi Từ năm 1936, diện tích của nông dân có ruộng bịgiảm từ 7,6 xuống còn 6,3 triệu acres, còn của địa chủ tăng từ 3 lên 4,5 triệu acres.Trong những năm 1930 – 34, nông dân mất hàng trăm ngàn acres Đến cuối thời kìkhủng hoảng, những phần ruộng đất tốt nhất ở Hạ Miến đã lọt cả vào tay bọn chettyar.

Gắn liền với cuộc khủng hoảng là nạn thất nghiệp lan tràn trong công nghiệp Nếu trước kia, giới công nhân người Ấn-lương thấp, công nhân bến cảng, cu li khôngphải đương đầu với sự cạnh tranh từ phía công nhân Miến, thì bây giờ họ phải đấutranh để giành giựt ngay cả những việc làm được trả lương rất ít Tình trạng này tấtlàm cho mối ác cảm dân tộc tăng lên

Cuộc khởi nghĩa Saya San

Chiếm vị trí nổi bật trong tình hình những năm khủng hoảng kinh tế là cuộc khởinghĩa của nông dân trong những năm 1930 – 32 diễn ra với một quy mô lớn hơn cuộckhởi nghĩa tương tự ở các nước Đông Nam Á láng giềng Bên cạnh đó, còn có các cuộcđấu tranh chính trị hợp pháp kéo dài trong suốt một thời gian khá lâu, quanh quy chếhiến pháp của đất nước và quan hệ với Ấn Độ Những năm khủng hoảng kinh tế cònchứng kiến sự tan rã của các lực lượng chính trị cũ và sự ra đời của những lực lượngchính trị mới

Cuộc khởi nghĩa nông dân Saya San (hay còn gọi là cuộc khởi nghĩaTharawaddy), 1930 – 32 đã được tổ chức và trù tính trước đó hẳn hoi Lãnh tụ của cuộckhởi nghĩa này là Saya San, vốn là thành viên của GCBA nhưng hoạt động trong cánhtả tiến bộ do Uso Tein cầm đầu Ông được giao phụ trách Ủy ban điều tra tình cảnhcủa nông dân Sau một thời gian, ông kết luận rằng nông dân đã sẵn sàng kiến nghị,nhưng ban lãnh đạo GCBA chưa muốn vượt quá khuôn khổ của những hoạt động phảnđối ôn hoà như mít tinh, biểu tình, tẩy chay và đưa thỉnh nguyện thư Thất vọng, ông đãrút khỏi GCBA để thành lập một hội bí mật riêng, mang tên Galon (hay Garuda)(2), dựavào các hội nông thôn đã có sẵn để hoạt động

Nét khác biệt giữa cuộc khởi nghĩa lần này và những cuộc khởi nghĩa trước đólà tính tổ chức khá cao của nó – biểu hiện qua sự hiện diện của một tổ chức lãnh đạotrung tâm và những yêu sách chính trị của họ – lật đổ ách thống trị ngoại bang vàgiành lại độc lập, bên cạnh những yêu sách khác như: xoá bỏ những sắc thuế bất công,sử dụng tự do nguồn tài nguyên rừng để phục vụ nhu cầu của những người dân, ruộngđất Đây là một cuộc chiến tranh nông dân thực sự, diễn ra trên quy mô cả nước

2 () Theo thần thoại Miến Điện, Galon là con chim thần trong một trận giao chiến sống mái đã giết chết con rồng Naga Người Miến coi Galon là tượng trưng cho người yêu nước đấu tranh chống ách thống trị ngoại bang, tượng trưng bởi con rồng Naga

Trang 20

Khởi đầu vào ngày 22.12.1930, ở làng Tharawaddy, nơi yêu sách đòi giảm thuếcủa nông dân bị bác, cuộc khởi nghĩa mau chóng lan sang các vùng khác ở Hạ Miến vàThượng Miến

Chỉ được vũ trang bằng những vũ khí thô sơ, những người khởi nghĩa đã sử dụngchiến thuật du kích Họ đã tiến công các làng mạc, tìm đốt sanh sách những ngườithiếu thuế, xáo bỏ sổ nợ, tịch thu tài sản của những kẻ giàu có, đặc biệt là của cácchettyar Ấn Độ Họ còn phá cầu, đường, nhà ga

Tuy không được sự trợ giúp trực tiếp của các tầng lớp giai cấp khác, cuộc khởinghĩa đã thu phục được tình cảm của quảng đại quần chúng và quy mô phát triển củanó đã làm cho bọn thực dân lo lặng Chúng đã điều thêm quân đội từ Ấn Độ sang đểtrấn áp phong trào Trang bị vũ khí thô sơ, không có những nhà chỉ huy quân sự giàukinh nghiệm, địa bàn hoạt động quá rộng lớn đã làm cho việc thống nhất chỉ huy khóthực hiện được, tuy cuộc khởi nghĩa được chỉ đạo bởi một trung tâm duy nhất Tất cảnhững nhược điểm này đã khiến những người khởi nghĩa khó cầm cự lâu dài trước cácđạo quân thực dân được trang bị tốt và được chỉ huy chặt chẽ

Năm 1931 lãnh tụ Saya San bị giết hại, nhưng đến cuối năm 1932 cuộc khởinghĩa mới bị dập tắt Tìm hiểu những nguyên nhân khiến cuộc khởi nghĩa thất bại, cóthể kể đến ưu thế về vũ khí của lực lượng trấn áp, trình độ còn yếu kém về tổ chức vàphối hợp hoạt động của lực lượng khởi nghĩa, người dân thành thị trực tiếp ủng hộnhững cuộc khởi nghĩa

Tuy bị thất bại, cuộc khởi nghĩa 1930-32 đã là biến cố lớn có tác động thức tỉnhtinh thần dân tộc nơi người dân Miến và cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu chonhững cuộc đấu tranh khác

GCBA bị phân hoá

Tình hình các lực lượng của phong trào giải phóng dân tộc Miến khá phức tạp.Thành phần đa dân tộc trong giai cấp công nhân và chính sách phân biệt đối xử củachính quyền thuộc địa đã gây ra tệ chia rẽ trong công nhân mà biến cố trầm trọng nhấtlà cuộc xung đột ở đảng Rangoon vào tháng 5.1930 giữa công nhân người Miến vàcông nhân người Ấn làm cho gần 3.000 người chết và bị thương Hàng ngũ các tổ chứcdân tộc hàng đầu cũng trải qua những chuyển biến lớn, đáng kể nhất là năm 1929thêm một cách GCBA nữa tách ra sinh họat riêng, do Usu cầm đầu Như vậy là có tấtcả 3 tổ chức GCBA được gọi theo tên các lãnh tụ của họ – U Chit Hlaing, U So Tein vàUsu Năm 1930, hội viên của 3 tổ chức này vào khoảng từ 1,5 đến 2 triệu Do hao phínhiều thời giờ vào những cuộc đấu tranh nội bộ, không một cánh nào giành quyền lãnhđạo phong trào dân tộc dù GCBA là tổ chức chính trị lớn nhất của phong trào dân tộc

Trang 21

Đó là chưa kể một số lãnh tụ của GCBA đã theo đuổi lập trường ủng hộ việc táchMiến Điện khỏi Ấn Độ(3).

Khi phong trào nông dân Saya San nổ ra, cánh GCBA của U Chit Hlaing bịchính quyền thực dân cấm hoạt động vì nó ủng hộ cuộc khởi nghĩa Đến những năm1930-32, hai tổ chức GCBA còn lại cũng mất dần uy tín trong nhân dân vì chúng từ bỏđường lối đấu tranh quần chúng Cuối năm 1932 đầu năm 1933, các tổ chức GCBA coinhư bị biến mất khỏi chính trường

Thời kì GCBA qua đi, kết thúc một giai đoạn phát triển của phong trào giảiphóng dân tộc – giai đoạn chưa bị phân hoá và chia cắt So với Indonesia, thời kì mớiđến chậm hơn khoảng chục năm, nhưng lại diễn ra gần như đồng thời với các nướcĐông Nam Á – lục địa

DOHBAMA ASIAYONE

Tương ứng với thời kì mới trong phong trào giá trị dân tộc là những tổ chứcchính trị mới Đứng đầu số này là Dohbama Asiayone (Hiệp hội Miến Điện của chúngta), xuất hiện năm 1930 ở Rangoon Lúc đầu, đây là một nhóm nhỏ gồm những nhà tríthức yêu nước, có trình độ học vấn đại học, nuôi quyết tâm giành lại độc lập cho đấtnước từ tay ngoại bang Thành viên của nhóm gọi nhau bằng "thakin" (ông chủ nhằmtỏ cho thấy chính người Miến, chứ không phải là người nước ngoài, là chủ nhân thực sựcủa Miến Điện Về sau, từ "thakin" gắn liền vào tên những thành viên của tổ chức

Những người Thakin mạnh mẽ lên án chủ nghĩa cơ hội và thói bảo thủ của banlãnh đạo GCBA và của những chính đảng đương thời Cương lĩnh chính trị của họ khác

hẳn cương lĩnh của những chính đảng cũ trước đó Chẳng những họ khẳng định: "Miến

Điện là nước chúng ta, tiếng Miến là tiếng của dân tộc ta Đã yêu tổ quốc thì phải tôn trọng tiếng nói của mình" và kêu gọi từ bỏ "nếp suy nghĩ phân biệt chủng tộc", mà còn

kêu gọi thực hiện sự bình đẳng giữa người Miến và các dân tộc khác So với thế hệnhững nhà hoạt động chính trị trước dó vốn chỉ dừng lại ở yêu sách "tự trị" dưới sự đỡđầu của Anh, người Thakin đã đòi quyền được độc lập hoàn toàn Nhưng tư tưởng củahọ rất phức tạp Đầu tiên họ chịu ảnh hưởng của các nhà tư tưởng khác nhau ở phươngĐông lẫn phương Tây như Rousseau, Garibaldi, Tôn Dật Tiên, Gandhi, Nierzsche,Fichte, những tác giả thuộc phong trào Sinn Fein ở Ireland Họ đặc biệt chú ý đếnnhững tư tưởng, học thuyết nào đối với họ có vẻ như "cách mạng" và có thể mang raáp dụng cho cuộc đấu tranh giải phóng ở Miến Điện Một số người, trong nửa sau thậpniên 1930, vì những lý do thực tiễn và chiết trung, đã đi theo tư tưởng của Mussolini,Hitler; tuy nhiên, điều này hoàn toàn không có nghĩa là họ chấp nhận hệ tư tưởng phátxít và Quốc xã Họ còn coi Nhật Bản là tấm gương cần noi theo và tỏ ra tin phục nướcnày Một số khác lại chọn chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là chủ nghĩa Marx, vốn ảnh

3

Trang 22

hưởng nhiều đến tư tưởng của những người Thakin, là nền tảng tư tưởng cho các cươnglĩnh chính trị của họ

Trong những năm 1930-32, hoạt động của những người Thakin còn giới hạntrong khuôn viên trường đại học Rangoon Từ năm 1933-34, họ bắt đầu "đi vào nhândân", tiến hành các cuộc hội họp nhằm vận động tuyên truyền cho mục tiêu đánh đuổithực dân Anh giành lại độc lập dân tộc

Vấn đề Miến Điện

Một vấn đề gây sôi động chính trường Miến Điện trong những năm cuối thậpniên 1920 – đầu thập niên 1930 là vấn đề tách hay không tách khỏi Ấn Độ Thực dânAnh muốn tách Miến Điện khỏi Ấn Độ để thành một thuộc địa riêng lẻ vì sợ tình hìnhchính trị ở Miến Điện chịu ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ và vì

tư bản Ấn Độ bắt đầu trở thành kẻ cạnh tranh đáng gờm của tư bản Anh trên thị trườngMiến Điện

Hội nghị bàn tròn họp cuối năm 1930 đã thông qua kế hoạch của Anh tách MiếnĐiện khỏi Ấn Độ Nhưng đa số các nhà hoạt động chính trị dân tộc chủ nghĩa MiếnĐiện không tán đồng kế hoạch này vì nó đặt phong trào đấu tranh giải phóng dân tộcMiến Điện một mình đối mặt với chính quyền thuộc địa và vì kế hoạch này đặt ngườidân Miến trước sự lựa chọn sau: hoặc là tách khỏi Ấn Độ trên cơ sở bản hiến phápthuộc địa mà chính quyền thuộc địa đã đưa ra, hoặc là một bộ phận của Ấn Độ vàtrong tương lai không có quyền tách ly Các nhà hoạt động chính trị dân tộc chủ nghĩaMiến không đồng tình với giải pháp này của Anh vì điều mà họ muốn là việc táchMiến Điện khỏi Ấn Độ phải đi kèm với những cải cách về hiến pháp mà ít ra khôngđược kém những cải cách đang được thực hiện ở Ấn Độ

Cuộc bầu cử Hội đồng lập pháp tháng 11.1932 đã mang lại đa số cho Liên minhnhững người chống ly khai do Ba Maw cầm đầu Ông này được nổi tiếng trong nhândân nhờ là luật sư biện hộ cho Saya San Tuy nhiên, khi vào được Hội đồng, Ba Mawđã thay hẳn lập trường ban đầu Trên lời nói vẫn tiếp tục chủ trương chống ly khai, BaMaw cũng như một số lãnh tụ khác của GCBA, đã lén lút đặt quan hệ với chính quyềnthực dân và đấu tranh giành quyền bính trong hội đồng

Thấy không thể giao việc giải quyết vấn đề ly khai cho Hội đồng lập pháp mớiđược bầu ra, Anh đã chủ trương để Quốc hội chính quốc làm việc này Xét thấy khôngthể làm gì hơn, các đại biểu của Hội đồng lập pháp đành cma chịu nhận bản Hiến pháp

thuộc địa năm 1935 vốn sẽ có hiệu lực từ ngày 1.4.1937 dưới tên gọi "Đạo luật năm

1935 về cai trị Miến Điện"

Theo Hiến pháp này, quyền lực của toàn quyền còn rất lớn Ông ta trực tiếp caitrị vùng ngoại vi, nơi cư ngụ của các dân tộc ít người, kiểm soát các vấn đề quốc

Trang 23

phòng, ngoại giao và tiền tệ Ông ta có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp nếu quyềnlực của chính quyền thuộc địa bị đe dọa Ông ta được chỉ định một nửa số thành viênThượng viện, còn nửa kia do Hạ viện bầu ra Quốc hội không có quyền mang ra bàncãi những ưu đãi về Hiến pháp mà toàn quyền được hưởng Hội đồng bộ trưởng phảiđược toàn quyền thông qua và chịu chịu trách nhiệm trước Quốc hội về mặt hình thức

IV CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA DOBMAMA ASIAYONE (1934 – 39)

Trong các giai đoạn này, Dobmama Asiayone thủ giữ vai trò hàng đầu trongphong trào giải phóng dân tộc nhờ trước đó cánh dân chủ cách mạng đã được củng cốvà giành được ảnh hưởng lớn lao trong giới trí thức yêu nước, trong nông dân và côngnhân

Năm 1935, những người Thakin cánh tả đã thành lập "Hiệp hội viên chức ngànhdầu lửa", tiến hành công tác vận động và tuyên truyền trong công nhân Họ đã quy tụđược nhiều tổ chức công đoàn dầu lửa Những người Thakin cánh tả còn giành đượcảnh hưởng đáng kể trong nông dân Ảnh hưởng này ngày càng tăng của cánh tả đã chophép năm 1938 gây cánh hữu ra ngoài Aung San, lãnh tụ xuất sắc của những ngườiThakin, trở thành bí thư của đảng

Năm 1935, lực lượng yêu nước tiến bộ giành được ảnh hưởng quyết định trongLiên hiệp Sinh viên đại học Rangoon: Thakin Nu (Sau này đổi là U Nu) trở thành chủtịch, Aung San, và nhiều người khác nằm trong ban chấp hành Tháng 2.1936, Thakin

Nu, Aung San bị sa thải khỏi trường vì đã chỉ trích chính quyền thuộc địa Ngày 25,sinh viên đã quyết định bãi khoá đòi dân chủ hoá hệ thống giáo dục, thu dụng lạinhững người bị sa thải, họ còn kêu gọi học sinh các trường học trong nước ủng hộ.Ngay sau đó, hưởng ứng lời kêu gọi này, sinh viên học sinh của hầu hết các trường họctrong nước đã bãi khoá suốt 3 tháng l iền

Đây là cuộc đấu tranh có quy mô toàn quốc và thu hút sự ủng hộ của nhiều tầnglớp xã hội, kể cả những người dân tộc ôn hoà ; nhờ đó nó đã góp phần củng cố lựclượng chống đế quốc dưới quyền lãnh đạo của Dohbma Asiayone Ngày 10.5, cuộc bãikhoá đã giành được thắng lợi: những người bị sa thải được thu dụng trở lại, đại diệnHội liên hiệp sinh viên được tham gia Hội đồng Nhà trường Khi cuộc bãi khoá chấmdứt, Hội liên hiệp sinh viên toàn Miến Điện đã được thành lập, quy tụ 35 tổ chức sinhviên trong nước với các mục tiêu: phục hồi quốc gia Miến, giáo dục thanh niên trongtinh thần thống nhất dân tộc, Aung San được bầu làm chủ tịch Trong giới sinh viên, tưtưởng và sách báo xã hội chủ nghĩa bắt đầu được phổ biến, các lãnh tụ sinh viên đã bắtđầu làm quen với lịch sử cách mạng Nga và với hoạt động của các nhà cách mạng ởẤn Độ và Trung Quốc và nhận thức rõ ràng con đường cứu quốc không thể đi ngangqua Hội đồng lập pháp hay bằng những cuộc đấu tranh tự phát của nông dân

Trang 24

Cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức theo Hiến pháp mới diễn ra trong tháng11.1936 đã mang lại 46 ghế cho "Liên minh ngũ sắc" của giới thượng lưu tư sản địachủ do UBND Ba Pe cầm đầu theo xu hướng cải cách và 16 ghế cho đảng "Ngườinghèo" (Sinyetha) của tư sản dân tộc, nhóm GCBA cũ được 12 ghế, những ngườiThakin được 3 ghế Do "Liên minh ngũ sắc" bất đồng trong việc lập chính phủ mà BaMaw – thủ lĩnh đảng "Người nghèo" được giao làm việc này Ngày 1.4.1936, MiếnĐiện chính thức tách khỏi Ấn Độ

Tất nhiên, chính phủ Ba Maw không có quyền lực nhiều và cũng không có tácdụng xoa dịu mâu thuẫn giữa dân tộc Miến Điện và chính quyền thuộc địa

Cuối năm 1937, những nhà trí thức tiến bộ trong và ngoài Dohbma Asiayone đãthành lập ở Rangoon Câu lạc bộ sách báo Nagani (Con Rồng Đỏ) Đó là nơi tranh luậnvà truyền bá những quan niệm xã hội chủ nghĩa và yêu nước Đó cũng là trung tâm inấn và phổ biến các tài liệu mácxít và của các tác giả tiến bộ người Miến

Cuối những năm 1930 ở Miến Điện đã xuất hiện các nhóm mácxít đầu tiên Cácvấn đề liên quan đến đấu tranh giai cấp, phong trào công nhân và mặt trận thống nhấtchống đế quốc được bàn cãi công khai trên báo chí Những người mácxít chủ trươngthống nhất những người xã hội chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa khác nhau trên cơ sởcương lĩnh yêu nước chung Dohbma Asiayone mau chóng trở thành tổ chức lãnh đạocác cuộc biểu tình lớn bao gồm nhiều thành phần xã hội, là trung tâm biến các cuộcđấu tranh chống đế quốc thành phong trào toàn dân tộc được tổ chức tốt Đó chính làbước đầu của Mặt trận Thống nhất chống đế quốc

Tình hình kinh tế trong nước góp phần không ít vào thành quả của những ngườiThakin

Trong những năm 1930, nông dân bị phá sản nhiều vì cuộc khủng hoảng kinh tế.Từ năm 1928-29 đến năm 1938-39 số ruộng đất của địa chủ tăng lên 75 Cuối thậpniên 1930, địa chủ nắm 6,5 triệu trong tổng số 19,4 triệu acres Ngoài việc bị mấtruộng đất, nông dân còn mắc nợ rất nhiều Năm 1930, tổng số nợ của nông dân lênđến khoảng 4 triệu sterling Theo báo cáo của Ủy ban Điều tra ngân hàng tỉnh MiếnĐiện thì chỉ có 14% những người làm nông nghiệp ở Miến Điện là không bị mắc nợ vàcó đủ lợi tức sống đến vụ mùa sau

Tình cảnh của giai cấp công nhân trong những năm này cũng không kém phần

bi đát Việc tổ chức công nhân gặp nhiều khó khăn do cấu trúc dân tộc của nó rất phứctạp Ở cảng và các nhà máy đa số công nhân là người Ấn, còn lao động ở các nhà máychế biến gỗ và ở các khu hầm mỏ là công nhân các dân tộc ít người, người Ấn vàngười Miến chiếm 36,7%; người Ấn: 58,4%; còn trong giới công nhân không lành

Trang 25

Từ giữa thập niên 1930, những người Thakin rất chú ý đến công tác vận độngchính trị trong giới công nhân dầu lửa Cuối năm 1937, một số đã được tổ chức thànhcông đoàn: Đại hội công nhân ở Enajan quy tụ 1500 công nhân, Liên hiệp công nhântập hợp gần 4.000 Từ tháng 12.1938 đến tháng 1.1939, công nhân mỏ dầu ở Chauk đãđình công, hơn 1000 công nhân đã đi bộ trên 500 km để đến Rangoon đưa yêu sách.Dọc đường, họ được nhân dân vùng Hạ Miến giúp đỡ và tiếp tế lương thực Cùng lúcđó, 2 vạn nông dân từ vùng Hạ Miến cũng kéo đến Rangoon vào ngày 8.1.1939 Tuycuộc đấu tranh không thành công, nhưng hậu quả chính trị của nó rất lớn Nó đã thu hútđược nhiều tầng lớp nhân dân khác nhau và nhất là đã gây ra làn sóng đấu tranh mạnhmẽ trong cả nước

Thất bại của cuộc tuần hành đặt ra nhu cầu thành lập một tổ chức quần chúnglao động cho cả nước Ngay từ tháng 1.1939, dưới sự lãnh đạo của Dohbma Asiayone

"Tổ chức nông dân toàn Miến Điện" (All Burma Peasants Organisation – ABFO) đãđược thành lập Tổ chức đã để ra cương lĩnh đòi độc lập hoàn toàn, xoá bỏ quyền sởhữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu của nhà nước đối với tất cả đất đai,xây dựng một chính phủ xã hội chủ nghĩa Cũng trong tháng 1 vào ngày 9, một cuộcmít tinh của những người thợ mỏ dầu đình công ở Rangoon đã bầu ra Ủy ban trù bị Ủyban được giao trách nhiệm chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập một trung tâm công đoàncho cả nước Tổ chức này mang tên "Đại hội liên hiệp Công đoàn toàn Miến Điện"(All Burma Trade Unions Congress – ABTUC) sẽ chính thức hoạt động một năm sauđó, tháng 1.1940

Nhiều vị trí quan trọng trong ABPC và ABTUC nằm trong tay những lãnh tụThakin

Đầu năm 1933 còn diễn ra cuộc biểu tình lớn của giới tu sĩ và tín đồ Phật giáo.Ngày 10.2, có đến 17 người tham dự bị tử thương vì hành động trấn áp thẳng tay củachính quyền () Ở nhiều thành phố khác, nhân dân lao động đã xuống đường hoặc bãicông để tỏ tính ủng hộ Sinh viên cũng bãi khoá Những biến động chính trị này làmcho sinh họat trong nước bị tê liệt Trước tình cảnh này, chính quyền thuộc địa đã buộc

Ba Maw từ chức, nhường chỗ cho U Bu

Chính sách cai trị kiên quyết nhưng cũng biết mềm dẻo đúng lúc của thực dânAnh, trình độ giác ngộ chính trị và tổ chức còn thấp của các lực lượng yêu nước đã cảntrở sự phát triển hơn nữa của phong trào đấu tranh mùa xuân 1939 Đến giữa năm

1939, phong trào công nhân và nông dân lắng hẳn xuống Một bộ phận tư sản và tríthức thành thị tự huyền hoặc bằng niềm tin rằng việc thay đổi chính phủ Ba Maw làmột thắng lợi cho phép ngừng cuộc đấu tranh Thất bại của phong trào mùa xuân 1939đã làm sút giảm uy tín của những người Thakin

Trang 26

Tuy vậy, phong trào đấu tranh chống đế quốc trong những năm 1938-39 đã chothấy rõ lực lượng công nhân đã vươn lên hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống áp bứcvà bóc lột thuộc địa Tính tổ chức của phong trào tăng lên Tiền đồ cho sự ra đời củaMặt trận Dân tộc Thống nhất chống đế quốc đã xuất hiện đầy đủ

Diễn tiến của phong trào nói trên đã để lộ những thiếu sót không nhỏ của cáclực lượng chống đế quốc Không một tổ chức chính trị nào trong nước sẵn sàng nắm giữvai trò lãnh đạo và đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thắng lợi Ngay cả hoạtđộng của người Thakin, vốn là những đối thủ triệt để nhất của chính quyền thuộc địa,cũng chưa được tổ chức đầy đủ và có quy mô đủ rộng để tập hợp các lực lượng yêunước khác Hơn nữa, Dohbma Asiayone không có một cương lĩnh và chương trình hànhđộng rõ ràng Đó vẫn là một tổ chức dân tộc chủ nghĩa: mọi lãnh tụ của nó dù là cánhtả theo xu hướng dân tộc hoặc những xu hướng khác, đều được ràng buộc với nhau chỉbởi một mục tiêu chung là lật đổ ách thống trị của thực dân Anh và giành độc lập chomục đích Do đó, họ không đạt được sự nhất trí bền vững nào về sách lược đấu tranh.Thấy phương sách đấu tranh hòa bình không thành công, một bộ phận gồm cánh hữu,cánh trung tâm và cả một số người cánh tả, đã tính đến khả năng chuyển sang phươngpháp đấu tranh vũ trang , và họ đã mưu tìm vũ khí giúp đỡ về quân sự từ phía Nhật Ýthức không đầy đủ về hiểm hoạ phát xít, họ toan tính lợi dụng mâu thuẫn Anh, Nhật.Năm 1939, họ đã bí mật thành lập đảng Nhân dân Cách mạng Giới tư sản, tiểu tư sảnvà cả một bộ phận nhân dân lao động đã chịu ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyềnchủ nghĩa dân tộc quá khích thân Nhật của họ

Cũng trong năm ra đời của Đảng Nhân dân Cách mạng, ngày 15.8, Đảng Cộngsản Miến Điện đã được thành lập, bản tuyên ngôn nói rõ rằng Miến Điện là nướcthuộc địa, nửa phong kiến phải trải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dântộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải được tiếnhành chủ yếu bằng phương pháp bạo lực Đảng đã đề ra đường lối thành lập một mặttrận thống nhất chống đế quốc nhằm giải quyết nhiệm vụ của giai đoạn một cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị thực dân

Trong số những khó khăn chính của đảng Cộng sản non trẻ khắc phục là nhữngquan điểm dân tộc tiểu tư sản vẫn được duyt rì ngay trong hàng ngũ ban lãnh đạo ()

Do những điều kiện đặc thù lúc đó, tình hình tỏ ra không thuận lợi cho Đảng phát triển

cơ sở tổ chức của riêng mình và cố bám rễ vào sinh họat chính trị trong nước Cho đếnkhi Nhật chiếm Miến Điện, Đảng vẫn còn là tổ chức bí mật kết hợp một nhóm ngườiThakin vốn đồng thời cũng nằm trong Dohbma Asiayone

Tóm lại cho đến khi chiến tranh bùng nổ, phong trào giải phóng dân tộc ở MiếnĐiện đã tiến được một bước dài, nhưng chưa trải qua những biến đổi sâu sắc cho phépnước này tiến sát đến chỗ tự do

V MIẾN ĐIỆN TRONG NHỮNG NĂM TRƯỚC KHI BỊ NHẬT CHIẾM ĐÓNG

Trang 27

Chỉ vài ngày sau khi chiến tranh nổ ra ở châu Âu, BCH Dohbma Asiayone đã ra

tuyên bố nói rõ: " Chúng tôi lên án chủ nghĩa phát xít không những ở thời điểm thuận

lợi cho chúng tôi, mà luôn luôn lên án nó, chừng nào nó còn đối nghịch với những nguyên tắc và lý tưởng mà chúng tôi theo đuổi" Những người Thakin đã ra sức kêu gọi

các lực lượng dân tộc chống thực dân san bằng những bất đồng và đoàn kết lại vớinhau Kết quả là tháng 10.1939, Khối Tự do Miến Điện đã được thành lập trên cơ sởchương trình 9 điểm của Dohbma Asiayone gồm 3 yêu sách: thừa nhận quyền độc lậpcủa Miến Điện, triệu tập Quốc hội lập pháp và chuyển giao quyền hành đặc biệt củaThống đốc cho Hội đồng bộ trưởng () Tham gia khối này có đảng Sinyetha, Hội Liênhiệp sinh viên và một số phe nhóm chính trị và tôn giáo nhỏ khác Thủ lĩnh Sinyetha là

Ba Maw được bầu làm chủ tịch, Aung San – Tổng thư kí

Ngay từ đầu, những nhà lãnh đạo của nó đã xác định rõ đây là một liên minh

"mang tính chất chức năng hơn là tổ chức", tức là các thành viên của nó hoàn toàn độc

lập và chỉ phối hợp trong hành động mà thôi Nhưng thực tế cho thấy rõ là ngay cảtrong hành động cũng không có một sự phối hợp chặt chẽ nào vì họ đều nhằm vàoquyền lực riêng ; những người Thakin muốn xây dựng một nước cộng hoà dân chủ, cácnhà chính trị tư sản muốn mưu tính xây dựng một chính quyền độc tài cá nhân do ông

ta lãnh đạo Họ chỉ thực sự gắn bó với nhau bởi một mục tiêu: giành lại độc lập choMiến Điện từ tay thực dân Anh Hai phe mạnh nhất trong khối tự do là DohbmaAsiayone và Sinyetha Dohbma Asiayone kêu gọi Ba Maw cộng tác, có lẽ muốn dựavào thanh thế đáng kể của Sinyetha ở một số vùng Thượng Miến nơi ảnh hưởng của họkhông còn yếu Ba Maw, đối thủ của Dohbma Asiayone cho rằng uy tín lớn lao củachính đảng này trong phong trào giải phóng dân tộc sẽ có ích cho việc thực hiện đườnglối chính trị của ông ta Do những tính toán cơ hội này, quan hệ cộng tác giữa hai bêncũng đồng thời bị cắt đứt sau khi khối Tự do bị tan rã vào mùa hè 1940 vì chính sáchđàn áp của Anh

Không mong chờ gì được vào một sự thay đổi đáng kể nào trong chính sáchthống trị của thực dân Anh, cả Ba Maw và những người Thakin đã lần lượt hướng vềphía đối thủ nguy hiểm nhất của Anh ở Đông Nam Á: đế quốc Nhật Từ tháng 9.1934đến khi bị chính quyền Anh bắt giam vào tháng 3.1940, Ba Maw đã nhiều lần thăm dòkhả năng giúp đỡ của Nhật qua toà lãnh sự của nước này đặt tại Rangoon Tuy khôngmang lại kết quả khích lệ, những cuộc tiếp xúc đã làm cho tên tuổi của Ba Maw trởnên quen thuộc trong giới cầm quyền ở Nhật

Chính sách trấn áp của chính quyền Anh và sự tan rã của Khối Tự do là nhữngnhân tố chính thuyết phục những phần tử tiến bộ trong phong trào giải phóng dân tộcrằng chỉ có thể giành lại độc lập cho đất nước bằng con đường cầm lấy vũ khí

Khoảng cuối năm 1939 đến năm 1940, họ đã đứng ra thành lập một tổ chứcchính trị bí mật mang tên đảng Nhân dân Cách mạng do Aung San, Thakin Ba Hein

Trang 28

lãnh đạo Toàn bộ nỗ lực của Đảng được dồn vào một mục tiêu: lật đổ ách thống trịcủa thực dân Anh ở Miến Điện Đảng tập trung phát triển lực lượng trong giới trí thứcvà sinh viên trong và ngoài không Trong những năm 1940 – 41 đang mở rộng hàngngũ, thu hút những phần tử tiến bộ trong dân thành thị và nông thôn Tuy nhiên phầnlớn lãnh tụ của Đảng đều không tin vào khả năng phát triển một cuộc chiến tranh dukích quần chúng chống Anh như Aung San đề nghị Thay vào đó, họ tìm cách nhận vũkhí từ bên ngoài

Sau khi các nổ lực tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía các nhà hoạt động cách mạng ẤnĐộ và chính quyền Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc không mang lại kết quả gì cụ thể,các nhà lãnh đạo Đảng Nhân dân Cách mạng đã quay sang phía Nhật Từ giữa năm

1940 đã có cuộc tiếp xúc bí mật giữa họ và đại diện của Nhật

Sau hành động trấn áp ồ ạt của chính quyền thuộc địa diễn ra từ tháng 5 đếntháng 8.1940, xu hướng cộng tác với Nhật tăng lên trong phong trào giải phóng dântộc Miến Một trong những lãnh tụ của phong trào là Aung San đã chạy thoát sangHồng Kông Tại đây, ông đã chịu cộng tác với Nhật và thoả thuận miệng rằng nhữngngười Thakin sẽ giúp đỡ Nhật về quân sự để đánh đổi việc Nhật sẽ giúp Miến Điệnđược độc lập, thành lập quân đội Độc lập Miến, dào tạo đội ngũ sĩ quan, viện trợ vũkhí và 200 triệu rupi để tái thiết đất nước

Biện minh cho hành động trên, Aung San và những nhà lãnh đạo Thakin cánh tảđã nhấn mạnh rằng họ coi việc cộng tác với Nhật chỉ là sách lược, nhằm xây dựngquân đội quốc gia và những cơ quan tự quản, không lệ thuộc vào Nhật, hoạt động mộtcách độc lập Họ xem cuộc chiến tranh giữa Nhật và Anh là cơ hội tốt làm suy yếu cảhai và do đó tạo điều kiện giải phóng hoàn toàn Miến Điện Tháng 2.1941, Aung Sanđược Nhật bí mật đưa về nước Ông đã thuyết phục những nhà lãnh đạo khác đi theođường lối của ông và sau đó đã cùng với 29 người khác sang Nhật Đó chính là đội ngũ

sĩ quan tương lai của quân đội Độc lập Miến Điện Chỉ có những người Cộng sản làchống lại kế hoạch hợp tác này ; nhưng các lãnh tụ của họ đều bị bắt giam và khônggây được ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng của sự biến

Cũng giống như ở những nơi khác trong vùng Đông Nam Á, ở Miến Điện, Anhkhông chuẩn bị một cách thích đáng cả mặt quân sự và chính trị để có thể đối phó mộtcách hữu hiệu với nguy cơ xâm lược từ phía Nhật Hơn thế nữa, chính phủ và bộ tưlệnh quân đội ở London lại tin rằng Nhật không thể xâm nhập vào Miến Điện Cơ sởcủa niềm tin này là Nhật sẽ tiến công Singapore từ ngoài biển vào, nhưng đây là mặtđược phòng thủ chắc chắn Còn khả năng tiến công Singapore từ trên không và trênbộ đã sớm bị loại trừ Miến Điện khi ấy được xem là hậu phương của Singapore, mộtcăn cứ tiếp liệu cho Malaya Do những tính toán sai lầm chiến lược này, lực lượng bảovệ Miến Điện khi chiến tranh bắt đầu (12.1945) chỉ vào khoảng 3 vạn, nhưng quân sốchiến đấu thực sự còn ít hơn nữa: 2,5 vạn, trong đó có 4.00 người Anh và 9.000 người

Trang 29

Tuy rất chểnh mảng trong công tác phòng thủ Miến Điện, chính quyền thuộc địalại rất chú ý đối phó với những hoạt động của các lực lượng giải phóng dân tộc Tháng

5.1940, "Đạo luật phòng thủ Miến Điện" có hiệu lực, theo đó quyền hạn của thống đốc được mở rộng đến mức ông ta có quyền kiểm soát những hoạt động nào xét thấy "gây

phương hại dược quan hệ đối ngoại của Anh, gây ra tình trạng thù nghịch và bất ổn ở Miến Điện, hay chống lại nền an ninh và quốc phòng của Miến Điện" () Thực tế cho

thấy đạo luật được áp dụng trước hết nhằm vào những lực lượng bản xứ chống đốichính quyền thuộc địa, đặc biệt là Khối Tự do

Dù đã ký vào Hiến chương Đại Tây Dương ngày 14.5.1941, trong đó Điều 3 nói

rõ rằng các bên kí kết (gồm Mỹ và Anh) "tôn trọng quyền của tất cả các dân tộc được

chọn kiểu thức chính phủ mà họ muốn", thủ tướng Anh Churchill đã sớm công khai loại

trừ việc áp dụng văn kiện này cho các thuộc địa của đế quốc Anh Churchill cũng từchối không đưa ra một lời hứa nào về việc cho Miến Điện được hưởng quy chếdominion khi chiến tranh chấm dứt trong chuyến viếng thăm Anh hồi tháng 10.1941của thủ tướng Miến Điện U Saw Đây là đòn giáng nặng nề vào tất cả những chínhkhách nào của Miến Điện vẫn còn tin vào thiện chí của Anh và nó cũng vạch rõ tínhchất vô căn cứ của những nổ lực của họ nhằm giải phóng Miến Điện bằng con đườnghợp pháp

VI MIẾN ĐIỆN DƯỚI ÁCH CHIẾM ĐÓNG CỦA NHẬT (1941 – 1945)

Âm mưu của Nhật đối với Miến Điện

Trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, Miến Điện là bạn hàng lâu năm nhập hàngdệt và một vài chế phẩm của Nhật, và xuất sang nước này gạo và bông Tuy nhiêndoanh số buôn bán giữa hai nước không đáng kể, các mối quan hệ khác cũng trong tìnhtrạng tương tự Cho đến năm 1938, Nhật vẫn đánh giá Miến Điện là một nước khôngquan trọng cả về chiến lược và kinh tế và không cần thiết cho những mục tiêu chiếntranh của nó ()

Nhật bắt đầu quan tâm nhiều đến Miến Điện từ sau năm 1939 khi con đườngMiến Điện nối Lashio với Hoa Nam trở thành con đường bộ duy nhất để vận chuyểnhàng tiếp tế cho Đồng minh Tưởng Giới Thạch tại Trung Hoa sau khi các cảng miềnNam Hoa Nam và miền Bắc Đông Dương bị quân đội Nhật kiểm soát

Tham vọng của Nhật đối với Miến Điện bộc lộ rất rõ trong "Dự thảo kế hoạch

chính sách đối với các vùng phía nam" do Bộ Chiến tranh soạn thảo hồi tháng 10.1940.

Theo đó, Nhật mưu toan cắt những phần đất rộng lớn ở Thượng Miến cho Trung Quốc,nếu chính phủ Tưởng Giới Thạch chịu đi đến thương lượng với Nhật Phần còn lại(hoặc toàn bộ nước Miến, nếu cuộc thương lượng với Tưởng bị thất bại) sẽ được độclập nhưng phải liên minh về quân sự và kinh tế với Nhật sao cho Nhật vẫn nắm đượcthực quyền kiểm soát các vị trí chiến lược ()

Trang 30

Đó là thực chất của sứ mệnh "giải phóng các dân tộc châu Á" mà Nhật tự vơ vào

mình trong thời gian ngay trước Chiến tranh Thái Bình Dương

Nhật xâm lược Miến Điện

Địa điểm đầu tiên ở Miến Điện bị Nhật tiến công là sân bay Victoria Point ở cựcNam Tenasserin vào ngày 15.12.1941 Sau đó, tập đoàn quân số 15 của Nhật mà tổngquân số khi chiến dịch chiếm Miến Điện chấm dứt là 75.000 - đã từ biên giới Thái Lantràn sang - chiếm Victoria Point và bắt đầu tràn lên miền Bắc Cùng xâm nhập vàoMiến Điện với quân số Nhật, có cả những đơn vị quân đội Độc lập Miến Điện (BurmaIndependence Army – BEA) đã được thành lập vào ngày 28.12 trên lãnh thổ Thái Lan.Tổ chức vũ trang này bao gồm một số người Nhật, "nhóm 30 đồng chí" và các kiều dânMiến sinh sống ở Thái Lan ()

Quân Nhật đã mau chóng chiếm được Tavoy, Mergui và tràn đến bờ sôngSalween, ngăn cách vùng chính Miến với Tenasserim Như vậy, cả Pegu và Rangoonđều bị đe doạ

Do không được chuẩn bị kỹ từ trước và vì kế hoạch bảo vệ Miến Điện bị lệthuộc vào việc phòng giữ Singapore vốn lúc này cũng đang bị bao vây ngặt nghèo,thêm vào đó là tình trạng lực lượng phòng vệ không đông và không được trang bị đầyđủ, lực lượng phòng thủ Miến Điện không thể đương đầu với quân đội Nhật giàu kinhnghiệm chiến đấu ở vùng rừng rậm nhiệt đới Đông Nam Á

Ngày 23.2, tại cầu bắc qua sông Sittang, chướng ngại vật thiên nhiên cuối cùngnằm trên con đường trực tiếp dẫn đến Rangoon, đã diễn ra trận đánh quyết định màphần thất bại thuộc về quân đội Anh-Ấn Không còn lực lượng bảo vệ, ngày 7.3,Rangoon rơi vào tay Nhật Quân xâm lược sau đó dồn đuổi quân Anh-Ấn và quân tăngviện Trung Quốc lên phía bắc Trong tháng 4, Nhật chiếm được Pye và Taungup; ngày29.4, chiếm Lashio , cắt đứt con đường Miến Điện; ngày 1.5, chiếm Mandalay và ngày7.5 chiếm Myitkyina Đến cuối tháng 5, Nhật làm chủ hầu hết Miến Điện

Chính sách chiếm đóng của Nhật

Ngay từ những ngày đầu, chính sách chiếm đóng của Nhật đã đặt những ngườiyêu nước quy tụ trong BEA vào tình thế khó xử vì xem ra quân xâm lược không có vẻ

gì muốn giữ lời hứa hẹn trước đó cả

Ngày 6.12.1942, Bộ tư lệnh Tập đoàn quân số 15 nhận được Chỉ thị của Bộ tưlệnh phương Nam, theo đó một "chế độ bù nhìn" sẽ được thành lập để thực hiện mọichính sách của quân đội chiếm đóng còn quyền hành thực sự vẫn thuộc Bộ tư lệnh Tập

Trang 31

đoàn quân số 15 và nền độc lập của Miến Điện chỉ được thừa nhận sau khi chiến tranhchấm dứt ().

Ngay sau khi Rangoon bị chiếm, sự thất bại của quân đội Anh-Ấn đã trở thànhđiều hiển nhiên đến mức vai trò của BEA không còn cần thiết nữa Hậu quả là thái độcủa Nhật đối với BIA thay đổi hẳn: tài chính bị cắt, vũ khí bị giảm Để bù đắp vàochỗ thiếu hụt, các đơn vị BIA đã tăng cường chiếm đoạt vũ khí của quân đội Anh-Ấnđang tan rã Tất cả đã làm quan hệ giữa BIA và Nhật trở nên căng thẳng, ở một số nơiđã sớm xảy ra xung đột

Khi chiếm được vùng Hạ Miến, BIA đã thành lập các "Ủy ban hành chính MiếnĐiện tự do" ; nhưng Nhật chần chừ không thừa nhận các Ủy ban này và nhất là tìmcách ngăn cản không cho BIA mở rộng ảnh hưởng của mình Bộ tư lệnh Nhật đã ralệnh cho các đơn vị BIA tập trung hai cánh hành quân ngang qua vùng châu thổ và sauđó tiến dọc theo sông Irandawy lên phía thượng lưu ; và lên Bhamo Như vậy, BIA bịgạt khỏi các cuộc hành quân chiếm đóng vùng Thượng Miến

Đầu tháng 6, Nhật thiết lập chính quyền quân sự thâu tóm mọi quan hệ hànhtrong nước Tuy nhiên, Nhật chưa tính đến chuyện loại hẳn những nhà hoạt động dântộc chủ nghĩa Một Miến Điện yên ổn như vậy vẫn hơn một Miến Điện xáo trộn Ngày1.8, chính quyền bản xứ được thành lập, do Ba Maw làm thủ tướng Quyền hạn củachính phủ này bị giới hạn chặt chẽ và phụ thuộc vào sự kiểm soát của các cố vấn Nhật

ở tất cả các nơi Tuy không ưa những người Thakin, nhưng vì họ rất được lòng dân vàcũng muốn tạo bộ mặt thiện cảm với chính phủ mới, Ba Maw và Nhật đã để cho haingười Thakin cánh tả là Mya và Than Tum tham gia chính phủ trong các chức vụ Bộtrưởng Nội vụ và bộ trưởng Nông nghiệp Ban lãnh đạo Dohbma Asiayone coi việc nàylà cơ hội lợi dụng các phương tiện hợp pháp cho các mục tiêu kháng Nhật Cũng trongtháng 6, BIA bị giải tán và được thay bằng quân đội Phòng Thủ hiến (Burma DefencyArmy – BFA) gồm khoảng 3.000 người đặt dưới quyền kiểm soát của các cố vấn Nhật

Tư lệnh là Aung San

Như vậy, Miến Điện đã thực sự trở thành thuộc địa của đế quốc Nhật

TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ MIẾN ĐIỆN DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA NHẬT

Đối với Nhật, tầm quan trọng của Miến Điện nằm ở chỗ đây là cửa ngõ dẫn vàoẤn Độ và Trung Quốc

Trước tháng 8.1943, toàn bộ lãnh thổ Miến Điện được đặt dưới quyền của Bộ tưlệnh Tập đoàn quân số 15 Ông này nắm toàn bộ quyền hành trong tay Một cơ quangóp phần duy trì trật tự ở Miến Điện trong những năm 1942-43 là "Chính quyền quânsự" (Gunseikanbu) Nhiệm vụ của nó là đảm bảo sao cho mọi yêu cầu của quân độiNhật đều được các giới chức Miến Điện đáp ứng đầy đủ Gunseikanbu trực tiếp điềukhiển công việc chính trị, trong khi ở những lĩnh vực khác nó đóng vai trò kiểm tra

Trang 32

Hiến binh tức Kempeitai, được giao trách nhiệm ổn cố và duy trì an ninh trongnước chống bọn gián điệp và phá hoại Đây là công cụ trực tiếp trấn áp mọi mưu toanphản kháng chống ách thống trị của quân chiếm đóng Quyền hành của những ngườiphụ trách Kempeitai rất lớn Họ được toàn quyền can thiệp vào mọi sinh họat của nướcMiến Điện bị chiếm đóng

Tình hình chiến tranh còn diễn biến không thuận lợi cho Nhật thì chính sáchchiếm đóng của Nhật càng tỏ ra mềm dẻo hơn Tháng 1.1943, thủ tướng Nhật tuyên bốtrước Quốc hội rằng trong vòng một năm nữa Miến Điện và Philippines sẽ được giaotrả độc lập Ngày 1.8 sau nhiều tháng giằng co và thương lượng, chính phủ đầu tiên củanước Miến Điện "độc lập" ra đời Một số lãnh tụ Thakin đã tham gia chính phủ này:Aung San – Bộ trưởng Quốc phòng, Thakin Kyu – phó thủ tướng, Than Tun – Bộtrưởng Nông nghiệp, Thakin Nu – bộ trưởng Ngoại giao Ngày 26.8 BDA được cải tổthành quân đội quốc gia Miến (Burma National Army – BNA) do đại tá Ne Win làm

tư lệnh

Thực tế tình hình trên cho thấy đây chỉ là nền độc lập giả tạo, toàn bộ quyềnhành vẫn nằm trong tay chính quyền quân sự, mặc dù kín đáo hơn trước Tuy nhiên cóđiều đáng chú ý là BNA được tăng thêm quân số và trang bị tốt hơn Nhờ đó, quá trìnhbiến BNA thành lực lượng vũ trang chính của phong trào giải phóng dân tộc diễn ra dễdàng hơn

Trong khi đó, những người Thakin trong chính phủ Ba Maw đã lập các mối quanhệ ngày càng chặt với phong trào kháng chiến chống Nhật Cá nhân Ba Maw biết rấtrõ điều này, giữa năm 191944, ông còn được báo cho biết kế hoạch hoạt động củaThan Tun và Aung San () Chẳng những không làm gì cả để hại họ, mà thậm chí ôngcòn bảo vệ một vài lãnh tụ kháng chiến, như Than Tun chẳng hạn, khi họ rút vào bímật vào tháng 3.1945 Tuy nhiên, khi được đề nghị tham gia phong trào kháng chiến,ông đã từ chối

Những năm chiếm đóng của Nhật đã để lại nhiều hậu quả nặng nề lên cuộcsống của nhân dân Miến Điện Không được đảm bảo những điều kiện tối thiểu để pháttriển, nền kinh tế Miến Điện đã suy giảm mau chóng Từ 1,4 triệu acres trước chiếntranh, diện tích trồng lúa năm 1943-44 giảm xuống còn 7,2 triệu, còn mức thu hoạch từ6-7 triệu tấn trước chiến tranh nay chỉ còn 1/10 () Ngành xuất khẩu bị tê liệt hoàntoàn: chỉ còn 2% so với trước chiến tranh Người dân bị thiếu thốn tất cả mọi đồ dùngtối cần cho sinh họat hàng ngày: lương thực, vải, dầu, diêm, thuốc Kinh tế tê liệt làmcho nạn thất nghiệp gia tăng Số đông thợ thuyền đã bỏ về nông thôn Người dân cònphải gánh thêm một tai hoạ khủng khiếp khác: họ bị huy động đi xây đắp các côngtrình quân sự Đến năm 1944, số người bị cưỡng bức đi lao động lên đến 80 vạn, nhiềuhơn bất kì nước nào ở Đông Nam Á

Trang 33

PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN

Dù lực lượng không đông và bị Kempeitai truy nã ráo riết, những người cộngsản đã đi đầu trong sự nghiệp tổ chức phong trào kháng chiến chống Nhật ngay sau khiđất nước bị chiếm đóng Nhiều đơn vị du kích và tuyên truyền đã được xây dựng từmùa thu 1942 Được tổ chức hồi đầu năm 1942, Đại hội lần thứ I của Đảng đã bầu raban chấp hành Trung ương do Thakin Soe lãnh đạo cùng với Than Tun và Thein Phei.Trong báo cáo đọc tại Đại hội, Thakin Sor đã thúc giục những người cộng sản tăngcường công tác kháng chiến và các nổ lực đi đến liên minh với những nhóm khángchiến trong nước nhằm thành lập mặt trận thống nhất chống phát xít

Là thành viên trong nội các Ba Maw, Than Tun đã có điều kiện phục vụ đắc lựcsự nghiệp kháng chiến Ông đã cung cấp cho ban lãnh đạo kháng chiến những tin tức

bí mật về kẻ thù, giúp lôi kéo những nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa vào hàng ngũkháng chiến Nhà của ông ở Rangoon trở thành một trong những nơi tổ chức các cuộchội họp bí mật của các nhà lãnh đạo kháng chiến

Những người cộng sản nổ lực rất nhiều trong việc gây dựng mặt trận dân tộcchống phát xít, bao gồm cả các dân tộc ít người Cùng với Aung San, năm 1942 ThanTun đã cố gắng dàn xếp một hiệp ước hoà giải với người Karen Cộng đồng dân tộcđông đảo nhất sau người Miến Đã có nhiều đơn vị người Karen đã được sáp nhập vàoBNA Khai thác tâm trạng chống phát xít trong liên đoàn thanh niên Đông Á, một tổchức quần chúng được Nhật thành lập nhằm tuyên truyền tư tưởng thân Nhật trongthanh niên, những người cộng sản và Thakin cánh tả đã lần hồi kiểm soát được tổ chứcnày, mà theo số liệu vào cuối năm 1944 số thành viên của nó lên đến 3 vạn với cácchính khách hoạt động ở tất cả các quận, huyện trong nước ()

Thay vì lập một lực lượng vũ trang riêng, những nhà lãnh đạo Thakin cánh tả đãtrông cậy vào BNA, coi đây là lực lượng chủ công của cuộc khởi nghĩa vì một lẽ rấtgiản dị là một số lớn chức vụ quan trọng của nó đều nằm trong tay những người thuốcnhóm "Ba mươi đồng chí", bộ trưởng Quốc phòng Aung San, Tổng tư lệnh We Win, bíthư bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng, hiệu trưởng Học viện Quân sự Tuy nhiên, mãi cho đến mùa hè 1944, tình hình trong nước chưa tỏ ra thuận lợi cho mộtcuộc tổng nổi dậy của BNA vì vị thế quân sự của Nhật còn tỏ ra vững chắc và vì hàngngũ của các lực lượng kháng chiến còn rời rạc và đặc biệt là chưa Thống Nhất đượcvới nhau trên những vấn đề cơ bản như chiến lược, chiến thuật và phương hướng chínhtrị của phong trào giải phóng dân tộc Phong trào kháng chiến còn phát triển theo haihướng ; hoạt động tiến công của các đơn vị du kích vào các kho tàng, đồn bót và cácđơn vị lẻ tẻ của quân đội chiếm đóng, hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang củangười Thakin cánh tả vẫn vốn đang tiếp tục cộng tác với chính quyền phát xít

Trong năm 1944, giữa các lực lượng kháng chiến chính trong nước là đảngChính sách a, da Nhân dân Cách mạng và BNA đã dần dần xác lập các mối quan hệ

Trang 34

ngày càng chặt chẽ Ngày 10.3, các bên đã ra chỉ thị nêu rõ: "Chúng ta phải xem quân

đội phát xít Nhật là những kẻ thù đầu tiên và nguy hiểm nhất Chúng ta phải dựa vào tình hữu nghị với nước Nga xôviết và Đồng minh Sau khi đánh đuổi phát xít Nhật, chúng ta sẽ thiết lập tổ chức theo đường hướng dân chủ và bắt đầu những cuộc thương thuyết đòi độc lập Chúng ta sẽ chiến đấu chống lại bất kì cường quốc nào gây phương hại đến các quyền của nhân dân Miến Điện" () Trong các ngày 4-5 1944, đại diện

các phe kháng chiến đã gặp gỡ tại nhà của Than Tun ở rằng nhằm quyết định thànhlập "Liên minh nhân dân Tự do chống phát xít" (Anti Fascist People's Freedom League– AFPFL) Aung San được bầu làm chủ tịch, Than Tun làm tổng thư kí và

làm chính ủy

Hội nghị đã ra tuyên ngôn có nhan đề "Đánh đuổi bọn cướp phát xít" nêu rõ

những mục tiêu và chương trình hành động của AFPFL: đánh đuổi hoàn toàn phát xítNhật và soạn thảo hiến pháp mới Hiến pháp này sẽ bao gồm các quyền dân chủ cơbản như tự do tư tưởng, báo chí, phát ngôn, hội họp, tín ngưỡng, quyền có việc làm,được học tập Và chương trình hành động, bản tuyên ngôn thúc giục các thành viênAFPFL tích cực tham gia các hoạt động tiến công kẻ thù, tuyện mộ dân binh Bản

tuyên ngôn kết thúc bằng lời kêu gọi: "Đánh đuổi bọn phát xít Nhật man rợ ! Thành

lập chính phủ Nhân dân ! Đập tan chủ nghĩa phát xít ! Cộng tác với các nước đồng minh dân tộc".

Cuối năm 1944, AFPFL đã xây dựng được một mạng lưới cơ sở rất tốt ởMandaly, vùng Irandawy, Drakan Kế hoạch tổng khởi nghĩa đã được hoạch địnhxong, bây giờ chỉ còn đợi thời cơ thuận tiện: đó là lúc quân đội Anh bắt đầu tổng phảncông trên chiến trường Miến Điện

Ngày 27.3.1943, AFPFL công khai ra mặt chống Nhật khi Aung San được giaonhiệm vụ tiến hành một chiến dịch tiến công quân Anh ở Miến Điện đã quay sangchống lại Nhật Cùng lúc có một đơn vị BNA khác đóng ở khu vực sông Irandawycũng làm binh biến Đây chính là Anh bắt đầu tiến công quân Nhật ở Miến Điện từnhiều phía

Ngày 27.4, một tháng sau biến cố trên BNA bắt đầu tổng khởi nghĩa ở nhiều nơitrong nước, trong nổ lực phối hợp chặt chẽ với kế hoạch phản công của quân đội Anh ởMiến Hành động kịp thời này đã cho phép tăng cường địa vị của AFPFL trong nước,Hội đồng tối cao của Liên minh trên thực tế đã trở thành chính phủ lâm thời, thay chobộ máy chính trị cũ đang tan rã theo đà rút chạy của quân chiếm đóng, còn các cơ sởcủa Liên minh thì trở thành chính quyền ở các cấp df Được sự ủng hộ của tuyệt đại bộphận nhân dân, AFPFL đã trở thành chính quyền thực sự và duy nhất trong nước Ngày1.5, các đơn vị BNA dứơi quyền chỉ huy của Ne Win đã vào Rangoon Hai ngày sauquân Anh mới kéo vào

Trang 35

Ngày 3.5, trong một cuộc họp ở Dehli dứơi quyền chủ toạ của Mounbatten, BNAđược chính thức thừa nhận là "Lực lượng yêu nước Miến" Ngày 15.6 tại Rangoon, lácờ của Liên minh đã bay phát phới bên cạnh lá cờ Anh trong buổi lễ diễu binh mừngthắng lợi

NHÂN DÂN MIẾN ĐIỆN ĐẤU TRANH ĐÒI ANH THỪA NHẬN NỀN ĐỘC LẬP (1945 – 1948)

Anh âm mưu lập lại ách thống trị

Ngày 17.5.1945, chính phủ Anh công bố quyển "Sách Trắng" về Miến Điện, mà

sau đó ngày 1.6 Quốc hội Anh đã thông qua Văn kiện gồm hai nội dung chính ;

1 Tình trạng tiến đến một chính phủ tự trị ở Miến Điện bị đình chỉ

2 Việc phục hồi sinh họat kinh tế và xã hội của Miến Điện vốn là nền tảng củamọi cấu trúc chính trị dân chủ, phải được thực hiện trước việc khôi phục các định chếchính trị để có từ trước chiến tranh Công việc phục hồi vừa kể sẽ đòi hỏi những tổnphí vựơt quá sức của Miến Điện và nó phải được tiến hành dưới quyền lãnh đạo củaviên toàn quyền

Vì vậy, Sách trắng cho rằng cần kéo dài thời hạn cai trị của toàn quyền thêm 3

năm nữa Sau đó, một chính phủ đại nghị sẽ được thành lập theo kiểu đã có trước chiếntranh, trên cơ sở kết quả bầu cử

Sách trắng không hề đề cập gì đến khả năng trao trả độc lập và thậm chí cả

những quyền tự do nửa vời có ghi trong Đạo luật năm 1935 Trái lại, Sách trắng nói

nhiều đến việc khôi phục địa vị của tư bản Anh trong công nghiệp và trả lại đất đai chocác chủ cũ người Anh ()

Nội dung của Sách trắng cho thấy giới cầm quyền Anh ở chính quốc không hiểu

nhiều về tình hình Miến Điện Họ không hiểu rằng thất bại của quân Anh da trắngtrước quân Nhật da vàng đã làm cho dứơi mắt người Miến uy tín của chế độ thuộc địa

bị giảm sút rất nhiều, và mọi tầng lớp nhân dân Miến giờ đây rất khao khát được độclập Người Anh cũng không nhận ra rằng AFPFL lúc này đã tập hợp được trên 20 vạnngười thuộc nhiều tổ chức, hội đoàn và đảng phái theo những xu hướng khác nhau Dovia trò lãnh đạo của nó trong cuộc kháng chiến chống Nhật, AFPFL đã giành được sựủng hộ và tin ỵêu của đại bộ phận đất Miến Tuy nhiên, AFPFL có một chỗ yếu là doMiến Điện được quân Đồng minh giải phóng quá nhanh(4), AFPFL không kịp xây dựngđược hệ thống chính quyền của riêng mình, giống như tình hình ở các nước Đông Nam

Á khác: Malaysia, Việt Nam, Indonesia

4 () ngày 1.5.1945, các đơn vị quân đội quốc gia Miến kéo vào thủ đô Rangoon, trước quân Đồng minh có 2 ngày

Trang 36

Thaùng 8.1945, hoôi ñoăng toâi cao AFPFL ñaõ trieôu taôp Hoôi nghò vôùi söï tham gia cụataât cạ ñái dieôn nhöõng toơ chöùc thaønh vieđn Hoôi nghò ñaõ ra nghò quyeât bạy toû loøng bieât ônñoâi vôùi vieôc quađn ñoăng minh giại phoùng Mieân Ñieôn khoûi aùch thoâng trò cụa Nhaôt, nhöngñoăng thôøi ñoøi tieân haønh baău cöû ngay, trieôu taôp Quoâc hoôi laôp hieân vaø thöøa nhaôn Mieân

Ñieôn coù quyeăn töï giại quyeât soâ phaôn cụa mình Nghò quyeât noùi roõ: "Nhađn dađn Mieân

Ñieôn ñoăng tađm nhaât trí kieđn quyeât noơ löïc xađy döïng moôt nöôùc Mieân Ñieôn töï do trong moôt theâ giôùi töï do" Trong luùc chôø ñôïi Quoâc hoôi laôp hieân ñöôïc trieôu taôp, AFPFL ñeă nghò

thaønh laôp moôt chính phụ lađm thôøi coù quyeăn haønh roông raõi Nhö vaôy, AFPFL muoân ñiñeân ñoôc laôp baỉng con ñöôøng hoøa bình

Möu toan phúc hoăi cheâ ñoô thöïc dađn cuõ cụa Anh ñaõ sôùm gađy ra tình tráng caíngthaúng trong quan heô giöõa caùc laõnh tú AFPFL vaø toaøn quyeăn Dorman Smith OĐng naøykieđn quyeât khođng chòu thöøa nhaôn AFPFL laø toơ chöùc ñái dieôn quyeăn lôïi cụa nhađn dađnMieân Ñieôn Trong lónh vöïc kinh teâ, chính saùch cụa ođng ta laø phúc hoăi caùc xí nghieôp cụaAnh tröôùc chieân tranh vaø cođng vieôc laøm aín cụa giôùi cho vay naịng laõi ngöôøi Chettyarnhaỉm phúc vú múc tieđu chính laø laôp lái cheâ ñoô thu thueâ cuõ vaø caùn cađn ngoái thöông coùlôïi Nhöng caùi maø ngöôøi nođng dađn Mieân caăn laø nhaôp vaø phađn phoâi moôt caùch thieât thöïctrađu boø vaø quaăn aùo, ñöôïc vay tín dúng ñeơ laøm muøa vaø ñöôïc tieâp túc caøy caây mạnh ñaâtñaõ coù trong luùc chôø ñôïi moôt ñáo luaôt môùi veă ñaât ñai Chính quyeăn thöïc dađn döï truø chưtrạ cho nođng dađn 150 rupi cho 100 thuùng gáo, töùc chư baỉng 1/2 giaù naím 1941, trong khigiaù caùc maịt haøng tieđu duøng vaø trađu boø taíng hôn 4 laăn Ngöôøi Mieân coøn phạn ñoâi chínhsaùch tieâp túc cho di dađn ngöôøi AÂn ñöôïc nhaôp cö vaø tröïc tieâp kieơm soaùt caùc dađn toôcngoái vi ngay cạ sau khi Mieân Ñieôn ñaõ ñöôïc töï do

Ngaøy 22.9, ban laõnh ñáo AFPFL göûi cho toaøn quyeăn Dorman Smith thö ñeă nghòmói chöùc vú trong Hoôi ñoăng haønh phaùp, ngoái tröø hai gheâ quoâc phoøng vaø ngoái giao, seõ

do ngöôøi Mieân naĩm giöõ Ngoaøi ra, Hoôi ñoăng toaø aùn toâi cao seõ chư goăm toaøn ngöôøi Mieânvaø moôt coâ vaân ngöôøi Mieân seõ ñöôïc boơ nhieôm tái trú sôû ôû London cụa boô Ngoái giaoAnh Phía Anh cuõng ñöôïc yeđu caău khođng ñöa ra moôt cam keât lađu daøi naøo, tröôùc khi moôthoôi ñoăng haønh phaùp ñöôïc tuyeơn chón, lieđn quan ñeân vaân ñeă nhaôp cö thöông mái, kheầôùc lađm nghieôp vaø nhöõng phöông tieôn khai thaùc daău vaø quaịng Dorman Smith khođngtheøm trạ lôøi vaø ñöa ra phạn ñeă nghò, theo ñoù chính quyeăn thöïc dađn chư nhaôn 7 laõnh túAFPFL vaøo Hoôi ñoăng haønh phaùp vaø giöõ lái caùc gheâ Noôi vú, vaân ñeă bieđn giôùi, quoâcphoøng vaø ngoái giao cho ngöôøi cụa ođng ta Nhöõng thaønh vieđn cụa Hoôi ñoăng phại thöïchieôn chöông trình taùi thieât ñeơ ñöôïc London chuaơn y, neâu khođng hó seõ phại töø chöùc Anhcoøn tìm caùch lođi keùo moôt soâ phaăn töû AFPFL ly khai vaøo Hoôi ñoăng ñeơ mong gieo raĩcmaăm chia reõ trong haøng nguõ nhöõng ngöôøi dađn toôc, nhöng khođng thaønh cođng

AFPFL thuùc ñaơy phong traøo quaăn chuùng ñoøi ñoôc laôp

Thaùng 1.1946, AFPFL toơ chöùc Ñái hoôi laăn thöù 1 ôû Rangoon Ñái hoôi xaùc ñònhmúc tieđu cụa Lieđn minh laø ñi ñeân ñoôc laôp hoaøn toaøn baỉng con ñöôøng thaønh laôp chínhphụ lađm thôøi vaø baău Quoâc hoôi laôp hieân Veă kinh teâ, Ñái hoôi tuyeđn boâ seõ giao ruoông ñaât

Ngày đăng: 31/08/2013, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w