1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử Thái Lan - Thầy Hoàng

87 639 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử Thái Lan
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 396,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Burney, người cầm đầu phái bộ Anhcó nhiệm vụ thuyết phục vua Xiêm ký hiệp ước thương mại và hỗ trợ cho Anh đánh Miến Điện, nhận được thì Rama III đã bày tỏ ý kiến như sau: “Nếu Miến Điện

Trang 1

(TỪ THẾ KỈ XIII ĐẾN NHỮNG NĂM CỦA THẬP NIÊN 80)

Trang 2

MỤC LỤC

Chương I Từ khôi phục độc lập đến kí các hiệp ước bất bình đẳng với các nướcphương Tây (1768 – 1855)

Chương II Xiêm ký các hiệp ước bất bình đẳng

Các cường quốc mưu toan chia xẻ lãnh thổ Xiêm (1865 – 1896)

Chương III Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển

Đấu tranh ngoại giao xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng (1896 – 1917)

Chương IV Chế độ quân chủ bị khủng hoảng (1918 – 1932)

Chương V Cuộc cách mạng 1932

Chương VI Tình hình Thái Lan cho đến tháng 12.1941

Chương VII Thái Lan trong những năm chiến tranh Thái Bình Dương (1942 – 1945)

Chương VIII Cao trào dân chủ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Cuộc đảo chính quân sự 1947 – 1948

Chương IX Thái Lan trong thời kì chế độ độc tài quan liêu quân sự được xác lập

Trang 3

CHƯƠNG I TỪ KHÔI PHỤC ĐỘC LẬP ĐẾN KÝ CÁC HIỆP ƯỚC BẤT BÌNH ĐẲNG VỚI CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY (1768 – 1855)

Nhưng thay vì bắt tay vào việc tái thiết quốc gia, P’ya Taksin lại quay sang canthiệp vào công việc nội bộ của các nước lân bang hầu xác lập thế chủ tôn Năm 1773,ông mang quân sang Campuchia lật đổ Outey, đưa Ang Non II lên làm vua

Từ ngày 1.1.1775 đến ngày 9.1.1776, Xiêm(2) và Miến Điện đánh lẫn nhau đểgiành thành phố Chiêng Mai Năm 1778, quân Xiêm tràn qua xâm chiếm Viên Chăngvà buộc Luông Phabẳng làm chư hầu

Các cuộc chiến tranh trên hoàn toàn không củng cố được quyền lực vừa giànhđược, như Taskin mong muốn, mà chỉ làm mâu thuẫn trong nước thêm phần gay gắttrong tình thế đất nước vừa thoát khỏi cơn binh lửa Năm 1781, một cuộc nổi dậy lớnđã bùng nổ ngay tại kinh đô Tướng Chakri đã vội đưa lực lượng Xiêm đang chiếmđóng Campuchia trở về nước dập tắt cuộc khởi nghĩa và nhân cơ hội đó truất phế luônTaksin để lên ngôi dưới niên hiệu là Rama I (1782-1809), lập ra triều đại mới còn tồntại đến ngày nay, đó là triều đại Chakri, đóng đô tại Bangkok

Cũng giống như Taksin, việc làm đầu tiên của Rama I là tìm cách chiếm đoạtlãnh thổ các nước láng giềng

Năm 1795, lợi dụng tình hình ở Campuchia bị rối ren vì sự tranh chấp giữa baquan đại thần trong triều, Rama I đã giúp vua Ang Eng giành lại ngai vàng để đượcquyền sáp nhập các tỉnh Battambang, Angkor, Mongkol Borei và Sisophon Từ đó,

1 () P'ya Taskin là một viên quan gốc Hoa Tên ông được phiên âm sang tiếng Việt là Trịnh Quốc Anh

2 () Từ ngày 24.6.1939 đổi tên thành Thái Lan Từ ngày 7.9.1945 lấy lại tên cũ là Xiêm Từ năm 1949 trở lại, dùng tên Thái Lan

Trang 4

Campuchia trở thành nước chư hầu của Xiêm cho đến năm 1813, khi vua Ang Chan IIlên ngôi nhờ sự trợ lực của quân Đại Nam Ảnh hưởng của Xiêm vì thế mà bị suygiảm, nhưng đổi lại Xiêm đã sáp nhập toàn bộ lãnh thổ nằm giữa dãy Dangrek vàvùng Promn Tep, các tỉnh Mlou Prei, Tonlé Repou và Stung Treng; như vậyCampuchia không còn biên giới chung với Lào nữa Rama III (1824-1851) đã tìm đủcách lập lại địa vị thống trị của Xiêm ở Campuchia Chính sách cứng rắn và khắcnghiệt của Minh Mạng đối với Campuchia đã tạo thêm điều kiện thuận lợi cho đườnglối bành trướng của Rama III Kết quả là tháng 12.1845, sau bốn tháng đánh nhau, ViệtNam và Xiêm đã đồng ý chia xẻ ảnh hưởng ở Campuchia, nhưng trên thực tế nước nàydần dần trở thành chư hầu của Đại cho đến khi bị Pháp chiếm

Từ năm 1818, Rama II (1809-1824) đã tìm cách bành trướng xuống phía nam,chống lại các sultanat trên bán đảo Malaya Năm đó, Rama II đã ra lệnh cho SultanKedah vốn là chư hầu của Xiêm mang quân xâm lấn Sultanat Perak, để rồi năm 1821đến lượt Kedah bị quân Xiêm xâm chiếm Xiêm còn lợi dụng lúc ảnh hưởng của HàLan ở Perak và Selangor bị suy giảm để đánh chiếm hai sultanat này Nhưng đây lànhững sultanat sản xuất thiếc chính của bán đảo nên năm 1826, Công ty Đông Ấn củaAnh đã can thiệp chặn đứng hành vi xâm lược của Xiêm Năm 1832, việc trấn áp cuộckhởi nghĩa của nhân dân Patani đã tạo cơ hội cho Xiêm tăng cường thêm ảnh hưởng ởKelantan và Trengganu Nhưng cuộc khởi nghĩa năm 1838-1839 ở Kedah đã buộcXiêm, qua trung quan của người Anh, rút lui khỏi Kedah để chỉ còn giữ lại Perlis

Như vậy, trong nửa đầu thế kỉ XIX trên bán đảo Malaya, nơi Anh đã giành đượcquyền kiểm soát Penang – tỉnh Wellesley, Malacca và Singapore và đang chú ý khaithác thiếc, uy thế của Xiêm đối với các sultanat Bắc Malaya vẫn còn nhưng bắt đầu bịlung lay

Năm 1872, vua Lạn Xạng là Châu A Nụ đã khởi nghĩa chống lại ách thống trịcủa Xiêm Quân đội của ông đã tràn vào Xiêm và chỉ còn cách Bangkok 100km Bịphản công, A Nụ phải lui binh và đến lượt lãnh thổ Lạn Xạng bị quân Xiêm tràn sangxâm chiếm Viên Chăng bị tàn phá nặng nề, còn lãnh thổ Lạn Xạng bị sáp nhập vàoXiêm Luông Phabăng và Sampátxắc cũng phải thừa nhận chủ quyền của Xiêm

Tình trạng trên kéo dài mãi đến cuối thế kỉ XIX, khi Pháp bắt đầu các hoạtđộng bành trướng ảnh hưởng ở Lào

I.2 TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ XÃ HỘI

Quyền lực của vua là rất lớn Với danh hiệu devaraja (vua-thần), nhà vua nắmcả thần quyền và thế quyền Vua là người sở hữu mọi đất đai trong nước và thần dânsinh sống trên đó Vua có quyền đề ra luật pháp, quyết định chính sách, chọn các quanđại thần Giúp việc cho vua có cả một bộ máy quan liêu hết sức cồng kềnh Trướchết là hội đồng thượng thư (senabodi) gồm 5 người: hai thượng thư phụ trách Bộ các

Trang 5

tỉnh Miền Bắc (Mahatthai) và Bộ các tỉnh miền Nam (Kralahom) Thực chất đây là haiphó vương thay vua cai trị hai miền này và có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới giápranh với Miến Điện và các tiểu quốc Malaya Bốn thượng thư còn lại là các chức:Wang phụ trách công việc ở cung điện và tư pháp, Nawas chăm lo thu hoa lợi nôngnghiệp, Nakhonban chịu trách nhiệm tình hình kinh đô và Phraklang lúc đầu phụ tráchtài chính, sau được giao phó thêm trách vụ phát triển ngoại thương, rồi ngoại giao vàcả việc cai trị các tỉnh ven biển gần kinh đô

Các quan lại được chia thành năm thứ bậc mang các danh hiệu khác nhau, caonhất là Chao Phraya, rồi đến Phraya, Phra, Luâng và Khun Họ được quyền sử dụng(chứ không phải quyền sở hữu) một số ruộng đất không được quá 1600ha

Nhân dân gồm các giai cấp và tầng lớp khác nhau Dưới cũng là nô lệ chiếm 1/3dân số Thực ra tình cảnh của người nô lệ và người nông dân không khác gì nhau Cảhai đều phải thực hiện các nghĩa vụ phong kiến đối với giai cấp thống trị – trong đó cónghĩa vụ chính là lao dịch, binh dịch và đóng thuế

Do dân số ít (9 người trên 1km2) và đất bỏ hoang còn nhiều, mâu thuẫn giữa địachủ và nông dân chưa đến mức trở nên gay gắt như ở một nước láng giềng

Nền kinh tế Xiêm trong nửa đầu thế kỉ XIX còn mang nặng tính chất tự nhiên.Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính Ngoài ra nông dân còn một nguồn thu nhậpkhác là những ngành nghề thủ công vẫn chưa hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp Tuyvậy, những mầm mống của nền kinh tế hàng hóa có từ thời Ayuthaya đã bắt đầu pháttriển nhiều trong nửa đầu thế kỉ XIX

I.3 NỘI THƯƠNG

Trung tâm trao đổi hàng hóa lớn nhất là Bangkok Quan hệ thương mại giữakinh đô và miền Nam rất phồn thịnh Các sản phẩm quặng (thiếc, chì), hồ tiêu, bônggòn đã được chở từ miền Nam lên kinh đô Nhà truyền giáo người Hà Lan C Gutzlaff

đã viết trong bút ký của ông: “Miền Nam buôn bán rất nhiều với Bangkok Những sản

phẩm như ngà voi, vàng, da hổ, hương liệu được chở đến kinh đô trên những chiếc thuyền lớn, để đổi lấy những sản phẩm công nghiệp của Ấn Độ và châu Âu và một vài sản phẩm thủ công nghiệp của Xiêm”

Ở phía bắc, trung tâm thương mại tập trung ở một vài thành phố lớn như ChiêngMai, Nan, Lakon, còn ở phía đông có thành phố Corat Nhà truyền giáo H Mouhot

viết: “Từ Ubon, Bassak, Yasoton, các làng bản Lào hàng hóa đã đổ về đây (tức Corat),

chủ yếu là lụa, dù chất lượng kém”

Quan hệ trao đổi hàng hóa phát triển đã thúc đẩy hoạt động trung gian của tưbản thương mại và qua đó dần tạo ra một thị trường thống nhất trong cả nước Tầng lớp

Trang 6

thương nhân trung gian xâm nhập cả vào những chốn xa xôi hẻo lánh nhất Tuy nhiênhọ vẫn còn hoạt động rất phân tán và tản mạn Theo số liệu được ghi lại trong nhật kýcủa Crawfurd thì trong nửa đầu thế kỉ XIX cả nước chỉ có khoảng 6 vạn người sinhsống bằng nghề trao đổi hàng hóa

Tầng lớp thương nhân ở Xiêm chủ yếu là người Hoa Họ được tự do hơn ngườibản xứ vốn vẫn bị các quan hệ phong kiến ràng buộc Thương mại là hoạt động manglại nhiều lãi, vì mức chênh lệch giá các mặt hàng giữa các tỉnh và trung tâm là rất lớn

Mouhot viết: “Thương mại làm cho rất nhiều người trở nên giàu có, mặc dù lúc đầu

nghèo khó, nhưng chỉ sau vài chuyến mua bán theo sự đặt hàng là đủ để họ có một số vốn”

Do quan hệ phong kiến còn giữ địa vị thống trị mà thương mại trở thành nguồnquan trọng tăng thu nhập cho giai cấp phong kiến Thương nhân mau chóng bị lệ thuộcvào phong kiến và trở thành kẻ trung gian giữa giai cấp này và thị trường Mouhot viết:

“Ở Bangkok cũng như Corat, tất cả đều kết thúc bằng cách rốt cuộc vàng trở về tay các

quan lại”

Tuy nhiên, quy luật vẫn là ách thống trị phong kiến luôn gây trở ngại cho sựphát triển của thị trường nội địa Các tỉnh ngăn cách với nhau bằng các trạm thuế.Thương nhân gánh chịu chế độ thuế má phù lạm của các địa phương

I.4 NGOẠI THƯƠNG

Từ cuối thế kỉ XVIII, ngoại thương trở thành một trong những nguồn làm giàuchính của phong kiến Đây là hoạt động kinh tế độc quyền của giai cấp này từ triều

vua Prasat T'ong (1630-57) J Crawfurd nhấn mạnh trong ký sự của ông: “Vua Xiêm là

thương nhân độc quyền: trong một số trường hợp, ông sử dụng độc quyền đối với sản phẩm; trong một số trường hợp khác, ông dùng ảnh hưởng của mình để gom hàng hóa với giá rẻ hơn trên thị trường; và trong một số trường hợp khác nữa, ông nhận được hàng hóa bằng con đường thuế má và cống nạp” Nhà vua độc quyền một số mặt hàng

như thiếc, ngà voi, gỗ quý, đậu khấu Từ cuối thế kỉ XIX, thêm một số hàng hóa khácđược cuốn hút vào ngoại thương như: sắt và những sản phẩm của nó Việc buôn bánnhững mặt hàng này do người Hoa nắm giữ

Ngoài vai trò là trung tâm của nội thương, Bangkok cũng là trung tâm của ngoại

thương M Pallegoix viết: “Khó tìm ra được một hải càng nào khác rộng như vậy, kín

đáo như vậy và đủ chỗ cho hàng ngàn tàu thuyền” Hàng trăm tàu thuyền từ các nước

phương Đông và châu Âu chở đến Bangkok các loại hàng hóa để đổái lấy sản phẩmtiểu thủ công nghiệp của Xiêm

Tuy bị chế độ độc quyền phong kiến cản trở, ngoại thương giữa Xiêm và cácnước châu Âu phát triển không ngừng Tình hình này đã tác động đáng kể đến Xiêmvào giữa thế kỉ XIX, thể hiện trước hết qua vai trò của cộng đồng người Hoa

Trang 7

Bắt đầu có mặt ở Thái Lan ngay từ đầu thế kỉ XIV, người Hoa sinh sống chủyếu bằng nghề buôn bán và khai thác thiếc hoặc hành nghề thủ công Dưới thời đại ba

vị vua đầu triều Chakri, người Hoa được khuyến khích di cư sang Xiêm và được tindùng rộng rãi trong các hoạt động thương mại và hàng hải Mọi khách nước ngoài đếnBangkok vào những năm 1820 đều nói rằng hầu như toàn bộ dân sinh sống bằng nghềbuôn bán ở thành phố đều là người Hoa, từ những thuyền tạp hóa trôi nổi trên cáckênh đào cho đến những cửa hiệu bán sỉ to lớn(3) Người Hoa còn chiếm vị trí ưu thếtrong cả ngành trồng các loại cây công nghiệp hướng ra xuất khẩu như hồ tiêu, mía,bông, thuốc lá và khai thác thiếc Người ta ước tính rằng trong những năm 1840, hoạtđộng kinh tế của người Hoa đã cung cấp một khối lượng hàng hóa xuất khẩu củaXiêm Để có được nhiều sản phẩm dư thừa xuất khẩu ra bên ngoài, tất nhiên ngườiHoa khĩ cĩ thể duy trì phương thức phong kiến cố thủ Họ đã xây dựng những đồn điềnrộng lớn, dùng tiền thuê mướn nhân công Cả những người Hoa được nhà vua tuyểndụng vào các hoạt động thương mại và hàng hải cũng được trả công bằng tiền Nhưvậy cho đến nửa đầu thế kỉ XIX, cộng đồng người Hoa đã xây dựng được một nền kinhtế tiền tệ tồn tại song song với nền kinh tế tự nhiên của tộc người Thái Đó cũng lànhững mầm mống tư bản chủ nghĩa đầu tiên trong nền kinh tế Xiêm

Bản thân các vua triều Chakri cũng là những nhà buôn lớn và rất chú trọng đến

việc thu thuế bằng tiền “Không thể đưa ra số liệu chính xác phần thuế thu được bằng

tiền, nhưng có thể xác quyết rằng phần thuế thu được bằng tiền dưới thời Rama III lớn

I.5 SỰ XÂM NHẬP CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA VÀ

CHÍNH SÁCH CỦA GIỚI CẦM QUYỀN XIÊM

Để bảo vệ độc quyền về ngoại thương của mình, các vua đầu triều Chakri đã tỏ

ra không cĩ thiện cảm lắm đối với các đề nghị xin thiết lập quan hệ thương mại củacác nước tư bản phương Tây, tuy Xiêm La vẫn tiến hành những hoạt động trao đổihàng hóa với các thương nhân châu Âu riêng lẻ

Sau khi chiếm được đảo Penang và tỉnh Wellesley trên bán đảo Malaya, Anh lànước đầu tiên mong muốn có những quan hệ thương mại chính thức với Xiêm Năm

1822, một phái bộ của Anh do John Crawfurd cầm đầu, đã đến Bangkok với nhiệm vụ

“mở cửa” cho hàng hóa Anh tràn vào Crawfurd rất muốn kí kết với Xiêm một thươngước đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho thương nhân Anh (đánh thuế sử dụng cảng

ở mức 6-8%, còn hàng hóa thì miễn thuế), xóa bỏ độc quyền ngoại thương của vuaXiêm, dành quyền đặc miễn tài phán cho công dân Anh cư trú trên lãnh thổ Xiêm, bùlại Anh hứa sẽ bán vũ khí cho Xiêm Cuối cùng vì vua Xiêm không thuận cho thương

3 () Dẫn lại theo John F Cady Shoutheast Asia, Its historical Development, N.Y: Mc Graw – Hill Book

company, 1964, p.331

4() W Vella, Siam Under Rama III, 1824-51, N.Y.: Ausgustin, Loust to Valley, 1957, p.20-21

Trang 8

nhân Anh hoàn toàn tự do hoạt động mua bán trong nước mình mà cuộc đàm phán giữahai bên đã thất bại

Ba năm sau cuộc chiến tranh đầu tiên giữa thực dân Anh và phong kiến MiếnĐiện đã kết thúc bằng sự đại bại của Miến Điện Biến cố này đã làm cho giới cầmquyền Xiêm rất lo sợ Theo những tin tức mà H Burney, người cầm đầu phái bộ Anhcó nhiệm vụ thuyết phục vua Xiêm ký hiệp ước thương mại và hỗ trợ cho Anh đánh

Miến Điện, nhận được thì Rama III đã bày tỏ ý kiến như sau: “Nếu Miến Điện, với dân

số đông gấp 10 lần Thái Lan mà còn không đương đầu nổi với người Anh hiện đang ở

muốn nhượng bộ của vua Xiêm đã vấp phải sự chống đối quyết liệt từ các thương nhântrong nước, nhất là từ phía các thương nhân người Hoa mà ảnh hưởng trong giới thốngtrị người Thái mỗi ngày mỗi lớn dần Bên cạnh đó Anh lại không chịu thỏa mãn yêusách của Xiêm đòi chiếm bờ biển Tenasserim của Miến Điện

Kết quả là thương ước kí ngày 20.6.1826 không mang lại cho Anh những nhượngbộ mà nước này mong muốn Thuế đánh vào hàng hóa mà thương nhân Anh mua vàohay bán ra trên lãnh thổ Xiêm không có gì là ưu đãi so với thương nhân các nước TâyÂu khác, chỉ có điều là họ được phép mua bán nhiều mặt hàng hơn và với số lượng lớnhơn lúc trước

Sau Anh, người Mĩ cũng đã thuyết phục được Rama III ký một thương ước vớinội dung tương tự ngày 20.3.1833 Rõ ràng là vua tôi Rama III muốn tìm nguồn nhậpvũ khí và một lực lượng đối trọng với Anh

Để cạnh tranh với các thương nhân nước ngoài, vua và các quan lại cao cấptrong triều đã tăng cường các hoạt động thương mại của họ đến mức năm 1849, trongsố 19 tàu buồm vuông đến Bangkok chỉ còn 5 là của người Anh, trong khi năm 1838 thì

tỉ lệ ngược lại(6) Thuế đánh vào hàng hóa phương Tây nặng đến mức chúng không saocạnh tranh với hàng hóa người Xiêm và người Hoa Sau năm 1838, không còn một tàu

Mĩ nào vào Bangkok Còn công ty thương mại của Anh thì từ 1840 hoạt động bị giảm

đi nhiều và nó đã phải tìm cách buôn lậu ma túy để bù vào doanh số bị giảm(7)

Các thương ước trên không hề làm dịu đi nỗi lo sợ của vua quan triều Chakri,Nỗi e sợ này càng tăng thêm vì thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nhaphiến (1840 – 1842)

I.6 VUA MONGKUT LÊN CẦM QUYỀN

5 () H Burney, The Burney Papers, Vol.Ii, Pt IV, p.12

6 () P Fistié, Le Thailande, ed P.U.F Paris, 1963, p.50 John F Cade, Op.cit, p.340

7 () P Fistié, Op.cit, pp.50-51.

Trang 9

Đầu những năm 1850, tình hình đối nội của Xiêm trải qua những thay đổi lớn,gắn liền với bệnh trạng và cái chết của Rama III Lúc này phong kiến Xiêm chia làmhai phe: phe thứ nhất do quan đại thần Somdet Ong Noi cầm đầu, có thu nhập lệ thuộïcvào sự khống chế nền kinh tế ở các tỉnh, chủ trương duy trì những ưu đãi phong kiến õõ,chống lại việc mở rộng quan hệ thương mại với các nước châu Âu Phe thứ hai cũng domột quan đại thần rất có thế lực là Pya Suruwongse lãnh đạo Ông này tin rằng kỹthuật là phương tiện duy nhất đảm bảo cho Xiêm không bị phương Tây chinh phục.Đây là phe mà quyền lợi gắn bó với nền thương mại và tiểu thủ công nghiệp Giới tưbản thương nhân đang hình thành ủng hộ họ Phe này không loại trừ một cuộc xung độtvũ trang với phương Tây và họ đã tích cực chuẩn bị cho việc này Họ chủ trương tiếnhành một số cải cách ôn hòa trong lĩnh vực tài chính, hành chính, tổ chức lại quân đội,tăng cường hạm đội Họ ủng hộ việc lên cầm quyền của Mongkut, em vua Rama III.Đây là người có trình độ học vấn cao Ông nghiên cứu chủ thuyết, triết học và mỹ họcPhật giáo Nhờ đọc được tiếng Anh, ông đã làm quen với công công trình của Euclidevà Newton về thiên văn học Thông qua các nhà ngoại giao, thương nhân và nhàtruyền giáo châu Âu, ông đã đọc được những sách viết về các thành tựu khoa học màhọ đưa vào Xiêm Theo một vài người châu Âu, trong nhà ông có nhiều đồ vật sảnxuất tại Anh hoặc Mĩ (8)

Đầu tháng 4.1851, Rama III qua đời, Nhờ sự ủng hộ của giới thương nhân và cóchỗ dựa trong quân đội, Mongkut đã đánh bại đối thủ và lên ngôi với vương hiệu Rama

IV (1851 -1868) Biến cố này cho thấy phe cải cách đã thắng

Sau khi lên cầm quyền, chính sách kinh tế của Rama IV là mở rộng nền kinh tếhàng hóa trong cả nước bằng cách xoá bỏ một phần độc quyền của giai cấp phongkiến Năm 1852, nhà vua đã ban hành sắc dụ bãi bỏ việc cấm xuất khẩu gạo và độcquyền mua đường trước đây của phong kiến

Tuy nhiên, những cải cách đầu tiên này chưa kịp phát huy tác dụng của chúngthì các nước tư bản thực dân phương Tây, đi đầu là Anh, đã mưu tính chiếm đoạt lãnhthổ Xiêm

8 () F Browning, The Kingdom and People of Siam with a narrative of the mission to that country in

1855, vol I, London, 1857, pp.410-11

Malcolm, Travels in South-Eastern Asia; entracing Hindustan, Malaya, Siam and China, vol I,

London, 1839, p.137

Trang 10

CHƯƠNG II XIÊM KÍ KẾT CÁC HIỆP ƯỚC BẤT BÌNH ĐẲNG

CÁC CƯỜNG QUỐC MƯU TOAN CHIA XẺ LÃNH THỔ

Tháng 3.1855, thống đốc Hongkong là John Bowring đã chỉ huy một đoàn tàugồm hai pháo hạm kéo đến Bangkok Thực tâm thì Anh chưa tính đến chuyện gâychiến với Xiêm Vả chăng Rama IV cũng đã ý thức được tình trạng nguy cấp của đấtnước trước dã tâm xâm lược của thực dân Ngay từ tháng 7.1854, ba tháng sau khi nhậnđược thư của Bowring đề nghị thương lượng về vấn đề quan hệ giữa hai nước, Rama IVđã gửi thư phúc đáp tuyên bố sẵn sàng gặp ông ta

Không đầy một tháng sau, ngày 18.4.1855, hai bên đã ký hiệp ước Phần đầucủa hiệp ước cho phép Anh có quyền đặc miễn tài phán: kiều dân Anh sinh sống ởXiêm từ nay sẽ do tòa lãnh sự Anh chịu trách nhiệm về mặt tư pháp Phần thứ hai mởcửa thị trường Xiêm cho hàng hóa Anh tràn vào với số lượng không hạn chế Thuếđánh vào hàng hóa mà Anh đưa vào cũng như đưa ra khỏi Xiêm không được quá 3%giá thị trường, thuốc phiện được phép nhập miễn thuế Kiều dân Anh được tự do trongviệc tổ chức dò tìm và khai thác khoáng sản ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Xiêm Tàuchiến Anh được phép vào cửa sông Mênam và buông neo ở pháo đài Paknam Như vậylà toàn bộ vịnh Xiêm La từ nay coi như bị hạm đội Anh ở Viễn Đông khống chế

Sau đó Xiêm đã lần lượt kí các hiệp ước bất bình đẳng tương tự (quyền đặcmiễn tài phán của người Âu, lập tòa lãnh sự, không đánh thuế quá 3% hàng hóa màthương nhân châu Âu mua vào và bán ra) với các nước Mĩ và Pháp năm 1856, ĐanMạch (1858), Bồ Đào Nha (1959), Hà Lan (1860) và Phổ (1862), Bỉ, Na Uy, ThụyĐiển và Italia (1868), Đức (1872) Năm 1867, Xiêm còn kí với Pháp hiệp ước thừanhận chủ quyền của Pháp ở Campuchia

Trang 11

Bày tỏ quan điểm của mình khi kí những hiệp ước nói trên, Rama IV đã viết

trong thư gửi đặc sứ của Xiêm ở Paris năm 1867: “Một nước nhỏ như nước ta có thể

làm gì được khi bị bao vây từ hai hoặc ba phía bởi các nước hùng mạnh hơn? Có người đề nghị chúng ta mở kho báu chi ra hàng triệu kati vàng, để có đủ tiền mua hàng trăm tàu chiến, nhưng ngay cả khi có vàng, chúng ta cũng không thể chiến đấu chống lại họ, chừng nào chúng ta còn phải mua của họ cũng chính những tàu chiến và các trang thiết

bị quân sự đó Hiện nay chúng ta không có khả năng tự chế tạo những sản phẩm này Thậm chí ngay cả khi chúng ta có đủ tiền mua chúng, các nước đó vẫn có thể ngưng bán bất kì lúc nào nếu họ phát hiện chúng ta vũ trang là để chống lại họ Vũ khí mà chúng

ta có và có thể sử dụng được trong tương lai, đó là miệng và trái tim chúng ta, được bổ sung bằng những suy nghĩ sáng suốt và tài trí, chỉ có chúng mới có thể bảo vệ chúng ta”(9)

Tóm lại, đó là chủ trương dựa vào một đường lối ngoại giao khôn khéo để tránhkhỏi số phận của các nước Đông Nam Á láng giềng

II.2 NHỮNG HẬU QUẢ XÃ HỘI VÀ KINH TẾ CỦA CÁC HIỆP ƯỚC BẤT

BÌNH ĐẲNG

Những hiệp ước bất bình đẳng mà Xiêm đã kí với các nước tư bản thực dânphương Tây trong nửa sau thế kỉ XIX đã dọn đường cho chủ nghĩa tư bản các nước nàyxâm nhập vào Xiêm, cuốn hút Xiêm vào thị trường tư bản chủ nghĩa như là thị trườngcung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền công nghiệp các nước tư bản pháttriển

Hậu quả đầu tiên là độc quyền của phong kiến trong nền ngoại thương bị xóabỏ Điều này có nghĩa là từ nay về sau các mối quan hệ giữa hàng ngàn cơ sở kinh tếcủa các nhà sản xuất riêng lẻ sẽ được thực hiện thông qua thị trường, các mối quan hệthị trường nội địa sẽ được mở rộng, phạm vi tác động của quy luật giá trị trở nên rộnglớn Hậu quả tiếp theo là các hình thức sở hữu phong kiến, mà trước hết là sở hữuruộng đất dần dần bị thay thế bằng hình thức sở hữu tư bản chủ nghĩa Đây là điều kiệnđể giải phóng một số đông nông dân khỏi ruộng đất, xóa bỏ chế độ cũng như lao độngnô lệ và quan hệ hàng hóa-tiền tệ xâm nhập vào nông thôn Đạo luật năm 1855 quyđịnh chế độ nộp thuế bằng tiền ở những vùng chiùnh yếu trong nước

Sự xâm nhập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nông thôn còn làm chotính chất tự nhiên, tự cung tự cấp của nền kinh tế biến mất, nhường chỗ cho tính chấthàng hóa, dù phổ biến còn là hàng hóa nhỏ Khối lượng nông sản phẩm của nông dânhướng ra thị trường ngày càng lớn Nhu cầu dùng tiền để trao đổi trong mọi mặt sinhhoạt, nhất là sinh hoạt kinh tế, lớn dần Và đến lượt nó, nhu cầu này lại thúc đẩy nềnkinh tế hàng hóa phát triển Trong nông nghiệp, gạo trở thành mặt hàng quan trọngnhất cho xuất khẩu hầu đổi lấy các mặt hàng công nghệ của phương Tây Từ năm

9 () Trích theo A.L Moffat, The King of Siam, N.Y.: Cornell Ithaca, 1961, pp 25-25

Trang 12

1875, lượng gạo xuất khẩu hàng năm tăng từ 233.000 tấn lên 485.000 tấn, cá biệt cónăm lên đến 776.000 tấn (1884)(10)

Sự phát triển của lưu thông hàng hóa – mua và bán – tạo điều kiện cho cácthương nhân bản xứ tích lũy một số vốn đáng kể Điều này cho phép họ đầu tư mởmang công nghiệp

Trong những năm 1850-60, các công trường thủ công tư nhân xuất hiện nhiềutrong nước Chúng chế biến các sản phẩm trong nước cho thị trường bên ngoài Tư bảntích lũy được từ việc buôn bán gạo đã được dùng để xây dựng các nhà máy xay xátđược trang bị kỹ thuật cao và sử dụng lao động làm thuê

Sau gạo, đường cũng là mặt hàng được thị trường bên ngoài ưa chuộng Nhàmáy tinh luyện đường xuất hiện ở nhiều nơi trong nước Năm 1865, tỉnh Nakon Chaisy– vùng sản xuất đường mía lớn nhất – có 35 xí nghiệp thu dụng trung bình 200 côngnhân

Trong những năm 1880-1890, ngày càng có nhiều xí nghiệp mới của ngành chếbiến ra đời, hoặc là của tư bản nước ngoài (xẻ gỗ), hoặc là của tư bản bản xứ (chủ yếulà xay xát gạo) Bangkok là nơi tập trung nhiều nhà máy như vậy Năm 1890 có 25 nhàmáy xay gạo được trang bị bằng những máy hiện đại mua của Anh

Các xí nghiệp thủ công của Nhà nước cũng được mở rộng, trong đó đáng kểnhất là những xưởng đóng tàu Đầu những năm 1860, đội thương thuyền của Xiêm có

23 tàu chạy bằng hơi nước đóng ở trong nước Tuy nhiên máy mua của nước ngoài, chủyếu là của Mĩ Cuối những năm 1850 – 60, một số công trường-nhà máy đã lác đácxuất hiện Quá trình này mang những đặc điểm chung của một nước nửa thuộc địa, nhưquá trình tích lũy tư bản nguyên thủy diễn ra rất chậm, nền kinh tế bị lệ thuộc vào chủnghĩa tư bản phương Tây, và đặc điểm riêng của Xiêm như cơ sở xã hội để trên đóhình thành quan hệ tư bản chủ nghĩa chính là tầng lớp thương nhân Hoa kiều vốn trướcđây là cơ sở xã hội chính của quan hệ hàng hóa-tiền tệ

Xiêm buôn bán chủ yếu với các nước phương Tây qua hai cảng chính của Anh ởViễn Đông: đầu những năm 1890, Hongkong chiếm 57% giá trị hàng xuất khẩu và29% hàng nhập khẩu của Xiêm và Singapore: 24% và 66% Việc vận chuyển hàngxuất khẩu và nhập khẩu của Xiêm hầu như tàu Anh, Đức và Nhật khống chế: từ 92 đến95%

Sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi hoạt động của ngân

hàng Hai ngân hàng Anh và Hongkong – Shanghai Bank và Charted Bank of India,

Australia and China kiểm soát việc nhập khẩu bạc dùng làm cơ sở cho việc phát hành

giấy bạc ở Xiêm

10 () H Warrington Smyth, Five Years in Seam, London: J Murray, 1898, Vol.II, p.277

Trang 13

Việc khai thác các nguồn tài nguyên cũng bị tư bản nước ngoài khống chế, như

gỗ tếch bị hai công ty Anh Bombay-Burma Trading Corporation và Fukar and Company

kiểm soát

Việc Xiêm bị cuốn hút vào thị trường tư bản chủ nghĩa đã làm phá sản một sốcông trường và ngành nghề thủ công nào mà trình độ kỹ thuật không theo kịp, chẳnghạn như ngành đóng tàu, cơ khí

Mặc dù phải phát triển trong một hoàn cảnh khó khăn như trên, nhưng so vớinhững nước Đông Nam Á khác, chủ nghĩa tư bản Xiêm vẫn còn được thuận lợi hơnnhiều

Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã dẫn đến sự hình thànhgiai cấp công nhân Một đặc điểm ngay từ khi nó mới ra đời là số người Hoa chiếm đasố Tuyệt đại bộ phận công nhân tập trung ở Bangkok

Đời sống công nhân Xiêm tương đối dễ thở hơn so với công nhân các nước ĐôngNam Á khác, nhưng nói chung vẫn còn rất khắc nghiệt: không có luật lao động, giờlàm việc có khi kéo dài đến 12 giờ

Năm 1889, đã xảy ra một vụ bãi công nổi tiếng của công nhân gốc người Hoa ở

ba nhà máy xay xát gạo ở Bangkok Công nhân đã chiếm giữ nhà máy suốt 36 giờ vàchỉ chịu nhượng bộ sau khi quân lính kéo đến đàn áp

Nói chung phong trào công nhân cuối thế kỉ XIX rất tản mạn và cục bộ Sự xâmnhập, dù còn rất hạn chế, của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa để đẩy mạnhthêm tình trạng phân hóa trong hàng ngũ giai cấp phong kiến thống trị Sức ép của cácnước tư bản phát triển đã làm cho nhóm chủ trương cải cách thêm mạnh Triều Rama

IV đã tiến hành một số cải cách, nhưng không đáng kể

II.3 NHỮNG CẢI CÁCH DƯỚI TRIỀU RAMA V

Khi Chulalongkorn mới 15 tuổi, vua cha Rama IV qua đời (1868) Phải đợi đếnnăm 1873, ông mới chính thức thừa kế ngai vàng với vương hiệu Rama V (1873 –1910)

Chulalongkorn là người được các gia sư người Anh dạy dỗ và trong thời gian cònchế độ nhiếp chính (1868 – 1873), bản thân ông đã du hành sang Singapore, Java và

Ấn Độ nhằm tham quan “các chính phủ ngoại quốc, làm quen với lề thói của họ, để sau

đó sàng lọc lấy những các gì có thể dùng làm mẫu mực cho sự phồn thịnh của đất nước sau này”(11)

11 () Waltu F Vella The Impact of the West on the Government of Siam California: University of

California Press, 1955, p.335

Trang 14

Thời kì cầm quyền của Chulalongkorn cũng là thời kỳ trưởng thành của con emtầng lớp thượng lưu đã tiếp thu nền học vấn phương Tây Họ là những người am hiểutình trạng chậm tiến của Xiêm và nguồn gốc của nó Chính họ là chỗ dựa xã hội chonhững cải cách sau này của Chulalongkorn Năm 1886, họ đã đệ đơn lên nhà vua bảnthỉnh nguyện dày 60 trang chứa đựng một chương trình cải cách rất chi tiết

Thực ra không cần phải đợi bản thỉnh nguyện này, Rama V cũng đã thi hànhmột số cải cách rồi Năm 1874, ông ra đạo dụ xóa bỏ thân phận nô lệ của những ngườinào là con của những người nô lệ khi họ được 21 tuổi(12) Cũng trong năm đó, ông thànhlập hai Hội đồng Nhà nước: một bao gồm giới đại quý tộc, một ở cấp thấp hơn và hoạtđộng như là cơ quan nửa lập pháp và chỉ có chức năng tư vấn Chính quyền trung ươngđã dần dần được tổ chức lại trên cơ sở chức năng, hầu đáp ứng được những nhu cầumới mà sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản đã đề ra Năm 1875, tài chính và ngoại giaođã do hai bộ khác nhau đảm trách Năm 1887, các bộ mới được thành lập, đó là Quốcphòng, Chiến tranh và Hải quân Năm 1890, thêm các bộ Công trình công cộng vàGiáo dục Năm 1891, bộ Tư pháp ra đời với nhiệm vụ tổ chức trong cả nước hệ thốngtòa án mới, thay thế các cơ quan pháp luật cũ Năm 1892, hai chức vụ Kalakhom vàPraklang phụ trách các tỉnh miền Nam và miền Bắc đã bị thay bằng bộ Nội vụ và mộtnội các mới gồm 12 bộ trưởng có quyền hạn ngang nhau được thành lập

Cuộc cải cách các cấp chính quyền địa phương cũng quan trọng không kém.Ngay từ năm 1878, viện cớ giải quyết các vấn đề các nhà truyền giáo sống lẫn trongdân tộc Lào, nhà vua đã phái đến Chiêng Mai một ủy viên thay mặt mình Diễn biến nàythực ra có nghĩa là công tước Chiêng Mai đã bị tước mất quyền lực Ông ta vẫn còn giữ

được danh hiệu “e chao ti vít” (“người thống trị suốt đời”) và được tôn vinh cho đến khi

mất, nhưng không ai được quyền thừa kế ông ta

Năm 1894, đã diễn ra một cuộc cải tổ hành chính liên quan đến các đơn vị hành

chính trong nước Đất nước từ đây được phân thành 18 vùng (monthon) do các phái viên triều đình lãnh đạo Các vùng này đến lượt chúng lại được chia thành tỉnh (chang

wad) và tỉnh thành huyện (amphu) Tuy nhiên, cuộc cải tổ này chưa cho phép xác lập

ảnh hưởng của chính phủ trung ương ở các đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã (tambol) và ấp (muban) Đạo luật năm 1897 thừa nhận người cầm đầu xã do những người đứng

đầu các làng bầu ra, sau khi đã được tỉnh trưởng thông qua Xã trưởng và trưởng làngcó trách nhiệm quản lý xã, làng của mình, cung cấp phương tiện di chuyển cho cácviên chức chính phủ Những quyền hạn phong kiến trước đây của xã trưởng và trưởnglàng như huy động nhân dân đi làm những việc công ích, thu thuế bằng một phần hoalợi của nông dân, một phần sản phẩm của thợ thủ công, một phần hàng hóa của thươngnhân thì nay đã bị bãi bỏ Tuy nhiên, họ vẫn còn giữ được nhiều đặc quyền phongkiến khác Sau cuộc cải tổ nói trên, giai cấp phong kiến vẫn còn chiếm đến 90% chứcvụ trong bộ máy hành chính

12 () Năm 1906, chế độ nô lệ bị xóa bỏ hẳn

Trang 15

Trong lúc đợi con cháu của họ được gửi đi học nước ngoài trở về, giai cấp phongkiến Xiêm đã sử dụng một số chuyên viên nước ngoài vào làm trong các ngành như:luật (người Pháp), hải quân (Đan Mạch), lục quân (Đức và Thụy Điển), ngoại giao(Mĩ), tài chính, thuế khóa (Anh)

Để thực hiện những cải cách kinh tế và chính trị theo phương hướng tư bản chủnghĩa nói trên, chính phủ cần rất nhiều tiền mà hệ thống tài chính kiểu phong kiến tấtnhiên không thể đáp ứng nổi Cần phải tiến hành cải cách tài chính

Từ năm 1892, ngân sách triều đình tách khỏi ngân sách Nhà nước Hệ thống thuthuế không qua những người trung gian dần dần được thay thế bằng những nhân viênthu thuế của bộ Tài chính Nhờ đó, số tiền thuế thu được tăng dần: từ 15 triệu (1892)lên 40 triệu tikan (1902)

II.4 ANH VÀ PHÁP CHIA VÙNG ẢNH HƯỞNG Ở XIÊM.

Từ những năm 1870 - 1880, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giaiđoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, cuộc chạy đua chiếm đoạt thuộc địagiữa các cường quốc tư bản diễn ra ráo riết, đặc biệt là giữa Anh và Pháp Bán đảoTrung Ấn không thoát ra ngoài số phận chung của nhiều vùng đất bị Anh và Pháp lăm

le chiếm đoạt

Giới tư bản thương mại Anh ở Singapore đòi hỏi chính quyền thực dân xâm nhậpsâu hơn nữa vào bán đảo Malaya, chiếm các sultanat nào còn chịu ảnh hưởng củaXiêm Năm 1874, chính quyền Singapore đã phái các viên trú sứ đến Perak, Sungei-Ujong, Selangor; đây là bước tiến đến chỗ sáp nhập những tiểu quốc Malaya này.Chính quyền Anh còn tăng cường can thiệp vào các quan hệ giữa Xiêm và các sultanatchư hầu như: Kedah, Trengganu, Kelantan

Cùng lúc đó, Pháp cũng đang đẩy mạnh các hoạt động bành trướng trên bán đảoĐông Dương Sau khi củng cố xong vị thế ở Campuchia (1864), thực dân Pháp liền tìmcách bành trướng lên phía Bắc, dọc theo sông Mekong nhằm tìm con đường thuận lợixâm nhập vào Hoa Nam Từ đầu thập niên 1880, Pháp càng ráo riết thực hiện kếhoạch trên, đồng thời Pháp còn dự tính đào kênh ngang qua eo đất Kra nối liền vịnhXiêm La với vịnh biển Andaman để rút ngắn con đường biển từ châu Âu sang TrungQuốc và các nước Viễn Đông khác Nhưng dự án đã gặp phải sự chống đối từ phíathương nhân Anh ở Singapore vốn lo sợ cho vai trò của thành phố-cảng-kho hàng nàysẽ bị sút giảm và từ giới thương nhân Xiêm đang chiến đấu giữ đặc quyền xuất khẩugạo vì họ lo rằng kênh đào Kra sẽ cho phép gạo xuất khẩu từ Rangoon và Calcuttađược chở nhiều tới thị trường Trung Quốc với giá rẻ hơn

Cuộc chạy đua bành trướng thế lực và thuộc địa trên bán đảo Trung Ấn đã làmcho mâu thuẫn Anh – Pháp trở nên gay gắt Tuy nhiên, cuối cùng Pháp đã bỏ dự ántrên vì xét thấy nó không mang lại nhiều lợi nhuận Nhưng quan hệ giữa Pháp và Anh

Trang 16

không vì thế mà trở nên dễ dàng hơn, vì việc Pháp lăm le chiếm Lào cĩ thể làm nảy sinhnguy cơ quân đội Pháp và quân đội Anh trực tiếp đụng đầu ngay tại vùng lãnh thổ ngụ

cư của người Thái ở phía Bắc, giáp ranh với Miến Điện Để tránh tình thế không haynày, năm 1889, theo chỉ thị của chính phủ Pháp, đại sứ Pháp tại London đã chủ độngtrao đổi với bộ trưởng Ngoại giao Anh về khả năng trung lập hóa Xiêm Trong báo cáo

của mình, ông này viết: “Hôm nay đại sứ Pháp đã đến thăm tôi để đưa ra đề nghị trung

lập hóa Xiêm Ông ta tuyên bố rằng khi làm việc này, chính phủ Pháp nhằm hai mục tiêu: chính phủ Pháp muốn xác lập một vương quốc Xiêm hùng mạnh và độc lập với những đường biên giới rõ ràng từ cả hai phía Chính phủ Pháp cũng muốn đi đến thỏa thuận mà theo đó một rào chắn vững chắn sẽ được thiết lập giữa lãnh địa của Anh và của Pháp trên bán đảo Trung Ấn Một thỏa thuận như vậy sẽ có lợi cho cả hai nước và có thể ngăn ngừa những va chạm rất có thể xuất hiện giữa hai bên”(13)

Và thực sự giới kinh doanh Anh quả đang lo lắng trước những hoạt động bànhtrướng ráo riết của Pháp ở phần phía Tây bán đảo Đông Dương Tháng 8.1889, ngoạitrưởng Anh thông báo cho đại sứ Pháp rằng chính phủ Anh sẵn sàng có thái độ ưu áiđối với kế hoạch thiết lập một vương quốc Xiêm hùng mạnh và trao cho phía Pháp tấmbản đồ xác định biên giới của Xiêm

Đầu năm 1803, đồng thời với việc chuẩn bị sáp nhập Lào, Pháp tăng cường gâysức ép quân sự buộc Xiêm thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Lào và mở rộngđường biên giới nước này đến bờ tả ngạn sông Mekong Được Anh ủng hộ, ngày 3.10,Pháp và Xiêm ký hiệp ước thừa nhận quyền lực của Pháp ở Lào Sau đó ngày15.1.1898 tại London, Anh và Pháp ký hiệp ước phân chia vùng ảnh hưởng của Anh,vùng nằm ở bờ phía đông là của Pháp Cả hai cam kết đảm bảo nền độc lập và toànvẹn của lưu vực sông Menam, nơi đăït kinh đô Bangkok, và không kí một hiệp ướcriêng lẻ nào cho phép một cường quốc thứ ba được hoạt động ở vùng này

Nếu muốn hiểu vì sao Xiêm vẫn tồn tại như là nước độc lập duy nhất ở vùngĐông Nam Á thì chính đây mới thực là nguyên nhân chủ yếu, vì cơ bản mà nói chế độphong kiến Xiêm với những cơ chế lỗi thời của nó về quân sự, chính trị và những mâuthuẫn xã hội gay gắt trong nửa sau thế kỉ XIX không cho nó đủ sức chống đỡ nổi mộtcuộc chiến tranh xâm lược trực tiếp từ phía chủ nghĩa tư bản phương Tây Cái khácgiữa chế độ phong kiến Xiêm và chế độ phong kiến các nước Đông Nam Á khác là nóđã có một chính sách đối ngoại khá linh hoạt va ønhờ vậy đã biết lợi dụng cơ hội kháchquan hiếm có mà vị trí địa lí đã mang lại Nguồn gốc của tính linh hoạt này nằm ở chỗtriều đại Chakri có nhiều quyền lợi gắn bó với hoạt động ngoại thương, cũng như việctiếp xúc tương đối sớm với khoa học, kỹ thuật và tư tưởng phương Tây của các vịhoàng thân tiến bộ, là sự tồn tại của nền kinh tế tiền tệ của cộng đồng người Hoa Tấtcả đã khiến tầng lớp thống trị Xiêm kịp thời nhận thức sức mạnh ghê gớm của cácpháo hạm tư bản phương Tây đối với các loại vũ khí thô sơ thời phong kiến

Như vậy đến cuối thế kỉ XIX, dù còn giữ được độc lập, Xiêm thực sự trở thànhmột nước phụ thuộc mà ở đó ảnh hưởng của Anh là chiếm ưu thế

13 () J.G.D Campell, Siam in the Twentieth Century London, 1902, pp.291 – 92

Trang 17

CHƯƠNG III QUAN HỆ SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA PHÁT TRIỂN

ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO XÓA BỎ CÁC

Trang 18

HIỆP ƯỚC BẤT BÌNH ĐẲNG (1896 – 1917)

III.I TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhờ các nước tư bản phươngTây gia tăng đầu tư (14) và nhờ những món tiền lớn mà chính phủ Xiêm vay được củanhững nước này(15), nền kinh tế Xiêm phát triển khá nhanh chóng Giá trị hàng nhậpkhẩu và xuất khẩu hàng năm tăng từ 34,5 triệu và 48 triệu (1896) lên 91 triệu và 115,5triệu tikan (1913-14) Hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo (chiếm 77% tổng giá trị), tiêu(10%), da thú Xiêm chủ yếu buôn bán với Anh và các thuộc địa của nước này –Singapore và Hongkong - (80-85% giá trị hàng xuất khẩu và 72-79% hàng nhập khẩu)

Do dân ít mà diện tích đất đai lại rộng nên vấn đề ruộng đất của nông dân ởXiêm không đăït ra một cách gay gắt như ở những nước Đông Nam Á khác Từ năm

1900 đến năm 1914, dân số tăng lên 1,5 triệu (tức 21%), trong khi đó diện tích trồnglúa tăng đến 14 triệu rai (16) (tức 100%) Do chỉø một phần đất tương đối không nhiều rơivào tay địa chủ , nền kinh tế tiểu nông đã có cơ hội phát triển mau chóng từ đầu thế kỉ

XX Một nhà nghiên cứu người Mĩ tên A.C Cater có đến Xiêm vào đầu thế kỉ này, đã

viết: “Cùng với gia đình, nông dân Xiêm canh tác phần đất khá lớn Trung bình họ làm

chủ khoảng 7ha, nhưng những phần đất rộng 15-20 ha không phải là hiếm Nhờ việc thâm canh mà số thóc xuất khẩu có thể tăng lên” Tất nhiên đây là tình hình của các

tỉnh miền Trung, nơi ông ta đặt chân đến, nếu nhìn chung trong cả nước thì nông dânlàm chủ những phần đất rộng khoảng 5 rai

Trong thời kì đang được xem xét ở đây, tiến trình giải phóng về mặt pháp lýngười nông dân khỏi sự â lệ thuộc phong kiến coi như đã hoàn thành Đạo dụ năm 1897bổ sung cho Đạo dụ 1874 nói rằng người dân nào sinh sau ngày 16.12.1897 không thể

bị đem bán làm nô lệ vì mắc nợ Đạo dụ năm 1900 xóa bỏ chế độ nô lệ

Thị trường xuất khẩu gạo được mở rộng, các quan hệ phong kiến ở nông thônlần lượt được xóa bỏ , tất cả đã tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩaxâm nhập ngày càng sâu vào nông thôn Nhưng tình hình này hoàn toàn không cónghĩa là địa chủ và phương thức bóc lột phong kiến đã bị đánh bại, mà trái hẳn lại dotính chất chính trị của Nhà nước phong kiến chỉ trải qua ø những cải cách nhỏ giọt nhằmthích ứng với hoàn cảnh chung trong vùng nên lực lượng thống trị ở nông thôn không

bị ảnh hưởng đáng kể Bằng chứng cụ thể của nhận xét này là giá gạo những năm

14 () Năm 1905 riêng Anh đầu tư khoảng 2 triệu sterling

15 () Từ năm 1905 đến năm 1914, chính phủ Xiêm vay của nước ngoài, chủ yếu là Anh, món tiền lên đến 8,683 triệu sterrling

16 () 1 rai= 0,16ha

Trang 19

1890 – 1905 tăng từ 63,5 tikan một thùng lên 136,75, nhưng lợi tức của nông dân hầunhư không tăng

Sự phát triển đáng kể của nền kinh tế trong giai đoạn mà ta đang xem xét ở đâycòn được bộc lộ trong một lĩnh vực hoạt động khác – thủ công nghiệp, vốn hầu như bịphá sản trong nửa sau thế kỉ XIX bởi sự cạnh tranh của hàng hóa phương Tây Trongnhững thập niên đầu thế kỉ XX, thủ công nghiệp không những được phục hồi mà cònphát triển, nhờ đó giới tiểu tư sản thành thị và nông thôn đã bắt đầu có ảnh hưởng đếntiến trình chính trị trong nước

Giai cấp công nhân trong thời kỳ này ở Xiêm vẫn còn đang trong quá trình hìnhthành Nét đặc thù của nó là đa số cĩ gốc Hoa kiều Sự khác biệt về ngôn ngữ và sự xalạ về dân tộc đã gây trở ngại cho quá trình giác ngộ quyền lợi giai cấp của công nhânHoa kiều Tuy vậy, từ cuối những năm 1880, giai cấp công nhân Xiêm đã bắt đầuchuyển từ quá trình “tự mình” thành quá trình “cho mình” Tháng 7.1910, công nhânHoa cùng với thương nhân Hoa đã tổng bãi công trong 3 ngày, làm tê liệt hoàn toànsinh hoạt kinh tế Bangkok

Chủ nghĩa tư bản dân tộc cũng có điều kiện phát triển mạnh Nhiều ngân hàngđã ra đời, mà phần lớn thuộc tư sản người Hoa Tư sản dân tộc tiếp tục giữ vị trí chủđạo trong ngành chế biến gạo Từ 1896 đến 1912, số nhà máy xay xát ở Bangkok tăngtừ 25 lên 50 trong đó 47 là của tư bản trong nước Tư bản dân tộc bắt đầu xâm nhập cảvào những ngành trước đây hầu như hoàn toàn do tư bản ngoại quốc khống chế nhưđiện, khai thác gỗ, xây dựng, vận chuyển đường thủy

Ở một nước nửa thuộc địa như Xiêm, hoàn cảnh phát triển của chủ nghĩa tư bảndân tộc tuy được thuận lợi hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản dân tộc các nước ĐôngNam Á khác, nhưng không phải là không gặp nhiều khó khăn

Những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế không mang tính chất cơ cấu, mà chỉ lànhững tiến bộ trong việc khai phá đất đai, chăn nuôi gia súc và nội thương Chủ nghĩa

tư bản Xiêm không có vốn nhiều để phát triển những ngành công nghiệp quan trọngnhư mỏ, luyện kim, đóng tàu, cơ khí Ngay cả ngành lương thực và lâm nghiệp chỉphát triển theo hướng phục vụ thị trường trong nước

Nguồn tích lũy vốn bị hạn chế, những tàn tích phong kiến, sức ép kinh tế vàchính trị của các cường quốc thực dân, ngân sách quân sự quá lớn đã làm tốc độ pháttriển công nghiệp của Xiêm bị chậm lại Phần lớn lợi tức thu được từ các ngành kinh tếchính như tài chính, thương mại và nông nghiệp lọt vào tay đại địa chủ và đại tư sản.Hậu quả tất nhiên là đến đầu thập niên 1910, đây là giới có uy thế nhất về chính trị vàkinh tế ở Xiêm

Trang 20

Càng phát triển và càng xâm nhập sâau vào các ngành kinh tế trước đây vốn vẫnlà lĩnh vực độc quyền của tư bản phương Tây, chủ nghĩa tư bản Xiêm càng cảm thấy bị

tư bản phương Tây gò bó và chèn ép Đó là mảnh đất cho sự nảy sinh của chủ nghĩadân tộc tư sản và phong kiến

III 2 SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC TƯ SẢN

Tư bản người Hoa chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế ởXiêm Chính họ khống chế phần lớn nhà máy xay xát gạo, vốn là ngành kinh tế hàngđầu của tư bản dân tộc Họ kiểm soát không chỉ toàn bộ thương mại bán lẻ, mà cả hoạtđộng xuất khẩu gạo cũng phải qua tay họ Các công ty xuất nhập khẩu phương Tâykhông thể không sử dụng các mại bản người Hoa Từ năm 1904 đến 1908 ba ngânhàng người Hoa làm chủ đã được thành lập

Bộ phận tư sản người Hoa không chỉ tích cực hoạt động kinh tế, mà cả hoạtđộng chính trị, không phải với tư cách là người Xiêm, mà như là người dân TrungQuốc Do đó hoạt động chính trị của họ rất gắn bó với tình hình chính trị ở Trung Quốc

Từ đầu thế kỉ XX, giống như ở Trung Quốc, nhóm tư sản người Hoa theo xu thếtự do chiếm ưu thế Phong trào của họ mạnh dần theo tình trạng khủng hoảng mỗi lúcmột gay gắt ở Trung Quốc và đạt đến đỉnh cao trong năm 1905 Năm đó, Quốc hội Mĩthông qua đạo luật hạn chế số người Hoa di cư sang Mĩ Giới tư sản người Hoa ở Xiêmđã tổ chức phong trào bài Mĩ ngay tại Bangkok, bằng hình thức tẩy chay hàng hóa Mĩ.Về đối nội tư sản, người Hoa theo đuổi mục đích thành lập chính thể đại nghị

Từ năm 1905, khi một bộ phận tư sản ở Trung Quốc chuyển sang xu thế cáchmạng qua việc ủng hộ Đồng Minh Hội mà Tôn Dật Tiên vừa thành lập ở Tokyo, giới

tư sản người Hoa ở Xiêm cũng bị phân hóa, một số người theo xu thế dân chủ Năm

1906, họ đã ra tờ “Mênam Nhật báo”cổ vũ đường lối và chủ trương chính trị của Tôn

Dật Tiên Năm 1907, chi nhánh của Đồng Minh Hội đã được thành lập ở Bangkok, vàsau đó ở một số thành phố khác Trong những năm 1908-1911, khi hoạt động củanhững nhà cách mạng Trung Quốc ở Đông Dương, Indonesia, Malaya và Singapore bịcấm thì Bangkok trở thành trung tâm quan trọng của phong trào cách mạng TrungQuốc ở hải ngoại Ngân hàng Xiêm-Hoa được thành lập năm 1908 đã giúp đỡ nhiềucho tổ chức Đồng Minh Hội ở Bangkok

Như vậy, chủ nghĩa dân tộc tư sản là con đẻ của giới tư sản người Hoa và tiếntrình phát triển của nó gắn liền với tình hình chính trị ở Trung Quốc hơn là với tìnhhình chính trị ngay tại Xiêm Vì thế, khác với chủ nghĩa dân tộc phong kiến, nó khôngtạo được ảnh hưởng đáng kể trong các tầng lớp nhân dân xứ này

Phát triển bên cạnh phong trào dân tộc tư sản người Hoa là phong trào cải cáchcủa các viên chức và địa chủ người Thái theo xu hướng tự do Phong trào này chịu ảnh

Trang 21

hưởng của những cải cách đã và đang được tiến hành ở Nhật Nước này được giới viênchức và địa chủ người Thái coi là tấm gương cần noi theo trên con đường canh tân đấtnước và giành lại địa vị hoàn toàn độc lập cho Xiêm Tuy nhiên, trào lưu này cũngkhông gây ảnh hưởng đáng kể vì năm 1907, Pháp và Nhật kí hiệp ước cùng đảm bảothuộc địa của nhau ở châu Á Chính lúc này Xiêm đang tiếp nhận một số nhà hoạt độngcách mạng từ Trung Quốc và Việt Nam chạy sang lánh nạn Sự có mặt của họ gópphần thức tỉnh và đẩy mạnh ý thức dân tộc của giới trí thức và viên chức cấp thấp

Thắng lợi của cuộc Cách mạng năm 1911 ở Trung Quốc đã tác động mạnh đếnmột nhóm tiến bộ trong giới trí thức Xiêm gốc Hoa, mà số lớn là sĩ quan cấp thấp trongquân đội Những sĩ quan này mưu tính giết vua Rama IV khi ông làm lễ đăng quangngày 14.3.1912, nhưng vài ngày trước buổi lễ âm mưu đã bị bại lộ Gần 90 sĩ quan lụcquân và hải quân bị bắt Biến cố vừa kể đã làm nhà vua lo ngại sức mạnh của quânđội Ông đã quyết định xây dựng một lực lượng vũ trang riêng có tên gọi rất hoa mỹ

“Cọp Hoang” Sau đó, ông còn thành lập một số tổ chức thanh niên cũng mang tên nàynhằm nhồi nhét vào đầu họ tư tưởng sùng bái chế độ quân chủ

III.3 CHỦ NGHĨA DÂN TỘC PHONG KIẾN

Cuối thế kỉ XIX, ý thức được vị thế “đệm” của Xiêm nằm giữa khu vực mà Anhvà Pháp đang tranh nhau chiếm đoạt thuộc địa và cũng vì muốn giành ảnh hưởng vớicác tầng lớp đang lên như tư sản địa chủ và tiểu tư sản theo xu hướng tự do và dân chủ,giai cấp phong kiến cầm quyền đã cải tiến tư tưởng phong kiến của mình, trang bị chonó nội dung và mục đích mới – đấu tranh chống sự xâm nhập về tư tưởng, chính trị vàkinh tế từ phương Tây, khắc phục tình trạng lạc hậu của đất nước Hệ tư tưởng mới nàymang tên chủ nghĩa dân tộc phong kiến Nó phản ánh quyền lợi của tầng lớp địa chủquý tộc cầm quyền, có cơ hội làm giàu bằng con đường phát triển tư bản chủ nghĩa,nhưng đồng thời không đoạn tuyệt với các phương thức bóc lột nửa phong kiến, nhất làtrong quan hệ với nông dân Do đó trong chủ nghĩa dân tộc phong kiến có sự pha trộncác tư tưởng phong kiến và tư sản

Chủ nghĩa dân tộc phong kiến chủ trương tập hợp tất cả người dân sinh sốngtrên lãnh thổ Xiêm, kể cả bộ phận người Hoa chưa sang được lâu, thành một khối

thống nhất chung quanh ngai vàng Vua Chulalongkorn tuyên bố: “Chính sách của tôi

là luôn luôn dành cho người Hoa khả năng sinh sống và sinh lợi như đồng bào của tôi Tôi xem họ không phải là người nước ngoài, mà như bộ phận hợp thành nhân dân vương

Chủ nghĩa dân tộc phong kiến cố gắng cố kết những tầng lớp xã hội phong kiếnkhác nhau dưới khẩu hiệu cần duy trì chế độ quân chủ như là hình thức Nhà nước thích

hợp cho đất nước Vua Vajiravudh, tức Rama VI (1910 – 1925) viết: “Đưa chế độ đại

17 () Skinner Willian, Chineses Society in Thailand, Cornell, Ihaca, N.Y 1957, pp.161 -62

Trang 22

nghị vào Xiêm lúc này là quá sớm Bất kì phong trào nào vội vã đi theo xu hướng này đều sẽ bắt chúng ta trả giá đắt”

Chủ trương đoàn kết dân tộc chống lại các cường quốc thực dân phương Tây,khôi phục nền độc lập hoàn toàn cho tổ quốc, đó là mặt tiến bộ của chủ nghĩa dân tộcphong kiến Lý tưởng hóa chế độ quân chủ, nhấn mạnh quá đáng con đường phát triểnđặc thù của Xiêm, đó là mặt tiêu cực của hệ tư tưởng này

III.4 ĐẤU TRANH XÓA BỎ CÁC HIỆP ƯỚC BẤT BÌNH ĐẲNG

Cho đến cuối thế kỉ XIX, Xiêm là nước duy nhất trong vùng Đông Nam Á giữđược nền độc lập của mình, tuy thường xuyên bị Anh - Pháp uy hiếp và tước đoạtnhững vùng đất vốn trước đây thuộc ảnh hưởng của nó Tuy nhiên, nhờ mâu thuẫn Anh

- Pháp mà hiệp định ký ngày 15.11.1896 còn chừa lại cho triều đình Chakri lưu vựcsông Mênam, tức 1/4 lãnh thổ

Để tăng cường vị thế quốc tế của Xiêm, mùa hè năm 1897, Chulalongkorn đãthực hiện một chuyến du hành sang các nước châu Âu là Anh, Pháp, Đức, Nga Nhờđó Xiêm đã phần nào bình thường hóa được quan hệ với hai cường quốc chính ở ĐôngNam Á là Anh và Pháp Năm 1899, Pháp đã thỏa thuận trao trả tỉnh Chantaburi và xóabỏ quy chế phi quân sự hóa đối với dải đất rộng 25km chạy dọc theo bờ tả ngạn sôngMêkong, để nhận vùng Luông Prabang nằm bên bờ hữu ngạn Nhưng mãi đến tháng2.1904, những thỏa hiệp này mới được ghi thành văn bản Ngày 23.3.1907, Pháp vàXiêm kí hiệp ước theo đó hai tỉnh cũ của Campuchia là Bátdomboong và Xiêm Riệpsẽ được trả về cho Campuchia, bù lại Pháp từ bỏ quyền tại ngoại pháp quyền của cáckiều dân người châu Âu mang quốc tịch Pháp sinh sống ở Xiêm Năm 1909, Xiêm vàAnh kí hiệp ước, theo đó Xiêm thừa nhận vị thế độc tôn của Anh ở Kelantan,Trengganu và Kedah vốn là những chư hầu Malaya cũ của Xiêm, còn Anh từ bỏ quyềntại ngoại pháp quyền của các kiều dân người châu Á sinh sống ở Xiêm và cho Xiêmvay tiền xây dựng đường sắt nối với hệ thống đường sắt trên bán đảo Malaya

Hiệp định trên mở đường cho việc Xiêm lần lượt giành lại quyền lãnh sự tàiphán đã nhượng cho các cường quốc phương Tây khác

Thất bại trong mưu toan canh tân đất nước theo “con đường của Nhật”, Rama VIđã triệt để khai thác những mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản ở Đông Nam Á đểtăng cường địa vị nước ông Chiến tranh thế giới thứ nhất là cơ hội để thực hiện ý đồnày Khi chiến tranh bùng nổ, Xiêm đã tuyên bố trung lập, nhưng sau đó khi chiềuhướng phát triển của cuộc chiến đã trở nên rõ ràng, Xiêm đã tuyên chiến với Đức Nhờđó, Xiêm đã được mời tham dự Hội nghị Versailles và tham gia Hội Quốc Liên

Sự có mặt của Xiêm trong Hội Quốc Liên hoàn toàn không có nghĩa là Xiêm đãđược Anh và Pháp đối xử như một nước độc lập Quan hệ giữa ba nước này với nhau

Trang 23

trong những năm sau đó và nhất là thái độ của chính phủ Xiêm đối với phong trào giảiphĩng dân tộc ở Đông Nam Á tỏ cho thấy Xiêm vẫn còn phụ thuộc ở mức độ nhất địnhvề kinh tế, chính trị và ngoại giao vào hai cường quốc thực dân lớn trong vùng

CHƯƠNG IV

Trang 24

CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ PHONG KIẾN

BỊ KHỦNG HOẢNG (1918- 1932)

_

IV.1 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI

Trong thời kì được xem xét ở đây, xã hội Xiêm dường như ít trải qua những biếnchuyển lớn nếu so với một số nước Đông Nam Á thuộc địa Trong nước không thấyxuất hiện một chính đảng, một tổ chức chính trị, một tổ chức công đoàn nào Lực lượngchính trị năng động nhất vẫn là công nhân gốc Hoa (họ đã bắt đầu bãi công ngay từcuối thế kỉ XIX) Dù lực lượng tư sản dân tộc và lực lượng lao động làm thuê ngàycàng đông đúc, giới quý tộc phong kiến vẫn còn đóng vai trò rất lớn và vẫn còn chiếmgiữ những chức vụ chính trong bộ máy hành chính Quan điểm chính trị-tư tưởng của họnằm gọn trong khuôn khổ của chủ nghĩa dân tộc quân chủ-phong kiến

Trong nước nổi lên hai mâu thuẫn chính: mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dânXiêm và chủ nghĩa tư bản nước ngoài và mâu thuẫn giai cấp nhằm vào chế độ quânchủ chuyên chế Mâu thuẫn dân tộc lôi cuốn cả quý tộc phong kiến vì chính họ cũngmuốn phục hồi chủ quyền dân tộc trong quan hệ với các nước đế quốc phương Tây.riêng mâu thuẫn giai cấp có cơ sở xã hội hẹp hơn nhiều: chỉ mới có một số ít phần tửtrong quân đội và trí thức đã du học ở các nước châu Âu hoặc chịu ảnh hưởng của cuộccách mạng phản đế phản phong Trung Quốc Không ít người trong số họ là người laiThái-Hoa

Sau chiến tranh, tư bản nước ngoài, nhất là tư bản Anh, đã tăng cường xâm nhậpvào nền kinh tế Xiêm Đó là cơ sở kinh tế và chính trị khiến nội dung chống đế quốccủa chủ nghĩa dân tộc phong kiến-quân chủ của quý tộc Thái vẫn còn thu hút đa sốnông dân, dù rằng hệ tư tưởng này đã tỏ ra hết sức phản động về mặt đối nội

IV.2 TƯ BẢN NƯỚC NGOÀI TĂNG CƯỜNG XÂM NHẬP VÀO XIÊM

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư bản Anh đã mau chóng chiếm được vị thếáp đảo ở Xiêm vì hai đối thủ chính của nó là tư bản Đức và Pháp đã bị loại

Trong những năm trước khủng hoảng kinh tế, 72% hàng nhập khẩu của Xiêm làtừ Anh Tư bản nước này chiếm được vị thế vững chắc trong ngành khai thác thiếc:năm 1929-30 khai thác 132.700 picul quặng thiếc so với 124.000 của tư bản bản xứ(18).Sau năm 1930 toàn bộ số quặng thiếc khai thác được đều được chở sang Penang vàSingapore để chế biến và sau đó được đưa ra bán ở Singapore và London

18() Siam Nature and Industry Minsitry of Commerce and Communication Bangkok, 1930, p.114

Trang 25

Moôt ngaønh khaùc laø khai thaùc goê ôû mieăn Baĩc trong nhöõng naím 1920-1930 tieâptúc bò tö bạn nöôùc ngoaøi khoâng cheâ vôùi soâ voân ñaău tö 3 trieôu Ñoù laø soâ tieăn cụa 4 cođng

ty Anh, 1 cođng ty Phaùp vaø 1 Ñan Mách, trong ñoù lôùn nhaât laø “Bombay-Burma TradingCorporation” naĩm quyeăn kieơm soaùt caùc hoát ñoông xuaât khaơu cụa Xieđm Tö bạn nöôùcngoaøi chieâm 85% soâ goê khai thaùc ñöôïc, tö bạn bạn xöù – 14%, coøn 1% laø cụa boô Lađmsạn chính phụ Bangkok (19)

Nhö vaôy, hai ngaønh kinh teâ mang lái soâ haøng xuaât khaơu coù giaù trò ñöùng haøng thöùhai vaø thöù ba ñeău naỉm trong tay tö bạn nöôùc ngoaøi

Khođng chư luõng ñoán kinh teâ, tö bạn nöôùc ngoaøi coøn tìm caùch chi phoâi cạ caùcquan heô kinh teâ-xaõ hoôi vaø chính trò ñeơ ñạm bạo vò theâ ñoôc quyeăn cụa noù Tröôùc heât töbạn nöôùc ngoaøi giuùp taíng cöôøng ñòa vò cụa quyù toôc-chụ ñaât vaø khoẫng cheâ tö sạn dađn toôcđang hoăi phaùt trieơn baỉng heô thoâng tín dúng Trong nhöõng naím 1920, boô maùy trung gianñođng ñuùc goăm caùc nhaø tö bạn bạn xöù ñöôïc hình thaønh trong quaù trình trôï giuùp tö bạnnöôùc ngoaøi baùn ra thò tröôøng theâ giôùi caùc sạn phaơm ñòa phöông vaø tieđu thú sạn phaơmnöôùc ngoaøi tređn thò tröôøng noôi ñòa

Trong giôùi tö sạn thöông nhađn Hoa kieău ñaõ xuaât hieôn moôt hình thöùc lieđn doanhmang teđn “Cođng xi”: 5 hay 6 nhaø buođn cuøng chung voân vaø phöông tieôn kinh doanh Hóthöôøng mua haøng ôû moôt cođng ti nhaôp khaơu nhaât ñònh vôùi giaù öu ñaõi Taât nhieđn “cođngxi” cánh tranh ñaĩc löïc vôùi nhöõng nhaø buođn bạn xöù ít voân Caùc haõng buođn nöôùc ngoaøithích ñaịt quan heô vôùi “cođng xi” vì heô thoâng naøy ñạm bạo hoaøn trạ tín dúng ñuùng hánvaø tieđu thú haøng hoùa nhanh baỉng máng löôùi ñái lí ñòa phöông

Trong nhöõng naím 1920, baỉng con ñöôøng mua chuoôc tö bạn Anh ñaõ tìm caùch lođikeùo ñöôïc moôt soâ quyù toôc, nhôø số coâ vaân nöôùc ngoaøi vaên ñöôïc söû dúng trong caùc boô vaø

cô quan khaùc nhau cho ñeân cuoôc Caùch máng 1932 Naím 1930 coù ñeân 64 coâ vaân ngöôøiAnh naĩm giöõ caùc chöùc vú chính thöùc trong chính phụ Xieđm

II.3 TÌNH CẠNH CỤA NOĐNG DAĐN

Trong nhöõng naím 1920, nođng nghieôp – ñaịc bieôt laø vieôc troăng luùa – vaên chieâm

vò trí haøng ñaău trong caùc ngaønh kinh teâ vì noù thu huùt ñeân 80% löïc löôïng lao ñoông vaøcung caâp 80% giaù trò haøng xuaât khaơu(20)

Tuy quan heô phong kieân vaên coøn thoâng trò, möùc ñoô xađm nhaôp cụa phöông thöùcsạn xuaât tö bạn chụ nghóa vaøo nođng thođn ngaøy caøng ñaùng keơ vaø ñaõ gađy ra tình trángphađn hoùa trong haøng nguõ nođng dađn Neâu tröôùc ñađy vaân ñeă ruoông ñaât cụa nođng dađn chöatrôû thaønh vaân ñeă lôùn thì nay noù ñaõ noơi leđn nhö moôt hieôn töôïng ñaùng chuù yù Vieôc taôptrung ruoông ñaât vaøo tay ñòa chụ vaø nhöõng kẹ cho vay naịng laõi moôt beđn, vaø tình tráng

19 () Siam Nature and Industry Minsitry of Commerce and Communication Bangkok, 1930, p.129

20 () M.A Hugh, Economic Development of Siam, Washington, 1929, p.10-11

Trang 26

nông dân nông dân bị mất ruộng đất một bên đã trở thành xu hướng rõ rệt ở nông thôn,đặc biệt ở miền Trung Nông dân-lĩnh canh đã trở thành tầng lớp điển hình ở vùng này.Để có đủ ruộng canh tác, họ phải đi mướn của địa chủ với số tô chỉ có thể trả trongnhững năm được mùa hoặc gạo được giá Sự phát triển của nền thương mại xuất khẩugạo không những không cải thiện, mà còn làm cho tình cảnh của nông dân thêm phần

khó khăn “Năm 1926, khi việc buôn bán lúa gạo đạt đến đỉnh phát triển cao nhất của

nó và gạo chiếm đến 80% hàng xuất khẩu, thì tình cảnh của nông dân chỉ khá hơn tình cảnh của người nô lệ chút ít”(21)

Hậu quả không tránh khỏi của việc quan hệ tư bản chủ nghĩa xâm nhập vàonông thôn và đời sống khó khăn của nông dân là số nợ của họ tăng lên Năm 1929,bình quân số nợ của mỗi nông hộ như sau (đơn vị: bạt)(22)

Nợ nần của nông dân, mức độ bóc lột nông dân ngày càng tăng từ phía địa chủvà những kẻ cho vay lãi, tình trạng lạc hậu trong quan hệ sản xuất và kỹ thuật canhtác, nạn kiêm tính ruộng đất của nông dân , tất cả đã đẩy nông nghiệp rơi vào tìnhtrạng khủng hoảng Chính phủ Xiêm đã cố gắng giải quyết bằng cách cung cấp tíndụng với lãi suất nhẹ – 1,2% một năm – cho nông dân các hợp tác xã và xây dựng cáchợp tác xã, nhưng tiến trình thực hiện diễn ra rất chậm: trong suốt 10 năm (1917 –1926) chỉ xây dựng được 77 hợp tác xã của 77 làng ở miền Trung

II.4 ĐỊA VỊ KINH TẾ CỦA TƯ SẢN DÂN TỘC

Tuy được ra đời và phát triển trong một nước độc lập (dù là hết sức tương đối),địa vị kinh tế của giai cấp tư sản dân tộc Xiêm không vì thế mà tỏ ra khá hơn so vớigiai cấp tư sản dân tộc các nước Đông Nam Á-thuộc địa

Các cơ sở xí nghiệp thuộc sở hữu của các nhà doanh nghiệp bản xứ không sửdụng quá 15 công nhân Hoạt động chính của tư bản dân tộc tập trung vào việc chếbiến lúa, nhất là xay xát Số nhà máy xay xát tăng nhanh: từ 200 (1927) lên 500(1930) Tuy nhiên, đa số các nhà máy lớn vốn kiểm sốt hoạt động xuất khẩu gạo đềutập trung vào tay tư sản gốc Hoa Ngoài ra, tư sản dân tộc còn giành được vị trí đáng kểtrong công nghiệp lâm sản và khai khoáng, nhưng sản phẩm của họ trong hai ngànhnày chỉ phục vụ được nhu cầu trong nước, do đó không có điều kiện phát triển mạnh.Đó là chưa kể họ bị lệ thuộc vào vốn của tư bản nước ngoài

Một bộ phận tư sản dân tộc kinh doanh trong các lĩnh vực như xuất khẩu gạo vàkhoáng sản, hoặc các sản phẩm hướng ra thị trường bên ngoài như đường, trầm hương,

21 () V Thompson Thailand: the New Siam, New york, 1941, p.378

22 () Janes n Andreus, Siam Second Rural Economic Survay 1934 -35 Bangkok, 1935, p.300

Trang 27

các sản phẩm sơn mài, ngà voi õ có điều kiện phát triển hơn, nhất là trong những nămchiến tranh khi luồng hàng hóa nhập từ phương Tây vào bị ngưng trệ Nhưng chính vìthế mà họ nói cảm thấy rõ hơn bất kì tầng lớp tư sản nào khác trong nước sự cạnh tranhcủa tư bản nước ngoài trong những năm 1920

Trong thập niên 1920, sự phát triển của tư sản dân tộc có một điểm đáng chú ý,một số địa chủ nhỏ đã bỏ vốn lập và khai thác đồn điền cao su theo phương thức tư bảnchủ nghĩa Và chính hoạt động này đã phải đương đầu với sự cạnh tranh ác liệt của tưbản độc quyền Anh, vốn đang khống chế ngành cao su ở Malaya, nên cũng không có

cơ hội phát triển nhanh Đến trước khủng hoảng kinh tế, diện tích cao su ở Xiêm rộngkhoảng 375.000 rai (1 rai = 0,16ha) cho từ 7 đến 10.000 tấn một năm

Sự cạnh tranh của tư bản nước ngoài, nhu cầu ít ỏi của thị trường nội địa, sự cảntrở của các quan hệ phong kiến còn tồn tại nhiều ở cả nông thôn lẫn thành thị, tìnhtrạng bị lệ thuộc vào tư bản nước ngoài về vốn , đó là tất cả những trở ngại đã kìmhãm sự phát triển của tư sản dân tộc Thái Lan Trong những năm 1920 – đầu nhữngnăm 1930, do đa số họ đều là những nhà tư sản nhỏ có gốc tích từ địa chủ mà ra vàquyền lợi chưa thực sự mâu thuẫn đến độ gay gắt với quần chúng nông dân do chỗ vấnđề ruộng đất chưa nổi lên chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống chính trị-xã hội Xiêm.Đó là nguyên nhân khiến cho cuộc đấu tranh chống phong kiến và chống đế quốc,quyền lợi giữa họ và nông dân còn trùng hợp với nhau

Phần lớn đại tư sản ở Xiêm là người gốc Hoa giữ vai trò mại bản: một số xuấtthân từ địa chủ và viên chức cao cấp Bộ phận tư sản này có quyền lợi gắn bó chặt chẽvới tuyên bố nước ngoài Đây chính là lý do khiến bộ phận tư sản dân tộc cảm thấymình không chỉ bị chèn lấn từ bên ngoài mà cả từ bên trong Tư sản gốc Hoa cũngchiếm đa số trong tư sản vừa và nhỏ Họ có mặt trong nhiều ngành kinh tế và do đóhứng chịu phần lớn sự cạnh tranh của tư bản nước ngoài và tư sản mại bản Ngoài ra họvẫn gắn bó với quê hương, nơi phong trào cách mạng đang phát triển mạnh Đó lànhững lý do giải thích tại sao tư bản vừa và nhỏ gốc Hoa là thành phần năng động nhấtvề chính trị ở Xiêm trong những năm 1920

II.5 TÌNH CẢNH CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

So với những năm trước chiến tranh, đời sống của công nhân trong những năm

1920 không thay đổi bao nhiêu Họ không được bảo vệ bởi một đạo luật lao động và dođó hoàn toàn bị lệ thuộc vào giới chủ nhân Giờ làm việc nhiều khi bị kéo dài đến 12-14giờ Lương rất thấp, không đủ đảm bảo mức sống tối thiểu Ở Bangkok, lao động trẻ

em 5 – 6 tuổi không phải là hiện tượng hiếm(23) Cuộc sống của công nhân bị bủa vâytứ phía: họ phải sống trong các lán trại tồi tàn mướn lại của chủ nhân, phải mua hànghóa trong các căn tin của nhà máy, công xưởng tất cả bằng giá cắt cổ Để giải trí, họ

bị đưa đẩy vào các sòng bạc, bàn đèn, nhà thổ

23 () V Thompson, Labor Problems in SouthEast Asia, London, 1943, p.234

Trang 28

Trung tâm của phong trào công nhân có tổ chức ở Xiêm là Bangkok, nơi trongnhững năm 1920 đã xuất hiện các tổ chức công đoàn, đặc biệt là trong giới công nhânngười Hoa Sau thất bại của cuộc cách mạng 1925-27 ở Trung Quốc, một số không ítnhà hoạt động cách mạng cánh tả, trong đó có cả những người chịu ảnh hưởng của tưtưởng Mác-Lênin của Trung Quốc đã chạy sang Xiêm lánh nạn Chính họ là nhữngngười góp phần hình thành nên phong trào cộng sản Xiêm về mặt tổ chức và tư tưởng.Khoảng năm 1928, Hiệp hội Thanh niên Cộng sản đã được tổ chức nhằm tuyên truyềnhọc thuyết Mác-Lênin trong giới trẻ và công nhân gốc Hoa

II.6 TÌNH HÌNH ĐỐI NGOẠI

Hoạt động đối ngoại của Xiêm trong những năm 1920 được mở đường bởi “Sắc

lệnh Hòa bình” và “Lời kêu gọi gửi đến tất cả những người Hồi giáo lao động ở Nga và phương Đông” mà chính quyền xôviết cơng bố ngay trong những ngày đầu thắng lợi của

Cách mạng tháng Mười Trong hai văn kiện lịch sử vừa nêu, chính quyền xơviết đã đòixóa bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền Sa hoàng đã ép các dân tộcyếu hơn phải ký, phủ nhận tất cả các hiệp ước bí mật và thủ tiêu ách áp bức chính trị

Phái đoàn Xiêm tại Hội nghị Versailles năm 1919 đã gửi đến những nước thamdự lời đề nghị xóa bỏ những hiệp ước bất bình đẳng mà Xiêm đã kí với các nướcphương Tây trong thế kỉ trước Xét thấy hiệp ước này không còn mang lại những lợi lộclớn như trước nữa, cho đến năm 1935, các nước phương Tây đã lần lượt chịu xóa bỏchúng

Năm 1920, Xiêm trở thành nước thành viên của Hội Quốc Liên

II.7 TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ

Cho đến cuộc Cách mạng 1932, toàn bộ quyền lực chính trị trong nước nằmtrong tay giai cấp địa chủ phong kiến Đứng đầu bộ máy cai trị là nhà vua nắm tất cảcác quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp Mọi chức vụ lãnh đạo các bộ và cơ quantrung ương đều nằm trong tay người của hoàng tộc Bộ máy quan liêu phong kiến nàydưới triều vua Vajiravudh (Rama VI – 1910-1925) đã tiêu phí hơn 20% ngân sách hàngnăm(24) Đó là một chế độ quân chủ chuyên chế Nó mang lại mọi ưu đãi phong kiếncho tầng lớp thượng lưu phong kiến

Lợi dụng việc nắm giữ quyền lực chính trị trong tay, tầng lớp này đã cấu kết với

tư bản nước ngoài để làm giàu cho cá nhân bằng nhiều con đường khác nhau: kinhdoanh, tham nhũng Họ làm chủ nhiều ruộng đất, các cơ sở công nghiệp, thương mại Được hưởng mọi ưu đãi phong kiến, họ trở thành đối tượng căm tức của những tầng lớp

tư sản và tiểu tư sản thành thị đang gặp nhiều trở ngại trong quá trình phát triển

24 () P Fistié La Thailande, ed P.U.F., Paris, 1963, p.69

Trang 29

Năm 1925, Prajadhipok lên cầm quyền với vương hiệu Rama VII (1925 – 1935).Ông này đã tăng cường vị trí của các vương công hoàng tộc đến mức họ thực sự nắmđộc quyền chính trị trong nước Ngay trong năm lên cầm quyền, ông đã phục hồi Thamchính viên tối cao mà cả 5 thành viên đều là các vị vương công Tất cả các vấn đềquốc gia trọng đại đều phải có ý kiến của họ Họ còn dự tất cả các cuộc họp của nộicác mà đa số thành viên đều là người của hoàng tộc Ngay cả Hội Cơ mật được RamaXIII tổ chức lại thành một ủy ban gần 40 người mà ông dự tính sẽ đóng vai trò của tiềnnghị viện cũng không vượt ra ngoài ảnh hưởng của các vị vương công vốn nắm mọi vịtrí then chốt và ý kiến của họ luôn luôn chiếm ưu thế(25).

Tình hình trên đã khiến các viên chức bậc trung và những sĩ quan quân độikhông xuất thân từ giới quý tộc phong kiến rất bất mãn vì con đường thăng quan tiếnchức của họ bị bịt kín

Năm 1928, những phần tử tư sản và tiểu tư sản dân tộc mang tâm trạng bất mãnvới chế độ quân chủ chuyên chế đã tập hợp thành một chính đảng mang tên đảngNhân dân Không lâu sau khi ra đời, Đảng mau chóng bị phân hóa thành hai cánh: mộtcánh do nhà luật học trẻ tuổi Pridi Phanomyong, xuất thân từ một gia đình thương nhânngười Hoa ở Ayuthaya cầm đầu Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Tôn Dật Tiên, ông chủtrương tiến hành những cải cách xã hội sâu rộng, cải tiến triệt để quan hệ ruộng đất,cải thiện văn hóa, khoa học và tiến bộ kỹ thuật Với những chủ trương này, rõ ràngnhóm Pridi phản ánh quyền lợi của những người dân chủ tiểu tư sản có chỗ dựa xã hộilà nông dân Tuy nhiên, nhóm không tính đến chuyện gây dựng phong trào quần chúnglàm hậu thuẫn cho những chủ trương chính trị của họ: họ chỉ muốn thực hiện chúngbằng con đường “từ trên xuống” Do đó, họ đã liên kết với các sĩ quan quân đội nằmtrong cánh hữu đảng nhân dân Cánh nàùy bao gồm, ngoài các sĩ quan quân đội, đạidiện giới viên chức và thương nhân, các địa chủ tự do Cánh đại diện quyền lợi của đại

tư sản đang trong quá trình hình thành vốn rất bất mãn với tệ lạm quyền của quý tộc vàđang mong muốn vươn lên cầm quyền Rất sẵn sàng ủng hộ những cải cách mang tínhchất tư sản, cánh bảo thủ lại tỏ ra rất ù ác cảm đối với những biến đổi xã hội sâu rộng.Mục tiêu của cánh là thành lập một chính thể quân chủ lập hiến mô phỏng chế độ Đứchoàng Cầm đầu cánh bảo thủ là các đại tá Praya Phahon Phonphaynhasena, PrayaSong Sudarat

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã làm cho tình hình Thái Lan thêmcăng thẳng

II.8 CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929- 1933 VÀ TÌNH TRẠNG TÀI CHÍNH TỒI TỆ

Những hậu quả tích tụ lại từ hai vụ mùa thất thu liên tiếp trong các năm 1928 –

1929 cùng với các hậu quả tai hại của cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho giá trị xuất

25 () O Fistié, Op.cit, p.71

Trang 30

khẩu của gạo giảm từ 201 triệu bạt (1927-1928) sụt xuống còn 103 triệu (1930-1931)(26), của cao su giảm từ 5-6 triệu hàng năm xuống còn gần 40 vạn (1932-1933)(27) Lànguồn cung cấp đến 80% tổng giá trị hàng xuất khẩu, sự suy yếu của gạo và cao su tấtảnh hưởng xấu đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân lao động – kể cả lớp tư sảnbậc vừa và nhỏ Nền tài chính trong nước theo đĩ mà trở nên tồi tệ Thu nhập của ngânsách từ 104,9 triệu bạt (1929-1930) sụt xuống còn 78,9 triệu (1931-1932)(28) Chính phủđã đối phó bằng cách giảm bớt khoản chi tiêu mà trước hết nhằm vào quân đội – từ 21triệu bạt (1929-1930) bị cắt còn 12,75 triệu (1932-1933) – và bộ máy hành chính: mộtsố viên chức bị sa thải, lương của những người còn lại bị giảm 10%, ngoài ra họ cònphải gánh thêm sắc thuế mới đánh vào lợi tức và đồng lương(29).

Tất cả tình hình trên đã làm tâm trạng bất mãn của giới sĩ quan quân đội và cácnhà hoạt động chính trị bùng ra thành hành động

CHƯƠNG V CUỘC CÁCH MẠNG 1932

26 () P Fistié, Op.cit, p.73

27 () James C Ingram Economic Change in Thailan since 1850, Stanford University Press, 1955, p.95

28 () K.P London Thailand in Transition, Chirag, 1939, p.83

P Fistié, Op.cit, p.73.

29 () P Fistié, Op.cit, p.73.

Trang 31

V.1 DIỄN BIẾN

Sáng ngày 24.6.1932, trong lúc vua Rama VII đang đi nghỉ ở một bãi tắm, cácđơn vị quân đội do các sĩ quan đảng viên đảng Dân tộc chỉ huy đã tiến công cung điệnnhà vua và các cơ quan chính phủ Ba ngày sau, Rama VII đã buộc phải chấp nhận bảnHiến pháp lâm thời chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế, tuyên bốXiêm là một nước quân chủ lập hiến Nhà vua bị tước hết mọi đặc quyền (ngoại trừquyền ân xá) Chủ quyền tối thượng trong nước thuộc về nhân dân Các vương công bịgạt khỏi các chức vụ hành chính, kể cả quốc phòng Nhà vua vẫn còn là người đứngđầu vương quốc, nhưng chỉ là trên danh nghĩa Quyền lập pháp, do Quốc hội nắm giữ,sẽ được tách khỏi quyền hành pháp và tư pháp Cơ quan hành pháp sẽ là ủy ban nhândân của đảng Nhân dân Lúc đầu cơ quan này sẽ nắm giữ mọi quyền hành trong nước,bổ nhiệm đại biểu quốc hội, thành viên nội các và kiểm soát công việc của họ Do đó,tuy tất cả các viên chức cũ vẫn còn được lưu dụng và thậm chí thủ tướng đầu tiên củachế độ mới là Mahopakern, một đại diện tiêu biểu của tầng lớp viên chức và khôngphải là đảng viên đảng Nhân dân, người chủ thực sự trong nước chính là ủy ban nhândân của đảng này

Chính quyền mới đã thi hành một số biện pháp cải thiện đời sống nhân dân, bãibỏ thuế thân và thuế ruộng đất, ban hành thuế lợi tức lũy tiến, cấm tước đoạt của nôngdân công cụ lao động và gạo để trừ nợ, tăng lương cho các viên chức cấp thấp, giảmlương của các viên chức cấp cao

Sau cuộc đảo chính, trong nửa sau năm 1932 phong trào công nhân đã phát triểnmạnh Tháng 6 và tháng 11, nhiều cuộc bãi công đã diễn ra ở Bangkok, trong đó đángkể nhất là cuộc đấu tranh của cơng nhân nhà máy điện

V.2 HIẾN PHÁP THÁNG 12.1932.

Không lâu sau đó, tình hình phân bố lực lượng đã thay đổi không có lợi cho cánhtiến bộ trong đảng Nhân dân: cánh bảo thủ đã liên minh với giới quan liêu cũ (khôngcó các vương công) để vươn lên giành vị trí hàng đầu với Manopakorn ở chức vụ Chủtịch Uûy ban Nhân dân và Phahon Phonphayuliasena ở chức vụ tổng tư lệnh quân đội.Còn Pridi Phanomyong và những người theo ông rõ ràng đã bị thất thế Kết quả của sựthay đổi được thể hiện rất rõ trong nội dung bản Hiến pháp chính thức sẽ được mang raáp dụng từ ngày 10.12.1932

Hiến pháp mới vẫn duy trì thể chế quân chủ lập hiến, nhưng quyền hạn của nhàvua được tăng cường Cá nhân nhà vua được tuyên bố là thiêng liêng và bất khả xâmphạm Nhà vua có quyền triệu tập và giải tán quốc hội, có quyền phủ quyết (chỉ là tạmthời) các dự luật Ủy ban Nhân dân bị giải tán và được thay bằng Hội đồng Nhà nướcsẽ hoạt động như là cơ quan nắm quyền hành pháp và chiụ trách nhiệm trước quốc hội.Các vương công, quý tộc được coi là các “chính khách tối cao” và được phép trở thành

Trang 32

những nhà ngoại giao và cố vấn bên cạnh các cơ quan Nhà nước Quyền lập pháp nằmtrong tay quốc hội mà lúc đầu sẽ bao gồm các thành viên của quốc hội lâm thời cũ, sauđó quốc hội sẽ gồm phân nửa số đại biểu được bầu, phân nửa còn lại sẽ do thủ tướngchỉ định; nhưng nhiều lắm là sau 10 năm, quốc hội sẽ chỉ gồm toàn những đại biểu dâncử

Rõ ràng bản hiến pháp mới là một bước lùi so với Hiến pháp lâm thời Năm

1933, phe bảo thủ còn giành thêm một thắng lợi quan trọng khác: đảng Nhân dân bịgiải tán và chỉ còn được duy trì như một câu lạc bộ

V.3 KẾ HOẠCH KINH TẾ CỦA PRIDI PHANOMYON

Cánh bảo thủ mà giờ đây đã liên kết với tầng lớp quý tộc địa chủ và cánh tiếnbộ trong đảng Nhân dân cũ còn đụng độ một lần nữa qua bản kế hoạch cải cách kinhtế kèm với hai dự luật về tiền lương công nhân và quyền hành kinh tế của chính phủ,mà Pridi, lúc này là bộ trưởng không bộ trong chính phủ, đệ trình ngày 12.3.1933

Mục tiêu của kế hoạch này không gì khác thường: nó nhằm nâng cao lực lượngsản xuất, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cơ giới hóa và hợp tác lao động.Nhưng chính những biện pháp thực hiện lại tỏ ra rất tiến bộ Pridi đòi quốc hữu hóatoàn bộ nền kinh tế: công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải và nông nghiệp,nhưng không phải bằng con đường trưng thu mà là có bồi thường Sau đó, những ngườilàm việc, bao gồm công nhân các ngành kinh tế (kể cả nông nghiệp) và viên chức, đềusẽ do Nhà nước trả lương Nhà nước, theo Pridi, phải có trách nhiệm đảm bảo đời sốngấm no cho nhân dân Trong kế hoạch của mình, ông quan niệm Nhà nước như là “cơ

quan điều chỉnh”: “Nhà nước phải phân phối đủ tiền cho nhân dân, để họ có thể trao

đổi tất cả những thứ cần thiết cho cuộc sống – lương thực, quần áo, nhu yếu phẩm, theo yêu cầu cá nhân của mỗi người”

Như vậy, Nhà nước sẽ là người đứng ra tổ chức lại bộ máy sản xuất, là ngườiphân phối của cải làm ra, lập mối quan hệ giữa người giàu có của và người nghèo cócông Chính tính chất không tưởng trong kế hoạch của Pridi nằm ở chỗ này Ông đã đềcao quá đáng và hoàn toàn không có cơ sở chính trị-xã hội vai trò của Nhà nước trongmột chính thể quân chủ lập hiến

V.4 LỰC LƯỢNG PHẢN ĐỘNG PHẢN CÔNG

Thực tế đã mau chóng bóc trần tính chất không tưởng của kế hoạch Ngay saukhi nó được công bố, kế hoạch cải cách đã làm cho giai cấp tư sản và giai cấp phongkiến, mà quyền lợi kinh tế vẫn còn nguyên, lo sợ Nhà vua và thủ tướng PhyaManopakorn đã mau chóng lớn tiếng phê phán rằng bản kế hoạch mang nội dung

Trang 33

“cộng sản” và đã mạnh dạn lên án nó Ngày 1/4, chính Manopakorn đã tuyên bố tìnhtrạng phân liệt trong chính phủ và tố cáo nhóm Pridi có âm mưu áp đặt “chế độ cộngsản” Dựa theo Hiến pháp, nhà vua đã ra sắc lệnh giải tán Quốc hội và Hội đồng Nhànước và ngay hôm sau ban hành một đạo luật chống cộng, mà theo đó sẽ bị giam từ 10

năm đến chung thân và bị phạt 5000 bạt những ai bị buộc tội “tuyên truyền chủ nghĩa

ngày 12.4, Pridi Phanomyon phải bỏ chạy ra nước ngoài Nhiều chức vụ mới trongchính phủ Manopakorn mới đã lọt vào tay các sĩ quan thành viên của đảng Nhân dâncũ, trong đó chiếm vị trí hàng đầu là đại tá Phraye Phahon Phomphanuhasena và thiếutá Phibun Songram

Nhưng liên minh giữa Manopakorn và cánh sĩ quan thân hữu không kéo dài lâu.Là đại diện quyền lợi của tư sản dân tộc vốn theo xu hướng tự do cải cách, cánh sĩquan lo lắng trước những mưu toan phục hồi chế độ quân chủ chuyên chế và địa vị củacác vương công mà màn khởi đầu là sự cấu kết giữa nhà vua và thủ tướng Manopakornđể loại trừ Pridi Khi xuất hiện những dấu hiệu cho thấy thủ tướng muốn gạt bỏ họ, các

sĩ quan đã ra tay trước Ngày 20.6.1933, một nhóm sĩ quan trẻ do Phibun Songram cầmđầu đã thông đồng với tư lệnh quân đội là Phahon Phomphanuhasena làm đảo chính lậtđổ chính phủ Phahon được giao thành lập chính phủ mới, gồm cả Phibun và một số sĩquan khác Tuy lên án chủ nghĩa cộng sản và tất cả những gì có quan hệ với tư tưởngnày, cánh quân nhân vẫn rất mong muốn tạo thêm lực lượng để chống lại âm mưu phảncông của các vương công Đó là lý do khiến chính phủ Phahon cho phép PridiPhanomyon trở về nước cuối tháng 9 Ngày 1.10, ông được mời tham gia chính phủ

Ngay trong tháng 10, những người phản động theo xu hướng quân chủ do hoàngthân Bovaradej cầm đầu đã mưu toan gây bạo loạn lật đổ chính phủ, nhưng đã bị đậptan Lực lượng bảo hàong bị tan rã, nhiều hoàng thân phải bỏ chạy ra nước ngoài cònnhững kẻ ủng hộ bị bắt giam Vụ bạo loạn đã làm cho giới quân nhân nghi ngờ chínhbản thân nhà vua Tháng 1.1934, Rama VII sang Mĩ chữa bệnh và sau đó sang Anh lưutrú Ngày 2.3.1935, ông quyết định thoái vị, nhường ngôi cho con là Ananda Mahidol,lúc ấy mới 10 tuổi và đang học ở Thụy Sĩ

Như vậy ba cuộc đảo chính liên tiếp diễn ra trong năm 1933 đã làm suy yếu cảđối thủ tả (những người tiểu tư sản dân chủ) và hữu (lực lượng bảo hoàng của cánh sĩquan theo xu hướng tự do cải cách) Kể từ đây, chỗ đứng của phe sĩ quan quân độitrong nền chính trị Thái Lan đã được xác lập và tiếp tục bền vững đến ngày nay Trongsố những sĩ quan mau chóng chiếm được vị trí hàng đầu trên chính trường Thái Lan,nổi lên Phibon Songram mà tháng 9.1934 trở thành bộ trưởng Chiến tranh Được thựchiện bằng con đường “từ trên xuống”, mà không hề có sự tham gia của bất kì lực lượngquần chúng nào, cuộc Cách mạng 1932 không gây ra nhiều chuyển biến xã hội.-kinhtế sâu sắc và bộc lộ nhiều thiếu sót vốn thấy ở một cuộc cách mạng tương tự Khôngcó và cũng không chịu đi tìm hoặc gây dựng sự hậu thuẫn của quần chúng, những30() P Fistié, Op.cit, P.79

Trang 34

người tiểu tư sản dân chủ do Pridi Phanomyon cầm đầu tuy có đóng một vai trò tíchcực trong cuộc cách mạng này, nhưng đã không đưa cuộc cách mạng tiến xa hơn mụctiêu quân chủ lập hiến, và cuối cùng đã bị chính lực lượng bảo hoàng gạt sang mộtbên Tình hình này đã ngăn cản không cho cuộc Cách mạng 1932 chuyển thành cuộccách mạng dân chủ tư sản Hậu quả là kế hoạch cải cách kinh tế của Pridi Phanomyonmà nếu thực hiện sẽ gây ra những biến chuyển xã hội-kinh tế không nhỏ cho một xãhội đang bị những quan hệ phong kiến bó buộc không cho phát triển, cũng bị bác bỏ

Dù bị những hạn chế trên, Cách mạng 1932 đã mang lại những thay đổi chính trịquan trọng Tầng lớp đại địa chủ và vương công thống trị đã bị gạt khỏi quyền lựcchính trị và trong những năm sau đó thế lực kinh tế của họ đã dần dần bị giảm sút Lêncầm quyền là khối đại tư sản và địa chủ mang xu hướng tự do dựa vào sự ủng hộ củaquân đội Nhưng do khối này quá suy yếu về chính trị mà biểu hiện cụ thể là không tổchức nổi một chính đảng nào và địa vị kinh tế cũng chưa thực sự là vững vàng, nênkhông lâu sau đó đã nhường chỗ cho một lực lượng mà nếu xét về mặt tổ chức thì vượttrội hơn những phe nhóm khác trong nước: đó là đội ngũ sĩ quan quân đội vốn rất tánđồng quan điểm tự do-cải cách của giai cấp tư sản dân tộc

CHƯƠNG VI TÌNH HÌNH THÁI LAN CHO ĐẾN THÁNG 12.1941

_

Trang 35

VI.1 PHONG TRÀO CÔNG NHÂN

Tuy lực lượng quần chúng hoàn toàn không được chú ý huy động trong cuộcCách mạng 1932, bản thân biến cố lịch sử này vẫn trở thành điều kiện thuận lợi chocuộc đấu tranh của họ đòi tiến hành những cải cách dân chủ Trong năm 1933, đã xuấthiện nhiều cuộc đấu tranh mang tính tự phát của nhân dân, trong đó có một số vụchiếm đất Còn công nhân không chỉ bãi công ở Bangkok mà còn ở nhiều thành phốkhác Tính tự phát của phong trào dần dần nhường chỗ cho tính tổ chức Một số cuộcđấu tranh đã đưa ra được những yêu sách đặc thù của giai cấp vô sản Trong năm 1934

ở Bangkok đã diễn ra hai cuộc bãi công quan trọng Một của công nhân tất cả các nhàmáy xay xát Họ đã đòi tăng lương và gửi thỉnh nguyện thư lên chính phủ để yêu cầuchính phủ kiểm soát các nhà máy xay xát và giải thoát họ khỏi ách chuyên quyền củachủ Tuy nhiên, cuộc bãi công đã không thành công Ngay khi cuộc bãi công này vừachấm dứt, công nhân ngành giao thông liền khởi sự đấu tranh làm tê liệt ngành đườngsắt ở thủ đô Họ chiếm trụ sở ban quản trị và đòi chính phủ bổ nhiệm những viên chứcmới, có khả năng hơn Đích thân thủ tướng Phraya Phahon phải đứng ra dàn xếp, hứahẹn thỏa mãn những yêu sách của công nhân

Sau hai vụ bãi công lớn trên, Uûy ban thường trực về vấn đề công nhân đã đượcthành lập do thống đốc Bangkok làm chủ tịch

Tháng 12.1934, các tài xế Bangkok đã bãi công đòi tăng lương Tháng 7.1935,các tài xế xe ca tuyến đường Bangkok-Chiêngmai đã bãi công với yêu sách tương tự

Điều kiện lao động của công nhân gốc người Hoa rất nặng nề, các xí nghiệp địaphương, nhất là ngành khai thác mo,û đã sử dụng công nhân gốc người Hoa Họ phảilàm việc suốt 12 giờ một ngày, vậy mà chỉ nhận được của chủ chỗ ở trong các lán trạitồi tàn và một ít nhu yếu phẩm ở các cửa hiệu của chủ Các chi phí này được tính vàolương và kết quả là một năm làm việc vất vả họ chỉ nhận được một số tiền rất ít ỏi: 20bạt Tình cảnh của công nhân người Thái và người Lào ở các tỉnh Đông Bắc cũngkhông khá hơn Lương của công nhân không chuyên nghiệp được từ 1/2 bạt đến 1 bạt,trong khi giá gạo là 5 xatang một kg, còn thịt là 20xatang một kg(31)

Trong hoàn cảnh của Xiêm sau Cách mạng 1932, yêu cầu đấu tranh cải thiệnđời sống công nhân đã đặt ra vấn đề thành lập các tổ chức công đoàn Trong nhữngnăm 1930, con số các tổ chức công đoàn tăng lên một cách đáng kể Tuy nhiên vìnhững hiềm khích dân tộc vẫn tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của phongtrào công nhân mà tuy số lượng công đoàn có tăng, nhưng vẫn phân tán và quy môkhông lớn

Trong những năm 1930, công nhân Xiêm chưa nhận thức được rằng kẻ thù củahọ không phải là những nhà tư sản riêng lẻ, mà là cả chế độ tư bản bóc lột Công nhân

31 () 1 bạt: 100 xatang

Trang 36

còn cần đến sự giúp đỡ của chính phủ, còn đòi hỏi chính phủ phải kiểm soát các xínghiệp tư nhân Họ chưa nhận ra bản chất giai cấp của chính phủ Bangkok Tuy nhiên,các nhóm mácxít xuất hiện trong những năm 1920 đã mở rộng hoạt động của họ tronghàng ngũ công nhân

VI.2 ĐƯỜNG LỐI SÔVANH TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NỘI VÀ ĐỐI NGOẠI

Việc nhà vua mới tiếp tục ở lại Thụy Sĩ học đã làm tăng vị thế của khối tư sảnđịa chủ Tuy nhiên, trong quãng thời gian được đề cập ở đây, giữa khối này và khối tiểu

tư sản đã diễn ra cuộc đấu tranh ác liệt mà Quốc hội là điểm trung tâm Các đại biểucủa cánh thứ hai muốn tạo điều kiện cho tư sản dân tộc Còn các đại biểu của cánh thứnhất thì theo đuổi lập trường sôvanh đại Thái trong các chính sách đối nội và đốingoại Họ đặc biệt chú ý đến vấn đề quân sự, tăng ngân sách quốc phòng Lực lượngcủa cánh thứ nhất được tăng thêm nhiều bởi việc Phibun Songram, đại diện của nhóm

“sĩ quan trẻ”(32), được bổ nhiệm làm bộ trưởng Chiến tranh và bộ trưởng Nội vụ tháng9.1934 Ông công khai bày tỏ quan điểm rằng Xiêm chỉ có thể phát triển được bằngcách tăng cường khả năng quân sự, theo gương các nước Đức, Italia và Nhật

Trong những năm 1930, ngân sách quốc phòng chiếm tỉ lệ ngày càng cao trongtổng ngân sách quốc gia – từ 20% trong những năm cuối cùng của chế độ cũ, tăng lên27% năm 1937-1938 với 28 triệu bạt, gấp hơn hai lần năm 1932-1933(33)

Các đại biểu tiểu tư sản vốn chỉ chiếm đa số trong số các đại biểu được bầutrong cuộc bầu cử đầu năm 1937 đã mạnh mẽ phê phán đường lối quân sự hóa Tháng12.1938, khi Phraya Bahol từ chức vì không muốn tường trình tỉ mỉ trước Quốc hộingân sách chính phủ, Phibun Songram được cử ra lập chính phủ mới, mà trong đó đạidiện của quân đội chiếm đa số Bản thân Phibun ngoài chức thủ tướng, đã kiêm nhiệmluôn bộ trưởng Quốc phòng và bộ trưởng Nội vụ Như vậy là cuộc đấu tranh dằng daikéo dài từ sau Cách mạng 1932 giữa cánh tư sản-đại địa chủ tự do-cải cách và cánhtiểu tư sản dân chủ đã kết thúc bằng thắng lợi của cánh thứ nhất Kể từ đây chế độ đạinghị quân chủ lập hiến đã bị quân phiệt hóa dần

Về đối ngoại, từ tháng 9.1934 chức bộ trưởng Ngoại giao nằm trong tay PridiPhanomyon Việc này đã ảnh hưởng tích cực đến đường lối đối ngoại của Xiêm chođến nửa sau thập niên 1930 Pridi đã vận động các cường quốc phương Tây xét lạinhững hiệp ước đã ký năm 1927 còn chứa đựng một số hạn chế đối với nền quan thuếcủa Xiêm Ngày 21.3.1936, chính phủ Bangkok đã tự lập ra chế độ quan thuế mới, bấtchấp những hạn chế ghi trong các hiệp ước và ngày 5.11 đơn phương tuyên bố vô hiệuhóa các hiệp ước trên

32 () Sau khi đảng nhân dân bị giải tán, các sĩ quan vốn nằm trong cánh hữu của đảng, đã tự xưng là các

“sĩ quan trẻ”, để phân biệt với sĩ quan của chế độ quân chủ vốn ủng hộ chế độ này

33 () K.P London Thailand in Transition, Chirag, 1939, p.65

P Fistié, Op.cit, p.80.

Trang 37

Nhưng đồng thời cánh hữu tư sản-địa chủ lại tỏ ra có thiện cảm với chính sáchngoại giao hiếu chiến của Nhật Hai bên đã tăng cường các quan hệ ngoại giao, thươngmại Năm 1929-1930 hàng hóa Nhật chiếm 8% số hàng nhập khẩu của Xiêm, năm

1937 con số này lên 26% (34) Chính phủ Xiêm tìm cách thu hút vốn đầu tư của Nhật.Nhiều kế hoạch xây dựng các công ty, nhà máy hỗn hợp Nhật-Xiêm đã được soạnthảo Cánh sĩ quan theo Phibun đã gây sức ép thúc giục chính phủ xích lại gần Nhật vàthậm chí còn tính chuyện liên minh quân sự với Nhật

Sau khi Phibun lên cầm quyền, đường lối đối nội và đối ngoại của Xiêm mang

rõ những nét sôvanh nước lớn Về đối ngoại, tư tưởng này thể hiện chủ trương thànhlập “Nhà nước Đại Thái” bao gồm tất cả những lãnh thổ có người Thái sinh sống, kểcả lãnh thổ của những nước láng giềng Chính đó là lí do mà ngày 24.6.1939, chínhphủ đã đổi tên nước thành Thái Lan Về đối nội, tư tưởng sôvanh nhằm trước hết vàokiều dân người Hoa Vốn chiếm vị trí hàng đầu trong nền kinh tế Xiêm, những nhàdoanh nghiệp người Hoa, mà số vốn trong những năm 1930 lên đến 120 triệu dollar(35),đã trở thành đối tượng của chính sách phát triển khu vực kinh tế tư bản nhà nước và mởđường cho sự trỗi dậy của tư sản và đại tư sản người Thái Bằng những chính sáchmang nặng tính phân biệt như đánh thuế lợi tức cao, quốc hữu hóa các nhà máy xaythóc mà phần lớn thuộc quyền sở hữu của người Hoa, hạn chế hoạt động của nhữngtrường học người Hoa, tăng tiền sở phí nhập cư từ 30 bạt lên 100 bạt , chính phủPhibun hi vọng sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của người Hoa Nhưng thực tế của nhữngnăm sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho thấy chính sách này không mang lại kết quảđáng kể

VI.3 ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN KINH TẾ – GIAI CẤP ĐẠI TƯ SẢN HÌNH THÀNH

Sau khi bác bỏ kế hoạch phát triển kinh tế của Pridi Phanomyon, cuối năm 1939

chính phủ Xiêm đã thông qua một kế hoạch khác, mà trọng tâm là “mang lại cho chính

phủ khả năng nhận được số tư bản cần thiết để phát triển nền kinh tế trong nước” Kế

hoạch này sau đó được chính phủ Phibun thực hiện một cách kiên quyết hơn nữa

Về nông nghiệp, kế hoạch dự trữ xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, tăngcường quỹ tín dụng, giải quyết tình trạng nông dân bị tước mất ruộng, mở rộng hệthống thủy lợi , nhưng không nhắc gì đến vấn đề cải cách ruộng đất Trong lĩnh vựccông nghiệp, chính phủ trù tính phát triển khu vực tư bản nhà nước, bỏ vốn xây dựngcác nhà máy công nghiệp thực phẩm và công nghiệp nhẹ Kế hoạch nhấn mạnh yêucầu mở rộng thị trường nội địa và nước ngoài cho hàng hóa sản xuất ở Xiêm

34 () Pacific Affairs, June 1942, p.p 206-07

35 () H.O Cullia Foreign Capital in Shoutheast Asia New York, 1942, p.70

Trang 38

Việc thực hiện kế hoạch trên gặp rất nhiều trở ngại về kinh tế và chính trị.Trước hết là cả tư sản dân tộc và chính phủ đều không đủ vốn Trước Cách mạng 1932,vốn tập trung vào tay địa chủ-quý tộc Sau Cách mạng, họ bỏ chạy ra nước ngoài cùngvới vốn Kế hoạch mở rộng thị trường nội địa không thực hiện được vì nông thôn còn bịkìm hãm bởi các quan hệ sản xuất phong kiến và nửa phong kiến vốn không bị Cáchmạng 1932 đe dọa.

Mặc dù vậy, ngành công nghiệp nhẹ đã đạt được một số kết quả nhất định,Nhiều mặt hàng trước đây phải nhập từ nước ngoài thì nay đã dần được sản xuất ngaytrong nước Năm 1938, chính phủ đã ra đạo luật quy định 70% vốn của các công ty vậntải đường thủy, mà từ trước đến nay vẫn bị tư sản Anh khống chế, phải là của ngườiThái Năm 1939, thời hạn nhượng cho các công ty tư bản nước ngoài khai thác gỗ tếchđã hết Sau khi xem xét lại các điều kiện nhượng khai thác, bộ Công nghiệp rừng đãrút bớt thời hạn và diện tích nhượng Một trong những nguyên nhân khiến chính phủchưa dám mạnh dạn quốc hữu hóa một số công ty khai thác lâm sản của nước ngoàivẫn là tình trạng thiếu vốn Đối với ngành khai thác thiếc, chính phủ cũng áp dụngnhững biện pháp tương tự

Dù có nhiều hạn chế, kế hoạch kinh tế trên rõ ràng đã góp phần đắc lực tăngcường vị thế kinh tế của tư sản dân tộc và mở đường cho sự hình thành một tầng lớp tưsản mới: đó là đại tư sản

Xuất thân từ giới có quan hệ với địa chủ và quan liêu quân phiệt, đại tư sản đãbiết khai thác bộ máy nhà nước và các công ty, nhà máy thuộc khu vực kinh tế tư bảnnhà nước để làm giàu cho cá nhân, nhất là từ khi Phibun Songram lên cầm quyền Tiềnđề kinh tế-xã hội của chính quyền này là tình trạng phát triển yếu ớt của tư bản “từbên dưới”, tức từ hàng ngũ các thương nhân, địa chủ và thợ thủ công do tình trạng lạchậu chung của nền kinh tế Như vậy, đại tư sản là tầng lớp thượng lưu trong nước,không chỉ làm chủ kinh tế mà còn khống chế cả sinh hoạt chính trị và không bị một sựkiểm soát nào mang tính chất dân chủ Đây chính là con đường dẫn đến chế độ độ tài ởXiêm trong nửa sau thập niên 1930

VI.3 CHIẾN TRANH VỚI ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP

Lợi dụng tình trạng quan hệ quốc tế ở châu Âu trở nên căng thẳng và chính sáchbành trướng của đế quốc Nhật ở Viễn Đông trong những năm cuối thập niên 1930,chính phủ Thái Lan đã đi theo tư tưởng sơvanh Đại Thái và mục tiêu là thành lập mộtquốc gia “Đại Thái” hùng mạnh Năm 1939, một tổ chức sôvanh mang tên “Đảnghuyết thống Thái” đã được thành lập nhằm hỗ trợ cho mục tiêu này

Khi chiến tranh bùng nổ và lan rộng ở châu Âu, quân phiệt và tư sản cánh hữu ởThái Lan đã công khai bày tỏ ý đồ dùng các biện pháp quân sự cướp đoạt lãnh thổ củanhững nước láng giềng, đặc biệt là của Lào và Campuchia, vì Pháp đã bị phát xít Đức

Trang 39

chiếm đóng Phibun Songram tuyên bố: “Nước Pháp không thể tiếp tục kiểm soát Đông

Dương được nữa Những người anh em Thái của chúng ta sẽ gia nhập chế độ lập hiến

phải nhân nhượng Còn Nhật đã khuyến khích tham vọng của Thái Lan để sử dụngnước này làm công cụ gây áp lực và bành trướng ở Đông Nam Á Trong kế hoạch xâmlược của Nhật, Thái Lan được chọn làm bàn đạp vào Miến Điện và Malaya Tháng6.1940, Nhật và Thái Lan kí hiệp ước hữu nghị

Tháng 9.1940, lợi dụng việc Pháp bị phát xít Đức đánh bại và chiếm đóng vàquân đội Nhật tràn vào Bắc Đông Dương, giới cầm quyền Thái Lan đã đòi chính quyềnthuộc địa Đông Dương trả lại cho Thái Lan những phần đất của Lào và Campuchia màThái Lan đã phải nhượng cho Pháp hồi đđđầu thế kỉ XX

Ngày 17.9, Bị vong lục của chính phủ Thái Lan gửi chính quyền thuộc địa Đông

Dương nói rõ: “Chính phủ Vương quốc cũng sẽ rất cảm ơn Chính phủ Pháp vui lòng xác

nhận bằng văn bản rằng trong trường hợp có sự thay đổi chủ quyền của Pháp, thì nước

trong tháng 10 và tháng 12.1940, Thái Lan đã gây ra một số vụ xung đột quân sự trênbiên giới giữa Thái Lan với Lào và Campuchia Sau đó từ tháng 1 đến tháng 3.1941,quân lính Thái Lan đã nhiều lần xâm nhập vào lãnh thổ hai nước này Bị Nhật và cảĐức gây sức ép về ngoại giao, ngày 9.5, chính quyền thuộc địa Đông Dương buộc phải

kí với Thái Lan Hiệp ước Tokyo, theo đó Lào và sẽ trao cho Thái Lan phần lãnh thổcủa tỉnh Luông Prabang nằm bên bờ hữu ngạn sông Mekong (nay thuộc tỉnhXaynhaburi) và Sămpắcxắc, còn Campuchia sẽ trao tỉnh Bátđomboong, phần lớn tỉnhXiêm Riệp Côngpông Thom và Xtung Treng

Để trả ơn, ngay trong ngày 3.5, Thái Lan đã kí với Nhật “Nghị định thư về an

ninh và hiểu biết lẫn nhau về chính trị”, quy định địa vị chính trị và kinh tế của Thái

Lan trong Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á Theo Nghị định thư, Thái Lan phảigiữ quan hệ mật thiết với Nhật, không kí với bất kì quốc gia nào hiệp ước kinh tế hayquân sự chống lại Nhật Đây là thắng lợi ngoại giao của Nhật ở Thái Lan đối với Anh

vì từ nay ảnh hưởng của nước này ở Thái Lan đã nhường chỗ cho Nhật Quan hệ giữahai nước ngày càng bền chặt và phát triển Ngày 1.8, Yokohama Special Bank và baNgân hàng hàng đầu của Thái Lan đã kí hiệp ước theo đó Thái Lan thỏa thuận cungcấp cho Nhật một khoản tín dụng trị giá 10 triệu bạt để nước này mua những thứ hàngcần dùng của Thái Lan Nhờ đó, Nhật đã mua được toàn bộ cao su và volfram và gần25% sản lượng thiếc mà Thái Lan sản xuất với giá cao hơn thị trường từ 30 đến 100%(38)

36 () Trích theo Sự thật về quan hệ Thái Lan-Lào (Sách trắng của Bộ Ngoại giao nước CHDCND Lào,

tháng 9/1984 Sách Sự thật, 1985, tr.86

37 () Trích theo Sự thật về , Sđd, tr.86

38 () New York Times, September 18, 1941, p.6

Trang 40

Thực ra có một số thành viên trong chính phủ và nhiều đại biểu quốc hội đã tỏ

ra quan ngại trước tham vọng ngày càng lộ liễu của Nhật ở Đông Nam Á và đòi Phibuntừ bỏ đường lối thân Nhật và cải thiện quan hệ với Anh và đặc biệt là với Mĩ Tháng8.1941, ngoại trưởng Mĩ Cordell Hull tuyên bố rằng sự xâm nhập của Nhật vào TháiLan đã làm “Mĩ lo lắng”(39) Sau đó, cả Mĩ và Anh kêu gọi Thái Lan theo đuổi một lậptrường cứng rắn hơn và hừa sẽ cung cấp vũ khí cho nước này(40) Cuối năm 1941, chínhphủ Thái Lan đã yêu cầu Mĩ và Anh gửi gấp vũ khí và trang thiết bị cho quân đội đểchống lại nguy cơ của một cuộc chiến tranh xâm lược ngày càng thấy rõ là không tránhkhỏi từ phía Nhật Nhưng Thái Lan chỉ nhận được một số vũ khí quá ít ỏi(41)

Ngày 7.12, Nhật gây chiến tranh với Mĩ và tung quân đánh chiếm các nướcĐông Nam Á Đêm 8.12, lính Nhật bắt đầu đổ bộ lên các cảng Singora và Pattani ởmiền Nam Thái Lan Ngay ngày hôm sau, Phibun đã ra lệnh cho quân đội Thái Lanngưng chống cự(42) và biện bạch rằng đây là cách bảo vệ nền độc lập Ngay sau đó, ôngthỏa thuận với đại sứ Nhật để cho quân đội nước này đi ngang qua lãnh thổ Thái Lan.Ngày 21.12, Thái Lan và Nhật kí hiệp ước “An ninh và phòng thủ”, theo đó Nhật sẽgiúp Thái Lan thu hồi những vùng đất “thuộc” chủ quyền Thái Lan mà Anh đã cướpmất hồi thế kỉ XIX(43), bù lại Thái Lan sẽ hỗ trợ Nhật trong cuộc chiến tranh với Anhvà Mĩ và cho Nhật đóng quân trên lãnh thổ Thái Lan Ngày 25.1.1942, Thái Lan tuyênchiến với Anh và Mĩ Hành động này đã khiến Thái Lan trở thành đồng minh duy nhấtcủa Nhật ở vùng Viễn Đông-Thái Bình Dương

CHƯƠNG VII THÁI LAN TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG (1942 – 1945)

39 () New York Times, August, 7, 1941, p.1

40 () New York Times, August, 7, 1941, p.1

41 () F.C.Jones Japan’s New Order in East Asia It’s Rise and Fall 1937-35 London: Oxforsd University

Press, 1954, p.321

42 () F.C Jones, Op.cit, p.345

43 () Hai bên sẽ kí Hiệp ước ngày 20.8.1943 quy định Nhật sẽ giao hoàn cho Thái Lan bốn bang của Malaya là Perlis, Kedah, Kelantan và Trengganu và hai lãnh thổ của người Shan ở Miến Điện là Kantung và Mongpan

Ngày đăng: 31/08/2013, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

QUAĐN SOÂ CHÍNH QUY CỤA LÖÏC LÖÔÏNG NOƠI DAÔY TRONG NHÖÕNG NAÍM 1965 – 1976 - Lịch sử Thái Lan - Thầy Hoàng
1965 – 1976 (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w