1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử indonesia - Thầy Hoàng

105 1,2K 38
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử indonesia
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 1980
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 541 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân là do những chitiêu quá lớn cho các hoạt động gây chiến chống lại những kẻ thù địch với chế độ thuộcđịa, chống phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Indonesia, chế độ độ

Trang 1

LỊCH SỬ

TỪ THẾ KỈ XV-XVI

ĐẾN NHỮNG NĂM 1980

Trang 2

CHƯƠNG I INDONESIA VÀO THỜI KỲ CẬN ĐẠI (THẾ KỈ XV-XVI ĐẾN 1917)

_

I.1 INDONESIA TRONG THẾ KỈ XV-XVI

Năm 1293, sau khi quân Nguyên Mông bị đánh bại, một vương quốc mới ra đờimang tên Majapahit trên đảo Java Vương quốc này phát triển cực thịnh dưới thời vuaHayan Wurut (Ra-janosagara 1350-1389) Lúc này lãnh thổ của nó bao gồm đảo Bali,Đông và Nam Sumatra, Nam và Tây Kalimantan, Nam Sulawesi, phần lớn Đông bộIndonesia và Nam bán đảo Malacca Nền kinh tế phát triển rất phồn thịnh Chính trongthời này Java trở thành vựa lúa của quốc gia Từ thế kỉ XIV, nền ngoại thương của cácvùng ven biển Indonesia tập trung chủ yếu ở Java, phát triển rất mạnh, đặc biệt là quầnđảo Maluku và Bantam

Thời kì cực thịnh này không kéo dài lâu vì sau khi Hayam Wuruk chết, đã xảy ratranh chấp giành ngôi vua giữa Virabumi – dòng con thứ – và vua Vikramavardhama(1389-1429) nguyên là con rể Cuộc nội chiến bùng lên vào năm 1401 đã mau chóng làmsuy yếu quyền lực của Majapahit đối với các tiểu quốc chư hầu, nhất là trong bối cảnhgiữa nó và các nước này vốn đã tồn tại sẵn rất nhiều mâu thuẫn Một số lớn các chư hầulà những thành bang cảng phồn thịnh nhờ hoạt động thương mại, hàng hải, ngược với nềnkinh tế Majapahit vốn chủ yếu là nông nghiệp Do đó mối quan hệ kinh tế giữa hai bênkhông bền chặt Mối quan hệ chính trị cũng ở trong tình trạng tương tự và thực ra chỉ cóJava, Madura và Bali là do triều Majapahit trực tiếp cai trị, còn những phần còn lại vẫnthuộc quyền các lãnh chúa địa phương và chỉ phải cống nạp Trong khi đó, mối quan hệvăn hóa dân tộc cũng không kém phần lỏng lẻo Những thành bang cảng là nơi lui tới củarất nhiều thương nhân Hồi giáo từ Ấn Độ và Ba Tư Họ đã liên kết với các lãnh chúa địaphương, lôi kéo họ bỏ Ấn giáo để theo Hồi giáo Trong thế kỉ XV, Hồi giáo đã trở thànhtôn giáo có vị trí áp đảo ở những thành thị và tiểu quốc ven biển và đã trở thành ngọn cờcủa những nước này trong cuộc đấu tranh chống Majapahit theo Ấn giáo Cũng trong thế

kỉ XV, sultan Malacca mạnh lên, trở thành kình địch của Majapahit và đánh bạt ảnhhưởng của đế chế Ấn giáo này ra khỏi bán đảo Malacca và Đông bộ Sumatra Nhiều tiểuquốc và thành bang cảng cũng theo gương đó lần lượt tách khỏi đế chế Lãnh thổMajapahit thu hẹp dần Cuối thế kỉ XV, Majapahit lại sa vào cuộc chiến tranh với các tiểuquốc Hồi giáo ở bờ biển Bắc Java do sultanat Demak cầm đầu Năm 1527, quân línhDemak đã chiếm và tàn phá kinh đô của Majapahit Đế chế bị sụp đổ Thế chỗ nó là mộtloạt các tiểu quốc Hồi giáo kình chống nhau, trong đó mạnh nhất là Acheh (Sumatra),Demak (Đông bộ Java) và Ternate (quần đảo Maluku)

Trang 3

Acheh bị vướng vào cuộc chiến tranh tai hại với sultanat Johore kéo dài suốt từnăm 1539 đến năm 1546 Còn sự cường thịnh của Demak không kéo dài lâu vì sau đó nó

bị các sultanat mới nổi lên như Bantam và Maratam cạnh tranh ác liệt Do những quan hệkình địch với Tidore (một tiểu quốc cũng nằm trong quần đảo Maluku), Ternate bị BồĐào Nha kéo vào cuộc chiến tranh giành lại ưu thế mua bán hương liệu ở quần đảo chốnglại liên minh Tây Ban Nha-Tidore trong những năm 1520 Đó là chưa kể các sultanat nàylại vướng vào các cuộc xung đột liên minh với các chư hầu để giành hoặc khẳng định vịthế bá chủ Thời kì bành trướng của Công ty Đông Ấn Hà Lan (thế kỉ XVII-XVIII) cũnglà thời kỳ chứng kiến sultanat Mataram hùng mạnh ở Đông Java tăng cường đánh phá cáctiểu quốc nhỏ, để rồi chính vương quốc này lại sa vào những cuộc tranh chấp nội bộ vàcuối cùng phải sụp đổ (1707)

Như vậy trong thế kỉ XVI-XVII, khi thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau đóHà Lan bắt đầu cuộc chinh phục đầu tiên ở Indonesia, không một vương quốc nào đủmạnh nổi lên đảm nhận vai trò đoàn kết các tiểu quốc khác vào sự nghiệp đấu tranhchung chống thực dân phương Tây Đó là một trong nhiều nguyên nhân tạo thuận lợi chohoạt động bành trướng dần dần của thực dân trong vùng

I.2 INDONESIA TRONG BUỔI ĐẦU CỦA THỜI KÌ THUỘC ĐỊA (ĐẦU THẾ KỈ XVI – GIỮA THẾ KỈ XVII)

Indonesia là một trong những nước đầu tiên ở Đông Nam Á bị thực dân xâm chiếm,quần đảo Maluku(1) là nơi đầu tiên bị thực dân dòm ngó vì đây là trung tâm trồng nhiềuloại cây hương liệu rất có giá ở thị trường châu Âu lúc bấy giờ

a.Tình hình ở Java

Cuối thế kỉ XV-đầu thế kỉ XVI, đế quốc Ấn giáo Majapahit bị tan rã, tình trạngmanh mún xuất hiện trở lại trên đảo Java – trung tâm chính trị, kinh tế của quần đảoIndonesia – và kéo dài trong suốt nửa thế kỉ Đến nửa sau thế kỉ XVI, tình trạng trên ởJava mới chấm dứt bằng sự xuất hiện của hai nhà nước tập quyền mới: Bantam vàMataram, ra đời trên hai cấu trúc xã hội khác nhau: thương mại hàng hải (ven bờ biển) vànông nghiệp dẫn thủy (nội địa)

Nằm ở Tây bộ Java, Bantam trở nên một trung tâm thương mại thịnh đạt là nhờ conđường thương mại hàng hải đi từ Iran và Ấn Độ đến bờ phía tây Sumatra, được các thươngnhân Ấn Độ và phương Đông khác sử dụng nhằm tránh thuế má quá nặng nề của người

Bồ Đào Nha ở eo biển Malacca Đến cuối thế kỉ XVI, Bantam đã gồm thâu toàn bộ Tâybộ Java và Nam bộ Sumatra Do nhu cầu tăng lên của châu Âu về hồ tiêu, tầng lớp thốngtrị phong kiến đã tăng cường bóc lột nông dân và cướp đoạt ruộng đất của họ, thu thuếbằng hồ tiêu Tình hình này đã buộc nông dân phải chuyển sang trồng cây xuất khẩu –tức hồ tiêu, làm tan rã các công xã nông thôn Bên cạnh đó, quan hệ thương mại với các

1 () Hay còn gọi là quần đảo Hương liệu (Spice Islands) theo cách gọi thời bấy giờ ở châu Âu

Trang 4

thương nhân châu Âu còn mở đường cho quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển ở Bantam.Bối cảnh đó đã thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của các công xã nông thôn

Nằm ở trung tâm các vương triều Java, Mataram hậu kỳ(2) đạt đến đỉnh cao pháttriển dưới thời Tjakrakusuma (Agung 1613 – 1645) Biên giới của Mataram lúc này trải từphía Tây đến vương quốc Ấn giáo Balambangam ở cực Đông Java, tức những vùng đấtmàu mỡ ở Trung và Đông bộ; ngoài ra nằm ở trong vòng kiểm sốt của Mataram còn cómột số lãnh thổ nằm ngoài Java (như ở Tây bộ Kalimantan) Cơ sở kinh tế của Mataramlà hoạt động nông nghiệp trồng lúa của nông dân trong các nông xã nông thôn Đất đai ởnhững vùng trung tâm phần lớn thuộc quyền chiếm hữu trực tiếp của sultan, còn ở nhữngvùng xa xôi thuộc quyền của giai cấp phong kiến địa phương Hình thức bóc lột chủ yếuđối với nông dân là thu thuế và sưu dịch Ở Mataram, quan hệ hàng hoá tiền tệ cũng đãbắt đầu phát triển, nhà nước giao cho thương nhân quyền thu thuế, được độc quyền vềthương mại

b.Tình hình ở Sumatra

Trên bán đảo Sumatra trong thế kỉ XVI-XVII nổi lên hai sultanat hùng mạnh làAcheh có lãnh thổ nằm ở cực Bắc Sumatra và Johore chiếm Nam bộ bán đảo Malacca,quần đảo Rhio-Lingga và Đông bộ Sumatra

Sau khi Malacca bị thực dân Bồ Đào Nha đánh chiếm, Acheh và Johore trở thànhhai trung tâm thương mại lớn nằm ở phía Tây Mã Lai – Indonesia Các cố gắng nhằmkhống chế các con đường thương mại quan trọng chạy ngang qua eo biển Malacca đã làmbùng lên các cuộc xung đột giữa hai sultanat này với thực dân Bồ Đào Nha Nhưng đồngthời sự cạnh tranh giữa chúng với nhau đã ngăn cản không cho chúng thống nhất lựclượng Thế kỉ XVI chứng kiến nhiều trận đánh giữa ba lực lượng này, trong đó người BồĐào Nha thường xuyên xuất hiện như là lực lượng thứ ba Và đó chính là nguyên nhânchủ yếu khiến thực dân Bồ Đào Nha có thể đứng chân được ở Malacca trước nhữngsultanat Mã Lai- Indonesia hùng mạnh nhưng thù địch nhau

Trong thế kỉ XVII, dưới thời Iskandar Muda (1607 – 1636) và Iskandar Thani (1636– 1641), Acheh khống chế được các sultanat Đông Sumatra va øbán đảo Malacca từ Johorelên đến Kedah và Panani ngoại trừ Malacca, nhưng ảnh hưởng của nó không kéo dài lâu

Xét về mặt cấu trúc kinh tế-xã hội, Acheh có những nét tương tự như Bantam

c.Người Bồ Đào Nha ở quần đảo Maluku.

Hai sultanat hùng mạnh nhất ở Maluku trong thế kỉ XV là Tidore và Ternate, vốnchiếm vai trò quyết định trong buôn bán gia vị Tuy có quan hệ thân thuộc do hôn nhân,nhưng hai sultanat này lại rất thù nghịch nhau

2 () Gọi như vậy để phân biệt với Mataram cổ tồn tại trong các thế kỉ VIII-X

Trang 5

Người Bồ Đào Nha đã xuất hiện ở quần đảo Maluku ngay từ năm 1512, tức khoảngmột năm sau ngày họ chiếm Malacca Năm 1521, họ được sultan Ternate cho đặt thươngđiếm và xây pháo đài trên lãnh thổ ông ta

Còn người Tây Ban Nha vốn đã ra yêu sách về chủ quyền đối với quần đảo nàyvào năm 1522 sau khi chiếc tàu duy nhất còn lại của đoàn thám hiểm Magellan trở về,thì được sultan Tidore cho hưởng chế độ ưu đãi về thương mại nhằm tìm họ ở chỗ dựachống lại Ternate Nhưng năm 1527, người Tây Ban Nha bị người Bồ Đào Nha đánh bạikhỏi đây Cuối cùng hai bên ký hiệp ước Saragossa năm 1529 thừa nhận ảnh hưởng củangười Bồ Đào Nha ở quần đảo Maluku

Quan hệ giữa người Bồ Đào Nha và dân Maluku mau chóng trở nên tồi tệ vì chínhsách độc quyền buôn bán hương liệu của thực dân đã gây phương hại đến quyền lợi củangười bản xứ, vì chính sách tôn giáo khắc nghiệt, vì thói tham tàn của người Bồ Đào Nha.Sự chống cự của người bản xứ đặc biệt trở nên gay gắt sau khi người Bồ Đào Nha chiếmphần phía Nam đảo Amboina, xây pháo đài, cải biến phần lớn dân cư trên đảo theo đạoKitô và sử dụng những tân tín đồ này như là chỗ dựa chống lại sultan Ternate

Năm 1565, sultan Hairun tấn công cộng đồng Kitô giáo và đánh tan đoàn truyềngiáo Năm 1570, người Bồ Đào Nha phải kí hiệp ước với Hairun nhưng liền sau đó đã tìmcách ám hại ông ta một cách hèn hạ Hành động phản bội này đã làm bùng lên các cuộcnổi dậy chống Bồ Đào Nha Năm 1574, pháo đài của người Bồ Đào Nha ở Ternate bị sụpđổ, họ phải dời trung tâm buôn bán hương liệu sang Tidore Từ đó, vị thế của người BồĐào Nha ở Maluku bị sút giảm dần

Vào năm 1590, trongû vùng biển Indonesia xuất hiện hai thế lực thực dân mới –Anh và Hà Lan Người Anh xuất hiện ở quần đảo Indonesia sớm hơn nhiều so với ngườiHà Lan Tháng 11.1595, đoàn tàu đầu tiên của Anh do nhà thám hiểm-cướp biển lừngdanh Francis Drake chỉ huy đã buông neo ở đảo Ternate Tuy nhiên, công cuộc buôn báncủa thương nhân Anh với quần đảo không phát triển nhanh và mang lại nhiều lợi lộc nhưlà của người Hà Lan, tuy họ đến trễ hơn nhiều Và phải đợi đến đúng một phần tư thế kỉngười Anh mới nghĩ đến việc tập trung những nỗ lực của thương nhân Anh vào một tổchức thống nhất với tên gọi Công ty Đông Ấn (East India Company) được thành lập vàotháng 12.1600

Trong quá trình phát triển quan hệ buôn bán với quần đảo, Công ty chỉ tiến hànhmột vài trận tiến công lẻ tẻ vào tàu Bồ Đào Nha, còn phương pháp chủ yếu của Công tylà tìm cách thương lượng hòa bình với giai cấp thống trị bản xứ và thực dân Bồ Đào Nhađể được buôn bán Bên cạnh đó, vốn của Công ty chỉ bằng 1/10 vốn của Công ty Hà Lan

Do đó, tuy đã đặt được thương điếm và gây được một số ảnh hưởng ở một vài địa điểm vàsultanat như Jacatran, Bantam, Amboina, Macassar và Japara , vị thế của người Anh vẫn

Trang 6

tỏ ra không vững chắc khi họ phải đương đầu với một đối thủ hùng mạnh hơn nhiều –người Hà Lan

Người Hà Lan xuất hiện ở quần đảo Indonesia muộn hơn so với người Anh Tháng6.1596, dưới quyền chỉ huy của Cornelis Van Houtman, đoàn tàu đầu tiên của Hà Lan đãđến Bantam Những chuyến buôn bán sau đó ở vùng quần đảo đã cho người Hà Lan thấycần phải theo gương Anh tập trung vốn và thống nhất về tổ chức và chính sách thì mới cóthể cạnh tranh nổi với người Bồ Đào Nha và phát triển được công cuộc kinh doanh Tháng3.1602, Công ty Đông Ấn (Vereenigde Oost-Indische Company), viết tắt là V.O.C đượcthành lập Ra đời với số vốn lớn (khoảng 6,5 triệu guilders) và được chính phủ trực tiếpgiúp đỡ, V.O.C không những được độc quyền đi biển và thương mại, mà còn được trao cảquyền tổ chức quân đội, tuyên chiến và ký hòa ứơc, xây dựng pháo đài và thành lậpthương điếm, đúc tiền Công ty biết cách khai thác độc quyền thương mại tốt hơn nhiều sovới Bồ Đào Nha: nó biết phối hợp cả phương pháp bóc lột thẳng tay và hoạt động buônbán tích cực Lợi dụng mối hận thù giữa người dân địa phương và thực dân Bồ Đào Nha,Công ty bắt đầu tổ chức chinh phục quần đảo Indonesia

Tháng 2.1605, Công ty chiếm pháo đài của người Bồ Đào Nha ở đảo Amboina.Đảo này trở thành thuộc địa đầu tiên của Hà Lan ở Đông Nam Á Không lâu sau đó, BồĐào Nha bị đánh bật khỏi Tidore và Ternate Năm 1607, Công ty kí với sultan Ternatehiệp ước theo đó Công ty được độc quyền mua hương liệu và đến đầu năm 1609 khi ngườiHà Lan giành được quyền xây dựng phái đài ở đảo Banda và được độc quyền cung cấphương liệu thì ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở quần đảo Maluku coinhư không còn nữa Và cũng từ năm này người Hà Lan quyết định giành độc quyền buônbán hương liệu ở quần đảo Maluku Chỉ thị gửi cho Pieter Both – viên tòan quyền đầu

tiên của Hà Lan ở Đông Nam Á – có ghi rằng: "Việc buôn bán với Maluku, Amboina và

Banda phải là của Công ty, và không một quốc gia nào khác trên thế giới được dự một phần nhỏ nào" Độc quyền buôn bán với quần đảo Maluku được người Hà Lan coi như là

cơ sở của toàn bộ hoạt động buôn bán của họ ở Viễn Đông

Chính sách trên đã khiến người Hà Lan xung đột với người Anh Cuộc chiến tranhgiành quyền buôn bán tại quần đảo giữa hai bên kéo dài từ năm 1619 đến năm 1623 thìkết thúc bằng thắng lợi của Hà Lan Năm 1619, Hà Lan chiếm hầu quốc Jakarta mà họđổi tên thành Batavia Hà Lan muốn biến nơi đây thành trung tâm mua bán hương liệuđang do người Anh khống chế Vì lẽ đó, Batavia mau chóng trở thành trung tâm quyền lựccủa người Hà Lan ở Đông Nam Á

Đến giữa những năm 1630, đến lượt người Bồ Đào Nha cũng bị Công ty gạt khỏinhững vùng đất đã chiếm được ở Indonesia, ngoại trừ Đông Timor Việc Malacca rơi vàotay người Hà Lan vào ngày 14.1.1641 đánh dấu ngày tàn quyền bá chủ của Bồ Đào Nhatrong thế giới Mã Lai – Indonesia Còn người Tây Ban Nha từ bỏ ảnh hưởng ở Tidore vàonăm 1663 Việc Hà Lan không tham gia vào cuộc chiến 30 năm (1618 – 1648) đã chophép nước này bỏ xa các nước châu Âu khác trong quan hệ buôn bán với phương Đông.Công ty đã lần lượt kí hiệp ước mua bán hương liệu với Palembang (1641), Jambi (1643)

Trang 7

Năm 1650, Công ty kí với Acheh hiệp ước theo đó Công ty được chia phần buôn bán thiếctheo tỉ lệ ngang với sultanat này

Diễn ra cùng lúc với những cuộc xung đột giữa các thực dân phương Tây trên làcác hành động bành trướng của sultan Agung xứ Mataram Năm 1621, ông chiếm Tuban,quy phục Gresik, tàn phá Succadana trên đảo Kalimantan, năm 1624 đánh chiếm Madura,năm 1625 chinh phục Surabaya Sultan Agung tự khoác cho mình danh hiệu "susuhuman"(người chinh phục) và đòi thống trị cả Java

Hoạt động bành trướng của Mataram đã làm cho Bantam lo ngại Cuộc tiến côngdẫu bất thành của Mataram vào pháo đài Batavia của Hà Lan vẫn khiến sultan Bantam lorằng sự sụp đổ của pháo đài này sẽ dọn đường cho cuộc tiến công của Mataram vào lãnhthổ của mình Do đó, ông đã quyết định hoà giải với Hà Lan và chấm dứt cuộc phong toảngặt nghèo mà quân đội sultanat Bantam đã kéo dài suốt 10 năm trời chống pháo đàiBatavia

Sau thất bại trên, Agung đã chuyển trọng tâm hoạt động bành trướng sangBanlambangan và đảo Bali Năm 1639, dưới ngọn cờ Hồi giáo ông đánh chiếmBanlambangan, nhưng không chinh phục nổi Bali

Tình trạng thiếu thống nhất giữa các tiểu quốc Indonesia đã khiến họ không giúpđỡ gì cho cuộc nổi dậy ở quần đảo Maluku và các đảo Amboina, Seram Buton chốngchính sách độc quyền mua bán nguyên liệu quá khắt khe của V.O.C kéo dài suốt trong 3năm 1635 – 1638 Đó là cuộc chiến tranh Maluku đầu tiên

I.3 INDONESIA DƯỚI ÁCH THỐNG TRỊ CỦA CÔNG TY ĐÔNG ẤN HÀ LAN (GIỮA THẾ KỈ XVII- CUỐI THẾ KỈ XVIII)

Trong nửa đầu thế kỉ XVII, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương, V.O.C đãđược thành lập nhằm giành độc quyền buôn bán hương liệu ở vùng Viễn Đông, chống lạingười Bồ Đào Nha và người Anh Công ty đã không từ một thủ đoạn nào cho dù là thấtnhân, để đạt kì được mục tiêu này Kết quả là Công ty đã sử dụng hạm đội hùng mạnhcủa nó để khống chế các vùng biển của quần đảo và đánh chiếm một số cứ điểm vữngchắc trong vùng, làm chủ được việc buôn bán hương liệu ở quần đảo Maluku và Bandasau khi loại trừ được các đối thủ Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Từ nửa sau thế kỉXVII, Công ty đã tìm cách mở rộng vùng ảnh hưởng của nó ở quần đảo, chuyển sang tổchức những trận tiến công quyết định nhằm vào những nhà nước độc lập Đặc biệt làtrong khoảng 20 năm cuối thế kỉ XVII, Công ty mở rộng vùng đất thống trị từ bờ biển lấnsâu vào trong nội địa Java Nguyên nhân là do tình trạng sa sút trong quan hệ thương mạivới Ấn Độ, nhưng khó khăn trong việc duy trì chế độ độc quyền mua bán hương liệuthương mại với Java và chuyển dần từ khai thác thương mại đơn thuần sang chính sáchkhai thác nông nghiệp để có thêm hàng hoá buôn bán Một nguyên nhân khác là do vàogiữa thế kỉ XVII hồ tiêu trồng nhiều ở Sumatra và Java trở thành sản phẩm được thị

Trang 8

trường châu Âu ưa chuộng Tuy nhiên sự thay đổi chính sách không hề ngăn cản Công tysẵn sàng thẳng tay phá huỷ số lượng hương liệu dư thừa để chúng không đe doạ giá độcquyền cao mà Công ty đã ấn định

a V.O.C bành trướng thế lực ở Đông bộ quần đảo

Từ năm 1650 đến năm 1656 chính sách độc quyền mua bán hương liệu của V.O.C.một lần nữa đã làm bùng lên cuộc đấu tranh dữ dội của nhân dân quần đảo Maluku Đó làcuộc chiến tranh Maluku lần thứ hai Để thực hiện chính sách độc quyền, V.O.C đã buộc

cư dân quần đảo Maluku và quần đảo Banda chỉ được trồng những loại cây hương liệunhất định với số lượng đã quy định và phải chặt bỏ số thừa nhằm duy trì giá cả các sảnphẩm này V.O.C đã khuất phục nhân dân Maluku bằng những hành động trấn áp đẫmmáu, thảm sát dân chúng, phân tán làng mạc Tây bộ Seram và đảo Buru cũng bị ảnhhưởng lây

Sau khi đập tan cuộc nổi dậy của nhân dân Maluku, V.O.C chuyển sang tiến côngsultanat Makassar trên đảo Sulawesi vì bấy lâu nay sultanat đã mua hương liệu (đậu khấuvà đinh hương) thẳng với người dân Maluku, vi phạm chính sách độc quyền của V.O.C.Năm 1667, với sự giúp đỡ của quý tộc phong kiến người Bugis đang chiến đấu chống lạisultanat, người Hà Lan đã đánh bại Makassar và buộc sultan Hassan Udin kí hiệp ướcBongaya (18.11.1667), theo đó ông phải từ bỏ các quan hệ thương mại riêng rẽû với quầnđảo Maluku và thừa nhận địa vị chủ tôn của Công ty, cho phép người Hà Lan dựng đồnlũy trên lãnh thổ của mình Còn người liên minh với Hà Lan-Aru Palakkan, thủ lĩnh củangười Bugis, trở thành chư hầu quốc Boni, được tách khỏi sultanat Gova

Thất bại của Makassar đã chấm dứt thái độ chống cự quyết liệt chống thực dân ởĐông bộ Indonesia, nhưng phải thấy rằng ảnh hưởng của người Hà Lan ở Sulawesi còngiới hạn ở vùng bờ biển

b V.O.C bành trướng ở Tây bộ quần đảo

Ở phần Tây của quần đảo, Công ty tìm cách tăng cường kiểm soát các hải cảngbuôn bán hồ tiêu trên đảo Sumatra Công ty đã thi hành các biện pháp quyết liệt nhằmkhuất phục sultanat Palembang và sultanat Acheh mà lực lượng đã suy yếu nhiều sau khiIskandar Muda mất năm 1638 Năm 1662, Hiệp ước Painan được kí giữa Công ty và cáclãnh tụ hầu quốc Menangkabau chiếm phần lãnh thổ phía Tây và trung tâm của đảo, theođó họ thuận sống dưới sự bảo vệ của Công ty, còn Công ty được độc quyền tuyệt đối muabán hồ tiêu và không phải chịu thuế Đến đây coi như Công ty đã khống chế được vữngbờ biển Sumatra, trong khi vùng nội địa còn ít chịu tác động của những biến cố liên quanđến sự hiện diện của người châu Âu

Nhưng Java mới là mục tiêu đáng chú ý nhất của V.O.C Năm 1674, ở Mataram đãxuất hiện một phong trào đấu tranh rộng lớn đòi thoát khỏi ách thống trị phong kiến tànbạo và chế độ chuyên chế hà khắc của susuhunan Amangkurat I (Tegalwangi) Lãnh đạo

Trang 9

phong trào là giới phong kiến Madura do hoàng thân Trunojoyo cầm đầu Khẩu hiệuchính của những người khởi nghĩa là đánh đuổi người Hà Lan khỏi Java và lật đổ triều đạiMataram Họ đã chiếm được kinh đô, còn Amangkurat I phải bỏ chạy vào vùng đất củangười Hà Lan Năm 1677 ông chết, con là Adipati Anom (Amangkurat II) xét thấy khôngđủ sức đương đầu với quân khởi nghĩa đã thuận liên minh với Công ty Theo sự thoả thuậngiữa hai bên, để đánh đổi việc trợ giúp quân sự cho sultan, Công ty được quyền buôn bántrên toàn bộ lãnh thổ Mataram, được cắt nhượng một phần đất nằm ở Nam Batavia trongđó có vùng Praenger và một vài hải cảng quan trọng (gồm cả Semarang) ở Bắc Java.Năm 1679, quân lính của Công ty và đồng minh là người Bugis của Palakka đã đập tancuộc khởi nghĩa và hoàn toàn dập tắt nó vào năm 1682

Lợi dụng lúc tình hình ở Mataram đang sôi sục vì cuộc khởi nghĩa của Trunojoyo,sultan Agung (Abulfatah) của Bantam đã dựa vào Anh để mở rộng ảnh hưởng sangsultanat Cheribon Nhưng Agung chưa kịp thực hiện mưu định này thì bị con là Haji dựavào Hà Lan lật đổ Năm 1684, Haji kí hiệp ước thừa nhận chủ quyền của Hà Lan trênlãnh thổ Bantam, Công ty được độc quyền buôn bán với Bantam, thừa nhận sultanatCheribon và dải đất kéo dài đến bờ biển Nam Java là vùng chiếm cứ của Công ty và tốngxuất tất cả những người châu Âu không phải là người Hà Lan ra khỏi vương quốc củamình Người Anh bị buộc phải bỏ thương điếm của họ ở Bantam (như đã từng làm ởMakassar năm 1667) và chuyển sang Bakulen ở Tây bộ Sumatra, nơi duy nhất ởIndonesia mà Công ty Đông Ấn Anh còn hoạt động cho đến năm 1824 Sau khiAmangkurat II chết (1705), người Hà Lan đã kí với vị vua mới hiệp ước biến toàn bộ TâyJava làm lãnh địa của Công ty, còn toàn bộ Trung và Đông bộ là vùng bảo hộ

Sau khi khuất phục được hai sultanat mạnh nhất Java là Bantam và Mataram, từnăm 1705, Hà Lan coi như đã làm chủ được Java

c Chính sách thống trị của V.O.C và phong trào đấu tranh của nhân dân

Chính sách bành trướng bằng quân sự và những hiệp ước bất bình đẳng mà Công tyđã áp đặt lên các sultanat và chính sách độc quyền thương mại và tăng cường cướp bócsản phẩm của nông dân mà Công ty và giai cấp phong kiến đầu hàng thực dân thực hiệnđã mau chóng gây ra làn sóng chống đối Trong những năm 1680, ở vùng biển Bantam vàCheribon đã phát sinh cuộc khởi nghĩa do một người Mã Lai sinh sống ở Sumatra tên làIbs Iskandar lãnh đạo, nhưng đã bị hạm đội Hà Lan trấn áp

Đồng thời ở vùng rừng núi Galungung thuộc Praenger (Nam Batavia) có một cuộcnội dậy do Surapati, người Bali từng là nô lệ ở Batavia rồi sau đó phục vụ cho quân độicủa Công ty, lãnh đạo Lúc đầu ông được sultan của Mataram là Amangkurat II ủng hộ vìông này toan tính quyến dụ những người khởi nghĩa theo Mataram chống lại Công ty.Nhưng khi thấy Surapati thiết lập được một đất nước riêng bao gồm Đông bộ Java và Balithì Amangkurat lo sợ và quay sang mưu tìm sự giúp đỡ của người Hà Lan, nhưng khôngđược Năm 1703, việc Amangkurat từ trần đã tạo ra cuộc tranh giành ngai vàng giữa contrai và em của vịï vua quá cố – Amangkurat III và Praenger Puger Đó là cuộc chiến tranh

Trang 10

giành quyền thừa kế đầu tiên ở Java (1704 – 1708) Được tin Amangkurat III có xu hướngliên minh với Surapati, người Hà Lan đã ủng hộ Puger Đổi lại năm 1705, Puger ký hiệpước từ bỏ tham vọng đối với Cheribon và Praenger và nửa phần phía Đông của đảoMadura, cho phép Công ty toàn quyền kiểm soát hoạt động thương mại của Mataram vàtán thành việc quân đội Hà Lan đóng tại kinh đô Kartasura Surapati đã liên minh vớiAmangkurat III chống lại Pakubuwono I (danh xưng của Puger ) vàà người Hà Lan Nhưvậy, cuộc chiến tranh giành quyền thừa kế đầu tiên này đã phát triển thành cuộc nổi dậycủa nhân dân chống ách chiếm đóng của thực dân Hà Lan và kéo dài đến năm 1708 thìkết thúc bằng thất bại của lực lượng yêu nước Trước đó năm 1706, Surapati đã bị tửthương trong cuộc chiến đấu bảo vệ pháo đài Bangil Năm sau, sau khi bại trận ởPasuruan, Amangkurat III phải đầu hàng và chạy sang nương náu ở Ceylan Nhưng cáccon trai ở Surapati và các phụ tá của ông vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến ở Đông bộ Javacho đến năm 1719

Đó cũng là năm khởi đầu của cuộc chiến tranh giành ngôi báu lần thứ hai (1719 –1723) giữa con trai của Pakubukowo vừa qua đời – Amangkurat IV – và những anh emcủa mình Được Hà Lan ủng ho,ä Amangkurat IV đã giành được thắng lợi Nhờ đó, Công tyđã dần dần biến vương quốc đã một thời hùng mạnh xưa kia thành chư hầu rồi thànhthuộc địa, đặt toàn bộ lãnh thổ của nó dưới sự cai trị trực tiếp của mình

Những năm của hai cuộc chiến tranh kế thừa ngai vàng là thời kì phát triển cựcthịnh của Công ty Đông Ấn Thông qua bọn phong kiến tay sai, Công ty ép buộc nông dânphải bỏ việc trồng các loại cây lương thực để trồng những loại cây công nghiệp có giá trịxuất khẩu cao như chàm, cà phê, mía để rồi sau đó lợi dụng độc quyền thương mại màmua rẻ và cứơp bóc trắng trợn toàn bộ sản phẩm của nông dân và chở sang bán tại các thịtrường khác, thu lãi gấp nhiều lần giá vốn Nói về những người Âu đầu tiên ở Indonesia,

John Crawfurd, trú sứ của Anh ở Indonesia đầu năm 1811 đã viết: "Việc cướp bóc phương

Đông, vì không đáng dùng từ buôn bán, là mục tiêu của họ Không bao giờ họ nghĩ đến việc mua hàng hoá bằng một giá thích đáng, hay thu một món lời hợp lí Họ xem người bản xứ như là những con vật mà họ có quyền săn đuổi"

Không chỉ dân bản xứ, mà cả những Hoa kiều cũng phải chịu đựng những hànhđộng nhũng nhiễu của các viên chức Công ty Từ đầu thế kỉ XVIII, người Hoa đã đượckhuyến khích di cư đến lãnh địa của Công ty ở Java Lúc đầu, họ được cấp ở những vùnggần Batavia để trồng lúa hầu tăng số lượng lương thực cấp cho thành phố này Số khácđược giao nhiệm vụ làm người thu thuế cho Công ty Họ nhanh chóng chiếm lĩnh cácngành thương mại, thủ công nghiệp, trồng các loại cây công nghiệp, đặc biệt là mía Vị tríkinh tế của người Hoa tăng lên đã làm cho Công ty nhìn họ như là những đối thủ cạnhtranh, nhất là trong lĩnh vực thương mại Năm 1740, lấy cớ có nhiều người Hoa sinh sốngbằng những nghề không lương thiện, Công ty đã bắt và chở một số người Hoa sang làmtại các đồn điền ở Ceylan Sau đó, Công ty còn kích động mối tỵ hiềm giữa các cư dânbần cùng thành thị và giới người Hoa sinh sống bằng nghề cho vay nặng lãi nhằm lấy đólàm cớ gây ra những vụ tàn sát người Hoa ở Batavia và các thành phố khác ở miền Bắc

Trang 11

Java Để đáp trả, người Hoa sinh sống ở ngoài Batavia đã nổi dậy giết sạch người Hà Lan

ở Rembang và ở các thành phố khác, và vây hãm Semenrang Cuộc khởi nghĩa kéo dàiđến năm 1742

d V.O.C tiếp tục chiếm đoạt lãnh thổ Indonesia

Trong thời gian khởi nghĩa, người Hoa đã được một số phong kiến Mataram chốngHà Lan ủng hộ Họ đã truất phế Pakubuwono II vì chính sách lưỡng lự của ông này Đểtrả công, Công ty đã giúp ông khôi phục ngai vàng; năm 1743, Pakubuwono đã kí hiệpước nhượng cho Công ty toàn bộ vùng bờ biển Bắc Java với cảng quan trọng nhất và cảTây bộ Maduara Hiệp ước này đã khiến Mataram bị thu hẹp gần nửa

Vài năm sau đã xảy ra cuộc chiến tranh giành ngôi lần thứ ba (1749 – 1855) Trướckhi chết, Pakubuwono đã thuận trao chủ quyền của vương quốc cho Công ty, và Công tyđã chọn con ông ta là Pakubuwono III lên kế bị Trước hành động phản quốc của cha conPakubuwono, đa số thủ lĩnh phong kiến Mataram đã bầu hoàng tử Mangku Bumi lên làmsusuhuman, chống lại Công ty và Pakubuwono III Cuộc chiến tranh giành ngôi báu đãmau chóng phát triển thành phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống thực dân Hà Lan Năm

1751, ở sông Bogowonto, Mangku Bumi đã đánh tan quân đội Hà Lan, và giành lạimphầnlãnh thổ đáng kể ở bờ biển Bắc Java Nhưng sau đó vì bất hoà với cháu là Mas Said, ôngđã quyết định giảng hoà với Công ty Năm 1755, hai bên đã kí hoà ước Mataram bị chiathành hai phần: phía Đông với kinh đô là Surakarta thuộc quyền cai trị của PakubuwonoIII, phần phía Tây với kinh đô là Jogjakarta thuộc quyền Mangku Bumi với danh hiệuSultan Amangku Buwono Cả hai đều phải thừa nhận địa vị bá chủ của Công ty: tại mỗikinh đô của hai vương quốc đều có viên khâm sứ mà trách nhiệm là kiểm soát bộ máyhành chính

Đồng thời với cuộc chiến tranh trên, vào đầu năm 1750, người Hà Lan phải đươngđầu với một cuộc nổi dậy của nhân dân Bantam dưới sự lãnh đạo của tướng Rata Bagusvà giáo sĩ Kjahi Tapa Năm 1753, cuộc nổi dậy bị dập tắt

Sau khi dẹp yên hai cuộc nổi dậy ở Mataram và Bantam, Công ty coi như làm chủtoàn bộ Java, ngoại trừ phần cực Đông (công quốc Balambangan), nơi Surapati đượcngười Bali ủng hộ đã hoạt động cho đến 1772

Ở Sumatra, Công ty đã giành được quyền buôn bán hồ tiêu từ tay Sultanat Achehvà đã thu phục hầu hết các tiểu quốc ven biển Nhưng Công ty chưa chú trọng đến việcmở rộng lãnh địa của nó trên đảo này

e Chính sách cai trị của V.O.C trong nừa sau thế kỉ XVIII

Trang 12

V.O.C đã bắt đầu sự nghiệp ở Indonesia bằng việc kí các hiệp ước với các sultan ởMaluku và Java để được mua các sản phẩm của vương quốc họ (chủ yếu là hương liệu)với giá cao hơn giá của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

Dần dần khi vị trí đã được củng cố, các kẻ cạnh tranh đã bị loại trừ, Công ty đãdùng mọi phương sách áp đặt chế độ độc quyền mua bán các sản phẩm địa phương Cụ

thể Công ty đã thi hành chế độ hongitocth, theo đó người bản xứ chỉ được phép trồng các

loại cây gia vị đã được quy định trên một số đảo nhất định, với một khối lượng hạn chế

Sản phẩm dư thừa sẽ bị huỷ sạch Chế độ hongitocth đã mang trong lòng nó mầm mống

của sự hủy diệt, vì nó buộc người Anh và người Pháp cũng tìm cách trồng các loại câyhương liệu trên các vùng đất thuộc địa nhiệt đới của họ

Từ cuối thế kỉ XVIII, khi Công ty chuyển trọng tâm chú ý sang Java thì cơ sở củachế độ thuộc địa không hẳn là độc quyền thương mại nữa, mà chuyển dần sang bóc lột

nông dân trực tiếp cũng như gián tiếp Những hình thức bóc lột chủ yếu là levenringen,

kontigenten và hierendiensten Levenringen buộc các phong kiến địa phương, vốn vẫn còn

độc lập một cách hình thức giao nộp những sản vật nhất định (như Bantam phải nộp hồ

tiêu, Mataram và bờ biển Bắc Madura – gạo ) theo giá Công ty quy định Kontigenten là

mức thuế hiện vật mà người nông dân ở vùng đất do Công ty trực tiếp cai trị phải trả.Ngoài ra những những dân này còn phải chịu đựng một chế độ bóc lột khác là

hierendiensten tức là chế độ lao dịch

Hình thức bóc lột leveringen cho phép Công ty áp dụng rộng rãi chế độ quản lý

gián tiếp và không cần phải can thiệp vào nội bộ các tiểu quốc chừng nào các chính phủđược giao nộp đầy đủ và độc quyền mua gia vị của Công ty không vi phạm Phong kiếnđịa phương còn được giữ lại những chức năng hành chính và tư pháp

Xã hội Java (đặc biệt là các công xã nông thôn desa) cơ bản vẫn giữ được cấu trúctruyền thống của nó dù quý tộc phong kiến địa phương đã trở thành một bộ phận củachính quyền thực dân Trong vùng nội địa Java và Madura, hệ thống kinh tế-xã hội cổtruyền hầu như không thay đổi Tình hình này có thể được giải thích bằng hai nguyênnhân: tính phát triển và tính ổn định cao của cấu trúc cũ, mà nền tảng của nó là cơng xãvốn khơng bị thực dân phá hủy, mặc dù nĩ được sử dụng để phục vụ quyền lợi của chúngvà cũng bởi vì đặc điểm của chính quyền thực dân khơng phải là thiết lập chế độ quan liêuphong kiến nhà nước chiếm đóng, mà là phục vụ quyền lợi của các thương nhân để họ thuđược lợi nhuận cao nhất bằng cách đảm bảo giá cả độc quyền Đặc biệt là người Hà Lantrong thời kì này không dùng những biện pháp Cơ đốc hoá cưỡng bức như người Tây BanNha đã thực hiện ở Philippines, và thậm chí cũng không khuyến khích cả các hoạt độngtruyền giáo Do đó tính cộng đồng tôn giáo-văn hóa ở những vùng chính yếu trong nướckhông bị phá vỡ

Tuy nhiên, chủ nghĩa thực dân thương mại của Hà Lan đã để lại những hậu quả rấtnặng nề lên cuộc sống của người dân Chế độ độc quyền buôn bán của Công ty đã làmsuy kiệt hoạt động thương nghiệp bản xứ và gây ra những cảnh hoang tàn ở vùng bờ biển

Trang 13

(đặc biệt là ở Maluku và Nam Sulawesi); từ đó nảy sinh ra tình trạng cướp bóc ở vùnglãnh hải Indonesia Chính sách bóc lột tàn tệ như vậy tất không thể mãi mãi đem lại lợiích cho người đẻ ra và duy trì nó

Lúc đầu chế độ độc quyền buôn bán đã đem lại cho Công ty những mối lợi nhuậnrất lớn Từ năm 1693 lợi tức hàng năm của Công ty là 60 vạn guilders, nhưng từ đó lợinhuận giảm dần và đến năm 1724 thì bắt đầu bị thua lỗ Nguyên nhân là do những chitiêu quá lớn cho các hoạt động gây chiến chống lại những kẻ thù địch với chế độ thuộcđịa, chống phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Indonesia, chế độ độc quyền buônbán thường xuyên bị các thương nhân Anh và bị chính các nhân viên của Công ty viphạm, do sự tham nhũng quá mức của các viên chức Công ty Công ty còn phải gánhnhững món lãi cổ phần khổng lồ trả cho các cổ đông của Công ty – đại diện giới tài phiệtthương mại Hà Lan

Cuộc chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ tư (1780 – 1784)(3) đã giáng đòn trí mạng vàoCông ty Người Anh chiếm các thương điếm của Hà Lan ở Tây Sumatra và cắt mốiliênlạc giữa lãnh địa của Công ty ở Indonesia và châu Âu Theo Hoà ước Paris kí năm

1784, tàu thuyền Anh được quyền đi lại tự do trong vùng lãnh hải của quần đảo Điều nàyđã cản trở Hà Lan khống chế một cách có hiệu quả hoạt động buôn lậu của Anh Kết quảlà tổng số thâm hụt của Công ty tăng nhanh từ 74 triệu (1789) lên 134 triệu guilder(1799)

Ngày 31.12.1799, Công ty tuyên bố giải thể và chuyển giao số nợ và tài sản chochính phủ

IV INDONESIA TRONG THỜI KÌ CHIẾN TRANH NAPOLÉON VÀ CUỘC NỔI DẬY CỦA NHÂN DÂN JAVA (1800 – 1830)

Aûnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp không hề tác động đến phương sách cai trịcủa Hà Lan đối với Indonesia Ủy ban Sự vụ Đông Ấn (ra đời năm 1796) nhằm tiếp nhận

quyền cai trị và khai thác Indonesia từ Công ty Đông Ấn ra tuyên bố rằng "các học thuyết

về tự do và bình đẳng không thể được mang sang, cũng như không thể được áp dụng ở các vùng đất thuộc sở hữu của quốc gia ở Đông Ấn, chừng nào an ninh của những vùng đất này còn tùy thuộc vào tình trạng phục tùng cần thiết hiện nay (của người Indonesia), và chừng nào việc ứng dụng không khiến các vùng đất này rơi vào tình trạng hỗn loạn với những hậu quả khôn lường" (1, p.281)

Năm 1807, Herman Williem Daendels được cử làm toàn quyền Ấn Độ thuộc HàLan Viên toàn quyền mới đã thi hành một chính sách thống trị khắc nghiệt nhằm tăngcường vị thế phòng thủ của Java chống lại âm mưu xâm lăng của Anh Oâng đã tăng thuế,tăng số sản phẩm phải giao nộp, tăng cường chế độ mà V.O.C đã dành cho các phong

3 () Trong nửa sau thế kỉ XVII đã xảy ra ba cuộc chiến tranh giữa Anh và Hà Lan Kết quả là Hà Lan bị mất phần lớn thuộc địa ở châu Mỹ và châu Phi và chỉ giữ được chỗ đứng ở châu Á nhờ quan hệ kình địch giữa Anh và Pháp phát sinh từ cuối thế kỉ XVII

Trang 14

kiến địa chủ địa phương và những người thân thuộc của họ Oâng thay chế độ cai trị giántiếp bằng một thể chế cai trị kiểm soát từ trung ương

Chính sách thống trị kiểu này đã làm mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến Javavới chính quyền thực dân Hà Lan thêm gay gắt và kết quả là tháng 8.1811, khi đổ bộ lênJava, quân đội Anh hầu như không gặp sự chống cự nào

Được bổ nhiệm làm toàn quyền Java và những vùng đất phụ thuộc của nó –Madura, Palembang, Banjarmasin và Macassar , nhà hoạt động thuộc địa trứ danhThomas Stanford Raffles đã thi hành một loạt cải cách đáp ứng được quyền lợi của tư bảncông thương nghiệp Anh Ông đã cố gắng tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất nguyênliệu nông nghiệp và biến Indonesia thành thị trường tiêu thụ hàng hoá Anh trên cơ sởnguyên tắc tự do mua bán Để đạt mục tiêu này, mọi hình thức bóc lột trước đó là

levenringen, kontigenten và hierendiensten bị hủy bỏ và thay vào đó một sắc thế thống

nhất được thu bằng tiền Chế độ độc quyền thương nghiệp và thuế quan nội địa bị bãi bỏ.Ông còn chấn chỉnh việc lưu thông tiền tệ và thủ tiêu chế độ nô lệ Xét thấy hệ thống tưpháp mà Daendels để lại là rắc rối và lộn xộn, Raffles đã tổ chức theo hướng đơn giảnhoá Ông cũng đã thống nhất bộ máy hành chính Java, chia đảo này thành 16

landarostamps, tức các khu thống sứ (residencies) với người cầm đầu là viên thống sứ

được trao quyền hành chính, tư pháp và thuế quan Đồng thời ông cũng thẳng tay trấn ápnhững mưu toan của các phong kiến địa phương tính lợi dụng sự thay đổi chủ thuộc địa đểgiành nhiều quyền tự trị hơn

Nhưng trước khi chương trình cải cách của Raffles kịp thực hiện đầy đủ và phát huytác dụng của nó, thì ngày 13.8.1814, Anh và Hà Lan đã kí thỏa ước London theo đó Anhđã trao trả thuộc địa Đông Ấn cho Hà Lan Tuy nhiên mãi đến gần 5 năm sau Anh mớichịu rời khỏi đảo Hiệp ước London kí ngày 17.3.1824 đã giải quyết mâu thuẫn Anh-HàLan ở Đông Nam Á: Anh đổi Bakulen ở Tây bộ Sumatra lấy Malacca, đồng thời hàng hoáAnh đuọc hưởng một chế độ thuế quan ưu đãi cho phép Anh cạnh tranh một cách có hiệuquả với hàng hoá Hà Lan ở Indonesia

Việc Hà Lan quay trở lại Indonesia một lần nữa đã làm nổi lên vấn đề phươngpháp khai thác thuộc địa Có hai quan điểm đối lập nhau Một là của thống sứ vùng bờbiển Đông Bắc Java là Dirk van Hogendorp Ông chủ trương bỏ chế độ cưỡng bức giaonộp sản phẩm và nghĩa vụ lao dịch, chế độ độc quyền thương mại và khuyến khích kinhtế nông dân trên cơ sở thừa nhận quyền tư hữu của nông dân đối với ruộng đất Tuy nhiênnỗi lo sợ của tư sản Hà Lan trước viễn cảnh phải cạnh tranh với tư sản Anh trong điềukiện tự do mâạu dịch, những khó khăn về tài chính của chính quốc sau cuộc chiến tranhNapoléon và việc Hà Lan không còn đủ khả năng duy trì độc quyền mua bán hương liệuđã mang lại thắng lợi cho ý kiến cho rằng cần duy trì về nguyên tắc các phương pháp củaCông ty Đông Ấn

Trang 15

Hậu quả là dân Java phải chịu đựng một cách bóc lột quá đỗi nặng nề và tàn ác.Tình cảnh của dân cư Surakarta và Jogjakarta là đáng thương nhất vì họ phải gánh đến 34sắc thuế khác nhau.

Nhân dân Java đã trả lời ách thống trị bạo ngược và tham lam này bằng cuộc nổidậy mang màu sắc tôn giáo, với khẩu hiệu chính là phục hồi và phát triển đạo Hồi Từ đóvề sau, đạo này trở thành ngọn cờ đoàn kết nông dân, một bộ phận phong kiến và tu sĩ Hồigiáo trong dự nghiệp đấu tranh chống thực dân Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa là hoàng tử xứJogjakarta – Diponegoro Ngay từ buổi đầu, giới lãnh đạo đã sớm chịu sự chi phối của tưtưởng "chủ nghĩa dân tộc phong kiến", tức tư tưởng muốn phục hồi một quốc gia phongkiến Indonesia hùng cường và độc lập Họ đã tôn Diponegoro làm sultan và giáo chủ đạoIslam trên toàn đảo Java Bùng nổ từ tháng 7.1825 và kéo dài đến tháng 3.1830, cuộckhởi nghĩa nhiều phen làm thực dân lao đao Nhưng con số ngày càng tăng các lãnh chúaquý tộc lúc đầu theo phong trào nay dần dần tách ra vì tin theo chính sách mua chuộc củathực dân và mối bất đồng ngày càng lớn giữa Diponegoro và giới tu sĩ Hồi giáo do KiyayMaja cầm đầu vốn nuôi tham vọng đòi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã buộc Diponegorophải thương thuyết với người Hà Lan Trong lúc thương thuyết, bọn thực dân đã trở mặtbắt giam và đày ông sang Sulawesi Mất người cầm đầu, cuộc khởi nghĩa mau chóng bịtàn lụi

Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa, giai cấp quý tộc phong kiến Java đã trở thành chỗdựa chế độ của thực dân

V THỜI KÌ CHẾ ĐỘ CANH TÁC CƯỠNG BỨC (NHỮNG NĂM 1830 – 1870)

Cuộc khởi nghĩa do Diponegoro lãnh đạo chấm dứt thời kì tìm tòi chế độ cai trị vàkhai thác thuộc địa mới Bị thúc bách bởi những chi tiêu quá lớn cho việc trấn áp lựclượng khởi nghĩa(4) và bởi việc Bỉ tách khỏi Hà Lan năm 1830 đã buộc Hà Lan phải gánh3/4 số nợ trong nước, chính quyền thực dân ở Indonesia đã cho thi hành từ đầu những năm

1830 chế độ canh tác do toàn quyền Johannes Van der Bosch đề xướng vào năm 1829.Nội dung chính sách này như sau: thay vì thu một phần thu nhập của nông dân, chínhquyền thực dân buộc nông dân phải trích ra 1/5 đất đai của các công xã nông thôn ở Javavà Tây bộ Sumatra để trồng các loại cây xuất khẩu (đường, chàm, cà phê, thuốc lá, trà,hồ tiêu, quế, ký ninh, bông vải, dầu cọ) Nông dân bị buộc phải canh tác phần đất nàytheo đơn vị công xã, luôn cả việc vận chuyển và sơ chế sản phẩm, sau đó giao nộp toànbộ vào kho nhà nước để vừa trả thuế vừa bán cho nhà nước với giá rẻ mạt

Chế độ canh tác mang nặng tính chất công xã này là một mặt đã mang lại cho ngânsách chính quốc những món lợi rõ rệt rất lớn: trong thời gian chế độ này thực hiện khoảng

40 năm – Hà Lan đã thu được gần 900 triệu guilders lợi tức ròng, tức khoảng 1/3 ngânsách hàng năm của nước này, mặt khác là tình trạng bần cùng khủng khiếp của nông dân

4 () Theo các sử gia Hà Lan, cuộc khởi nghĩa đã làm chính quyền thực dân thiệt mất 15.000 quân (8.000 lính Hà Lan và 7.000 lính đánh thuê Indonesia ) và tiêu phí đến 20 triệu florins

Trang 16

Java, Madura vaø Sumatra Hó bò töôùc maât, khođng phại laø 1/5 maø laø 1/3 vaø coù khi 1/2 soâñaât ñai vaø thôøi gian maø hó phại canh taùc tređn nhöõng ñaât aây laø khođng giôùi hán Ñoù laø chöakeơ nhöõng ngaøy hó phại ñi lao dòch xađy döïng ñöôøng xaù, caău coâng Do vaôy dieôn tích trođngcađy löông thöïc vaø thôøi gian hó coøn phại lao ñoông tređn phaăn ñaât coøn lái cụa mình khođngngöøng bò giạm suùt

Chính quyeăn thöïc dađn ñaõ söû dúng caùc quan chöùc bạn xöù töø quyù toôc ñeân kyø haøo laøngxaõ trođng coi vieôc thöïc hieôn chính saùch naøy ngay tái ñòa phöông cụa hó Buø lái, hó nhaônñöôïc moôt tư leô nhaât ñònh soâ sạn phaơm maø nođng dađn giao noôp hoaịc nhaôn ñöôïc ñaât ñai, mieênthueâ Lieđn minh thöïc dađn-phong kieân bạn xöù voân ñaõ hình thaønh tröôùc ñoù nay lái ñöôïctaíng cöôøng Moôt taăng lôùp phong kieân Java ra ñôøi vaø trôû thaønh boô phaôn cụa boô maùy cai tròthuoôc ñòa Coøn söï tan raõ cụa cođng xaõ thì bò kìm haõm Caùc cođng xaõ vaên tieâp túc laø hát nhađn

cơ bạn trong ñôøi soâng xaõ hoôi-kinh teâ cụa nođng thođn Java Tình hình naøy ñạm bạo söï keâtúc cụa caâu truùc xaõ hoôi cuõ vaø duy trì, baât chaâp thôøi kì thoâng trò lađu daøi, trong caâu truùcthuoôc ñòa nhieău neùt cụa cheâ ñoô tieăn thuoôc ñòa

Cheâ ñoô canh taùc giaønh ñoôc quyeăn khai thaùc cho chính quyeăn thöïc dađn Ngay cạ töbạn tö nhađn Haø Lan cuõng bò caâm hoát ñoông, ngoái tröø giôùi thöông mái taøi chính trongCođng ty thöông mái Haø Lan ñöôïc thaønh laôp naím 1824 Nhôø ñöôïc ñoôc quyeăn vaôn chuyeơnvaø ñaâu thaău mua haøng hoaù, Cođng ty naøy laøm aín raât phaùt ñát Nhöng daăn daăn söï phaùt trieơncụa cođng nghieôp Haø Lan nađng cao vò trí cụa tö sạn cođng nghieôp nöôùc naøy Ñái dieôn choquyeăn lôïi cụa hó ôû Quoâc hoôi laø caùnh ñoâi laôp töï do xuaât hieôn vaøo nhöõng naím 1840 Caùnhnaøy ñoøi hán cheâ bôùt quyeăn haønh cụa chính quyeăn ôû thuoôc ñòa vaø baõi boû nhöõng hán cheâñoâi vôùi hoát ñoông cụa tö sạn cođng nghieôp Cuoâi nhöõng naím 1850 – ñaău nhöõng naím 1860,trong Quoâc hoôi Haø Lan ñaõ xuaât hieôn theđm löïc löôïng dađn chụ Hó ñoøi hụy boû ngay cheâ ñoôcanh taùc cöôõng böùc Ñoùng vai troø to lôùn cụa cuoôc ñaâu tranh choâng cheâ ñoô ođ nhúc naøy laø

taùc phaơm nhan ñeă "Max Havelaar" hay laø "Cuoôc ñaâu thaău caø pheđ cụa Cođng ty Thöông mái

Haø Lan" (1860) cụa Edoard Dekker ñaõ vách traăn boô maịt cụa chính saùch canh taùc vaø tình

hình khoân khoơ cụa nhađn dađn bạn xöù , nán nhađn cụa noù Söùc eùp cụa caùnh ñoâi laôp ñaõ buoôcchính phụ ñạng Töï do naím 1870 huyû boû moôt soâ cađy cöôõng böùc canh taùc nhö hoă tieđu, traø,thuoẫc laù Rieđng ñöôøng thì phại ñôïi ñeân naím 1890 vaø caø pheđ naím 1915 Quoâc hoôi giôø ñađỵöôïc tham gia cođng taùc laõnh ñáo thuoôc ñòa, keơ cạ thođng qua ngađn saùch Ñáo luaôt veă cođngnghieôp (1870) cho pheùp tö nhađn ñöôïc töï do söû dúng ñaât ñai vaø lao ñoông Ñieău naøy thu huùtngaøy caøng nhieău ngöôøi ôû Haø Lan sang laôp nghieôp ôû Indonesia, nhaât laø töø khi keđnh ñaøoSuez ñöôïc khai thođng vaøo thaùng 11.1869 ñaõ ruùt ngaĩn hôn nöõa con ñöôøng ñi töø chính quoâcsang thuoôc ñòa

Trong nhöõng naím thi haønh cheâ ñoô canh taùc cöôõng böùc, tình hình ñạo Java ñaõ thu huùtphaăn lôùn söï chuù yù cụa chính quyeăn thöïc dađn Nhöng khođng phại vì theâ maø noù lôi laø nhöõngnôi khaùc Naím 1821, ôû Tađy boô Sumatra ñaõ buøng leđn cuoôc khôûi nghóa cụa nođng dađnMenangkabau giöõa nhöõng ngöôøi chụ tröông cại caùch (padri)(5) töùc taăng lôùp muoân duøng ñáo

Hoăi nhö laø ngón côø tö töôûng choâng lái giôùi "Añaùt" – taăng lôùp muoân duy trì ñaịc quyeăn ñaịc

5 () Padri laø teđn gói caùc giaùo sĩ Hoăi giaùo queđ quaùn ôû thaønh phoâ Padri (Baĩc Sumatra)

Trang 17

lợi của những kẻ cầm đầu công xã thị tộc, ngăn cản sự phát triển chế độ tư hữu Năm

1821, khi người Hà Lan can thiệp đứng về phía Ađát, cuộc xung đột này đã biến thành

cuộc khởi nghĩa chống thực dân Lịch sử Indonesia gọi đây là cuộc chiến tranh Padri Domục tiêu của cuộc khởi nghĩa là thành lập một quốc gia phong kiến Hồi giáo độc lập, nêncó thể nói tư tưởng chi phối nó cũng là chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo Cuộc chiến tranh kéodài đến năm 1837 thì bị dập tắt, vì hàng ngũ lãnh đạo bị chia rẽ và một số phong kiến địaphương bị Hà Lan quyến dụ chống lại phong trào Cuộc khởi nghĩa đã chuẩn bị tiền đồcho việc cải cách Hồi giáo ở Tây bộ Sumatra ở đầu thế kỉ XX

Để ngăn chặn ảnh hưởng của Anh và Mỹ, Hà Lan đã tích cực đánh chiếm nhữngvùng nằm ngoài Java và Tây bộ Sumatra (1846 – 1851), đã tổ chức ba cuộc chinh phạtvào Bali để buộc quý tộc đảo này thuần phục Trong những năm 1850, Hà Lan lần lượtchinh phục Tây bộ Kalimantan, sultanat Banjarmassin ở Đông nam Kalimantan, sultanatBoni ở Đông Nam Sulawesi, sultanat Siak ở Đông bộ Sumatra

VI THỜI KÌ CHUYỂN SANG KHAI THÁC THUỘC ĐỊA BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐẾ QUỐC CHỦ NGHĨA (NHỮNG NĂM 1870 – ĐẦU THẾ KỈ XX)

Trong lịch sử cận đại Indonesia, hiệp ước ký năm 1871 giữa Anh và Hà Lan là mộtbước ngoặt Theo hiệp ước, Anh thừa nhận quyền hành của Hà Lan ở Bắc Sumatra.Nhưng điều đáng nói là trong bầu không khí chạy đua xâm chiếm thuộc địa giữa các đếquốc, hiệp ước này đã thúc đẩy Hà Lan thay đổi chính sách đối với quần đảo Indonesiacho phù hợp với sự chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh chuyển lêngiai đoạn độc quyền: mau chóng chiếm đoạt toàn bộ quần đảo Tháng 3.1873, thực dânHà Lan trao tối hậu thư đòi sultanat Acheh phải thần phục, nhưng bị bác bỏ Thống đốcHà Lan quyết định tuyên chiến

Kéo dài trong suốt 40 năm (1873 – 1913), cuộc kháng chiến của nhân dân Acheh làcuộc kháng chiến dài nhất, đẫm máu nhất và tốn kém nhất trong lịch sử xâm chiếm thuộcđịa của Hà Lan ở Indonesia Toàn bộ tình hình ở Indonesia cho đến đầu thế kỉ XX đã diễn

ra dứơi tác động của biến cố này

Trong giai đoạn đầu (1873 – 1880), cuộc kháng chiến chủ yếu do sultan và các giớichức phong kiến riêng rẽ đứng ra tổ chức nhằm bảo vệ lãnh địa riêng của họ, do đó cuộckháng chiến không phát triển lên được Sau khi vùng trung tâm của sultanat – Đại Acheh

- bị chiếm, phần lớn phong kiến đã quay sang thoả hiệp với thực dân Hà Lan, vai trò củasultan mau chóng bị sụp đổ Trong giai đoạn hai (1881 – 1896), nông dân tham gia rấtđông đảo Vai trò lãnh đạo lúc này rơi vào tay giới giáo sĩ Hồi giáo và các bậc kì hàotrong làng xã với người cầm đầu là Ulama Mohammed Sinan Họ đã tuyên bố một cuộcchiến tranh thần thánh Ở bờ biển phía Tây còn tồn tại thêm một phong trào kháng chiếnkhác do Tenku Umar, kì hào làng xã lãnh đạo, Ở vùng giải phóng bao gồm lãnh thổ ĐạiAcheh và nhiều vùng khác, Sinan đã dựng lên một chính quyền quân sự tôn giáo Lúc đầu

Sinan và những đồng sự của ông có quan tâm đến ước mơ của nông dân về một "chính

Trang 18

phủ công bằng", một "tín ngưỡng trong sạch", nghĩa là diệt trừ tệ chuyên quyền phong

kiến và lập lại những truyền thống dân chủ của đạo Hồi cổ xưa, nhưng dần dần khi càngđược củng cố, thì chính quyền Sinan càng tỏ ra xa lạ với nguyện vọng dân chủ của nhândân Sự thoái hoá này đã gây chia rẽ trầm trọng không hàng ngũ ban lãnh đạo phong trào,làm cho nhân dân bất mãn nhất là khi Hà Lan chú tâm khai thác nhược điểm này Năm

1891, sau khi Sinan chết, giữa Mat Amin – con trai ông - và Tenku Umar đã diễn ra cuộcđấu tranh rất tai hại nhằm giành quyền hành Bị thất bại, Tenku Umar đã bỏ chạy sanghàng ngũ kẻ thù Tuy nhiên ba năm sau đó, Tenku Umar lại cầm vũ khí chống Hà Lan.Trong giai đoạn ba này, thực lực của nghĩa quân không còn như trước Thực dân Hà Lanđã mau chóng khống chế được phong trào kháng chiến Năm 1899, Tenku Umar bị giết.Sau khi nhiều lãnh tụ khác bị bắt và bị giết trong những năm 1908 – 1910, cuộc khángchiến đã thực sự chấm dứt dù còn một số nơi riêng rẽ tiếp tục chiến đấu cho đến năm

1913

Ngoài Acheh, Hà Lan còn đẩy mạnh các hoạt động bành trướng lấn sâu vào nộiđịa, không ngừng can thiệp vào các vương quốc còn độc lập hay nửa độc lập Chính quyềnthực dân đã dùng thủ đoạn mau chuộc những phong kiến bên trên nào chịu thoả hiệp vàthẳng tay trấn áp những phong kiến nào chống đối và các cuộc kháng chiến của nông dân.Đầu thế kỉ XX, Hà Lan coi như làm chủ toàn thể quần đảo có diện tích 1 triệu km2, tứcgần 60 lần diện tích chính quốc, với dân số khoảng 37,7 triệu (1905), tức 6 lần dân số HàLan, trong đó có 30,1 triệu sinh sống tại Java và Madura, số còn lại sống ở các "tỉnh bênngoài"

Mọi cấm đoán đối với các hoạt động kinh doanh của tư bản tư nhân Hà Lan ở thuộcđịa Đông Ấn đã lần lượt bị bãi bỏ Đạo luật nông nghiệp ban hành năm 1870 đã đảm bảocho người doanh nghiệp những điều kiện thuận lợi về chế độ lĩnh canh ruộng đất trồngcây công nghiệp xuất khẩu Giá trị sản lượng của các đồn điền tư nhân năm 1875 tănggấp 3 lần so với trước năm 1860 và đến năm 1885 tăng gấp 10 lần Từ năm 1900 đếnnăm 1914, số tư bản Hà Lan tăng gấp đôi và đạt gần 750 triệu đô la Mĩ Phần lớn số đầu

tư này bị khống chế bởi các ngân hàng và tổ chức độc quyền thuộc địa – Syndicat đườngJava, Hội Thương mại Hà Lan Chính phủ Hà Lan hiểu rằng do vị thế yếu ớt về kinh tếvà quân sự so với các đế quốc khác, Hà Lan không thể nào tránh cho thuộc địa của mìnhkhỏi sức ép của các đối thủ mạnh hơn, và nhất là để khuất phục được một thuộc địa lớnnhư vậy, sự trợ giúp của tư bản quốc tế là điều cần thiết Tình hình này đã giải thích mộtsố đặc điểm trong đời sống chính trị và kinh tế Indonesia trong thời kì chúng ta đề cậpđến ở đây

Khác với các nước đế quốc hùng mạnh hơn luôn tìm cách bảo vệ thuộc địa khỏi sựxâm lấn của các đối thủ, chính quyền thực dân Hà Lan đã thi hành chính sách "mở cửa".toàn bộ hàng rào thuế quan chống lại sự xâm nhập hàng hoá và tư bản nước ngoài bị bãibỏ Tư bản nước ngoài được quyền đưa hàng và vốn vào Indonesia trên cơ sở bình đẳngvới Hà Lan Năm 1813, Anh chiếm 40% hoạt động ngoại thương của Indonesia trong khiHà Lan chỉ có 28%, phần còn lại do Nhật, Pháp và Đức khống chế Biểu trưng cho sự xâmnhập của Anh vào Indonesia là công ty hỗn hợp Anh-Hà Lan mang tên "Royal Dutch

Trang 19

Shell" Tư bản nước ngoài đã được nhượng những vùng đất rộng lớn với giá rẻ mạt để lậpđồn điền cà phê, trà, mía, thuốc lá, cao su.

Việc chuyển sang khai thác bằng phương pháp đế quốc chủ nghĩa đã tăng nhanhkhối lượng một số sản phẩm: từ 1900 đến 1914, sản lượng đường tăng gấp hai lần, trà 5lần, thuốc lá 1,5 lần, cao su (năm 1900 hầu như không có) đạt 15.000 tấn, dầu lửa từ 0,36triệu tấn lên 1,5 triệu tấn, tức hơn 4 lần Đồng thời ngành giao thông vận tải cũng pháttriển: toàn bộ chiều dài của mạng lưới đường sắt và đường cho xe điện ở Java tăng từ3.000km (1899) lên 4.500km (1913)

Cũng giống như tình trạng ở các thuộc địa khác, nền kinh tế nhất là công nghiệp ởIndonesia được phát triển trước hết là vì quyền lợi của chính quốc nên nói chung là quèquặc Tư bản phương Tây không chú trọng đầu tư cho công nghiệp chế biến, mà tập trungvào công nghiệp khai khoáng và sơ chế nguyên liệu nông nghiệp (làm đường, sấy trà )và những xí nghiệp phục vụ nhu cầu khai thác kinh tế và sinh họat của thực dân như sửachữa, điện, nước

Sự phát triển kinh tế hầu như không mang lại lợi ích gì cho người dân bản xứ Cáncân ngoại thương cho thấy rõ mức độ tăng cường bóc lột nông dân thuộc địa của tư bảnnước ngoài Nếu trong năm 1870 – 1880 giá trị hàng xuất khẩu vượt giá trị hàng nhậpkhẩu khoảng 50 triệu guilders thì trong những năm 1911 – 1915, mức độ chênh lệch hàngnăm đã lên gần con số 250 triệu guilders

Tuy nhiên, việc chuyển sang phương pháp bóc lột đế quốc chủ nghĩa đã phá vỡmọi hàng rào kinh tế mà sự tồn tại lâu đời của các công xã và các tiểu quốc đã dựng nên,để tạo ra một thị trường thống nhất cho quần đảo Đây chính là một trong những tiến bộcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dù ø mang nặng tính chất thuộc địa, so vớiphương thức sản xuất phong kiến cũ

Sự xâm nhập ngày càng sâu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa còn gây ranhiều thay đổi trong cấu trúc của xã hội Indonesia, từ kết cấu giai cấp đến vị thế của cácgiai cấp Là nơi quy tụ đến 4/5 dân số, nơi tập trung các cơ sở kinh tế và chính trị thiếtyếu của chính quyền thực dân, Java đã trở thành trung tâm của mọi sinh họat chính trị,kinh tế, văn hóa Đó là nơi phát sinh của những tổ chức dân tộc đầu tiên và nơi thiết đặtnhững cơ sở của chế độ cộng hoà độc lập sau này Do đó phần phân tích kết cấu của xãhội Indonesia vào đầu thế kỉ XX sẽ lấy Java làm trọng điểm

Trong thời kì thống trị của Công ty Đông Ấn, giai cấp quý tộc vần là tầng lớp caitrị, nắm rất nhiều quyền hành ngay tại địa phương mình Nhưng từ thời chế độ canh táccưỡng bức và nhất là từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khi bộ máy thống trị thuộc địađược áp đặt khắp quần đảo thì họ chỉ là những viên chức bậc trung, bậc thấp trong bộ máycai trị thuộc địa Còn các số viên chức người Âu đã tăng lên một cách đáng kể Bọn nàyđã lấn áp quyền lực và quyền lợi của quý tộc Cùng với những khác biệt lớn lao về tiền

Trang 20

lương giữa viên chức người Âu và người Indonesia, sự lấn áp này đã gây ra những bấtmãn nhất định trong giới quý tộc-viên chức Java Họ đấu tranh đòi bình đẳng với ngườiÂu Yêu sách được phản ánh trong hệ tư tưởng của cánh ôn hoà trong phong trào dân tộc.

Do được tiếp thu nền học vấn phương Tây, con cháu của họ trở thành những nhà khaisáng và những nhà diễn đạt đầu tiên nhận thức dân tộc vừa nảy sinh

Chiếm hơn 2/3 dân số, nông dân vẫn là tầng lớp đông đảo nhất Gây thiệt hại nhiềunhất cho nông dân là hoạt động của các đồn điền người Âu vì chúng chiếm nhiều vùngcanh tác tốt nhất của họ Nông dân bị đè dưới gánh nặng thuế khoá và chế độ lao dịch,nhất là ở Java Theo đà xâm nhập của quan hệ hàng hoá- tiền tệ, diện tích đất đai củacông xã dần dần lọt vào tay địa chủ và phú nông từ 47% (1882) tăng lên đến 83% (1932)đất đai Java, trong khi đất đai của công xã trong khoảng thời gian trên giảm từ 42% xuốngcòn 13% Bị tước đoạt như vậy, tất nhiên giai cấp nông dân mau chóng bị phân hoá vàbần cùng hoá Vào những năm 1920, số nông dân không có ruộng chiếm gần 35% dân sốnông thôn Java, và nếu tính gộp cả bần nông thì tỉ lệ này lên đến 60% Mức thấp kém củanông dân đã tạo điều kiện cho sự bành trướng của tư bản thương nhân-cho vay lãi mà đasố là người Hoa

Sự xâm nhập nói trên của quan hệ hàng hoá-tiền tệ vào nông thôn không có nghĩalà phương thức bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại, mà thực ra chúng vẫn đượcthực dân và địa chủ phong kiến cố tình duy trì Chính sự tồn tại của hình thức bóc lột nàycàng làm cho tình cảnh của nông dân thêm phần phức tạp và muôn phần đau khổ Ở mộtsố vùng đã xuất hiện những hành động phản kháng tự phát của nông dân: hoặc chạy trốnvào rừng, hoặc cầm vũ khí đánh phá các trang trại của địa chủ và thực dân Cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX, trong phong trào phản kháng của nông dân đã xuất hiện một bầnnông nổi tiếng tên là Samin Ông cổ vũ cho nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản khôngtưởng: ruộng đất phải thuộc về tất cả những ai canh tác chúng, phải lao động chung vàhoa lợi cũng phải được sử dụng chung Samin dự tính đấu tranh giành những mục tiêu bàybằng con đường hòa bình Nhưng những người theo ông không muốn giới hạn cuộc đấutranh khuôn khổ hạn hẹp mà ông đã đề ra Họ đã chiếm đất của địa chủ, đấu tranh vớicác viên chức thu thuế Tuy phong trào bị dập tắt, nhưng mầm mống của nó vẫn còn,điều này buộc thực dân Hà Lan dù muốn dù không cũng phải thay đổi chính sách thốngtrị

Cùng với gánh nặng thuế khóa, ách bóc lột nặng nề của thực dân, phong kiến, tưbản thương nhân-cho vay lãi, hoàn cảnh sống khốn khổ, các hoạt động phản kháng củanông dân đã chuẩn bị cho họ trở thành nền tảng của phong trào giải phóng dân tộc

Sự xâm nhập của quan hệ hàng hoá-tiền tệ vào nông thôn còn tạo ra một tầng lớptiểu tư sản nông thôn và tư bản nông thôn (số này ít hơn) sống bằng hoạt động xuất khẩu.Chính giới này đã cung cấp cho các tổ chức dân tộc những nhà hoạt động nổi tiếng Họ sẽgóp phần không nhỏ vào việc vạch ra tư tưởng của phong trào giải phóng

Trang 21

Gắn liền với việc chuyển sang phương thức bóc lột đế quốc chủ nghĩa là sự ra đờicủa chủ nghĩa tư bản ở Indonesia và cùng với sự hình thành của các giai cấp mới – vôsản, tiểu tư sản và tư sản

Vào giữa những năm 1920, Indonesia có khoảng 50 vạn vô sản hiện đại (công nhâncông nghiệp, vận tải, khai thác dầu) Tuy chiếm một tỉ lệ dân số rất nhỏ nhoi, nhưng sovới số lượng đương thời ở các nước Đông Nam Á khác thì con số này là lớn Vì đại bộphận làm việc trong các đồn điền và nhà máy của tư sản nước ngoài nên ngay khi vừaxuất hiện vào đầu thế kỉ XX, phong trào công nhân đã trở thành một bộ phận của cáccuộc giải phóng dân tộc Nhưng trình độ giác ngộ giai cấp và tổ chức của giai cấp vô sảnvừa hình thành và ảnh hưởng của nó trong quần chúng vẫn chưa đủ để lãnh đạo nổi sựnghiệp đấu tranh này

Tổ chức công đoàn đầu tiên xuất hiện vào năm 1905, nhưng cũng như phần lớncông đoàn xuất hiện trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, nó không quy tụ công nhân, màlà giới chức và chủ yếu là người Hà Lan Năm sinh phong trào công nhân thực sựIndonesia có thể coi là năm 1908, khi Liên hiệp Công nhân đường sắt và xe điện đượcthành lập, không chỉ thu nạp viên chức, mà cả công nhân Những cuộc bãi công đầu tiêncủa công nhân xuất hiện ở Java trong những năm 1913-1914

Giai cấp tư sản dân tộc Indonesia cực kì yếu ớt ngay cả khi so với tư sản nhiềunước thuộc địa khác Có hai nguyên nhân chính: ở Indonesia thời thống trị của tư sản độcquyền phương Tây hầu như nối tiếp liền ách bóc lột nhà nước-nông nô, vì lẽ đó tư sản dântộc chưa kịp hình thành thì đã phải đương đầu sức mạnh cạnh tranh áp đảo của tư sản độcquyền nước ngoài; nguyên nhân thứ hai là ngay cả thu mua nông sản và buôn bán trongnước cũng lọt vào tay tư sản Hoa kiều và ở mức độ thấp hơn tư sản Ả Rập Tầng lớp đôngnhất trong tư sản Indonesia là tư sản nông thôn, phát triển trên cơ sở canh tác các loại câyxuất khẩu Dần dần hình thành cả tư sản công nghiệp và tư sản thương nghiệp-cho vay lãi,cố cạnh tranh với người Hoa Đa số tư sản công nghiệp là chủ các nhà máy nhỏ kiểu côngxưởng thủ công và bán thủ công

Do chức năng mại bản ở Indonesia chủ yếu thuộc về tư sản người Hoa mà trong tưsản ở Indonesia không có tầng lớp có ảnh hưởng nào quan tâm đến việc cộng tác với thựcdân Hà Lan Đây chính là tiền đề cho việc tham gia của tư sản vào phong trào giải phóngdân tộc Nhưng khác với tư sản một số nước thuộc địa khác (như Ấn Độ chẳng hạn), nókhông trở thành lực lượng lãnh đạo phong trào và cũng không có một đảng thuần túy tưsản Tuy vậy, từ trong hàng ngũ của nó đã xuất hiện một số lãnh tụ tư tưởng nổi tiếng củacác tổ chức dân tộc đầu tiên

Khác với một số nước Đông Nam Á khác, giai cấp tiểâu tư sản của Indonesia nhất làtầng lớp trí thức theo xu hướng dân chủ tiểu tư sản - đóng một vai trò cực kì quan trọngtrong phong trào giải phóng dân tộc Những trí thức Tây học đầu tiên đều xuất thân từgiới phong kiến-viên chức, nhưng dần dần con số trí thức xuất thân tiểu tư sản (con các

Trang 22

viên chức nhỏ, thương nhân, nông dân khá giả) tăng lên Trí thức phản ứng một cách rấtgay gắt với mọi biểu hiện của ách thống trị thực dân và phân biệt chủng tộc Chính họ làngười diễn đạt chính nhận thức toàn dân tộc Indonesia vừa nảy sinh và là đại biểu quyềnlợi của giai cấp tư sản và tiểu tư sản vừa hình thành, và cũng là người đề xuất tư tưởng tưsản dân tộc Có tình hình này là do vị trí của nhiều gia đình quý tộc Java đã suy sụp, hoàncảnh sinh họat của họ với tư cách là những viên chức nhỏ của các hãng châu Âu, kỹ thuậtgia, bác sĩ, nhà báo không khác gì so với lớp trí thức xuất hiện từ giới thường dân (kể cả

tư sản) Cho đến khi đất nước độc lập, trí thức đã chịu ảnh hưởng của những luồng tưtưởng khác nhau Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, họ chịu ảnh hưởng của luồng tư tưởngcải cách Hồi giáo từ Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ dội sang Điều này tương xứng với vai trò củagiới trí thức Hồi giáo trong khoảng thời gian trên

Sự thay đổi trong phương thức bóc lột kinh tế đã gắn liền với việc mang ra thi hànhvào năm 1901 một đường lối cai trị mới mang tên "Chính sách đạo đức" Mục tiêu của nólà nhằm tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho chính sách bóc lột bằng phương pháp đếquốc chủ nghĩa của tư bản tài chính và đồng thời nhằm giảm thiểu mâu thuẫn giữa nhândân Indonesia và chủ nghĩa đế quốc Hà Lan Chính quyền thuộc địa mưu tính đạt đượcmục tiêu đó bằng những biện pháp hứơng về việc phát triển nền nông nghiệp và thù côngnghiệp bản xứ (điều này đồng thời cho phép duy trì và mở rộng thị trường cho hàng hoáHà Lan), bằng những cải cách và nhượng bộ riêng lẻ, xoá bỏ một phần chế độ lao dịch,cho phép một cách dè dặt các hoạt động chính trị ở thuộc địa, thu dụng thêm người bản xứvào bộ máy cai trị thuộc địa, hạn chế bớt những bất công và tăng cường tính chất dân chủcủa chế độ thuộc địa như thành lập các hội đồng địa phương để người bản xứ có cơ hộiphát biểu ý kiến về những vấn đề riêng của họ

Trọng tâm của "chính sách đạo đức" là phát triển giáo dục và y tế nhằm tạo chongười bản xứ học tiếng Hà Lan Đây là cách thực hiện sự kết hợp, nếu không phải là sựđồng hoá giữa hai dân tộc

Các kết quả thực tiễn của những cải cách và nhượng bộ trên là không đáng kể,nhưng khách quan mà nói chung đã góp phần tạo thêm tiền đề cho phong trào giải phóngdân tộc Nhờ theo học các trường Hà Lan mà một số người Indonesia đã có cơ hội tiếpxúc với những tư tưởng dân chủ phương Tây, lịch sử phong trào giải phóng dân tộc vàcách mạng tư sản ở châu Âu và châu Mĩ Điều này đã tạo cho họ tư thế đảm nhiệm vai tròlà những lãnh tụ đầu tiên của phong trào dân tộc

Như vậy trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đất nước Indonesia đãtrải qua những biến đổi lớn sau: lần đầu tiên toàn bộ quần đảo được thống nhất về kinh tếvà chính trị, được cai trị bởi một bộ máy hành chính thống nhất, sự xâm nhập của phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những thay đổi lớn lao trong cấu trúc xã hội vànét nổi bật nhất là sự ra đời của những giai cấp mới, mà sự lớn mạnh của chúng gắn liềnvới sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa – dù là mang nặng tính chất thuộc địa –

ở nước này

Trang 23

Những thay đổi mới vừa đề cập ở trên xuất hiện bên cạnh một số nhân tố đã có từtrước đó như mối liên hệ lịch sử lâu đời giữa tất cả các vùng trong nước, di sản văn hóachung và nhất là sự thống nhất về tôn giáo của đa số dân cư mà 90% theo đạo Hồi (đây lànhân tố không thể thiếu được để đoàn kết đại bộ phận quần chúng vốn thất học), và cuốicùng quyền lợi chung của tất cả các dân tộc sống trên quần đảo trong cuộc đấu tranhchung chống chế độ thuộc địa Hà Lan Đầu thế kỉ XX, họ còn được liên kết bởi một tiếngnói chung: đó là tiếng Mã Lai Tuy chỉ là ngôn ngữ của 6 – 7% dân số, tiếng Mã Lai vẫncó xu thế trở thành tiếng nói của toàn thể dân tộc Indonesia, chứ không phải tiếng Java(vốn là tiếng nói của trên 40% dân số) Đó là do tính chất dân chủ của nó (không có sựphân biệt giữa ngôn ngữ quý tộc và ngôn ngữ bình dân, như trong tiếng Java), nhưngnguyên nhân chính là vì từ lâu tiếng Mã Lai được chọn như là một phương tiện giao lưugiữa các cộng đồng trong quan hệ buôn bán và vai trò của nó làm lớn dần theo sự pháttriển của công nghiệp, đồn điền, thương mại

Tất cả đã tạo tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa cho sự xuất hiện của mộtphong trào dân tộc toàn Indonesia Nhưng vấn đề đầu tiên là làm sao cho người dân bìnhthường của các dân tộc khác nhau sống trên quần đảo ý thức được rằng họ được liên kếtvới nhau bằng những nhân tố vừa kể trên

VII.Phong trào dân tộc

Phong trào toàn dân tộc Indonesia ra đời ở Java, nơi sinh sống của gần 3/4 dân sốvà là trung tâm quan trọng nhất về chính trị, kinh tế và văn hóa, nơi dưới ảnh hưởng củaách bóc lột đế quốc chủ nghĩa những quan hệ tư bản chủ nghĩa sớm phát triển hơn cả.Cũng giống như phần lớn các nước phương Đông khác, những người đầu tiên có côngđánh thức ý thức toàn dân tộc nơi người dân quần đảo là những nhà khai sáng mà trong đóRaden Adjen Kartini (1879 – 1904) giữ một vai trò nổi bật

Là con gái một viên chức-quý tộc người Java tiến bộ, bà đã được theo học cáctrường của người Âu Chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản xa lạ với hệ tư tưởngphong kiến phương Đông, bà đã lên án chế độ phong kiến và những thói tục cổ hủ tróibuộc con người của nó Bà đã coi việc giải phóng phụ nữ và đòi quyền bình đẳng cho họlà một trong những điều kiện cho phép xã hội tiến bộ Con đường chính để đi đến tiến bộnày là, theo ý bà, khai sáng và giáo dục đạo đức cho nhân dân Bà đặt ra yêu cầu cần tinhthông nền văn hóa phương Tây, nhưng không vì thế mà phủ nhận truyền thống dân tộc

Là một người yêu nước nhiệt thành, bà đã mạnh mẽ lên án những biểu hiện củaách thống trị thuộc địa, những bất công mà đồng bào bà phải chịu đựng so với người Âu:gánh nặng thuế khoá, trồng và hút thuốc phiện

Đặc điểm chính trong những tư tưởng dân tộc và dân chủ của bà là chúng gần gũivới quyền lợi không chỉ của người Java mà cả của toàn bộ dân tộc Indonesia Chính đây

Trang 24

là lí do giải thích vì sao nhiều tư tưởng của bà đã được phản ánh vào cương lĩnh của nhữngtổ chức dân tộc đầu tiên, xuất hiện sau cái chết quá trẻ của bà

Phong trào giải phóng dân tộc Indonesia chuyển sang phạm trù tư sản trong thời kì

"thức tỉnh của châu Á", như vậy là trễ hơn so với Philippines, nhưng lại phát triển mộtcách mau lẹ: năm 1908, xuất hiện tổ chức dân tộc đầu tiên theo xu hướng hòan tòan ônhoà, nhưng chỉ 4 năm sau một đảng phái với yêu sách đòi độc lập đã ra đời Nếu năm

1908 – 1909, con số thành viên các tổ chức dân tộc thay đổi từ vài trăm đến vài ngàn thìtrong Chiến tranh thế giới thứ nhất đã lên đến trăm ngàn

Cho đến khi đất nước độc lập, phong trào đã trải qua 6 giai đoạn phát triển

Trong giai đoạn đầu (1908 – 1914), không một trào lưu tư tưởng nào chiếm được vịtrí ưu thế mà người ta thấy có tình trạng cộng tồn giữa chủ nghĩa dân tộc tự do tư sản vàtiểu tư sản tiến bộ cùng với ảnh hưởng nhất định của những phần tử "dân tộc phong kiến".Lực lượng lãnh đạo phong trào dân tộc thuộc về giới trí thức trẻ, mà hầu như lúc đầu đềuxuất thân từ quý tộc Giai đoạn này được mở đầu bằng sự thành lập Budi Utomo (Nỗ lựcThanh cao) – một tổ chức dân tộc đầu tiên theo kiểu hiện đại – bởi một số sinh viêntrường y khoa ở Batavia vào ngày 20.5.1908 Đây là tổ chức của trí thức và quý tộc lớpdưới Java

Lúc đầu hoạt động của phái Budi Utomo mang tính chất khai sáng và văn hóa-xãhội, những đòi hỏi chính trị (thành lập chính quyền nhân dân, bình đẳng giữa ngườiIndonesia và người Âu) chỉ được đưa ra trong những năm 1915 – 1917 Những người sáng

lập xác định mục tiêu của Budi Utomo là "chìa tay cho dân chúng và giải phóng họ khỏi

cảnh u tối của sự ngu dốt, để họ được trang bị tốt hơn cho cuộc đấu tranh sinh tồn và có thể đương đầu tốt hơn với sự can thiệp từ bên ngoài" Họ mong muốn nắm vững khoa học

và kỹ thuật của phương Tây nhưng đồng thời vẫn nhấn mạnh ý nghĩa của di sản văn hóacũ, kêu gọi nghiên cứu lịch sử, nghệ thuật dân tộc Chủ trương này đã góp phần thúcđẩy ý thức dân tộc Mục tiêu thứ hai là thành lập một khối liên hiệp toàn Java với nhiệmvụ phấn đấu cho sự phát triển hài hoà của đất nước và con người của xứ Đông Ấn thuộcHà Lan Budi Utomo cũng đã có sáng kiến dùng tiếng Mã Lai là ngôn ngữ cho toàn bộquần đảo

Con số hội viên lúc đông nhất là một vạn người vào năm 1909 Tuy nhiên nhữngnhà lãnh đạo Budi Utomo chưa bao giờ tính đến chuyện tranh thủ quần chúng và biến nóthành một tổ chức quần chúng thực sự Khi mhũng tổ chức tiến bộ khác xuất hiện, một sốlãnh tụ cánh tả của nó đã phải rời bỏ hàng ngũ Budi Utomo Từ đó vị thế của tổ chức nàytàn lụi dần

Bước sang thập niên thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc đã phát triển lên mộtbước rõ rệt Chỉ trong năm 1912, theo các số liệu không đầy đủ đã xuất hiện không dưới 5tổ chức chính trị mới, trong đó có hai tổ chức rất có ảnh hưởng và từ 1913 đến 1917 đã

Trang 25

xuất thêm ít nhất 5 tổ chức nữa Tình hình này cho thấy cao trào cách mạng châu Âu đặcbiệt là cách mạng Trung Quốc (1911 – 1912) có ảnh hưởng lớn lao như thế nào ởIndonesia

Năm 1913 trong bài "Sự thức tỉnh của châu Á", Lenin đã viết: "Điều đáng chú ý là:

phong trào dân chủ cách mạng hiện nay lại bao trùm cả Indonesia, Java và quần đảo thuộc địa khác của Hà Lan, có gần 40 triệu người"

Những người đại biểu cho phong trào dân chủ đó, thứ nhất là quần chúng nhân dân

ở Java, trong đó phong trào dân tộc đã từng nổi lên dứơi ngọn cờ của Hồi giáo Thứ hai lànhững phần tử trí thức địa phương do chủ nghĩa tư bản tạo ra trong số những người châuÂu quen thuộc phong tục thổ ngữ ở chính nơi đó, những người châu Âu này chủ trươngIndonesia phải được độc lập Thứ ba là rất nhiều người Hoa kiều ở Java và các quần đảokhác đã mang phong trào cách mạng từ tổ quốc của họ đến

Bằng một đánh giá cực kì chính xác, Lenin đã phân biệt ba xu hướng chính trongphong trào giải phóng dân tộc ở Indonesia Đứng hàng đầu là quần chúng nhân dân Java

dưới ngọn cờ Islam Tổ chức lãnh đạo phong trào này mang tên "Sarekat Islam" (Liên

minh Hồi giáo)

Hạt nhân đầu tiên của nó được hình thành trong năm 1911 dưới tên gọi "Sarekat

Dagung Islam " (Liên minh các thương nhân Hồi giáo) Những người sáng lập là Hadji

Samanbudi – một thương nhân giàu có – và nhà báo R.M Tirtoadisurjo vốn cũng có buôn

bán Vai trò lãnh đạo Sarekat Dagung Islam thuộc về thương nhân và tư sản công nghiệp

Indonesia Tổ chức đề ra nhiệm vụ hàng đầu là đấu tranh chống sự cạnh tranh của tư bảnthương nhân người Hoa và việc truyền đạo Cơ Đốc

Mới thoạt trông, hoạt động của Sarekat Dagung Islam tưởng chừng như không gây

hại chế độ thực dân Thực ra mục tiêu đấu tranh tuy còn nhiều hạn chế nhưng lại có mộtnội dung dân tộc nhất định và đụng chạm đến tuyệt đại bộ phận nhân dân Indonesia vốnđược cố kết từ vài trăm năm nay bởi đạo Hồi và như vậy về lâu dài có thể đoàn kết đượcnhân dân thuộc địa dưới ngọn cờ của chủ nghĩa dân tộc toàn Indonesia

Nhận thức được nguy cơ này, chính quyền thực dân chỉ cho phép Sarekat Dagung

Islam hoạt động trong khu trú sứ Surakarta Nhưng phong trào quần chúng phát triển

mạnh mẽ trong năm 1912 đã tạo cơ hội thuận lợi cho tổ chức mở rộng phạm vi hoạt độngcủa mình, dưới tên gọi mới là Sarekat Islam được thành lập vào ngày 12.9.1912 ởSurabaya bởi công lao của Umar Said Tjokroaminoto Quyền lãnh đạo của tổ chức mớichuyển sang tay lớp trí thức tiểu tư sản có xu hướng tiến bộ

Sarekat Islam đã đề ra những mục tiêu sau: a) thúc đẩy hoạt động thương mại, b)

giúp đỡ thành viên bị khó khăn mà không do lỗi của họ, c) cổ vũ quyền lợi tinh thần vàvật chất của người Indonesia, d) đấu tranh cho quyền lợi của Hồi giáo bằng cách đả kích

Trang 26

những quan điểm sai lầm, truyền bá những khái nịệm đúng đắn của đạo Những mụctiêu này sẽ đạt được bằng con đường hợp pháp, Sarekat Islam đã ra lời kêu gọi thốngnhất người Hồi để bảo vệ quyền lợi chung của họ Trong hoàn cảnh Indonesia, lời kêu gọinày có tác dụng như lời hiệu triệu nhân dân chống lại bọn thực dân-Thiên Chúa giáo, và

do đó về khách quan không hẳn là mang tính chất tôn giáo, mà đúng hơn mang tính chấtchính trị và dân tộc Nhưng đồng thời hình thức tôn giáo của tư tưởng và khẩu hiệu

Sarekat Islam và các hoạt động của các đảng viên trong công nhân và nông dân đã cho

phép thu hút khối đông quần chúng ít kinh nghiệm về chính trị Vì lẽ đó tuy ra đời như làtổ chức của những thương nhân Hồi giáo nhằm cạnh tranh với những đối thủ người Hoa và

người Ả Rập, Sarekat Islam mau chóng phát triển thành một tổ chức chính trị có cơ sở

quần chúng rất rộng rãi và đó cũng là yếu tố quyết định làm thay đổi tính chất của tổchức này

Ngay năm 1913, Sarekat Islam đã có gần 8 vạn đảng viên trong khi Budi Utomo vào lúc phát triển cao nhất có khoảng 1 vạn, còn đảng Ấn giáo khi bị cấm hoạt động (1913) có khoảng 7.500 Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, Sarekat Islam đã

phát triển rất nhanh với con số thành viên lên xấp xỉ 1 triệu Sự tham gia của đông đảoquần chúng và sức ép từ bên dưới đã làm cho cấu trúc xã hội của ban lãnh đạo phải thayđổi và làm cho cương lĩnh của tổ chức cũng phải được cải biến một cách tương ứng Nếutrong những năm đầu sau khi thành lập, vai trò chính trong ban lãnh đạo thuộc về tư sảncông thương nghiệp là giới chống lại sự thống trị của tư bản châu Âu và tư bản người Hoathì trong thời kì chiến tranh quyền lãnh đạo chuyển sang tay đại diện trí thức tiểu tư sảntiến bộ mà đứng đầu là Tjokroaminoto, tức những người đã nêu lên cương lĩnh của Liênminh như là một khối bao gồm tất cả những phần tử chống đế quốc

Cương lĩnh chính trị năm 1912 của Sarekat Islam không chứa đựng một yêu sách

chính trị nào, nhưng năm 1916 ở Đại hội toàn quốc lần thứ nhất tổ chức này đã đưa rakhẩu hiệu tự trị cho Ấn Độ thuộc Hà Lan, mà sau đó một năm ở Đại hội II đã biến thành

yêu sách quy chế dominion Ngoài những yêu sách dân tộc-dân chủ chung (quyền bình

đẳng giữa người Indonesia và người Âu trước pháp luật, quyền người Indonesia được ứngcử ), các nghị quyết và các văn kiện mang tính chất cương lĩnh của Đại hội I còn đề ranhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của nông dân và phu đồn điền và Đại hội II lần đầu tiên đãnói đến yêu sách của vô sản công nghiệp (cấm lao động trẻ em, bảo hiểm xã hội )

Trong những năm chiến tranh, trong hệ tư tưởng của Sarekat Islam đã xuất hiện

một nhân tố mới: học thuyết xã hội chủ nghĩa Hồi giáo mà mũi nhọn chống tư bản của nónhằm thẳng vào tư bản "tội lỗi" nước ngoài Vừa phản ánh tâm trạng chống tư bản đanglan rộng trong nhân dân lao động, "chủ nghĩa xã hội Hồi giáo" đồng thời vừa phục vụquyền lợi của tư sản dân tộc, bởi vì nó đã trao cho họ vũ khí đấu tranh chống lại nhữngđối thủ phương Tây và người Hoa và củng cố ảnh hưởng của nó đối với vô sản và nôngdân chống lại học thuyết mác xít về đấu tranh giai cấp, mà trong những năm chiến tranhđã bắt đầu được truyền bá vào Indonesia bởi những nhà xã hội chủ nghĩa cách mạng

trong Sarekat Islam

Trang 27

Bộ phận cấu thành thứ hai của phong trào giải phóng dân tộc Indonesia mà Leninđã đề cập là: "đảng Ấn" (Indische Partij) được giới trí thức tiểu tư sản tiến bộ thành lậptại Bandung vào ngày 6.9.1912 Vai trò chủ đạo trong tổ chức này thuộc về những ngườiIndonesia-Âu (tức những người lai), do E.F.E Douwes Dekker, một trí thức tiến bộ mang

hai dòng máu, cháu của Douwes Dekker – tác giả Max Havelaar – cầm đầu Phần lớn

đảng viên của nó thuộc trí thức lai Indonesia-Hà Lan Trong hàng ngũ của đảng còn cókhoảng 1.500 người, đại diện giới trí thức Indonesia tiên tiến, mà tiêu biểu là TjiptoMangunkusomo, Suardi Sujarningrat Đảng Ấn là tổ chức chính trị đầu tiên trong lịch sử

Indonesia đề ra yêu sách độc lập "khơi gợi ở người Ấn tình yêu đối với đất đai đã nuôi

sống họ, đã thuyết phục họ đoàn kết với nhau trên cơ sở bình đẳng về chính trị để làm cho đất nước họ phồn vinh và chuẩn bị một cuộc sống độc lập" Suardi Sujarningrat viết rằng

"việc thành lập đảng Ấn nhằm mục đích duy nhất giành độc lập bằng đấu tranh chính

trị" Đảng Ấn đã làm sáng tỏ khái niệm "dân tộc Ấn" bao gồm toàn bộ nhân dân trong

nước ngoại trừ những thực dân châu Âu và người Hoa và người Ả Rập vốn tự coi mình làngười nước ngoài

Những nhà lãnh đạo đảng Ấn còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, được bộc lộqua những lời phát biểu mang nội dung chống đế quốc và chống tư bản, qua những câutuyên bố bày tỏ thiện cảm đối với giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh của giai cấp này

Nhìn chung, đảng Ấn mang tính chất dân chủ-cách mạng với hệ tư tưởng là chủnghĩa dân tộc tiểu tư sản tiến bộ Dù chỉ tồn tại không đầy một năm, nhưng những khẩuhiệu độc lập và thống nhất dân tộc của nó đã ảnh hưởng sâu đậm đến toàn bộ quá trìnhphát triển về sau của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Indonesia

Bộ phận thứ ba cấu thành của phong trào giải phóng dân tộc cho đến những nămchiến tranh là phong trào của người Hoa, được khích lệ bởi những thành quả của cuộccách mạng ở nước họ, đã diễn ra sôi nổi cũng trong năm 1912 Biến cố khởi nguồn phongtrào của họ là hành động trấn áp cảnh sát trong ngày Tết Nguyên Đán 17.2, khi ngườiHoa quyết định treo cờ của nước Cộng hoà Trung Hoa ra đời vài ngày trước đó Để phảnđối người Hoa đã tổ chức các cuộc bãi công và biểu tình Trong năm 1912 đã xảy ranhiều cuộc đụng độ giữa họ và cảnh sát ở nhiều nơi trong nước

Ngay từ đầu thập niên 1910, tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học đã được truyền bávào Indonesia Tháng 5.1914, vài tháng trước khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ,trong đời sống chính trị Indonesia đã xảy ra một biến cố quan trọng: đó là sự ra đời củaLiên minh xã hội dân chủ Ấn (Indische Social-Democratisch Vereeniging – ISDV) ởSemarang Gia nhập liên minh có những người xã hội chủ nghĩa Hà Lan cánh tả cũng nhưcánh hữu Tuy nhiên quyền lãnh đạo thuộc về cánh tả (H Sneevliet, A Baars ) Họ đãdần dần thu hút đại biểu tiến bộ của giới trí thức và vô sản Indonesia, đã lãnh đạo một số

công đoàn có ảnh hưởng và đã thiết lập được mối quan hệ với Sarekat Islam Trong tổ

chức này có nhóm thành viên người Indonesia của ISDV Năm 1920, cánh tả của ISDV

Trang 28

tách ra thành lập đảng Cộng sản Indonesia (PKI), mà sẽ đóng vai trò quan trọng trong

phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1920

I CAO TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1917 – 1921)

Tình cảnh của nhân dân

Trang 29

Tuy là thuộc địa của nước Hà Lan trung lập, chiến tranh vẫn ảnh hưởng đến tìnhhình Indonesia Nếu vào đầu chiến tranh, lợi tức của các nhà doanh nghiệp người Âu ởIndonesia tăng lên nhờ xuất khẩu được khối lượng lớn hàng hoá sang các nước thamchiến, thì đến những năm 1917-1918 hoạt động thương mại này đã bị hạm đội Anh gâykhó khăn, số tàu bị Anh, Mĩ tịch thu chiếm đến 1/3 tổng số trọng tải của đội tàu Hà Lan.Ngoài ra cuộc chiến tranh tàu ngầm không giới hạn của Đức cũng làm suy yếu quan hệgiữa Indonesia và châu Âu Lượng hàng hoá xuất khẩu bị giảm sút đã gây ra nạn thấtnghiệp, lương của công nhân và thu nhập của nông dân bị hạ xuống Góp phần làm giảmmức sống của dân chúng còn có việc tăng thuế và tăng giá các mặt hàng xuất khẩu, kể cảnhững mặt hàng thiết yếu Indonesia còn phải đối phó với tình trạng thiếu thốn về lươngthực vì Anh, Pháp cấm các thuộc địa xuất khẩu gạo và cũng bởi vì chính quyền do sức épcủa các công ty đồn điền đã từ chối giảm diện tích trồng đường nhằm tăng diện tích trồnglúa và những cây lương thực khác

Tất cả đã làm tăng mối bất mãn của nhân dân và làm bùng lên cao trào đấu tranhcách mạng, biểu hiện thành làn sóng đông đảo khác, thành sự phát triển của phong tràocông nhân, thành xu thế tiến bộ và tính quần chúng tăng lên của những tổ chức dân tộc

Sự chuyển hoá của các chính đảng dân tộc cách mạng

Đỉnh cao của các phong trào chống đế quốc diễn ra trong những năm 1917 – 1920.Đó là thời kì sôi động chưa từng thấy của các lực lượng chính trị-xã hội trong nước Trungtâm của phong trào là Java Tại đây, ngay trong những năm 1917 – 1918, những phần tửtiến bộ và cách mạng của Liên minh Xã hội Dân chủ (ISDV) và Sarekat Islam đã tổ chứcnhững cuộc mít ting và biểu tình đông đảo chống thực dân

Ngay từ cuối năm 1917, sau khi những phần tử cánh hữu rút ra để thành lập đảngXã hội-Dân chủ Ấn, chi nhánh của đảng Xã hội-Dân chủ Hà Lan, thì những phần tử cánhtả còn lại của Liên minh đã hoạt động năng nổ để tuyên truyền trên báo chí và bằngmiệng những chuyển biến cách mạng ở Nga xô viết Hoạt động của Liên minh đã thúc

đẩy phương hướng tiến bộ hóa trong Sarekat Islam Tại Đại hội II (1917), lần đầu tiên

Sarekat Islam đã nêu một cách cụ thể vấn đề đấu tranh giành độc lập chống chủ nghĩa tư

bản ngoại lai

Năm 1919, với số hội viên đông trên 2 triệu người, Sarekat Islam trở thành tổ chức

quần chúng thực sự Tổ chức thu hút đại biểu những lực lượng xã hội khác nhau: giớidoanh nghiệp dân tộc, trí thức của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị, công nhân nhưngđông nhất vẫn là nông dân

Tuy nhiên không nên coi đây là mặt trận thống nhất các giai cấp và tầng lớp chốngđế quốc, mà đúng hơn là một phong trào chống đế quốc chưa bị phân hoá

Phong trào công nhân

Trang 30

Nét đặc thù của cao trào đấu tranh ở Indonesia trong khoảng thời gian đang đề cậplà tính sôi nổi của phong trào công nhân Năm 1918, lần đầu tiên ngày lễ 1.5 đã được cửhành Vào tháng 11 cùng năm, khi cao trào cách mạng ở Indonesia đã lên đến cực điểm,Xô viết lính thủy đã được thiết lập ở Surabaya Trong những năm 1918 – 1920, phong tràobãi công diễn ra sôi nổi trong bối cảnh mức sống của người lao động bị sa sút nhiều Nếunăm 1917 chỉ có vài trăm công nhân bãi công, thì năm 1918 các cuộc bãi công đã thu hútgần 7.000 người, 1919: 66.000 và 1920: trên 8 vạn Con số công nhân được tổ chức lên

đến 14-15 vạn (1920) Năm 1919, theo sáng kiến của Sarekat Islam, "Liên hiệp giai cấp

công nhân", trung tâm công đoàn thống nhất đầu tiên trong cả nước, đã được thành lập,quy tụ 22 tổ chức công đoàn với 72.000 đoàn viên, mà phần lớn của số này nằm trong cáccông đoàn chịu ảnh hưởng của ISDV

Volksraad (Hội đồng Nhân dân) đã được hứa hẹn hồi tháng 12.1916 Đây là cơ quan chỉ

có chức năng tư vấn bên cạnh toàn quyền

Trong Volksraad đầu tiên, số đại biểu người bản xứ chiếm không đầy phân nửa (15/39) Tham gia Volksraad có đại biểu của Budi Utomo Insulind, một nhà hoạt động thuộc cánh ôn hoà trong Sarekat Islam và những người xã hội-dân chủ đã li khai ISDV.

Trong những năm 1920 và đầu những năm 1930, con số đại biểu người bản xứ có tăngl ênnhưng chưa bao giờ họ chiếm được đa số Để bầu một đại biểu, cần 8.000 người Hà Lan,

25 vạn người Hoa và người Ả Rập, nhưng phải đến 2 triệu người Indonesia

Cơ quan này không bao giờ có quyền lập pháp đầy đủ như các lực lượng dân tộcIndonesia đòi hỏi

Sự ra đời của đảng Cộng sản Indonesia (PKI)

Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ trong những năm này đã tạo tiền đềchính trị cần thiết cho sự ra đời của đảng Cộng sản Indonesia (PKI)(6) vào ngày 23.5.1920

ở thành phố Semarang, trên cơ sở ISDV Chủ tịch đảng là Semaun, nhà lãnh đạo côngđoàn, nguyên thành viên ban lãnh đạo Liên minh và của Cách mạng (thường được biết

đến với tên gọi "cánh Semarang") trong Sarekat Islam

6 () Lúc đầu tên của đảng là đảng Cộng sản Ấn Độ (Perserikatan Komunist di India) Tháng 6.1924, đổi là đảng Cộng sản Indonesia (Partai Komunist di Indonesia )

Trang 31

Đây là đảng cộng sản đầu tiên của phương Đông thuộc địa và nửa thuộc địa, ra đờisớm hơn những đảng cộng sản khác ở Đông Nam Á từ 10 đến 20 năm

Sự ra đời của PKI là một biến cố trọng đại trong đời sống chính trị Indonesia, là kếtquả của quá trình hoạt động quần chúng và tuyền truyền tư tưởng Marx-Lenin của nhữngngười xã hội-dân chủ cánh tả Hà Lan – "tribunist" – ở Indonesia Do đó PKI tất phảimang đậm dấu ấn của họ

Chính trong thời điểm ra đời của PKI, những người "tribunist" đang sa vào các quanđiểm ta ûkhuynh, mà nét đặc thù là coi thường vấn đề đấu tranh giành độc lập của nhândân thuộc địa, là xu hướng thay thế nó bằng cuộc đấu tranh giai cấp chống tư bản, là lậptrường bè phái trong quan hệ với tư sản dân tộc, nông dân và thái độ hẹp hòi trong vấn đềtôn giáo D Aidit, tổng bí thư tương lai của PKI, sau này đã viết trong những năm 1920 –

1926 rằng PKI "không có một bất kì ý niệm nào về sự cần thiết phải liên minh với tư sảndân tộc" và đưa ra khẩu hiệu "chủ nghĩa xã hội ngay lập tức", "xô viết hoá Indonesia" và

"chuyên chính vô sản"

PKI GIÀNH ĐƯỢC ƯU THẾ TRONG PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1921 – 1927)

Tình hình kinh tế

Giống như những chính sách của những nước đế quốc ở các thuộc địa Đông Nam

Á, đế quốc Hà Lan đã tăng cường bóc lột Indonesia trong quãng thời gian giữa hai cuộcchiến tranh thế giới Tổng số đầu tư của tư bản nước ngoài vào Indonesia cuối những năm

1930 khoảng từ 5 đến 6 triệu guilders, chia ra như sau: Hà Lan 66%; Anh 10%, Mĩ 8%,Pháp-Bỉ 3,4%

Ngoại trừ một số khoảng thời gian bị sa sút (cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất vàđầu những năm 1920), nhìn chung, nền kinh tế đồn điền phát triển nhanh cho đến khủnghoảng kinh tế 1929-1933 Trong những năm 1929-1933, sản lượng đường và trà tăng gấpđôi, cùi dừa khô tăng gấp rưỡi, đặc biệt là cao su tăng từ 6 vạn (1920) lên 15 vạn (1930)và trên 38 vạn tấn (1940) Vào giữa những năm 1920, Indonesia xuất khẩu gần 80% vỏcây kí ninh, 71% hồ tiêu, 32% cao su, 27% cùi dừak hô, 17% trà và 8% đường của thếgiới

Trong những năm này, công nghiệp khai khoáng cũng phát triển nhanh (chủ yếu làdầu lửa và thiếc) Từ 1920 đến 1930, quặng thiếc tăng gấp rữơi, dầu lửa gần hai lần Tổngsố lượng dầu của Công ty Anh-Hà Lan, Mỹ và Nhật trong năm 1930 là 5,5 triệu tấn

Việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên nói trên tập trung vào trong tay các công tyđộc quyền như N.V Billiton Moatschppji (thiếc), Royal Dutch Shell (dầu lửa) Việc giaothông giữa các đảo bị Công ty KPM (Kominkklijke Paketvaart Moatschppji) khống chế

Trang 32

Nền kinh tế đồn điền và khai khoáng phát triển nhanh đã mang lại cho Hà Lan vàphương Tây cho chính phủ chính quốc những món lợi tức khổng lồ Ngay trước tổng khủnghoảng kinh tế, 15% lợi tức quốc gia của Hà Lan là do thu nhập trực tiếp và gián tiếp từviệc bóc lột Indonesia Nếu trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, giá trị hàng xuất khẩu củaIndonesia vượt giá trị hàng nhập khẩu gần 250 triệu guilders/năm, thì trong những năm

1921 – 25 cán cân thương mại dư lên đến 600 triệu Con số này tỏ cho thấy người dânIndonesia và tài nguyên nước họ bị cướp đoạt như thế nào

Sarekat Islam phân rã

Từ năm 1921 đến năm 1926, phong trào dân tộc ở Indonesia bắt đầu rơi vào tìnhtrạng thoái trào và phân rã, nảy sinh từ tiến trình phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt trongxã hội Indonesia

Sự ra đời của đảng Cộng sản đã biến đổi những nỗi lo lắng của những phần tử cánhhữu và ôn hoà (Agus Salim, Abdul Munis ) trước cương lĩnh và ảnh hưởng của những

người tiến bộ cánh tả trong Sarekat Islam thành nỗi khiếp sợ Họ quyết định loại trừ

những người cộng sản khỏi tổ chức bằng cách tại Đại hội VI (10.1921) họ đã thông qua

nghị quyết về "kỷ luật đảng" mà theo đó đảng viên Sarekat Islam không được đồng thời là

đảng viên của một chính đảng khác

Tại Đại hội VII của Sarekat Islam (2.1921) ở Madiun, sóng gió đã nổi lên khi đại

biểu cộng sản buộc tội các lãnh tụ Sarekat Islam là "đạo đức giả" Đến đây quan hệ giữa

Sarekat Islam và PKI coi như bị cắt hẳn

Cùng ra khỏi tổ chức với những người cộng sản có cả một bộ phận đáng kể của

phân bộ mà trên cơ sở đó một tổ chức gần gũi với đảng, Sarekat Islam Đỏ ( không lâu sau đó đổi tên thành Sarekat Rakjat (Liên minh Nhân dân – SR) được thành lập

Còn bản thân Sarekat Islam sau khi bị mất khối lượng đông đảo những người ủng

hộ đã biến thành một đảng tư sản nhỏ bé, hoạt động dưới những khẩu hiệu tôn giáo, kể cảkhẩu hiệu đại Islam Những mối bất hoà nội bộ và những phân rã diễn ra sau đó cuối

cùng đã phá hoại sức mạnh và uy tín trước đây của Sarekat Islam

Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang 1926 – 1927

Sự phân rã của Sarekat Islam mở ra giai đoạn thứ ba của phong trào giải phóng dân

tộc (1921 – 1927) trong đó PKI mau chóng vượt lên chiếm lĩnh vị trí hàng đầu Tuy nhiênđiều này không có nghĩa là tư tưởng Mácxít đã giành được vị trí xứng đáng, vì quần chúnglao động nếu có đến với đảng thì trước hết không phải như là chính đảng của một giai cấpnhất định, mà là một lực lượng chính trị đại diện quyền lợi toàn dân tộc Tình hình nàybiến đảng thành khối liên hiệp rộng rãi chống thực dân, được trang bị cương lĩnh cộng sảnchủ nghĩa Từ đó xuất hiện sự đối chọi giữa nội dung và hình thức và những chao đảotrong tư tưởng vốn đã không đúng đắn lắm Vả chăng vị trí hàng đầu của đảng cũngkhông cĩ nghĩa làø do cơ cấu của đảng đã vững chắc, mà đúng hơn là do tình trạng suy kémvề tổ chức của các đảng dân tộc nhỏ bé khác (Dân tộc Ấn Độ, Insulinde, Budi Utomo )

Trang 33

Aûnh hưởng và lực lượng của PKI phát triển cao nhất trong những năm 1925-1926.Năm 1925, con số công nhân và viên chức gia nhập các công đoàn, mà đại bộ phận chịuảnh hưởng của đảng, lên đến trên 30 vạn Đảng rất chú ý đến công tác báo chí: năm 1925,đảng ra 38 tạp chí và báo, nhiều hơn hết tất cả các chính đảng dân tộc khác cộng lại Năm

1926, số đảng viên lên đến khoảng 8.000 – 9.000, còn SR quy tụ đến 10 vạn hội viên

Đảng đã lãnh đạo được một số cuộc bãi công thắng lợi, trong đó quan trọng nhất làcuộc bãi công đường sắt tháng 5.1923 và cuộc tổng bãi công của công nhân thành phốSurabaya năm 1925 Nhưng chính trong lúc lực lượng và ảnh hưởng tăng nhanh như vậy,đảng đã phạm một số sai lầm là tả khuynh và bè phái Trong ban lãnh đạo xuất hiện ảotưởng rằng đảng đã trở thành lực lượng hàng đầu của phong trào dân tộc trong tư cách làngười cổ vũ cho cách mạng vô sản

Chiếm vị trí trung tâm tại Đại hội tháng 3.1923 là khẩu hiệu đấu tranh chống "ảnh

hưởng độc hại của chủ nghĩa tư bản" Đảng tự coi là lực lượng đấu tranh bảo vệ những

người bị áp bức, còn Sarekat Islam bị lên án là đã tách lìa nhân dân và quyền lợi của họ.

Chủ đề chính của hội nghị toàn đảng tháng 12.1924 là vấn đề khởi nghĩa giành chínhquyền hoàn toàn bởi do bầu khơng khí sơi sục cách mạng khi đĩ

Về tổ chức, Hội nghị quyết định thành lập các tiểu tổ và thay chế độ tập trung dânchủ chặt chẽ bằng chế độ tập trung liên bang, cho phép các cơ sở địa phương được hoạtđộng độc lập miễn là vẫn tuân thủ quy chế đảng

Chính sách trấn áp của chính quyền thuộc địa, mà mũi nhọn nhằm vào phong tràocông nhân và đảng cộng sản, đã góp phần thúc đẩy tư tưởng tả khuynh Chế độ kiểmduyệt báo chí, việc lùng sục bắt bớ những nhà hoạt động cách mạng, chỉ thị tháng 12.1925không cho đảng tổ chức những cuộc tụ họp công khai Tất cả đã đặt đảng vào tình thếbất hợp pháp Nhiều nhà lãnh đạo như Semaun, Tan Malaka, Alimin, Musso, Sardjono,Aliarham bị bắt giam hay phải sống lưu vong

Một bất lợi khác là ban lãnh đạo đảng đã bất đồng sâu sắc trong vấn đề khởi nghĩa,

do đó thực tế không thể tồn tại một trung tâm duy nhất được tất cả thừa nhận vào đêmtrước cuộc khởi nghĩa Tệ hơn nữa là chính quyền thực dân đã dò biết được âm mưu khởinghĩa

Cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra trong đêm 12 rạng 13.11.1926 tại Batavia với lựclượng khoảng 200 người Chỉ nội ngày hôm sau cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt Lẻ tẻ ở mộtvài vùng khác trên đảo Java cũng có khởi nghĩa, hoặc cùng lúc, hoặc trễ hơn, nhưng tất cảđều bị trấn áp mau lẹ Riêng cuộc khởi nghĩa của nông dân ở Bantam kéo dài đến giữatháng 12

Trang 34

Sau khi phong trào khởi nghĩa ở Java bị dập tắt, ngày 1.1.1927 ở Tây bộ Sumatrađã bùng lên một cuộc khởi nghĩa khác Dù được tổ chức và vũ trang tốt hơn, nó cũng chỉkéo dài đến ngày 12.1; riêng những hoạt động du kích còn tiếp diễn ở một số nơi đếntháng 3

Tuy được tiến hành dưới những khẩu hiệu của một cuộc cách mạng vô sản, tínhchất dân tộc và chống thực dân, chống phong kiến của cuộc khởi nghĩa được thể hiện rấtrõ ràng và thành phần tham gia chủ yếu là nông dân

Chính quyền thực dân Hà Lan đã trấn áp dã man cuộc khởi nghĩa Hàng ngànngười bị giết chết trong những cuộc chiến đấu không cân sức Không dưới 13.000 người bịtử hình, bị bắt giam hay bị đày sang New Guinea

Đảng Cộng sản và các tổ chức quần chúng của đảng bị suy rã về tổ chức và bị suykiệt về nhân lực Phải đến 10 năm sau đảng mở bắt đầu khôi phục được lực lượng trongnhững điều kiện rất khó khăn và phải đợi đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai đảng mớixuất hiện trở lại trên chính trường Những tính toán sai lầm nghiêm trọng trong quá trìnhchuẩn bị, sự nôn nóng nhất là tình thế cách mạng chưa xuất hiện đã khiến cuộc khởi nghĩa

bị thất bại

Dù vậy cuộc khởi nghĩa 1926 – 1927 vẫn đánh dấu một mốc quan trọng trong lịchsử đấu tranh giải phóng dân tộc Đó là cuộc khởi nghĩa chống thực dân đầu tiên, khôngmang tính địa phương hẹp hòi, diễn ra ở nhiều vùng khác nhau trong nước và thu hútnhiều dân tộc Tham gia cuộc khởi nghĩa có đại biểu các giai cấp và tầng lớp xã hội khácnhau – nông dân, công nhân, trí thức, tiểu tư sản

Tuy trấn áp được cuộc nổi dậy, chính quyền thực dân vẫn phải thi hành một số biệnpháp cải cách về kinh tế và chính trị, đặc biệt là là tăng số đại biểu bản xứ trongVolksraad để họ chiếm được đa số, trao một ít quyền lập pháp cho Volksraad và bỏ thuếthân ở Java

Điều quan trọng hơn cả là thất bại của cuộc khởi nghĩa không ảnh hưởng xấu đếnphong trào giải phóng dân tộc nói chung, như tình hình những năm sau đó sẽ cho thấy

Tháng 12.1927, tổ chức liên hiệp đầu tiên các chính đảng và phe nhóm dân tộc đã

được thành lập dưới tên gọi "Liên hiệp các Hiệp hội chính trị Indonesia (Permufahatan

Perhimpunan Politiek Kebangsaan Indonesia – PPPKI)

THỜI KÌ ƯU THẾ CỦA CÁC CHÍNH ĐẢNG DÂN TỘC CÁCH MẠNG VÀ CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TỘC TIỂU TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1927 – 1942)

Các tổ chức chính trị tiền thân của đảng Dân tộc Indonesia (PNI)

Trang 35

Thất bại của cuộc khởi nghĩa 1926 – 1927 mở ra giai đoạn thứ tư (1927 – 1942) củaphong trào giải phóng dân tộc, mà trong đó vai trò chủ đạo chuyển sang tay các đảng dântộc-cách mạng (mà người ta thường coi như thuộc cánh trung tâm-tả hoặc trung tâm), còntrong lĩnh vực tư tưởng, chủ nghĩa dân tộc tiểu tư sản, chịu ảnh hưởng ít nhiều của chủnghĩa Mác, đã vươn lên hàng đầu

Chính đảng của giai cấp tiểu tư sản thành thị đã trải qua nhiều lần lột xác

Nguyên sau khi đảng Ấn bị buộc phải giải tán (1913), những người lãnh đạo của nó

đã gia nhập một tổ chức xã hội kinh tế của những người Ấn lai bản xứ mang tên

"Insulinde" Chịu ảnh hưởng của họ, Insulinde dần dần biến thành chính đảng kế thừađảng Ấn Không lâu sau chiến tranh chấm dứt, do chính sách đàn áp của chính quyền thựcdân và do mâu thuẫn giữa đảng viên người bản xứ và đảng viên người Âu lai Insulinde bị

giải tán Bộ phận tiến bộ của đảng này đứng ra thành lập đảng Dân tộc Ấn (Nationaal

Indische Partij – NPI) Đảng tuyên bố mục tiêu cuối cùng của mình là độc lập hoàn toàn

cho Ấn Độ và cương lĩnh của đảng trù tính phát triển "chủ nghĩa dân tộc Ấn trên cơ sở tư

tưởng thống nhất dân tộc" Đến tháng 5.1923, sau khi nhiều nhà hoạt động của đảng bị bắt

và chính quyền thuộc địa từ chối không hợp thức hóa NIP đã bị giải tán

Trong những năm 1922 – 1923, các sinh viên dự học tại Hà Lan đã tổ chức "HộiLiên hiệp Indonesia" (Perhimpunan Indonesia – PI), với các lãnh tụ như Mohammedhatta, Sjahrir

Đây là bước ngoặt trong sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc-tiểu tư sản Tuy nộidung chủ yếu của nó không đổi (nỗ lực thống nhất dân tộc toàn Indonesia vì sự nghiệpđoàn kết tất cả, hay hầu hết, người dân trong nước chống thực dân), khái niệm dân tộcIndonesia không còn mang tên gọi "chủ nghĩa dân tộc Ấn" nữa, mà là "chủ nghĩa dân tộcIndonesia"(7) Đây là hình thức phản kháng lại tên gọi chính thức của Indonesia dứơi áchthống trị của thực dân

PI cho rằng điều kiện quan trọng nhất để giành được độc lập là sự thống nhất củaphong trào giải phóng dân tộc được quan niệm như là sự thống nhất toàn Indonesia vềmặt nhà nước và dân tộc Ban lãnh đạo PI nhận thức được rằng phong trào giải phóng ởIndonesia là một bộ phận của cuộc đấu tranh của giải phóng dân tộc trong toàn bộ phươngĐông thuộc địa và nửa thuộc địa Họ tán thành chính sách cộng tác không chỉ với phongtrào giải phóng ở các thuộc địa khác, mà cả với lực lượng chống đế quốc ở phương Tây.Trong những năm 1927 – 1929, PI đã cộng tác với liên đoàn chống đế quốc – tổ chức mặttrận thống nhất quốc tế bao gồm công nhân, trí thức tiến bộ phương Tây và nhân dânthuộc địa Mối quan hệ trong nhiều năm với phong trào cộng sản của một số không ít cácnhà hoạt động của PI đã làm cho tư tưởng liên minh chống đế quốc với vô sản thế giớiđặc biệt là với vô sản Hà Lan, đã trở nên quen thuộc với họ Trong tư tưởng của họ, cũngđã thấy xuất hiện những nhân tố quốc tế chủ nghĩa

7 () Indonesia có nghĩa là "Ấn Độ đảo"

Trang 36

Tuy chỉ là một nhóm nhỏ những nhà trí thức có đầu óc cách mạng, PI đã thực sựđóng một vai trò lãnh đạo đáng kể Đây là nơi xuất phát của những lãnh tụ tương lai củacác tổ chức dân tộc thuộc nhiều xu hướng khác nhau, không phải vô cớ mà người ta gọi

nó là "lò rèn những lãnh tụ Indonesia" Nó là trung tâm quan trọng truyền bá những tư

tưởng dân tộc cách mạng và đã tác động đáng kể đến tư tưởng của các chính đảng dân tộctrong những năm 1920 – 1930 Các nguyên tắc cơ bản của PI – độc lập, không cộng tác,dựa vào sức mình, hoạt động quần chúng và thống nhất lực lượng dân tộc chống thực dân-đế quốc – đã được phản ánh và phát triển thêm trong các cương lĩnh dân tộc-cách mạngcủa đảng Dân tộc Indonesia và Partindo sau này và cả trong chủ thuyết Marhaenism củaSukarno

Đảng Dân tộc Indonesia (PNI)

Ngày 4.7.1927 một nhóm các nhà dân tộc tiến bộ mà đứng đầu là Sukarno (1901 –1970) xuất thân từ một gia đình quý tộc bị sa sút ở Java đã thành lập Perserikatan

Nasional Indonesia mà năm 1928 được đổi thành đảng Dân tộc Indonesia (Partai Nasional

Indonesia – PNI)

Đảng đã đưa ra cương lĩnh đấu tranh giành độc lập chính trị và kinh tế choIndonesia trên cơ sở hoạt động quần chúng (nhưng không sử dụng bạo lực) Đảng đãhướng đến quần chúng bằng hàng loạt yêu sách xã hội (chống chế độ cho vay nặng lãi,thành lập hợp tác xã nông nghiệp; nông hội và công đoàn, chống nạn thất nghiệp) và tiếnhành chủ trương không cộng tác với chính quyền thực dân Trên thực tế, PNI đã bắt đầunhững hoạt động quần chúng (mít ting, biểu tình, vận động chính trị) ,trong lúc PI chỉ mớihô hào trên lý luận Tham gia vào PI có những nhà yêu nước, thuộc các xu hướng khácnhau, trong đó có những người cộng sản đã thoát khỏi thời kì khủng bố trắng

Tháng 12.1927, tổ chức liên hiệp đầu tiên các chính đảng và phe nhóm dân tộc đãđược thành lập dứơi tên gọi Permufahatan Perhimpunan Politi Kebangsaan Indonesia –PPPKI) Đây là hình thức liên kết các tổ chức dân tộc thường thấy xuất hiện ở Indonesiatrong những năm sau đó, nhưng do sự lỏng lẻo của chúng mà tất cả đã không tồn tại lâu

Tháng 10.1928, tổ chức thanh niên mang tên Permuda Indonesia đã đề ra khẩu

hiệu mà sau đó trở nên thông dụng trong phong trào giải phóng dân tộc: "Một tổ quốc –

Indonesia, một dân tộc – Indonesia, một tiếng nói – Indonesia"

Chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống chính trị ở Indonesia cuối thập niên 1920 đầuthập niên 1930 vẫn là PNI, số thành viên và uy tín của đảng càng tăng lên thì chính quyềnthuộc địa càng nặng tay trấn áp Tháng 12.1929, hơn 100 nhà lãnh đạo và nhà hoạt độngcủa đảng bị bắt; bốn người trong số họ – kể cả Sukarno – bị đưa ra toà Sukarno biến toàán thành một nơi ông lên án chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Hà Lan và biệnminh cho tính đúng đắn và tính hợp pháp của phong trào giải phóng dân tộc

Trang 37

Bài diễn từ biện minh của ông về sau được nhiều người biết đến dứơi tên gọi

"Indonesia buộc tội"

Vụ án kết thúc vào tháng 12.1930 bằng việc bắt giam tất cả bị cáo trong những thờihạn khác nhau Như vậy, thực tế PNI coi như bị cấm hoạt động

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1930 – 1935

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu ảnh hưởng đến Indonesia từ năm 1930và kéo dài đến 1935

Cũng như phần lớn các nước thuộc địa khác, những ngành sản xuất của Indonesiacũng hướng ra xuất khẩu nên chúng bị sút giảm rất nhiều, chẳng hạn lượng đường từ 1929đến 1935 bị giảm gần 6 lần, trong năm 1932 có đến 140 trong tổng số 178 nhà máy đườngngưng hoạt động Hậu quả là lương của công nhân, viên chức bị giảm, thời gian lao độngtăng lên, nạn thất nghiệp lan tràn

Không chỉ tầng lớp nhân dân lao động, mà quyền lợi của một bộ phận tư sản nôngthôn chuyên trồng các loại cây công nghiệp như cao su chẳng hạn cũng bị chính sách cắtgiảm sản xuất của chính quyền thuộc địa làm cho thiệt hại Tuy nhiên, để chống lại sựcạnh tranh hàng hoá rẻ tiền từ Nhật đang trào vào Indonesia trong thời kì khủng hoảng,chính quyền đã khuyến khích đến mức độ nhất định sự phát triển nền công nghiệp dântộc sản xuất các mặt hàng vải tiêu dùng như vải batik, thuốc lá

Trong những năm khủng hoảng, ở Indonesia không diễn ra các cuộc đấu tranh lớnnhư Ấn Độ, Miến Điện hay Việt Nam Cuộc đấu tranh đáng kể là của thủy binh hạm độiHà Lan đóng ở Indonesia diễn ra tháng 2.1933 nhằm phản đối tiền lương bị giảm

Tâm trạng chống thực dân được phản ánh một cách rõ ràng hơn trong sự ra đời vàphát triển của Partindo

Đảng Indonesia (PARTINDO)

Sau khi các lãnh tụ bị bắt giam, đầu năm 1931 PNI đã tự giải tán nhưng liền ngay

sau đó đã được phục hồi dứơi tên gọi mới "Đảng Indonesia"(Partai Indonesia - Partindo).

Phương pháp và mục tiêu đấu tranh cũng giống như PNI: giành độc lập bằng con đườnghoạt động quần chúng và không cộng tác với chính quyền thực dân Năm 1933, đảng đề

ra cương lĩnh nói rõ rằng nước Indonesia độc lập sẽ là một nước cộng hoà dân chủ, giaoruộng đất cho nông dân và ban hành luật lao động cho công nhân Với số đảng viên lênđến hai vạn (1933), hệ thống phân bộ rải ra khắp Indonesia và những lãnh tụ xuất sắc nhưSukarno, Sartono, Amir Sjarifuddin, Ali Sastroamidjojo, Partindo trở thành đảng mạnhnhất trong phong trào giải phóng dân tộc

Trang 38

Giống như PNI, cơ sở tư tưởng của cương lĩnh Partindo là chủ thuyết Marhaenismmà Sukarno đã công bố rải rác trong các bài viết và tập sách từ năm 1926 đến 1933, đặcbiệt là trong tác phẩm "Vì tự do của Indonesia" (1933)

Chủ thuyết Marhaenism

Gốc tích của từ "Marhaenism" xuất phát từ danh từ Marhaen (Umar Haien), tên gọinông dân vùng Sunda trên đảo Java và được Sukarno dùng đặt tên cho học thuyết đấutranh cho quyền lợi của mọi người lao động

Nội dung chủ yếu của học thuyết là chủ trương chống thuộc địa, chống đế quốc, và

yêu sách đầu tiên – độc lập cho Indonesia Năm 1928, ông viết: "Mục tiêu hàng đầu của

chúng ta – độc lập cho Indonesia và hơn thế nữa trong một thời gian gần" Tuy nhiên, nó

còn chứa đựng nhiều nhân tố của chủ nghĩa xã hội không tưởng, dân túy TheoMarhaenism, con đường dẫn đến độc lập phải qua chính sách không cộng tác với bọn thực

dân "trong tất cả mọi lĩnh vực sinh họat chính trị" Nhiệm vụ quan trọng nhất của chính

sách không cộng tác là dấy động trong nhân dân niềm tin vào sức lực của chính mình để

trên cơ sở đó đảm bảo "tổ chức hoạt động của quần chúng" Marhaenism đề xuất khả

năng giành độc lập bằng đấu tranh hòa bình của quần chúng, dự tính lật đổ ách thống trịthuộc địa trong thời gian ngắn nhất bằng vũ khí không cộng tác và đấu tranh quần chúng

Một trong những nguyên tắc của Marhaenism là thống nhất mọi lực lượng chốngthực dân, được hiểu trước hết như là mặt trận thống nhất mọi xu hướng trong phong trào

dân tộc chống đế quốc được ông nêu rõ trong bài viết "Chủ nghĩa dân tộc, Chủ nghĩa

Islam và Chủ nghĩa Mác" (1926), kế đến như là sự thống nhất Indonesia về mặt dân tộc

và nhà nước và sau cùng như là sự thống nhất mọi giai cấp và tầng lớp xã hội Indonesiatrong cuộc đấu tranh chống thực dân

Trong Marhaenism, cũng như trong hệ tư tưởng của "Perhimpuman Indonesia" chủnghĩa dân tộc của dân tộc bị áp bức hoà hợp với những nhân tố của chủ nghĩa quốc tế, thểhiện chủ yếu qua việc tuyên truyền tư tưởng đoàn kết với cuộc đấu tranh chống đế quốccủa mọi tư tưởng phương Đông Kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng ở ẤnĐộ, Trung Quốc và các nước Ả Rập rất có ảnh hưởng đến chủ thuyết Marhaenism, người

ta thấy nó chịu tác động ảnh hưởng của cả tư tưởng cộng sản khoa học Điều này đượcnhận thấy rõ trong việc xác lập những nét cơ bản của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đếquốc, chủ nghĩa phát xít, trong lập luận về vai trò tiên phong của giai cấp vô sản trong

cuộc đấu tranh của những người marhaen, trong việc thừa nhận sự cần thiết phối hợp

những yêu sách chính trị với những yêu sách xã hội-kinh tế, trong tư tưởng "hoạt độngquần chúng", trong lý luận về vai trò "đảng tiên phong" (đảng này phải được lãnh đạo bởilý luận tiến bộ", xây dựng trên cơ sở "chủ nghĩa tập trung dân chủ" và kỷ luật) DùMarhaenism mang tính chất tiểu tư sản là chính, nhưng trong thời kì thuộc địa, nó là tưtưởng của khối đông đảo các lực lượng chống thực dân, bao gồm bên cạnh tiểu tư sản cáctầng lớp nửa vô sản, nông dân và một bộ phận vô sản

Trang 39

Giáo dục dân tộc Indonesia (PNI).

Tháng 12.1931, một bộ phận đảng viên PNI bất mãn với việc giải tán đảng này, đãtách ra thành lập một tổ chức chính trị mang tên Giáo dục Dân tộc Indonesia (PendidikanNasional Indonesia – PNI) do các cựu thủ lĩnh PI là M Hatta và Sjahrir cầm đầu

Cương lĩnh của tổ chức này cũng tương tự như của Partindo ( không cộng tác, khôngđộc lập ) nhưng nếu Partindo nỗ lực hoạt động trong quần chúng lao động và bênh vựcquyền lợi của họ thì PNI lại coi nhiệm vụ của mình là chuẩn bị những nhà lãnh đạo tươnglai Tư tưởng của Hatta có những nhân tố nội tại của chủ nghĩa chủng tộc và chủ nghĩaphân biệt châu Á, quyết liệt phủ nhận chủ nghĩa đế quốc và nuôi thái độ thù địch chốngphong trào cộng sản

Tình hình kinh tế 1936 – 1941

Indonesia chỉ thoát khỏi cuộc khủng hoảng vào năm 1936 khi giá cả các mặt hàngnông sản xuất khẩu đã tăng lên đáng kể Dù cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ haitrình độ của kinh tế đồn điền và giá trị xuất khẩu nói chung vẫn chưa đạt được mức trướckhủng hoảng, nhưng có vài ngành (công nghiệp khai mỏ, sản xuất cao su ) vẫn tăng đángkể do nhu cầu của chiến tranh

Trong bối cảnh trên, vai trò của tư sản dân tộc cũng có tăng lên: một bộ phận củanó đã được tăng cường trong thời kì khủng hoảng, bộ phận khác giành được những vị trímới trong những năm sau khủng hoảng Tuy nhiên, tính toán của chính quyền thực dânmuốn biến "giai cấp trung gian" được tăng cường ít nhiều này thành chỗ dựa đã khôngthực hiện được, đặc biệt là do đường lối quá cứng nhắc trong chính sách thuộc địa của HàLan

Đảng Indonesia vĩ đại (PARINDRA)

Đảng Indonesia Vĩ đại (Partai Indonesia Raya – Parindra) là chính đảng dân tộcmà ảnh hưởng của những người cộng sản được thấy rõ ràng nhất Được Sukarno thành lậpvào tháng 12.1935, lúc đầu đây là một đảng tự do tư sản ôn hoà theo đuổi lập trường cộngtác và chính thức không đặt ra vấn đề đỏi độc lập Đảng chủ trương thành lập một quốchội thực sự, tăng dần tỉ lệ người Indonesia vào bộ máy chính quyền, đòi quyền bình đẳnggiữa người Indonesia và người Âu trước pháp luật Nhưng Parindra không phải là mộtkhối thuần nhất về thành phần xã hội và xu hướng chính trị Về cuối những năm 1930,trong đảng bên cạnh cánh tư sản cải cách đã hình thành cánh tiểu tư sản tiến bộ

Dựa vào kinh nghiệm của phong trào giải phóng dân tộc ở Philippines vào cuối thế

kỉ XIX, lãnh tụ của nó là Mohammed Husni Thamsi cho rằng chính nhờ cuộc đấu tranhcách mạng trong quá khứ và hiện nay mà tình hình chính trị của nhân dân Philippines

Trang 40

được thuận lợi hơn nhiều so với nhân dân Indonesia (ý ông muốn nói đến việc Philippinesđược hưởng chế độ tự trị từ năm 1935)

Quần chúng cơ bản của Parindra là nông dân và tiểu tư sản thành thị Dần dần dướitác động của những người cộng sản, Parindra đã cố mở rộng ảnh hưởng đến phong tràocông nhân đang bắt được được hồi phục Cuối những năm 1930, Parindra đã trở thànhchính đảng mạnh nhất nước với 2 vạn đảng viên và 10 vạn hội viên trong các tổ chứcquần chúng của Đảng

Phong trào nhân dân Indonesia (GERINDO)

Năm 1937, các cựu thủ lĩnh của Partindo (bị giải tán hồi cuối năm 1936) đã thànhlập một chính đảng dân tộc thuộc cánh tả mang tên Phong trào Nhân dân Indonesia(Geranka Rakjat Indonesia – Gerindo) Ban lãnh đạo chủ trương dựa vào quần chúng vàđỏi độc lập hoàn toàn Tuy nhiên, do nguy cơ xâm lược của quân phiệt Nhật, đảng chủtrương tạm gác khẩu hiệu này và xem xét khả năng cộng tác với chính quyền thuộc địa.Đảng đòi cho Indonesia tự trị và nhấn mạnh chủ trương cộng tác chống phát xít giữa nfIndonesia và nhân dân Hà Lan chỉ phát huy được hiệu quả trên cơ sở quyền dân tộc củaIndonesia được tôn trọng

Gerindo đã thi hành chính sách phối hợp hoạt động với Parindra để cùng tiến hànhchiến dịch vận động bầu đại biểu vàoVolksraad và thành lập nhóm đại biểu chung trong

cơ quan này, cùng công bố tuyên cáo chung năm 1938 về cuộc đấu tranh chống nguy cơxâm lược của phát xít

Liên hiệp chính trị Indonesia (GAPI)

Năm 1939 theo sáng kiến của Gerindo một mặt trận như vậy đã được thành lập với

tên gọi Liên hiệp chính trị Indonesia (Gabungan Politik Indonesia - GAPI) bao gồm cánh

dân chủ của tư sản dân tộc và những người cộng sản trong Gerindo và Gerindra, đại biểucủa PSII (Đảng Sarekat Islam Indonesia– Partai Sarekat Islam Indonesia)(8) và của nhữngđảng nhỏ hơn

Yêu sách chính của GAPI, mà cương lĩnh được soạn thảo với sự tham gia tích cựccủa Gerindo, là thành lập ở Indonesia một cơ chế thật đất đại diện nhân dân – quốc hội,được coi là bước tiến quyết định dẫn đến quyền tự trị của nước này GAPI tuyên bố sẵnsàng cộng tác với chính quyền và nhân dân Hà Lan trong cuộc đấu tranh chống hiểm hoạphát xít và nguy cơ xâm lược của Nhật, miễn là nhân dân Indonesia được có thêm nhữngquyền mới

Tháng 12.1939, GAPI triệu tập Đại hội Nhân dân Đại hội tuyên bố là cơ quanthường trực của Mặt trận Thống nhất dân tộc chống Nhật Tháng 3.1941, GAPI lại thànhlập tổ chức mặt trận thống nhất mới mang tên Hội đồng nhân dân Indonesia (MadjelisRakjat Indonesia – MRI) thu hút không chỉ GAPI mà cả Liên đoàn các tổ chức Hồi giáo

8 () Ra đời năm 1937

Ngày đăng: 31/08/2013, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

KEÂT QUẠ BAĂU CÖÛ QUOÂC HOÔI NAÍM 1955 - Lịch sử indonesia - Thầy Hoàng
1955 (Trang 56)
Tình hình phađn boâ löïc löôïng trong Quoâc hoôi sau cuoôc baău cöû ñaõ laøm cho vieôc ruùt lui cụa chính phụ Harahap laø khođng theơ traùnh khoûi - Lịch sử indonesia - Thầy Hoàng
nh hình phađn boâ löïc löôïng trong Quoâc hoôi sau cuoôc baău cöû ñaõ laøm cho vieôc ruùt lui cụa chính phụ Harahap laø khođng theơ traùnh khoûi (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w