Điều đĩ là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các em xem nhẹ giá trị của văn học, cụ thể là ngại đọc, ít chịu tìm hiểu và khơng nhận ra cái hay, cái đẹp trong văn chương.. Hiểu một
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2008 – 2009
DẠY CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 5
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong thời đại bùng nổ cơng nghệ thơng tin, tình trạng học sinh mê trị chơi điện tử,
“ghiền” truyện tranh trở nên phổ biến Điều đĩ là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc các em xem nhẹ giá trị của văn học, cụ thể là ngại đọc, ít chịu tìm hiểu và khơng nhận ra cái hay, cái đẹp trong văn chương Hệ quả tất yếu là các em khơng làm được tập làm văn hoặc làm một cách máy mĩc, gượng ép, thiếu cảm xúc
Để khắc phục tình trạng trên, tơi đã cố gắng tìm tịi tích luỹ một số biện pháp giúp học sinh cảm thụ văn học một cách tự nhiên, nhằm tạo ở các em tình yêu văn chương tiếng Việt
và cung cấp một số “vốn liếng” căn bản về văn
II NỘI DUNG:
1 Cảm thụ văn học là gì?
Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học chình là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm hay một bộ phận của tác phẩm Cĩ nghĩa là khi đọc hay nghe một câu chuyện, một bài thơ ta khộng những hiểu mà cịn phải xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc, đã nghe
1 Các phương diện cảm thụ văn học:
a Phương diện ngữ âm:
- Vần, các loại vần điệu, cách gieo vần chẳng những cĩ tác dụng lớn trong việc hình thành các thể thơ mà cịn cĩ tác dụng tạo hình biểu hiện trong từng trường hợp cụ thể
- Những cách dùng song thanh, điệp thanh, điệp vần hay dùng vần trắc, vần bằng trầm bổng đều cĩ thể tạo nên hiệu quả nghệ thuật
Ví dụ:
Bầm ơi cĩ rét khơng bầm ?
Heo heo giĩ núi, lâm thâm mưa phùn ( ) Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !
(Bầm ơi) Khơng gian mưa phùn, giĩ bấc và thời gian thắt thẻo đếm từng ngày xa cách khắc hoạ rõ nét nỗi nhớ mẹ của người chiến sĩ cũng như nỗi mong con của bà mẹ đối với anh
b Phương diện từ vựng:
- Đơn vị nền tảng của từ: thực từ và hư từ
Thực từ bao gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ
- Các phương thức tu từ: ẩn dụ, hốn dụ, so sánh, nhân hố, điệp từ cĩ tác dụng làm cho đối tượng trở nên gần gũi, dễ hiểu đồng thời bày tỏ được tâm sự, thái độ của tác giả
Ví dụ:
“Ơi Việt Nam ! Việt Nam ơi ! Việt Nam ! Ta gọi tên người thiết tha”
(Việt Nam)
Trang 2Điệp từ “Việt Nam” lặp lại 3 lần, có sự biến đổi trật tự từ, giọng đọc đi lên ở cuối dòng thơ thứ nhất và đi xuống ở cuối dòng thơ thứ hai tạo nên một âm điệu sâu lắng, thiết tha, bộc
lộ rõ tình cảm đối với đất nước
c Phương diện ngữ pháp:
- Phải chú ý đến những hiện tượng đặc biệt trong cấu trúc câu:
Câu đơn, câu bình thường có cụm chủ - vị
Đảo ngữ, tách câu, nhấn mạnh ý nghĩa của sự đan xen các kiểu câu
Sử dụng các kiểu câu lời nói như giới thiệu lời nói trực tiếp
và lời nói gián tiếp (Lời nói của tác phẩm mang dáng dấp của nhân vật đó nói)
Ví dụ:
“Con đi giết giặc đây bố ạ! ”
(Yết Kiêu)
Hay:
“Mau ra coi An ơi! Gần tới sân chim rồi.”
(Sân chim)
Âm điệu của câu văn kể đã thay đổi với những đường nét của ngữ điệu gọi vang vọng trong một không gian mênh mông sông nước sống động và hấp dẫn hơn
d Hình tượng văn học:
- Thông qua lớp ngôn từ, ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện và từ
đó hiện lên các sự vật, phong cảnh, con người, quan hệ xã hội
- Nguyên tắc: mô tả quan sát, ký ức liên tưởng biểu hiện
Nhân vật, hệ thống nhân vật, cốt truyện, hình tượng lớp đời sống đằng sau ngôn từ
Ví dụ:
“Chia làm gì cơ chứ? Không cần đâu! – Sẻ lắc lắc chiếc mỏ xinh xắn của
mình tỏ ý không thích – Ai kiếm được thì người ấy ăn!”
(Bài học quý)
Lời của nhân vật Sẻ liên tưởng: hình tượng một người bạn ích kỉ, không biết chia sẻ
Hay:
Xây dựng hình tượng “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”:
- Nghĩa đen: sóng lớn, ngã tay chèo
- Nghĩa bóng: chớ thấy mọi khó khăn trong đời sống mà nản lòng
III GIẢI PHÁP :
1 Hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học qua tiết Tập đọc bằng cách trả lời câu hỏi
không lệ thuộc bài đọc đó:
Kỹ năng đọc – hiểu là một trong những yếu tố cơ bản và cần thiết để học sinh cảm thụ một bài đọc Yêu cầu quan trọng nhất mà học sinh cần đạt ở kĩ năng này là học được cách trả lời câu hỏi, nhờ đó mà phát triển năng lực tư duy Để giúp các em trả lời câu hỏi một cách chủ động, giúp các em không đọc nguyên văn bài đọc khi trả lời câu hỏi, có thể áp dụng một số biện pháp sau:
A Sử dụng câu hỏi định hướng:
a) Nhận dạng loại câu hỏi:
- Dạng câu hỏi “Vì sao”, “Cái gì”, “Như thế nào?”
- Dựa vào các từ quan trọng để xác định dạng câu hỏi
Ví dụ:
Trong bài “Tà áo dài Việt Nam” có câu hỏi: “Chiếc áo dài tân thời có gì khác so với
chiếc áo dài cổ truyền?” Thông thường HS sẽ trả lời bằng cách đọc lại các chi tiết về đặc
điểm của áo tứ thân, áo năm thân (áo dài cổ truyền) và áo dài tân thời Nhưng ở đây, yêu
cầu của câu hỏi là so sánh, thể hiện qua từ “có gì khác so với”, nên để trả lời chính xác
câu hỏi này, ngoài việc đưa ra đặc điểm của các loại áo dài, các em còn phải biết đối
Trang 3chiếu để nhận ra những điểm khác nhau như: áo dài tân thời chỉ có hai thân, có cài khuy, vừa kín đáo, vừa hiện đại trẻ trung
b) Xác định đối tượng hoặc nội dung mà câu hỏi đề cập bằng cách đặt những câu hỏi nhỏ mang tính chất định hướng để tìm tòi thông tin
Ví dụ:
Đối với câu hỏi: “ ”
c) Trong trường hợp câu hỏi có nhiều ý liên quan với nhau, ngoài việc đặt câu hỏi nhỏ, cần phải nhận ra mối quan hệ giữa các từ, ý quan trọng ấy
Ví dụ:
Đối với câu hỏi: “ ”
B Sử dụng phương tiện trực quan :
a) Sử dụng sơ đồ :
b) Sử dụng bảng biểu:
c) Sử dụng mạng ý nghĩa;