1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

giao trinh latin trung cấp cao đẳng

29 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 75,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giao trinh latin;giao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latin

Trang 1

GIÁO TRÌNH TIẾNG LA-TINH

Dàn đề

Giới thiệu trang 02

Bài 01 : Danh từ - Cách chia I trang 06

Bài 02 : Danh từ - Cách chia II trang 08

Bài 03 : Danh từ - Cách chia III trang 11

Bài 04 : Danh từ - Cách chia III (tiếp) trang 14

Bài 05 : Danh từ - Cách chia IV trang 17

Bài 06 : Danh từ - Cách chia V trang 19

Bài 07 : Nhận định chung về chia danh từ trang 21

Bài 14 : Đại từ trang 35

Bài 15 : Đại từ (tiếp) trang 39

Bài 16 : Động từ - Trợ động từ sum trang 42

Bài 17 : Cách chia động từ tác động trang 46

Bài 18 : Động từ thụ động trang 50

Bài 19 : Động từ độc lập - Động từ trung lập

- Động từ vô ngôi trang 55

Bài 20 : Động từ ngoại lệ trang 57

Bài 21 : Động từ khiếm khuyết trang 55

Bài 22 : Trợ từ trang 58

Bài 23 : Giới từ và liên từ trang 59

GIÁO TRÌNH TIẾNG LA TINH

Giới thiệu

Đây là một giáo trình vắn gọn, được soạn thảo như một dẫn khởi vào học tiếng La-tinh Vì thế, các bạn đừng đòi hỏi hơn những gì thuộc bước khởi đầu này

I Trước hết, tiếng La-tinh không phải là một tử ngữ.

Tử ngữ là một ngôn ngữ chết, với ý nghĩa là không còn được sử dụng nữa, thí

dụ tiếng Phạn, tiếng cổ Trung Hoa, v.v Vì thế tiếng la-tinh không phải là một

tử ngữ Đúng ra nó là một căn ngữ, với ý nghĩa nó là gốc một phần lớn ngôn

ngữ châu Âu, và như thế, là gốc của nhiều ngôn ngữ châu Mỹ và châu Đại Dương

Sau đây là trích bản tin Đài Chân lý Á Châu ngày 20 / 02 / 2012 , khi đưa tin về

Trang 2

bài phỏng vấn của Hãng tin Zenit phỏng vấn cha Roberto Spataro, giáo sư khoa Văn chương Kitô giáo và Khảo cổ của Viện đại học Giáo hoàng Salêdiêng :

”để trả lời cho nhận định về tiếng La-tinh như là một "ngôn ngữ chết", cha Spataro cho biết:

”Ðây thật là một cách nói không phù hợp Tôi tự hỏi tại sao người ta lại bảo ngôn ngữ ấy là tử ngữ, ngôn ngữ mà Seneca, thánh Augustinô, thánh Tôma Aquinô và bao nhiêu thế hệ các nhà khoa học, từ Galvani là nhà phát minh điện lực, đến Gauss là ông trùm toán học, tất cả đều sử dụng

” Trước đây ít lâu, một giáo sư của một đại học nổi tiếng ở Ðức quốc nói với tôi rằng trường có hơn 800,000 học sinh trung học và sinh viên đại học học tiếng La tinh Còn tại Viện hàn lâm của chúng tôi, chúng tôi nhận những sinh viên Trung quốc được đại học của họ gởi đến, bởi vì họ cảm thấy nhu cầu hiểu biết nền văn minh và nguồn gốc văn hóa của Âu Châu được trình bày bằng tiếng

La tinh.”

Hơn nữa, ngày nay tên các động vật và thực vật cũng như các y dược vẫn còn dùng tiếng La-tinh

Tóm lại, nếu tiếng La-tinh là một tử ngữ, chúng ta khỏi cần đến giáo trình này

Cũng xin lưu ý là đối với các bạn học dược, chỉ cần học danh từ thôi.

II Những đặc điểm của tiếng La-tinh

Đặc điểm thứ nhất của tiếng La-tinh là có 4 loại từ phải chia Đó là Danh từ

(substantivum), tính từ (adjectivum), đại từ (pronomen) và động từ (verbum) Ai

đã học tiếng Nga thì dễ hiểu đặc tính này

Mỗi mẫu chia của một từ La-tinh gồm 6 cách số ít và 6 cách số nhiều

Cách ở đây theo La-tinh gọi là casus bởi động từ cadere có nghĩa là ngã xuống hoặc rơi xuống (từng nấc) Để dễ gọi, tôi lấy theo tiếng Pháp là cas : trường hợp, cho dễ hiểu, đồng thời tên các cách tôi cũng lấy theo tiếng Pháp cho dễ gọi nhưsau:

Ca chủ : (Nominatif) đứng làm chủ ngữ và tất nhiên là chưa chia,

Ca gốc : (Génitif) nó có sẵn phần gốc để chia các ca khác,

Ca cho : (Datif) khi cho ai, thì người nhận đặt ở ca này,

Ca chịu : (Accusatif) làm túc từ trực tiếp cho một động từ,

Ca gọi : (Vocatif) tức là để xưng hô,

Ca từ : (Ablatif) từ đó, bởi đó, chỉ xuất xứ, nơi chốn).

Chú ý : Ca cho, lấy theo nghĩa gốc của từ ngữ, đúng ra phải gọi là ”ca nhận”,

Trang 3

nhưng gọi là Ca cho và sau đó là ca chịu, thì dễ nhớ hơn.

Đặc điểm thứ hai của tiếng La-tinh là không có kính ngữ Người Pháp họ bảo

tiếng la-tinh xưng mày tao với tất cả mọi người ( Le latin tutoie tous les

homes ) Nhưng xin vui lòng nhớ cho là trong ngôn ngữ tiếng Pháp, xưng mày tao là kiểu nói rất thân mật đó nhé !

III Cách đọc tiếng La-tinh

Vì tiếng Việt chủ yếu lấy tự dạng và âm vận của tiếng La-tinh, nên cách đọc tiếng La-tinh tương tự cách đọc của tiếng Việt

1- Riêng chữ e trong tiếng La-tinh, chúng ta thường đọc là e theo tiếng Việt,

nhưng đúng ra phải độc là ê Cũng vậy, chữ o phải đọc là ô Thí dụ : Domine, phải đọc là Đô-mi-nê

Khi gặp một âm có dấu sắc ( ’ ) thì đó là một âm phải nhấn thanh khi đọc

2- Cách đọc một số liên âm (dipthongus) : Liên âm là khi kết hợp 2 nguyên âm thành một âm

a) Vần au là liên âm ( đọc như đau trong đau đớn ), nhưng mấy danh từ riêng

tận aus, aum , thì u đọc với chữ sau, như Nicolaus ( đọc : Ni-cô-la-uts ) v.v…

b) Vần eu khi sau nó có S hay M, hoặc trong các từ kép bởi DE, RE mà ra, thì không phải liên âm, như deus, thì đọc là đê-uts Từ eun, euntis và các từ kép bởi nó cũng vậy Từ heus và các từ khác thì eu là liên âm

c) Vần ua, ue, uae, ui, uo, uu khi đứng sau Q hay NG thì là liên âm , như qui,

lingua Các trường hợp khác thì đọc riêng, như ardua (đọc ar-đu-a)

d) Các từ suadeo, suavis, suesco, và các từ kép từ đó, nếu đọc theo các Rô-ma,

thì ua, ue là liên âm.

3- Chữ H, nếu

- đứng sau C thì kết hợp với C mà đọc như K, như brachia ( đọc bra-ki-a ),

- đứng sau P thì kết hợp với P mà đọc như F, như pharus ( đọc pha-ruts ),

- đứng sau các chữ khác thì thành H câm (tức là không đọc), như thus ( đọc tuts ), myrrha ( đọc my-ra ), thronus ( đọc t-ro-nuts ) …

Các từ sau đây, nếu đọc theo cách rôma, thì H đọc như K: mihi, nihil, nihilum, nihilominus, annihilare

4- Vần TI, đứng trước nguyên âm thì đọc như xi, như statio, đọc : sta-xi-ô Nhưng nếu đứng đầu từ hay đứng sau S, X thì đọc là TI như thường Trong các

từ Antiochus, Antiochia cũng đọc như thường

5- Chữ N đứng sau G, theo cách Rôma, thì đọc như NH Thí dụ : agnus ( đọc a-nhuts)

6- Khi trước R có một phụ âm, thì phụ âm đó phải đọc riêng, không được ghép với nguyên âm trước nó Thí dụ : volucris ( đọc : vô-lu-crits )

7- Chữ S, nếu đọc theo âm La-tinh thì đọc như X (không uốn lưỡi)

Trang 4

8- Chữ X khi đứng giữa 2 nguyên âm thì đọc với cả hai ( đọc như kx hoặc cx Thí dụ sexus ( đọc : xêk-xuts ).

9- Vần ex và trans đứng trước nguyên âm, nếu là từ kép, thì x và s đọc như

Z Thí dụ : exaudi (kép bởi ex và audi) đọc : êk-zau-di, transire (kép bởi trans

và ire) đọc : t-ran-zi-rê )

CHÚ Ý :

- Trong các sách cũ, khi viết chữ in hoa, có khi gặp chữ V thay cho chữ U Thí

dụ : đáng lẽ viết là PAULUS thì người ta viết là PAVLVS

- Chữ I và J tuỳ trường hợp, có thể dùng lẫn cho nhau Thí dụ : Alleluia, cũng viết là Alleluja

IV Cấu tạo của mỗi bài trong giáo trình này.

Mỗi bài của giáo trình này gồm 3 phần :

Phần thứ nhất là chủ đề của bài Phần này thường đi ngay vào chủ đề chứ

không giải thích nhiều, vì coi như những ai đã tham khảo giáo trình này đều biếtnhững điểm cơ bản ngữ pháp của một ngôn ngữ có gốc từ La-tinh, như Anh, Ý, Pháp, Đức, v.v Thường thì phần này dàn dựng làm thành một tiết, nhưng nếu dài, có thể chia làm nhiều tiết

Phần thứ hai là phần khảo sát Phần này có thể coi như phần khảo cổ , giúp

các bạn đi săn lùng những từ, những câu La-tinh ”gặp trên đường đời”, kích thích sự tò mò tìm hiểu, để chúng ta coi đó là những thí dụ trong việc học hỏi tiếng La-tinh Hy vọng những thắc mắc của các bạn đóng góp nhiều cho phần này

Phần thứ ba là một câu ghi nhớ : Đó là một thành ngữ hoặc châm ngôn hay

phương ngôn bằng tiếng La-tinh, giúp chúng ta quen sử dụng những câu đó và đào sâu việc học hỏi tiếng La-tinh

Cuối cùng là một bài đọc thêm, không thuộc giáo trình kẻo làm ”đau đầu các

bạn”, nhưng rất nên đọc vì đó thường là những ngoại lệ hay gặp

******************************

Bài 1 DANH TỪ

Có 5 cách chia danh từ tuỳ theo tận , tức là tuỳ theo vần hoặc chữ cuối cùng của

danh từ đó Như đã nói, sau ca chủ, ca gốc là gốc của các ca khác, nó xác định cách chia của danh từ, nên tự điển luôn luôn cho chúng ta ca chủ và ca gốc Khi học từ ngữ, cũng nhớ phải học cả ca gốc để biết một danh từ chia theo mẫu nào

Trang 5

Cách chia I và V có 1 mẫu Cách chia II có 3 mẫu Cách chia III có 4 mẫu Cáchchia IV có 2 mẫu Tổng cộng có 11 mẫu chia Nhưng các bạn đừng lo, vì rồi sẽ thấy, giữa các mẫu chia, có rất nhiều điểm giống nhau.

Để dễ nhớ, ở số ít, các bạn có thể nói : cá trê chê cám cá tra ( ! ).

Những danh từ chia theo mẫu này thường là giống cái, trừ những danh từ chỉ

Chữ ghi trên thánh giá INRI (đúng ra phải viết : I.N.R.I.) là những chữ viết tắtcủa 4 từ la-tinh : JESUS NAZARENUS REX JUDEORUM : Giê-su (ngườithành) Na-gia-rét (là) Vua (của những người) Do-thái

Lạy Chúa, hãy cho con các linh hồn, mọi cái khác xin cứ lấy đi !

1- Những danh từ giống cái sau đây, ở số nhiều, ca cho và ca từ tận abus :

anima (linh hồn), dea (thần nữ), liberta (người nữ tự do), filia (con gái), domina

Trang 6

(bà, bà chủ), vicina (bà láng giềng, hàng xóm), famula (nữ tỳ, tớ gái), socia (bạngái), equa (ngựa cái), mula (la cái), capra (dê cái), asina (lừa cái).

2- Một số danh từ xuất xứ từ tiếng Hy-lạp, ở số ít, ca gốc tận es, ca cho tận ae,

ca chịu tận en, 3 ca khác tận e Như epitome,es (f) : sách toát yếu, musice,es (f) :

3- Một số danh từ, ở số ít, ca chủ tận es, ca gốc và ca cho tận ae, ca chịu tận

en, 2 ca sau tận e Như cometes,ae : sao chổi , Anchises,ae (m) : ông An-ki-xê,v.v…

4- Một số danh từ riêng bởi tiếng Hếp-rêu, ca gốc và ca cho tận ae, các cakhác tận am không chia (giữ nguyên như ca chủ), như Adam,ae : nguyên tổ A-

5- Một số danh từ riêng khác, ca chủ tận as, ca chịu tận am hay an, các cakhác biến đổi theo mẫu Như Isaias,ae : ông I-sai-a, v.v…

Trang 7

chia theo mẫu nào cũng được, vì ở số nhiều, cả hai mẫu đều giống nhau.

2- Như đã thấy, mẫu 2 chỉ là dạng đặc biệt của mẫu 1 Chỉ khác là ca chủ và ca

gọi số ít giống nhau, còn ca gốc thì chỉ thêm i vào thôi Nên có thể phát biểu cách tổng quát : Các danh từ ca gốc tận i thì chia theo cách II, nhưng nếu ca chủ tận er hay ir thì ca gọi số ít giữ nguyên như ca chủ.

3- Những danh từ chia theo mẫu 2, có khi ca gốc số ít bỏ e trước vần ri, để làm gốc cho các ca khác, như Liber, libri ( cuốn sách ), v.v…

Trang 8

Templ um Templ a

1- Những danh từ số ít tận um, i , hoặc số nhiều tận a, orum thì chia theo mẫu

3

2- Những danh từ chia theo mẫu 3 đều là giống trung

3- Các bạn thử phân tích mẫu 3 có gì chung và không chung với mẫu 1, để thấytại sao mẫu 3 lại được xếp vào cách chia II

Khảo sát : Chữ X và P là 2 chữ đầu của từ Hy-lạp : XPISTOS (cờ-rít-stôts) :

Đấng được xức dầu, tức là Ki-tô Tiếng la tinh là Christus Vì thế, chữ P và X(thường trang trí viết lồng lên nhau cho đẹp) không nên trang trí ở toà Đức Mẹ

Hai chữ này khác hẳn với chữ P và M cũng thường được viết lồng lên nhau vàthường trang trí ở toà Đức Mẹ Theo tôi, đó là hai chữ viết tắt của Per Mariam( nhờ Mẹ Maria ) trong câu kinh điển về lòng tôn sùng Đức Mẹ : Ad Jesum perMariam ( Nhờ Mẹ Maria đến cùng Chúa Giê-su )

Non mihi, Domine, sed nomini tuo da gloriam !

Lạy Chúa, không phải cho con, nhưng cho danh Chúa được vinh sáng !

Bài đọc thêm 2 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH II

1- Từ Deus (Thiên Chúa), agnus (con chiên), chorus (ca đoàn), thì ca gọi giốngnhư ca chủ Nhưng từ deus khi là danh từ chung, chỉ chư thần, thì có số nhiêù

2- Từ Jesus (Chúa Giê-su), thì ca chủ là Jesus, Ca chịu là Jesum, các ca khác

3- Những danh từ tận ius, như Gregorius (ông Gregorius), filius (con trai), genius (thần), v.v… thì ở số ít, ca gọi bỏ e đi Trừ pius Thí dụ : Hỡi con trai ta :

Trang 9

Fili mi ! - Lạy Chúa Giêsu từ nhân : Pie Jesu Domine !

4- Một ít từ giống trung, ở số ít, các ca chủ, chịu và gọi tận us, có từ tận on, như

vulgus,i : dân (từ này có khi dùng như giống đực), virus,i : nhựa độc, pelagus,i :biển, Lexicon,i : tự điển nhỏ Từ vulgus, ca chịu cũng có khi là vulgum Từvirus cũng có khi dùng cách không chia Lại 3 từ : vulgus, pelagus và virus đều

5- Một số danh từ riêng bởi tiếng Hy-lạp, ca chủ tận eus, ca gốc tận ei hay eos,

ca chịu tận eum, eon, hay ea, ca gọi tận eu, ca cho và ca từ tận eo như thường.

6- Một số danh từ có ca chủ tận os, ca chịu tận um hay on, các ca khác như

7- Trong cách chia này, đôi khi gặp một ít từ giảm thiểu một đôi vần, như : di,

8- Khi muốn chia các tên riêng tiếng Hếp-rêu, thì thêm tận us vào tên đó, rồi lấy

ca gốc tận i để chia như thường Thí dụ : Jacob, làm thành Jacobus,i …

****************************

Cách này có 4 mẫu : mẫu 1 và 2 cho các danh từ giống đực và cái, mẫu 3 và 4

Trang 10

Soror e Soror ibus

Những danh từ có ca gốc tận is, nếu ca gốc nhiều vần hơn ca chủ, thì chia theo

Soror, nếu bằng vần ca chủ thì chia theo Avis

Ba chữ JHS thường ghi ở cửa Nhà Tạm là những chữ viết tắt của JESUSHOMINUM SALVATOR : Chúa Giê-su Đấng Cứu độ nhận loại Vì thế, khôngnên đặt những chữ này ở toà Đức Mẹ hay các thánh

Abyssus abyssum invocat : Vực thẳm kêu gào vực thẳm.Similis similem quaerit : Chu tầm chu, mã tầm mã

**********************

Bài đọc thêm 3 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH CHIA III

1- Những từ sau, ở số ít, ca chịu tận im, và ca từ tận i : amussis (mực tầu),

sinapis (rau cải), buris (bắp cày), sitis (sự khát), vis (sức, sự va chạm), tussis(bệnh ho), ravis (sự khan cổ), cucumis (quả dưa), canabis (dây gai, dây rợ) Các

tên sông có tận is , như sông Tigris, và tên thành có tận polis , như thành

2- Những từ sau, ở số ít, ca chịu có 2 tận là em hoặc im, ca từ cũng có 2 tận

là e hoặc i : restis (dây), securis (rìu), sementis (hạt giống), turris (tháp), febris

Trang 11

(bệnh sốt rét), clavis (chìa khoá), strigilis (dụng cụ kỳ da khi tắm), pelvis (chậu),navis (tàu thủy), puppis (phía đàng lái của tàu thuyền).

3- Những từ sau, ca từ số ít tận i : a) Những từ có ca chịu tận im, như securis, v.v

b) Những từ dùng mượn tính từ, như aprilis, v.v

c) Những từ giống trung mà ca chủ tận ar, al, e Trừ những từ sau ca từ số ít vẫn tận e : far,aris (lúa mì), nectar,aris (đồ mĩ vị), jubar,aris (sao mai), hepar,atis

(gan), sal,alis (muối), rete,is (lưới), baccar,aris (cỏ giải bùa)

4- Những từ sau, ca từ số ít tận e, nhưng cũng có khi tận i : avis (chim), neptis

(cháu gái), anguis (con lươn), classis (đoàn tàu), finis (tận cùng), civis (côngdân), ignis (lửa), fustis (gậy, côn), amnis (sông), imber,bris (cơn mưa), postis(thanh cửa), unguis (vuốt, móng), vectis (đòn gánh)

5- Những từ sau có ca gốc số nhiều tận ium : a) Những từ có ca từ số ít tận i, như cubile,

b) Những từ giống đực hay giống cái mà ca gốc số ít bằng vần ca chủ, như avis

Trừ những từ sau, ca gốc số nhiều vẫn tận um : frater (anh, em), proles (con

cháu), vates (thầy bói), mater (mẹ), pater (cha), canis (chó), opis (ong), panis(bánh), strues (đống củi), juvenis (trẻ), senex (già), accipiter (chim ó, chim cắt),

Câu thuộc lòng trên vẫn còn thiếu từ thầy bói, bạn nào thư rỗi làm lại giùm.

c) những từ ở ca gốc số ít, trước tận is có nhiều phụ âm, như mons, montis

Trừ những từ này : gigas,antis (người cao lớn), parens, entis (cha mẹ) Trái lại,

những từ sau đây trước is chỉ có một phụ âm, mà ca gốc số nhiều vẫn tận bằng ium : dos,otis (của vu qui), fraus,audis (sự gian tà), sal,alis (m,n) (muối),

mus,uris (con chuột), lis,litis (sự kiện), trabs,abis (cái xà), nix,nivis (tuyết)

Trang 12

Bài 4 CHIA DANH TỪ CÁCH III (tiếp theo) Mẫu 3 : Corpus, oris (n) : thân thể

Những danh từ giống trung có ca gốc tận is ,

- Nếu ca chủ tận e, ar, al thì chia theo Cubile (mẫu 4),

- Nếu ca chủ tận khác, thì chia theo Corpor (mẫu 3)

Khảo sát : Chữ RIP ghi ở nghĩa địa hoặc ở các ngôi mộ.

Dạng số ít : Requiescat In Pace : Xin cho linh hồn (này, ấy) được nghỉ yên

Dạng số nhiều : Requiescant In Pace : Xin cho các linh hồn (này, ấy) được nghỉ

yên (muôn đời) Dịch đúng từ : Mong sao người ấy (linh hồn ấy), những người

Trang 13

ấy (những linh hồn ấy) được ở trong an bình.

AD MAJOREM DEI GLORIAM (Để Thiên Chúa được vinh quang)

Bài đọc thêm 4 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH CHIA III (tiếp theo) 6- Những từ có ca gốc số nhiều tận um là :

a) Những từ giống đực hay giống cái, có ca gốc nhiều vần hơn ca chủ, mà

b) Những từ giống trung, mà ca chủ không tận bằng ar, al, e, như corpus

7- Một số từ, ca gốc số nhiều tận um, nhưng có khi gặp tận ium, và ngược lại.

Như : mus,muris (con chuột), lar,laris (thổ chủ), fraus,audis (mưu gian), apis,is

8- Những từ giống trung tận ma, thì ca cho và ca từ số nhiều tận bằng atis hay atibus Như : diadema,atis (triều thiên), dogma,atis (tín điều),

chema,atis (dàn bài), aenigma,atis (câu đố), stratagema,atis (mưu kế)

9- Một số danh từ bởi tiếng Hy-lạp, ca chịu có 2 tận : số ít là em hay a, số nhiều

là es hay as Như : heros,herois (anh hùng), aer, aeris (khí), crater,eris (chén),aether,eris (khí trời), Macedo,onis (người dân Macedo), Arcas,adis (người xứ

10- Một số từ khác cũng bởi tiếng Hy-lạp, ở số ít : ca gốc tận is hay eos, ca chịutận im hay in, ca từ tận i - ở số nhiều : ca gốc tận eon Các ca khác như thường.Thí dụ : hoeresis,is hay eos (lạc giáo), v.v Các danh từ tận esis hay asis cũngchia như vậy Thí dụ : poesis,is hay eos (thơ phú), thesis,is (eos) (bài luận văn),

11- Một số ít danh từ có vài ca bất thường , như :

Jupiter (thần Jupiter) : ca chủ và ca gọi : Jupiter, ca gốc : Jovis, ca cho và ca từ:

Bos, bovis (bò đực) : ở số nhiều, ca gốc : boum, ca cho và ca từ : bobus haybubus

Tigris,is (con hổ) : ở số ít, ca gốc : tigris hay tigridis, ca chịu : tigrim, tigrin haytigridim

Iris, (cái mống), ở số ít , ca gốc : iridis, ca chịu : irim.Vis,is (sức mạnh), ở số ít, ca gốc : vis, ca chịu : vim, ca từ : vi Ở số nhiều :

Trang 14

12- Sau cùng, muốn chia các danh từ riêng bởi tiếng Hêp-rêu, thì thêm is, nislàm ca gốc để chia Thí dụ : Samuel, Samuelis - Salomon, Salomonis

Như ta thấy, đúng ra đây có thể không coi là một mẫu, mà chỉ là một ngoại lệ

Có thể phát biểu : Những danh từ giống trung tận u, u, thì số ít, các ca đều

Ngày đăng: 08/05/2019, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w