giao trinh latin;giao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latingiao trinh latin
Trang 1GIÁO TRÌNH TIẾNG LA-TINH
Dàn đề
Giới thiệu trang 02
Bài 01 : Danh từ - Cách chia I trang 06
Bài 02 : Danh từ - Cách chia II trang 08
Bài 03 : Danh từ - Cách chia III trang 11
Bài 04 : Danh từ - Cách chia III (tiếp) trang 14
Bài 05 : Danh từ - Cách chia IV trang 17
Bài 06 : Danh từ - Cách chia V trang 19
Bài 07 : Nhận định chung về chia danh từ trang 21
Bài 14 : Đại từ trang 35
Bài 15 : Đại từ (tiếp) trang 39
Bài 16 : Động từ - Trợ động từ sum trang 42
Bài 17 : Cách chia động từ tác động trang 46
Bài 18 : Động từ thụ động trang 50
Bài 19 : Động từ độc lập - Động từ trung lập
- Động từ vô ngôi trang 55
Bài 20 : Động từ ngoại lệ trang 57
Bài 21 : Động từ khiếm khuyết trang 55
Bài 22 : Trợ từ trang 58
Bài 23 : Giới từ và liên từ trang 59
GIÁO TRÌNH TIẾNG LA TINH
Giới thiệu
Đây là một giáo trình vắn gọn, được soạn thảo như một dẫn khởi vào học tiếng La-tinh Vì thế, các bạn đừng đòi hỏi hơn những gì thuộc bước khởi đầu này
I Trước hết, tiếng La-tinh không phải là một tử ngữ.
Tử ngữ là một ngôn ngữ chết, với ý nghĩa là không còn được sử dụng nữa, thí
dụ tiếng Phạn, tiếng cổ Trung Hoa, v.v Vì thế tiếng la-tinh không phải là một
tử ngữ Đúng ra nó là một căn ngữ, với ý nghĩa nó là gốc một phần lớn ngôn
ngữ châu Âu, và như thế, là gốc của nhiều ngôn ngữ châu Mỹ và châu Đại Dương
Sau đây là trích bản tin Đài Chân lý Á Châu ngày 20 / 02 / 2012 , khi đưa tin về
Trang 2bài phỏng vấn của Hãng tin Zenit phỏng vấn cha Roberto Spataro, giáo sư khoa Văn chương Kitô giáo và Khảo cổ của Viện đại học Giáo hoàng Salêdiêng :
”để trả lời cho nhận định về tiếng La-tinh như là một "ngôn ngữ chết", cha Spataro cho biết:
”Ðây thật là một cách nói không phù hợp Tôi tự hỏi tại sao người ta lại bảo ngôn ngữ ấy là tử ngữ, ngôn ngữ mà Seneca, thánh Augustinô, thánh Tôma Aquinô và bao nhiêu thế hệ các nhà khoa học, từ Galvani là nhà phát minh điện lực, đến Gauss là ông trùm toán học, tất cả đều sử dụng
” Trước đây ít lâu, một giáo sư của một đại học nổi tiếng ở Ðức quốc nói với tôi rằng trường có hơn 800,000 học sinh trung học và sinh viên đại học học tiếng La tinh Còn tại Viện hàn lâm của chúng tôi, chúng tôi nhận những sinh viên Trung quốc được đại học của họ gởi đến, bởi vì họ cảm thấy nhu cầu hiểu biết nền văn minh và nguồn gốc văn hóa của Âu Châu được trình bày bằng tiếng
La tinh.”
Hơn nữa, ngày nay tên các động vật và thực vật cũng như các y dược vẫn còn dùng tiếng La-tinh
Tóm lại, nếu tiếng La-tinh là một tử ngữ, chúng ta khỏi cần đến giáo trình này
Cũng xin lưu ý là đối với các bạn học dược, chỉ cần học danh từ thôi.
II Những đặc điểm của tiếng La-tinh
Đặc điểm thứ nhất của tiếng La-tinh là có 4 loại từ phải chia Đó là Danh từ
(substantivum), tính từ (adjectivum), đại từ (pronomen) và động từ (verbum) Ai
đã học tiếng Nga thì dễ hiểu đặc tính này
Mỗi mẫu chia của một từ La-tinh gồm 6 cách số ít và 6 cách số nhiều
Cách ở đây theo La-tinh gọi là casus bởi động từ cadere có nghĩa là ngã xuống hoặc rơi xuống (từng nấc) Để dễ gọi, tôi lấy theo tiếng Pháp là cas : trường hợp, cho dễ hiểu, đồng thời tên các cách tôi cũng lấy theo tiếng Pháp cho dễ gọi nhưsau:
Ca chủ : (Nominatif) đứng làm chủ ngữ và tất nhiên là chưa chia,
Ca gốc : (Génitif) nó có sẵn phần gốc để chia các ca khác,
Ca cho : (Datif) khi cho ai, thì người nhận đặt ở ca này,
Ca chịu : (Accusatif) làm túc từ trực tiếp cho một động từ,
Ca gọi : (Vocatif) tức là để xưng hô,
Ca từ : (Ablatif) từ đó, bởi đó, chỉ xuất xứ, nơi chốn).
Chú ý : Ca cho, lấy theo nghĩa gốc của từ ngữ, đúng ra phải gọi là ”ca nhận”,
Trang 3nhưng gọi là Ca cho và sau đó là ca chịu, thì dễ nhớ hơn.
Đặc điểm thứ hai của tiếng La-tinh là không có kính ngữ Người Pháp họ bảo
tiếng la-tinh xưng mày tao với tất cả mọi người ( Le latin tutoie tous les
homes ) Nhưng xin vui lòng nhớ cho là trong ngôn ngữ tiếng Pháp, xưng mày tao là kiểu nói rất thân mật đó nhé !
III Cách đọc tiếng La-tinh
Vì tiếng Việt chủ yếu lấy tự dạng và âm vận của tiếng La-tinh, nên cách đọc tiếng La-tinh tương tự cách đọc của tiếng Việt
1- Riêng chữ e trong tiếng La-tinh, chúng ta thường đọc là e theo tiếng Việt,
nhưng đúng ra phải độc là ê Cũng vậy, chữ o phải đọc là ô Thí dụ : Domine, phải đọc là Đô-mi-nê
Khi gặp một âm có dấu sắc ( ’ ) thì đó là một âm phải nhấn thanh khi đọc
2- Cách đọc một số liên âm (dipthongus) : Liên âm là khi kết hợp 2 nguyên âm thành một âm
a) Vần au là liên âm ( đọc như đau trong đau đớn ), nhưng mấy danh từ riêng
tận aus, aum , thì u đọc với chữ sau, như Nicolaus ( đọc : Ni-cô-la-uts ) v.v…
b) Vần eu khi sau nó có S hay M, hoặc trong các từ kép bởi DE, RE mà ra, thì không phải liên âm, như deus, thì đọc là đê-uts Từ eun, euntis và các từ kép bởi nó cũng vậy Từ heus và các từ khác thì eu là liên âm
c) Vần ua, ue, uae, ui, uo, uu khi đứng sau Q hay NG thì là liên âm , như qui,
lingua Các trường hợp khác thì đọc riêng, như ardua (đọc ar-đu-a)
d) Các từ suadeo, suavis, suesco, và các từ kép từ đó, nếu đọc theo các Rô-ma,
thì ua, ue là liên âm.
3- Chữ H, nếu
- đứng sau C thì kết hợp với C mà đọc như K, như brachia ( đọc bra-ki-a ),
- đứng sau P thì kết hợp với P mà đọc như F, như pharus ( đọc pha-ruts ),
- đứng sau các chữ khác thì thành H câm (tức là không đọc), như thus ( đọc tuts ), myrrha ( đọc my-ra ), thronus ( đọc t-ro-nuts ) …
Các từ sau đây, nếu đọc theo cách rôma, thì H đọc như K: mihi, nihil, nihilum, nihilominus, annihilare
4- Vần TI, đứng trước nguyên âm thì đọc như xi, như statio, đọc : sta-xi-ô Nhưng nếu đứng đầu từ hay đứng sau S, X thì đọc là TI như thường Trong các
từ Antiochus, Antiochia cũng đọc như thường
5- Chữ N đứng sau G, theo cách Rôma, thì đọc như NH Thí dụ : agnus ( đọc a-nhuts)
6- Khi trước R có một phụ âm, thì phụ âm đó phải đọc riêng, không được ghép với nguyên âm trước nó Thí dụ : volucris ( đọc : vô-lu-crits )
7- Chữ S, nếu đọc theo âm La-tinh thì đọc như X (không uốn lưỡi)
Trang 48- Chữ X khi đứng giữa 2 nguyên âm thì đọc với cả hai ( đọc như kx hoặc cx Thí dụ sexus ( đọc : xêk-xuts ).
9- Vần ex và trans đứng trước nguyên âm, nếu là từ kép, thì x và s đọc như
Z Thí dụ : exaudi (kép bởi ex và audi) đọc : êk-zau-di, transire (kép bởi trans
và ire) đọc : t-ran-zi-rê )
CHÚ Ý :
- Trong các sách cũ, khi viết chữ in hoa, có khi gặp chữ V thay cho chữ U Thí
dụ : đáng lẽ viết là PAULUS thì người ta viết là PAVLVS
- Chữ I và J tuỳ trường hợp, có thể dùng lẫn cho nhau Thí dụ : Alleluia, cũng viết là Alleluja
IV Cấu tạo của mỗi bài trong giáo trình này.
Mỗi bài của giáo trình này gồm 3 phần :
Phần thứ nhất là chủ đề của bài Phần này thường đi ngay vào chủ đề chứ
không giải thích nhiều, vì coi như những ai đã tham khảo giáo trình này đều biếtnhững điểm cơ bản ngữ pháp của một ngôn ngữ có gốc từ La-tinh, như Anh, Ý, Pháp, Đức, v.v Thường thì phần này dàn dựng làm thành một tiết, nhưng nếu dài, có thể chia làm nhiều tiết
Phần thứ hai là phần khảo sát Phần này có thể coi như phần khảo cổ , giúp
các bạn đi săn lùng những từ, những câu La-tinh ”gặp trên đường đời”, kích thích sự tò mò tìm hiểu, để chúng ta coi đó là những thí dụ trong việc học hỏi tiếng La-tinh Hy vọng những thắc mắc của các bạn đóng góp nhiều cho phần này
Phần thứ ba là một câu ghi nhớ : Đó là một thành ngữ hoặc châm ngôn hay
phương ngôn bằng tiếng La-tinh, giúp chúng ta quen sử dụng những câu đó và đào sâu việc học hỏi tiếng La-tinh
Cuối cùng là một bài đọc thêm, không thuộc giáo trình kẻo làm ”đau đầu các
bạn”, nhưng rất nên đọc vì đó thường là những ngoại lệ hay gặp
******************************
Bài 1 DANH TỪ
Có 5 cách chia danh từ tuỳ theo tận , tức là tuỳ theo vần hoặc chữ cuối cùng của
danh từ đó Như đã nói, sau ca chủ, ca gốc là gốc của các ca khác, nó xác định cách chia của danh từ, nên tự điển luôn luôn cho chúng ta ca chủ và ca gốc Khi học từ ngữ, cũng nhớ phải học cả ca gốc để biết một danh từ chia theo mẫu nào
Trang 5Cách chia I và V có 1 mẫu Cách chia II có 3 mẫu Cách chia III có 4 mẫu Cáchchia IV có 2 mẫu Tổng cộng có 11 mẫu chia Nhưng các bạn đừng lo, vì rồi sẽ thấy, giữa các mẫu chia, có rất nhiều điểm giống nhau.
Để dễ nhớ, ở số ít, các bạn có thể nói : cá trê chê cám cá tra ( ! ).
Những danh từ chia theo mẫu này thường là giống cái, trừ những danh từ chỉ
Chữ ghi trên thánh giá INRI (đúng ra phải viết : I.N.R.I.) là những chữ viết tắtcủa 4 từ la-tinh : JESUS NAZARENUS REX JUDEORUM : Giê-su (ngườithành) Na-gia-rét (là) Vua (của những người) Do-thái
Lạy Chúa, hãy cho con các linh hồn, mọi cái khác xin cứ lấy đi !
1- Những danh từ giống cái sau đây, ở số nhiều, ca cho và ca từ tận abus :
anima (linh hồn), dea (thần nữ), liberta (người nữ tự do), filia (con gái), domina
Trang 6(bà, bà chủ), vicina (bà láng giềng, hàng xóm), famula (nữ tỳ, tớ gái), socia (bạngái), equa (ngựa cái), mula (la cái), capra (dê cái), asina (lừa cái).
2- Một số danh từ xuất xứ từ tiếng Hy-lạp, ở số ít, ca gốc tận es, ca cho tận ae,
ca chịu tận en, 3 ca khác tận e Như epitome,es (f) : sách toát yếu, musice,es (f) :
3- Một số danh từ, ở số ít, ca chủ tận es, ca gốc và ca cho tận ae, ca chịu tận
en, 2 ca sau tận e Như cometes,ae : sao chổi , Anchises,ae (m) : ông An-ki-xê,v.v…
4- Một số danh từ riêng bởi tiếng Hếp-rêu, ca gốc và ca cho tận ae, các cakhác tận am không chia (giữ nguyên như ca chủ), như Adam,ae : nguyên tổ A-
5- Một số danh từ riêng khác, ca chủ tận as, ca chịu tận am hay an, các cakhác biến đổi theo mẫu Như Isaias,ae : ông I-sai-a, v.v…
Trang 7chia theo mẫu nào cũng được, vì ở số nhiều, cả hai mẫu đều giống nhau.
2- Như đã thấy, mẫu 2 chỉ là dạng đặc biệt của mẫu 1 Chỉ khác là ca chủ và ca
gọi số ít giống nhau, còn ca gốc thì chỉ thêm i vào thôi Nên có thể phát biểu cách tổng quát : Các danh từ ca gốc tận i thì chia theo cách II, nhưng nếu ca chủ tận er hay ir thì ca gọi số ít giữ nguyên như ca chủ.
3- Những danh từ chia theo mẫu 2, có khi ca gốc số ít bỏ e trước vần ri, để làm gốc cho các ca khác, như Liber, libri ( cuốn sách ), v.v…
Trang 8Templ um Templ a
1- Những danh từ số ít tận um, i , hoặc số nhiều tận a, orum thì chia theo mẫu
3
2- Những danh từ chia theo mẫu 3 đều là giống trung
3- Các bạn thử phân tích mẫu 3 có gì chung và không chung với mẫu 1, để thấytại sao mẫu 3 lại được xếp vào cách chia II
Khảo sát : Chữ X và P là 2 chữ đầu của từ Hy-lạp : XPISTOS (cờ-rít-stôts) :
Đấng được xức dầu, tức là Ki-tô Tiếng la tinh là Christus Vì thế, chữ P và X(thường trang trí viết lồng lên nhau cho đẹp) không nên trang trí ở toà Đức Mẹ
Hai chữ này khác hẳn với chữ P và M cũng thường được viết lồng lên nhau vàthường trang trí ở toà Đức Mẹ Theo tôi, đó là hai chữ viết tắt của Per Mariam( nhờ Mẹ Maria ) trong câu kinh điển về lòng tôn sùng Đức Mẹ : Ad Jesum perMariam ( Nhờ Mẹ Maria đến cùng Chúa Giê-su )
Non mihi, Domine, sed nomini tuo da gloriam !
Lạy Chúa, không phải cho con, nhưng cho danh Chúa được vinh sáng !
Bài đọc thêm 2 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH II
1- Từ Deus (Thiên Chúa), agnus (con chiên), chorus (ca đoàn), thì ca gọi giốngnhư ca chủ Nhưng từ deus khi là danh từ chung, chỉ chư thần, thì có số nhiêù
2- Từ Jesus (Chúa Giê-su), thì ca chủ là Jesus, Ca chịu là Jesum, các ca khác
3- Những danh từ tận ius, như Gregorius (ông Gregorius), filius (con trai), genius (thần), v.v… thì ở số ít, ca gọi bỏ e đi Trừ pius Thí dụ : Hỡi con trai ta :
Trang 9Fili mi ! - Lạy Chúa Giêsu từ nhân : Pie Jesu Domine !
4- Một ít từ giống trung, ở số ít, các ca chủ, chịu và gọi tận us, có từ tận on, như
vulgus,i : dân (từ này có khi dùng như giống đực), virus,i : nhựa độc, pelagus,i :biển, Lexicon,i : tự điển nhỏ Từ vulgus, ca chịu cũng có khi là vulgum Từvirus cũng có khi dùng cách không chia Lại 3 từ : vulgus, pelagus và virus đều
5- Một số danh từ riêng bởi tiếng Hy-lạp, ca chủ tận eus, ca gốc tận ei hay eos,
ca chịu tận eum, eon, hay ea, ca gọi tận eu, ca cho và ca từ tận eo như thường.
6- Một số danh từ có ca chủ tận os, ca chịu tận um hay on, các ca khác như
7- Trong cách chia này, đôi khi gặp một ít từ giảm thiểu một đôi vần, như : di,
8- Khi muốn chia các tên riêng tiếng Hếp-rêu, thì thêm tận us vào tên đó, rồi lấy
ca gốc tận i để chia như thường Thí dụ : Jacob, làm thành Jacobus,i …
****************************
Cách này có 4 mẫu : mẫu 1 và 2 cho các danh từ giống đực và cái, mẫu 3 và 4
Trang 10Soror e Soror ibus
Những danh từ có ca gốc tận is, nếu ca gốc nhiều vần hơn ca chủ, thì chia theo
Soror, nếu bằng vần ca chủ thì chia theo Avis
Ba chữ JHS thường ghi ở cửa Nhà Tạm là những chữ viết tắt của JESUSHOMINUM SALVATOR : Chúa Giê-su Đấng Cứu độ nhận loại Vì thế, khôngnên đặt những chữ này ở toà Đức Mẹ hay các thánh
Abyssus abyssum invocat : Vực thẳm kêu gào vực thẳm.Similis similem quaerit : Chu tầm chu, mã tầm mã
**********************
Bài đọc thêm 3 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH CHIA III
1- Những từ sau, ở số ít, ca chịu tận im, và ca từ tận i : amussis (mực tầu),
sinapis (rau cải), buris (bắp cày), sitis (sự khát), vis (sức, sự va chạm), tussis(bệnh ho), ravis (sự khan cổ), cucumis (quả dưa), canabis (dây gai, dây rợ) Các
tên sông có tận is , như sông Tigris, và tên thành có tận polis , như thành
2- Những từ sau, ở số ít, ca chịu có 2 tận là em hoặc im, ca từ cũng có 2 tận
là e hoặc i : restis (dây), securis (rìu), sementis (hạt giống), turris (tháp), febris
Trang 11(bệnh sốt rét), clavis (chìa khoá), strigilis (dụng cụ kỳ da khi tắm), pelvis (chậu),navis (tàu thủy), puppis (phía đàng lái của tàu thuyền).
3- Những từ sau, ca từ số ít tận i : a) Những từ có ca chịu tận im, như securis, v.v
b) Những từ dùng mượn tính từ, như aprilis, v.v
c) Những từ giống trung mà ca chủ tận ar, al, e Trừ những từ sau ca từ số ít vẫn tận e : far,aris (lúa mì), nectar,aris (đồ mĩ vị), jubar,aris (sao mai), hepar,atis
(gan), sal,alis (muối), rete,is (lưới), baccar,aris (cỏ giải bùa)
4- Những từ sau, ca từ số ít tận e, nhưng cũng có khi tận i : avis (chim), neptis
(cháu gái), anguis (con lươn), classis (đoàn tàu), finis (tận cùng), civis (côngdân), ignis (lửa), fustis (gậy, côn), amnis (sông), imber,bris (cơn mưa), postis(thanh cửa), unguis (vuốt, móng), vectis (đòn gánh)
5- Những từ sau có ca gốc số nhiều tận ium : a) Những từ có ca từ số ít tận i, như cubile,
b) Những từ giống đực hay giống cái mà ca gốc số ít bằng vần ca chủ, như avis
Trừ những từ sau, ca gốc số nhiều vẫn tận um : frater (anh, em), proles (con
cháu), vates (thầy bói), mater (mẹ), pater (cha), canis (chó), opis (ong), panis(bánh), strues (đống củi), juvenis (trẻ), senex (già), accipiter (chim ó, chim cắt),
Câu thuộc lòng trên vẫn còn thiếu từ thầy bói, bạn nào thư rỗi làm lại giùm.
c) những từ ở ca gốc số ít, trước tận is có nhiều phụ âm, như mons, montis
Trừ những từ này : gigas,antis (người cao lớn), parens, entis (cha mẹ) Trái lại,
những từ sau đây trước is chỉ có một phụ âm, mà ca gốc số nhiều vẫn tận bằng ium : dos,otis (của vu qui), fraus,audis (sự gian tà), sal,alis (m,n) (muối),
mus,uris (con chuột), lis,litis (sự kiện), trabs,abis (cái xà), nix,nivis (tuyết)
Trang 12Bài 4 CHIA DANH TỪ CÁCH III (tiếp theo) Mẫu 3 : Corpus, oris (n) : thân thể
Những danh từ giống trung có ca gốc tận is ,
- Nếu ca chủ tận e, ar, al thì chia theo Cubile (mẫu 4),
- Nếu ca chủ tận khác, thì chia theo Corpor (mẫu 3)
Khảo sát : Chữ RIP ghi ở nghĩa địa hoặc ở các ngôi mộ.
Dạng số ít : Requiescat In Pace : Xin cho linh hồn (này, ấy) được nghỉ yên
Dạng số nhiều : Requiescant In Pace : Xin cho các linh hồn (này, ấy) được nghỉ
yên (muôn đời) Dịch đúng từ : Mong sao người ấy (linh hồn ấy), những người
Trang 13ấy (những linh hồn ấy) được ở trong an bình.
AD MAJOREM DEI GLORIAM (Để Thiên Chúa được vinh quang)
Bài đọc thêm 4 NGOẠI LỆ CỦA CÁCH CHIA III (tiếp theo) 6- Những từ có ca gốc số nhiều tận um là :
a) Những từ giống đực hay giống cái, có ca gốc nhiều vần hơn ca chủ, mà
b) Những từ giống trung, mà ca chủ không tận bằng ar, al, e, như corpus
7- Một số từ, ca gốc số nhiều tận um, nhưng có khi gặp tận ium, và ngược lại.
Như : mus,muris (con chuột), lar,laris (thổ chủ), fraus,audis (mưu gian), apis,is
8- Những từ giống trung tận ma, thì ca cho và ca từ số nhiều tận bằng atis hay atibus Như : diadema,atis (triều thiên), dogma,atis (tín điều),
chema,atis (dàn bài), aenigma,atis (câu đố), stratagema,atis (mưu kế)
9- Một số danh từ bởi tiếng Hy-lạp, ca chịu có 2 tận : số ít là em hay a, số nhiều
là es hay as Như : heros,herois (anh hùng), aer, aeris (khí), crater,eris (chén),aether,eris (khí trời), Macedo,onis (người dân Macedo), Arcas,adis (người xứ
10- Một số từ khác cũng bởi tiếng Hy-lạp, ở số ít : ca gốc tận is hay eos, ca chịutận im hay in, ca từ tận i - ở số nhiều : ca gốc tận eon Các ca khác như thường.Thí dụ : hoeresis,is hay eos (lạc giáo), v.v Các danh từ tận esis hay asis cũngchia như vậy Thí dụ : poesis,is hay eos (thơ phú), thesis,is (eos) (bài luận văn),
11- Một số ít danh từ có vài ca bất thường , như :
Jupiter (thần Jupiter) : ca chủ và ca gọi : Jupiter, ca gốc : Jovis, ca cho và ca từ:
Bos, bovis (bò đực) : ở số nhiều, ca gốc : boum, ca cho và ca từ : bobus haybubus
Tigris,is (con hổ) : ở số ít, ca gốc : tigris hay tigridis, ca chịu : tigrim, tigrin haytigridim
Iris, (cái mống), ở số ít , ca gốc : iridis, ca chịu : irim.Vis,is (sức mạnh), ở số ít, ca gốc : vis, ca chịu : vim, ca từ : vi Ở số nhiều :
Trang 1412- Sau cùng, muốn chia các danh từ riêng bởi tiếng Hêp-rêu, thì thêm is, nislàm ca gốc để chia Thí dụ : Samuel, Samuelis - Salomon, Salomonis
Như ta thấy, đúng ra đây có thể không coi là một mẫu, mà chỉ là một ngoại lệ
Có thể phát biểu : Những danh từ giống trung tận u, u, thì số ít, các ca đều