1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

phật giáo tôn giáo học

15 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 26,47 KB
File đính kèm phật giáo.rar (24 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước ta ngày nay đang trong công cuộc xây dựng quá độ nên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng chủ đạo, ngọn đèn dẫn đường, vũ khí lý luận nhưng bên cạnh đó bộ phận k

Trang 1

I.MỞ ĐẦU

Việt Nam là một nước phương Đông-nơi mà tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa xã hội, tùy giai đoạn phát triển lịch sử của các nước thì tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác động mạnh mẽ đến nếp sống tinh thần, thói quen, suy nghĩ của con người.Trong các tôn giáo đó thì Đạo Phật-một trong những tôn giáo lớn của thế giới đã du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và trở thành tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần,

xã hội Việt Nam cho đến ngày nay Đất nước ta ngày nay đang trong công cuộc xây dựng quá độ nên chủ nghĩa xã hội thì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng chủ đạo, ngọn đèn dẫn đường, vũ khí lý luận nhưng bên cạnh đó bộ phận kiến trúc thượng tầng cũ vẫn có sức sống dai dẳng,trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống chính trị,in sâu vào tư tưởng,tình cảm của một bộ phận dân cư lớn nước ta.Chúng ta không thể bỏ qua sự ảnh hưởng đó mà cần vận dụng

nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này Do đó việc nghiên cứu lịch sử,giáo lý và sự tác động của đạo Phật đối với thế giới quan,nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Đi vào nghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ,tác động tiêu cực hay tích cực đến quá trình phát triển của đất nước và qua đó sẽ định hướng cho con người có một nhân cách đúng đắn,tìm ra những phương hướng biện pháp hợp lý trong quá trình ngày nay xây dựng đất nước lên chủ nghĩa xã hội Phật giáo có lĩnh vực nghiên cứu tương đối rộng, ngoài việc nghiên cứu giáo lý,kinh điển,lịch

sử của Phật giáo còn đề cập đến các lĩnh vực như triết học,văn học,khảo cổ,tâm

lý học,xã hội học Phật học đã trở thành một trong những khoa học tương đối quan trọng trong khoa học xã hội,có quan hệ mật thiết với xã hội học.Phật giáo phát triển, truyền bá ở nước ta gắn liền với quá trình hình thành,phát triển tư

Trang 2

tưởng đạo đức con người và sự tồn tại, phát triển của Nhà nước Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng ta không thể không đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng

II.NỘI DUNG

Phật giáo ra đời từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại một vùng đất thuộc phía Bắc Ấn Độ(nay thuộc lãnh thổ Nêpan) người sáng lập ra là Thái tử Xitđacta (Buddha) pháp hiệu là Thích ca Mâu ni.Sự hình thành và phát triển của Phật giáo chia làm hai giai đoạn:Thứ nhất từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên đến giữa thế kỷ thứ IV trước công nguyên là thời kì hình thành Phật giáo,thứ hai

từ thế kỷ IV trước công nguyên đến công nguyên là thời kỳ bắt đầu Phật giáo chia làm nhiều tông phái khác nhau trong đó có hai tông phái lớn là Thượng tọa

bộ và Đại chúng bộ Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII là thời kỳ Phật giáo Đại thừa đối lập với Phật giáo Tiểu thừa.Sau thế kỷ thứ VIII Phật giáo đi vào suy tàn trước sự tấn công của Hồi giáo cho đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Phật giáo từng bước được khôi phục và trở thành tôn giáo của Ấn Độ

Nội dung tư tưởng của đạo Phật thể hiện trong lời nói của đức phật: “trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và lý giải các chân lý về các nỗi đau khổ và giải thoát các nỗi đau khổ Cũng như nước của đại dương chỉ có một vị mặn Học thuyết của ta chỉ có một vị, đó là sự cứu vớt” Như vậy, hạt nhân triết lý cơ bản của đạo phật là

đề cao tình yêu thương của con người đối với chúng sinh tập trung ở trong “tam tạng kinh điển”

Tam tạng kinh điển gồm:

Kinh Tạng: đây là bộ kinh ghi lại những lời dạy của đức Phật khi còn sống do đệ

tử của người là A – nan - đa tập hợp trong lần tập kết kinh điển lần thứ nhất Bộ Kinh Tạng gồm có: Trung bộ kinh; Tương ứng bộ kinh; Tăng bộ kinh; Tiểu bộ kinh

Trang 3

Luận Tạng: là sách ghi chép về giới luật do Phật định ra làm khuân phép cho các

đệ tử, nhất là giới tu hành noi theo Điểm khác biệt rõ nét nhất về giáo lý với các đạo khác chính là ở bộ kinh Luận Tạng này

Luật Tạng: là bộ kinh được các đại đệ tử của đức Phật ghi lại sau khi người qua đời Mục đích của Luật Tạng là nhằm giới thiệu giáo lý của đạo Phật một cách hệ thống và phê bình, uấn nắn những hiểu biết sai trái về đức Phật

Bên cạnh đó, tư tưởng triết học Phật giáo còn ảnh hưởng sâu sắc tín ngưỡng đa thần của người Arya, đặc biệt là ảnh hưởng triết lý từ đạo Bàlamôn như thuyết nhân – quả, thuyết luân hồi nghiệp báo Chính vì những yếu tố này mà về sau đạo Phật bị lên án, phê phán là tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh giai cấp

Nội dung tư tưởng triết lý cơ bản của đạo phật được thể hiện ở hai vấn đề chính

là quan niệm về thế giới quan và nhân sinh quan

Thứ nhất, quan niệm của Phật giáo về thế giới quan

Về thế giới quan, tư tưởng của Phật giáo tập trung ở những mặt cơ bản sau:

Vô tạo giả: Đạo Phật cho rằng thể giới do các loại vật chất tạo thành Mọi sự vật trong vũ trị gọi là “vạn pháp” không do bất kỳ một thần linh nào tạo ra bằng những phép màu mà là do những phần tử vật chất nhỏ bé nhất tạo nên Những vật chất nhỏ bé đó được gọi là “bản thể” hay ‘thực tướng” Đây được xem như là nội dung cơ bản nhất và khác tất cả các tôn giáo khác

Vô thường: Đạo Phật cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ bao la không đứng yên, không bất biến mà nó luôn luôn trong trạng thái biến đổi không ngừng là: thành – trụ – hoại – không đối với vạn vật trong vũ trụ, và: sinh – trụ – dị – diệt đối với các sinh vật

Phật giáo cho rằng: chết không phải là hết mà là chuẩn bị cho sự sinh thành mới Sinh – diệt là hai quá trình diễn ra đồng thời trong từng sự vật hiện tượng, không gian và thời gian gọi là “sắc – không’

Trang 4

Thuyết Nhân – Duyên: Phật giáo cho rằng: tất cả mọi sự vật hiện tượng chuyển động không ngừng, biến đổi không ngừng và chịu sự chi phối bởi quy luật nhân duyên Trong đó, nhân là một tạo quả còn duyên là phương tiện tạo ra tạo quả đó Khi nhân duyên hoà hợp thì sự vật sinh Khi nhân duyên tan rã thì sự vật diệt Các nhân duyên trong sự vật hiện tượng tác động chi phối lẫn nhau

Nội dung thế giới quan của đạo phật tập chung chủ yếu ở thuyết “duyên khởi” gồm 12 cái nhân duyên (nhị thập nhân duyên) Đó chính là nguyên nhân gây ra mọi nỗi khổ đau Nhân duyên được phân ra thành nhân (nguyên nhân) – duyên (hậu quả, kết quả) có quan hệ mật thiết với nhau Cái này là tiền đề của cái kia và ngược lại

Quan niệm về sự vật hiện tượng trong thế giới, đạo Phật đưa ra “sắc – không” để chỉ những sự vật có hình tướng mà con người có thể nhận thức được (sắc) và những sự vật không có hình tướng con người không thể nhận biết được

Quan niệm về thời gian và không gian:

Đạo Phật cho rằng: thời gian là vô cùng và không gian là vô tận Khi xem xét từng sự vật hiện tượng, đạo Phật chủ trương phải đặt những sự vật hiện tượng đó trong một khoảng không gian và thời gian nhất định Nghĩa là phải tìm hiểu sự vật hiện tượng từ điểm khởi đầu và kết thúc của nó

Nói tóm lại với những quan niệm về thế giới quan ở trên, tư tưởng triết lý đạo Phật đã mang nhiều yếu tố duy vật tiến bộ

Thứ hai Quan niệm của Phật giáo về nhân sinh quan

Đạo Phật cho rằng con người không phải do một thượng đế hay bất kỳ một đấng thần linh siêu nhiên nào tạo ra mà là do một “pháp” đặc biệt của thế giới tạo ra Pháp bao gồm hai phần là:

Phần sinh lý (còn gọi là “sắc uẩn”): là hình tướng được giới hạn trong xương, thịt, da Những vật chất này được tạo ra từ bốn yếu tố: địa (đất) – thuỷ (nước) – hoả (lửa) – phong (gió) Trong đó, địa tạo nên phần cứng trong cơ thể như phần

Trang 5

xương, lông, tóc, lục phủ ngũ tạng; Thuỷ tạo ra máu, mồ hôi…; Hoả tạo ra nhiệt cho cơ thể; Phong tạo ra khí thở…

Phần tâm lý (tinh thần ý thức): được tạo bởi tứ uẩn: Thụ – tưởng – hành – thức

và được biểu hiện bởi “thất tình”, cụ thể như sau: ái – ố – hỉ – nộ – ai – lạc – dục Theo đạo Phật, phần tâm lý muốn tồn tại phải luôn dựa vào phần sinh lý Bên cạnh đó, con người còn phải tuân theo “sinh – trụ – di – diệt” và sự giả hợp của

“ngũ uẩn” Khi ngũ uẩn hoà hợp thì còn người tồn tại và ngược lại thì con người chết, bị huỷ diệt

Nội dung tư tưởng, triết lý cơ bản của Phật giáo thể hiện rõ nhất ở “tứ diệu đế” -tức là 4 chân lý huyền diệu cao siêu để giải thoát nỗi khổ của chúng sinh gồm: Khổ

Đế – Tập Đế – Diệt Đế - Đạo Đế Đức Phật khẳng định: “trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và lý giải các chân lý về các nỗi đau khổ và giải thoát các nỗi đau khổ Cũng như nước của đại dương chỉ có một vị mặn Học thuyết của ta chỉ có một vị,

đó là sự cứu vớt”

+ Khổ đế:

Là chân lý bàn về các nỗi khổ của con người Đạo phật cho rằng cuộc sống con người là khổ ải Khổ đau là tuyệt đối, là bản chất của sự tồn tại của cuộc sống Cuộc sống của chúng sinh là bể khổ Trong các nỗi khổ mà từng chúng sinh phải chịu đựng có bốn nỗi khổ lớn gọi là “tứ khổ”: sinh – lão – bệnh – tử khổ

Ngoài ra, Phật giáo còn khẳng định nỗi khổ của chúng sinh tồn tại ở những dạng khác như:

Ái biệt ly khổ: tức yêu nhau mà không được ở gần nhau là khổ;

Sở cầu bất đắc khổ: tức mong muốn mà không được như ý là khổ;

Ngũ thủ uẩn khổ: tức các cơ quan của cơ thể không hoàn thiện là khổ;

Trang 6

Oán tăng hội khổ: tức là thù ghét là khổ;

Thân là gốc của nỗi khổ;

Các thứ bệnh tồn tại trong cơ thể là khổ;

Chết vì nhiều nguyên nhân; bất hòa; khổ do ngoại cảnh gây nên mà không biết được lý do

+ Tập đế

Là sự tập hợp chứa đựng những chân tướng những sự khổ não, là nguyên nhân về các nỗi khổ đau Đạo phật cho rằng nguyên nhân của khổ đau là do dục vọng – tham muốn của con người gây nên và đến khi chết vẫn phải chịu khổ đau Tất cả những nỗi khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu là do “nhị thập nhân duyên” tạo

ra mà khởi đầu là “vô minh”

+ Diệt đế

Là chân lý về cách giải thoát con người khỏi nỗi khổ đau Đạo Phật cho rằng chúng sinh muốn thoát khỏi mọi sự khổ đau thì phải từ bỏ mọi ham muốn, dục vọng, sự giận giữ và mê muội

Ham muốn hay dục vọng của con người là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nỗi khổ đau còn nguồn gốc sâu xa là từ “nhị thập nhân duyê” mà bắt đầu từ “vô minh” Cho nên theo đạo Phật, chúng sinh muốn diệt trừ nỗi khổ thì đầu tiên phải diệt trừ

“vô minh’ Vì “vô minh” bị diệt thì trí tuệ mới sáng và hiểu rõ được bản chất sự tồn tại không còn dục vọng, không còn hành động sai quấy để tạo ra “nghiệp” Và chỉ có như vậy, chúng sinh mới thoát khỏi nỗi khổ vòng luân hồi sinh – lão – bênh – tử

+ Đạo đế

Trang 7

Là chân lý về các con đường đúng đắn để giải thoát con người Đây chính là xuất phát từ sự đúc kết quá trình tu hành đắc đạo của đức Phật

Đạo Phật đưa ra lý luận về “tam học” là: giới - định – tuệ Đây chính là quá trình tu hành để đạt đến giác ngộ

Giới: là những điều cấm quy định với những người tu hành để không phạm sai lầm

do thân và ý tạo ra

Định: là phương pháp làm cho người tu hành không tán loạn phân tâm, loại trừ ý nghĩ sai lầm tạo điều kiện cho trí tuệ bừng sáng

Tuệ: là yêu cầu đòi hỏi phải có trí tuệ sáng suốt để diệt trừ vô minh, tham dục chỉ

có như vậy mới diệt trừ được nỗi khổ

Trong ba yếu tố trên, Giới được nhà Phật coi là quan trọng nhất, ngăn cản con người không phạm vào “ngũ giới” (còn gọi là năm điều cấm) là: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không bịa đặt, không uống rượu để định và tuệ phát sáng

Theo đạo Phật, gồm có tám con đường – cách để giải thoát nỗi khổ gọi là “bát chính đạo”

Chính kiến: nhận biết đúng đắn

Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn

Chính ngữ: nói năng đúng đắn

Chính nghiệp: hành động đúng đắn

Chính mệnh: kiếm sống đúng đắn

Chính tịnh tiến: nỗ lực đúng đắn, phải từ bỏ điều ác làm điều thiện

Trang 8

Chính niệm: thương nhớ – tưởng nhớ đúng đắn phải tập chung tâm và thần vào suy nghĩ, lời nói, hành động đúng

Chính định: tập chung tinh thần vào một đạo đúng đắn

Để theo đuổi được những con đường này và giải thoát mình khỏi mọi nỗi khổ đau, người tu hành phải thực hiện những điều kiêng kị là “ngũ giới”

Như vậy, với những quan niệm triết lý về thế giới quan và nhân sinh quan của đạo Phật cho thấy tất cả những quan niệm này nhằm chống lại đạo Bàlamôn, chốnglại

sự bất bình đẳng trong xã hội Chính vì lẽ đó mà những tư tưởng cơ bản của triết lý Phật giáo mang nhiều yếu tố duy vật sơ khai tiến bộ gắn bó với cuộc sống của con người Từ quan niệm trên, đạo Phật không thừa nhận xã hội có đẳng cấp Đức phật nói rằng “không thể có đẳng cấp trong những dòng máu cùng đỏ như nhau Không thể có đẳng cấp trong những giọt nước mắt cùng mặn như nhau”

Về tích cực

+ Chủ trương giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đau; thực hiện bình đẳng giữa các chúng sinh chống lại quan điểm phân biệt đẳng cấp, khuyên con người phải thương yêu lẫn nhau Đây chính là tư tưởng nhân văn cao cả phù hợp với đại

bộ phận nhân dân bị áp bức, đáp ứng nhu cầu của xã hội đương thời và chống lại chế độ đẳng cấp Vacna hà khắc Và trên thực tế, đạo Phật góp phần làm loãng rất nhiều quan niệm khắt khe của đạo Bàlamôn và Vacna

+ Trong hoàn cảnh xã hội ấn Độ thời cổ đại, đạo Phật đã đề ra được lý thuyết về con đường giải thoát về mặt ý thức Điều này làm cho quần chúng nhân dân tin tưởng vì tìm thấy ở đạo này một sự an ủi, một niềm tin vào tương lai

+ Nghi lễ đạo phật rất đơn giản, điều này phù hợp với hoàn cảnh của người dân lao động nghèo khổ thuộc các đẳng cấp dưới cho nên nó được hưởng ứng nhiệt tình Đạo phật phản ánh tình yêu thương đồng loại

Về tiêu cực

Trang 9

Giáo lý của đạo phật về nguồn gốc các nỗi khổ đau không phù hợp với thực tế Học thuyết tự tu dưỡng của đạo Phật không góp phần làm giảm mâu thuẫn xã hội

mà đẩy mâu thuẫn đó lên đỉnh cao của nó Và đương nhiên những tư tưởng của đạo Phật không hợp với một xã hội còn đầy dẫy những bất công trong xã hội ấn Độ cổ đại bấy giờ

Nhưng xét cho cùng, sự ra đời của đạo Phật với những tư tưởng triết lý cơ bản trên cũng đã có thể coi là một cuộc cách mạng vĩ đại trong xã hội ấn Độ cổ đại chống lại những luật lệ hà khắc do chế độ đẳng cấp Varna, luật Manu và đạo Bàlamôn tạo nên Chính vì lẽ đó, đạo Phật ra đời nhanh chóng phát triển mạnh mẽ về số lượng tín đồ và trở thành tôn giáo thế giới Và đương nhiên, những nhà sư chân đất với màu vàng thánh thiện của Phật đã tiếp tục sự nghiệp giải thoát nỗi khổ đau của con người

Sau khi đức Phật về cõi cực lạc, trên cơ sở của sự phát triển Phật giáo, các đệ tử cảu Phật đã định kỳ họp lại Tại các cuộc họp về sau càng bất đồng ý kiến giữa các chư tăng, thượng toạ về việc hiểu và giảng chú kinh Phật Xuất phát từ nguyên nhân này mà trong bản thân tôn giáo này đã có sự phân chia dẫn đến hình thành các tông phái khác nhau:

Phái của các vị trưởng lão, gọi là phái Thượng Toạ (Theravada) theo xu hướng bảo thủ, chủ trương bám sát kinh điểm, giữ nghiêm giới luật Phật tử chỉ giác ngộ được cho bản thân mình, chỉ thời đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đắc đạo chỉ lên được La Hán, thoát khỏi cảnh luân hồi, tai sinh

Phần đông tăng chúng còn lại không tán đồng, họ công khai lập hội nghị riêng, lập

ra phái Đại Chúng (Mahasangika), chủ trương không câu nệ cố chấp vào kinh điển, khoan dung, độ lượng trong việc thực hiện giáo luật, thu nạp rộng rái tất cả những

ai muốn quy y, giác ngộ giải thoát cho nhiều người, thờ nhiều Phật, nhân vật lý tưởng của phái là Bồ Tát

Trang 10

Tại các lần tập kết lần thứ ba và thứ tư, phái Đại Chúng soạn ra kinh sách riêng và

tự xưng là Đại Thừa (Mahayana), nghĩa là “cỗ xe lớn”, “con đường giải thoát lớn” Còn phái Thượng Toạ được gọi là phái Tiểu Thừa, nghĩa là “cỗ xe nhỏ”, “con đường giải thoát nhỏ”

+ Phái Nam Tông (hay còn gọi là phái Tiểu Thừa)

+ Phái Bắc Tông (hay còn gọi là phái Đại Thừa)

Từ hai tông phái này, Phật giáo lại chia nhỏ thành những tông nhánh khác Trong

đó, phái Nam Tông đi truyền bá sớm hơn sang vùng Đông Nam á cổ đại còn phái Bắc Tông thì truyền bá muộn hơn và địa bàn chủ yếu ở vùng Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên Nhưng càng về sau thời Bắc thuộc và trung – cận đại, phái Bắc Tông càng phát triển mạnh dẫn đến quá trình truyền bá lại những nơi đã

có Phật giáo: Phật giáo Nam Tông

Cứu vớt và giải thoát luôn là mục đích và nội dung của nhân sinh quan, tư tưởng triết học đạo phật Phật giáo bác bỏ “sự tồn tại” của “đấng sáng tạo” nhưng lại tiếp thu tư tưởng “luân hồi”, nghiệp” từ Bà- la-môn Nhân sinh quan phật giáo là nói gọn là giải pháp luận Tuy vậy, hạn chế là để đạt mục đích cuối cùng, Phật giáo lại thực hiện bằng cách loại bỏ dần nguyên nhân của sự tồn tại của thế giới hiện thực Bởi lẽ: Đối tượng giải thoát và cứu rỗi của Phật giáo là tất cả chúng sinh Niết bàn hay trạng thái giải thoát chính là trạng thái đã đoạn trừ được những ràng buộc trần thế những đau khổ phiền não do “vô minh”, “tham dục” gây ra Niết bàn là trạng thái tâm hồn hoàn toàn được giải thoát, tĩnh lặng, trong sáng thanh tịnh, cực lạc siêu không gian, siêu thời gian

Trong suốt quá trinh hình thành và phát triển, Phật giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc trên nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục Có thể nói, Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp phần định hình nên các quan niệm, chuẩn mực, hệ giá trị đạo đức

Ngày đăng: 03/05/2019, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w