aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 2triển du lịch Tuy nhiên tài nguyên rừng không phải là vô tận, nếu không được bảo tồn vàkhai thác hợp lý nó sẽ dần bị hủy hoại bởi các hoạt động của con người.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2018, nước ta có14.491.295 ha rừng, độ che phủ là 41,65%, tăng 3,45% so với năm 2008 Tuy nhiên trênthực tế tại Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồnrừng Trong đó đặc biệt có thể kể tới việc suy giảm diện tích rừng nguyên sinh Theo báocáo của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2005, Việt Nam
là quốc gia có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh cao thứ 2 thế giới, chỉ sau Nigeria Nguyênnhân chính là do công tác quản lý còn yếu kém và tham nhũng, tiếp tay cho lâm tặc hayphê duyệt các dự án chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang mục đích khác Chính vì vậy việcnâng cao chất lượng công tác quản lý và xã hội hóa, dân chủ hóa việc quản lý môi trườngrừng đang là một hướng đi mới vô cùng phù hợp và hiệu quả tại Việt Nam Và để pháttriển theo hướng đi đó, chúng ta có thể áp dụng phương pháp quản lý môi trường rừngdựa vào cộng đồng
Vườn Quốc Gia Ba Vì nằm tại địa bàn thành phố Hà Nội và một phần của tỉnhHòa Bình với diện tích 11.462 ha (theo cục Kiểm Lâm) Nơi đây có tài nguyên rừng vôcùng phong phú với 8.192,5 ha trong đó 51,27% là rừng tự nhiên và 2.752 ha là rừngnguyên sinh VQG Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao, 45 loài thú, 115 loài chim, 27loài lưỡng cư, 61 loài bò sát, 86 loài côn trùng, trong đó có 23 loài động vật quý, hiếm cótrong sách đỏ (theo ban quản lý VQG) Dân cư ở VQG Ba Vì chủ yếu là dân tộc thiểu sốvới người Mường chiếm 77,3% dân số (theo số liệu từ UBND tỉnh) và phụ thuộc vào khuvực vườn Quốc gia bởi các hoạt động kinh tế từ du lịch, trồng rừng, cây ăn quả, trồngmốc lấy măng và làm thuốc nam
Việc bảo tồn VQG Ba Vì phải phụ thuộc rất nhiều vào người dân ở 7 xã thuộc khuvực đệm của Vườn Quốc Gia Chính vì vậy việc đảm bảo sinh kế, nâng cao đời sốngngười dân nơi đây đồng thời giúp người dân có thể mưu sinh một cách bền vững, khônggây ra những tác động xấu tới tài nguyên rừng là vô cùng quan trọng Chính vì vậy, nhóm
đã quyết định thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã
Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.
Trang 32 Mục tiêu:
- Tìm hiểu hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì
- Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì
3 Nội dung
- Xác định hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì
- Xác định mức độ và khả năng tham gia vào mô hình sinh kế mới của người dân xã BaVì
- Đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM.
1.1 Cơ sở lý luận quản lý rừng dựa vào cộng đồng
1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)
- PFM: participation forest management là một thuật ngữ chung mô tả cộng đồng trong quản lý rừng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) là một dạng của phương pháp PFM và được áp dụng cho khu đất thuộc quản lý cấp xã, những khu rừng giao cho tư nhân quản lý hoặc được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia quản lý rừng thuộc nguồn gốc hình thành thứ ba Rừng trong trường hợp này cộng đồng là những chủ thể quản lý trực tiếp tham gia và được hưởng lợi
1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM
- Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: quản lý rừng dựa vào cộng đồng đưa ra hình thức quản lý rừng ở cấp xã, nơi mà người dân địa phương đóng vai trò vừa là người quản
lý vừa là chủ rừng Để triển khai mô hình này một cách tốt nhất thì một cơ quan ở cấp xã
là đại diện triển khai mô hình này Vai trò của cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp đỡngười dân quản lý rừng một cách hiệu quả và bền vững
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình có thể áp dụng cho tất cả các loại rừng:
+ CBFM có thể áp dụng cho bất kỳ loại rừng nào, những khu rừng có độ đa dạng sinh học cao hay thấp, rừng nguyên sinh hay rừng đã bị suy kiệt, những khu rừng rộng lớn hay nhỏ… điều quan trọng nhất là ta cần hiểu được rằng CBFM được áp dụng cho những khu rừng và đất rừng thuộc địa bàn xã chứ không áp dụng mô hình này cho những khu bảo tồn của địa phương hay quốc gia Mục tiêu của mô hình CBFM có thể là bảo tồn
và phát triển cả rừng phòng hộ và sản xuất hoặc hỗn hợp cả hai loại rừng này Trong một vài trường hợp, người dân mong muốn bảo tồn rừng của họ vì truyền thống hoặc những mục đích thiêng liêng, trong một vài trường hợp khác nó có thể để bảo vệ một nguồn nước quan trọng
Trang 5- Người dân là mục tiêu tổng quan nhất của mô hình CBFM: người dân địa phương hoặc cộng đồng trong trường hợp này là những người sống trong hoặc sống ngay bên cạnh những khu rừng thuộc địa bàn xã của họ Mối quan hệ lâu đời giữa người dân và những khu rừng và sự gần gũi của họ với rừng khiến họ trở thành những người tốt nhất để quản
lý rừng bền vững
- Cộng đồng không chỉ là những người bảo vệ mà còn là những người có quyền ra quyết định: việc quản lý trong mô hình CBFM bao gồm tất cả những hình thức quản lý rừng, bảo vệ rừng, đánh giá rừng thường kỳ, trồng rừng và những hoạt động phục hồi và phát triển khả năng sản xuất của rừng Người dân không chỉ phải có trách nhiệm quản lý rừng đúng với mục đích mà còn có quyền đưa ra các quyết định Điều này đã định hướng cho cách thức hoạt động của mô hình CBFM là một chiến lược phân chia quyền lợi Nó thực thi dựa trên cơ sở các chính sách của nhà nước trong việc cho phép sự tham gia của ngườidân địa phương trong quản lý rừng và thực tế cần đưa ra những biện pháp kiểm soát và quản lý ở cấp địa phương hợp lý hơn Nó tập trung vào bảo tồn những khu rừng không chỉ thông qua việc phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn phân chia quyền
sử dụng hay hưởng lợi từ chúng Vì vậy mục tiêu của mô hình này là cộng đồng không chỉ là những người hưởng lợi thụ động mà còn là những người hưởng tiền hoa lợi mà gắnvới đó là trách nhiệm quản lý rừng
- Tối ưu hóa cơ cấu tổ chức xã hiện hành: CBFM không tạo ra những tổ chức, cơ quan mới nhưng nó dựa vào cơ cấu hiện hành để tồn tại Xã là đơn vị hành chính thấp nhất, là tập hợp một cộng đồng người được thừa nhận là cùng chung sống trên một khu vực cụ thể và có quyền bầu ra bầu ra cơ quan hành chính làm đại diện cho quyền lợi của cộng đồng (ủy ban nhân dân xã) để quản lý những công việc của xã Ủy ban nhân dân xã đã đóng vai trò khá tích cực và có khả năng để vận hành mô hình CBFM tốt ủy ban nhân dân xã có quyền ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động của các thực thế trong phạm vi địa lý của xã đó, ủy ban nhân dân xã cũng là cơ quan
có trách nhiệm pháp lý đối với những người dân, hoạt động vì lợi ích của người dân Ranh giới giữa các xã có thể phân chia dựa theo những ranh giới tự nhiên, hoặc những ranh giới chạy qua các khu rừng
Trang 6- Sử dụng khu đất dự trữ như là nền tảng cơ bản CBFM được dựa trên khu đất dự trữ đó
để xây dựng một vùng phát triển rừng (phòng hộ hoặc/và sản xuất) hai quá trình phân chia đất dự trữ quan trọng diễn ra trong CBFM:
+ Người dân được giúp đỡ về kỹ thuật để xác định đặc tính của đất và phân loại quỹ đất dự trữ ra khỏi những khu đất khác thuộc địa bàn xã
+ Những nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng được giúp đỡ để xác định đặc tính và phân chia những khu đất rừng dự trữ mà họ sẽ cùng nhau làm chủ
- Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp:
Theo truyền thống, cán bộ kiểm lâm huyện đóng vai trò như một cảnh sát Theo mô hình mới, cán bộ kiểm lâm huyện hiện nay có một chức năng mới là giúp người dân nhận biết,điều tra và quản lý rừng của họ vì lợi ích chung của cộng đồng Cán bộ kiểm lâm giống như một đối tác của cộng đồng, tư vấn cho họ làm cách nào để quản lý rừng tốt nhất trong cả ngắn hạn và dài hạn phương pháp luận của việc thiết lập mô hình CBFM dựa vào cán bộ lâm nghiệp như là những cố vấn viên (khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn) trong khi đang làm thay đổi mối quan hệ giữa cán bộ kiểm lâm với cộng đồng: từ vai trò người chỉ đạo sang:
+ Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng: cung cấp những thông tin kỹ thuật thích hợp + Tạo ra sự liên kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện
+ Người trung gian hòa giải giữa các cộng đồng hoặc giữa các nhớm
+ Cảnh giới môi trường: cán bộ kiểm lâm giám sát tiến độ thực thi và họ biết lúc nào cần hỗ trợ, lúc nào cần can thiệp nếu cộng đồng không tuân theo cam kết quản lý rừng đã được ký kết
Trong khi những kiến thức chủ yếu không phải từ đào tạo mà từ thực tế, những thành quảđạt được thông qua cách giải quyết hợp lý khi cộng đồng phải đối mặt với một vấn đề và khả năng nhận dạng và giải quyết các vấn đề tiếp theo được nâng lên.Hướng dẫn chứ không phải ra lệnh, nhân viên kiểm lâm là những người giúp đỡ và tư vấn cho người dân địa phương
1.1.3 Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM
- Giai đoạn 1: Khởi động
Trang 7Giai đoạn này được triển khai ở cấp huyện, với việc lựa chọn những xã và hướng dẫn cho cán bộ huyện cộng với đó là hình thành một nhóm cán bộ với những kỹ năng khác nhau để làm việc ở cấp xã Tổ chức các cuộc gặp và cuộc họp cấp xã để việc thiết lập và định hướng cho bản cam kết được thuận lợi hơn.
- Giai đoạn 2: Thực hiện quản lý và đánh giá
Giai đoạn này bắt đầu bằng việc xác định và quy hoạch lại ranh giới về đất và rừnggiữa các xã Sau đó rừng sẽ được rà soát hoặc đánh giá và dựa vào đó một kế hoạch quản
lý sẽ được đưa ra cùng với những quy định của xã
- Giai đoạn 3: Chính thức hóa và hợp pháp hóa
Kế hoạch quản lý và những quy định riêng của xã được đưa ra trong những cuộc họp cấp xã để được thông qua và cuối cùng là được chấp thuận bởi ủy ban nhân dân cấp huyện khi đã được phê duyệt, xã có thể chuyển sang giai đoạn 4 và bắt đầu thực hiện kế hoạch quản lý rừng của họ
- Giai đoạn 4: Thực thi
Giai đoạn này sẽ được triển khai ở cộng đồng hệ thống quản lý rừng cần bổ nhiệm
và đào tạo đội tuần tra với chức năng ban đầu là giám sát và đảm bảo rằng những quy định đã được phổ cập tới từng người dân Huyện đảm nhiệm vai trò quan trắc và hỗ trợ bằng việc giám sát tiến độ và giúp giải quyết các vấn đề
- Giai đoạn 5: Xem xét và đưa ra những đề xuất hợp lý
Sau năm năm cộng đồng sẽ được xem xét và phê duyệt lại kế hoạch quản lý của họdựa vào những gì đã làm được trong khoảng thời gian đó Từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và thay đổi những cách thức không còn phù hợp
- Giai đoạn 6: Mở rộng mô hình sang những địa bàn khác
Giai đoạn này là giai đoạn triển khai mô hình ở những xã khác Trong suốt giai đoạn này chúng ta cần đưa ra những kế hoạch cụ thể và dự thảo ngân sách cho việc mở rộng mô hình sang xã khác
Trang 81.2 Tổng quan mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) ở Việt Nam
1.2.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)
Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi, thôn, bản,buôn là đơn vị xã hội truyền thống, cơ bản trong nông thôn, miền núi cấu thành đơn vịhành chính cơ sở, có tính tương đối độc lập và ổn định cao, là cộng đồng dân cư tự nhiêncủa các tộc người có mối quan hệ ràng buộc, bởi có chung các yếu tố như: chung nơi cưtrú, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, chung văn hóa, biểu hiện rõ nét trong ngôn ngữ và tậpquán thống nhất của cộng đồng và chung huyết thống Mỗi thôn buôn đều có quy định rõràng về đất đai của mình Ranh giới thường căn cứ vào sông suối, mảnh đất, vạt ruộng mà
cư dân trong thôn, bản canh tác từ lâu đời… Có thể có những đường ranh giới chỉ mangtính ước lệ, nhưng đều được các cộng đồng thôn bản bên cạnh thừa nhận và tôn trọng.Ranh giới này thường do người già và người có công khai phá vùng đất đó hoạch định.Cương vực của thôn không phải chỉ là khu vực đất cư trú, thường bao gồm: đất ở, đấtcanh tác, là những phần rừng đã được khai phá đưa vào canh tác: nương rẫy đang gieotrồng, ruộng bãi… đất dự trữ là những cánh rừng sẽ được khai phá trong thời gian nhữngmùa rẫy sắp tới và những rẫy cũ đang bỏ hoá, đất cấm canh tác là những rừng đầu nguồnnước, rừng trên chóp núi để giữ nước, chống xói mòn và những khu rừng làm nơi chôncất người chết, rừng thờ cúng, rừng thiêng, rừng sử dụng vào mục đích lấy gỗ, lâm sản,săn bắn; bến nước, nơi đánh bắt cá… Các dân tộc thiểu số thường có có tập quán quản lýcộng đồng với đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong địa phận thôn buôn Trước đây, vớitập quán làm nương rẫy phổ biến thì tài nguyên quan trọng đối với cộng đồng là rừng vàđất rừng Tuy có vài khía cạnh khác nhau, nhưng nét đặc trưng chung nhất trong việcquản lý đất đai, tài nguyên của các dân tộc thiểu số là quản lý theo cộng đồng thôn buôn,bản Theo các quan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sở hữu và quyền sử dụngđất đai, tài nguyên rừng trong thôn là sở hữu cộng đồng, của tất cả các thành viên trongthôn bản, mọi thành viên trong cộng đồng đều được bình đẳng trong việc khai thác sửdụng theo luật tục/quy ước của thôn do sự điều khiển của già làng, trưởng bản, ngườingoài cộng đồng không được vi phạm
Trang 9Chẳng hạn người dân ở vườn quốc gia Ba Vì có tập quán phân loại rừng núi thànhcác khu vực, nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống cộng đồng: rừng phòng
hộ nằm trên các khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác, rừng dành cho việckhai thác tre gỗ dựng nhà và các nhu cầu khác thì tuyệt đối không được phát nương làmrẫy, thường là vùng núi cao
Ở Việt Nam rừng và cộng đồng dân cư địa phương có mối quan hệ rất mật thiết, cóảnh hưởng qua lại trực tiếp với nhau bởi các đặc điểm sau:
- Đặc điểm về tập quán Trên diện tích đất quy hoạch cho sản xuất Lâm nghiệp có
khoảng 24 triệu dân sinh sống với 54 dân tộc, chủ yếu sinh sống ở vùng núi Đời sốngcủa đồng bào rất gắn bó với rừng, một số lượng không nhỏ dân cư này có cuộc sống phụthuộc vào rừng, từ đất rừng để làm nương rẫy, đến khai thác gỗ, củi thu hái lâm sản vàsăn bắt chim thú
- Đặc điểm về xã hội Trong đời sống xã hội của người dân vùng Ba Vì thì tính
cộng đồng thôn bản là một thể chế xã hội cơ bản đã có từ lâu và đến nay vẫn còn tồn tại.Mỗi khu vực có một lối sống riêng, một quy ước riêng do cộng đồng tự xác lập, được cáccộng đồng khác thừa nhận và tôn trọng Các cộng đồng này có truyền thống riêng về sởhữu, sử dụng đất đai, trong đó tính sở hữu theo quản lý cộng đồng là một đặc điểm nổibật Qua nhiều biến động về chính trị xã hội, các truyền thông trên tuy có bị mai một,nhưng vẫn được duy trì trong công tác quản lý rừng
1.2.2 Xu thế của quản lý rừng dựa vào cộng đồng của Việt Nam
Rừng cộng đồng đang tồn tại như một xu thế mang tính khách quan và ngày càng
có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tính đếnnay diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý chiếm khoản 15,5% diệntích đất lâm nghiệp của cả nước (Trong đó được cấp có thẩm quyền giao chiếm khoảng51%) Vị trí pháp lý của cộng đồng dân cư làng bản, trước khi có Luật bảo vệ và phát triểnrừng công bố năm 2004 Trong thời gian gần đây đã có một số Nghị quyết của Đảng vàvăn bản của Chính phủ đề cập đến một số nội dung có liên quan đến vị trí của cộng đồngdân cư làng bản như là:
- Xác định nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng hương ước
Trang 10- Xác định các vùng người dân xung quanh không phải là một cấp chính quyền,nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp
và rộng rãi nhằm giải quyết công việc trong một bộ phận cộng đồng dân cư Người đạidiện cho cộng đồng dân cư trực tiếp liên hệ, đề đạt nguyện vọng của cộng dân cư với cấpchính quyền cơ sở (uỷ ban nhân dân xã) Người đại diện do nhân dân bầu ra và được uỷban nhân dân xã công nhận
- Điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư Có cùng phong tục, tập quán, cótruyền thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hóa, tín ngưỡng, cókhả năng quản lý rừng, có nhu cầu được giao rừng và phải phù hợp với quy hoạch, kếhoạch bảo vệ và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với khả năng qũy đất của địa phương
- Các khu rừng được xem xét giao cho cộng đồng thôn gồm có 3 loại:
+ Các khu rừng hiện do cộng đồng thôn đang quản lý có hiệu quả
+ Các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng và lợi ích kháccủa cộng đồng mà không thể giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý
+ Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các xã, huyện, không thể giao cho tổ chức hộgia đình, cá nhân quản lý
1.2.3 Một số kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam
a Xã Phúc Sen - Cao Bằng
Xã Phúc Sen là một xã vùng cao với dân số 2.027 người, trong đó đa số là ngườidân tộc Nùng An, sống ở 12 bản Người dân sống bằng nghề nông và ít liên hệ với thị xãCao Bằng, nơi cách xã Phúc Sen khoảng 40 km Xã Phúc Sen có diện tích 1.300 ha trong
đó 23 ha là khu dân cư, 267 ha là đất nông nghiệp và 1.010 ha là đất rừng Trước đây,nhân dân xã Phúc Sen đã phải đương đầu với tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng vàngười dân có mức sống rất thấp từ năm 2003 thực hiện áp dụng mô hình quản lý rừngdựa vào cộng đồng cuộc sống của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác Việc giao đấtđược thực hiện chủ yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại hiện trường Mỗilàng được giao quản lý hai hay ba ngọn núi đá vôi riêng biệt hay một nửa sườn núi.Thông qua việc bàn bạc và dàn xếp với dân làng, xã đã giao rừng trên cơ sở vị trí đất
Trang 11rừng, khả năng quản lý rừng và mức độ phụ thuộc vào các khu rừng đó của người dân.Sau đó các bản làng lại giao lại cho các hộ dân sử dụng và quản lý dựa trên các quy địnhriêng của từng bản, làng Trong diện tích do bản quản lý, người dân được phép lấy củi saukhi đã được phép của lãnh đạo trong bản Nếu xảy ra tình trạng chặt cây trái phép, thìngười vi phạm bị phạt 5kg gạo cho 1kg củi chặt trái phép Sau hơn 5 năm thực hiện môhình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã mang lại cho người dân cũng như những khurừng nơi đây những thay đổi đánh kể các khu rừng già bị chặt phá trước dây đã phục hồibình tốt che phủ một diện tích trên 71 ha Khoảng 176 ha đã tái sinh tốt và bình quân một
ha có 412 cây con được trồng bổ sung Đời sống của người dân trong bản được nâng caonhờ các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ
b Sơn La
Sơn La là tỉnh vùng cao nằm phía Tây Bắc Việt Nam Tổng diện tích tự nhiên toàntỉnh là 1.421.000 ha Trong đó đất lâm nghiệp có 1.034.100 ha, đất nông nghiệp có147.360 ha, đất khác và núi đá chiếm 239.530 ha Trong điều kiện khi mà tài nguyênrừng đã cạn kiệt, nền nông nghiệp đang đứng trước những thử thách mới Sơn La đã ápdụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng LâmNghiệp đang dần chuyển hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xâydựng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nônglâm kết hợp Bình quân mỗi năm tỉnh đã trồng 4000 – 5000 ha rừng tập trung, hơn 1 triệucây phong trào, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha, bảo vệ 162.000 ha rừng hiện còn, đưa độche phủ rừng lên 11,5% 25.000 hộ nông dân đã nhận khoán bảo vệ rừng Bộ mặt nôngthôn đang từng bước được cải thiện về thu nhập: có 1,72% số hộ giàu, 8,3% hộ khá,70,3% hộ trung bình, còn 19,5% hộ nghèo Đổi mới sinh hoạt của hộ gia đình: nhà kiên
cố 10,45%, nhà bán kiên cố 31,36%, được dùng điện 28,25%, dùng nước giêng 17,15%
1.3 Tổng quan về vườn quốc gia Ba Vì
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Trang 12- Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai Thànhphố Hà Nội, huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 60Km theođường Quốc lộ 21A, 87.
+ Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh thuộc huyện Ba Vì – TP Hà Nội + Phía Nam giáp giác xã Phúc Tiến, Dân Hòa thuộc huyện Kỳ Sơn, xã Lâm Sơn thuộchuyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
+ Phía Đông giáp các xã Vân Hòa, Yên Bài thuộc huyện Ba Vì, xã Yên Quang thuộchuyện Lương Sơn, các xã Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân thuộc huyện Thạch Thất, xãĐông Xuân thuộc huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội
+ Phía Tây giáp các xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội, và xã PhúMinh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Vườn quốc gia Ba Vì có tọa độ địa lý:
+ Từ 20055′ – 21007′ Vĩ độ Bắc
+ Từ 105018′ – 105030′ Kinh độ Đông
- VQG Ba Vì chia làm 3 phân khu hệ sinh thái gồm: phân khu bảo tồn nguyên vẹn rừng
nguyên sinh với diện tích 2.752 ha, phân khu phục hồi sinh thái 8.279 ha và diện tích cònlại thuộc phân khu dịch vụ hành chính hệ sinh thái rừng tạo nên một màu xanh từ 3 thảmthực vật chính là: loại rừng kín lá rộng – một quần thể nguyên sinh với đầy đủ các loạicây bản địa tập trung ở núi Ngọc Hoa, Tản Viên, Đỉnh Vua với độ cao 1000 m trở lên (somực nước biển) loại rừng kín xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim của rừng nhiệt đới núithấp với độ cao 900 m và loại rừng thưa nhiệt đới phân bổ đều khắp ở vành đai có độ cao400-700 m xung quanh sườn núi Ba Vì
b Địa hình:
Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bán sơn địa, vùngnày trông như một dải núi nổi lên giữa đồng bằng chỉ cách hợp lưu sông Đà và SôngHồng 20Km về phía Nam
Trong Vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m như Đỉnh Vua(1296), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên Nam (1081m) vàmột số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm 776, đỉnh Gia Dê 714m…
Trang 13Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theo hướng Đông – Tây
từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài 9km Dải dông thứ 2chạy theo hướng Tây – Bắc – Đông – Nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýtdài 11km, sau đó dảy này chạy tiếp sang Viên nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình)
Ba Vì là một vùng núi có độ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ cuống sông Đà, dốc hơn sovới sườn Tây bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là 250, càng lên cao độ dốccàng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là 350, và có vách đá lộ, nên việc đilại trong Vườn là không thuận lợi
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Xã hội:
Dân tộc và dân số: Trên địa bàn 16 xã có 5 dân tộc sinh sống: Mường, Kinh, Dao,Thái và cao Lan Dân số có 89.928 (năm 2008) Dân tộc Mường chiếm 77%, Kinh chiếm33%, Dao 1%, Thái, Cao Lan 1%
Lao động và việc làm: Tổng số lao động trong vùng chiếm 55% dân số chủ yếu làmnông nghiệp Theo báo cáo của các địa phương hiện còn 2.121 hộ nghèo, chiếm 10.3% số
hộ trong vùng Xã Khánh Thượng là xã có tỷ lệ nghèo nhiều nhất
Cơ sở hạ tầng ở vùng đệm khá thuận lợi, các xã đều có đường liên xã được trảinhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã, đường từ trung tâm xã đến các thôn còn là đường cấpphối và đường đất
Khó khăn: Khu vực VQG Ba Vì chủ yếu là người dân tộc thiểu số Trong đó dân tộc
Mường có tỷ lệ khá cao, chiếm 77,3% dân số trong vùng, trình độ dân trí thấp, tập quáncanh tác lạc hậu, đời sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp,thu nhập thấp, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, nhàvăn hóa, chợ đều thiếu, các phương tiện truyền thông còn thiếu Đội ngũ cán bộ còn yếu
về chuyên môn là những trở lực không nhỏ cho quá trình hội nhập và phát triển
Thuận lợi: Công tác tuyên truyền giáo dục của đội ngũ cán bộ cơ sở tốt nên, người
dân trong khu vực đã có ý thức bảo vệ rừng, môi trường sinh thái Đến nay hầu nhưkhông còn hiện tượng đốt nương, làm rẫy Tài nguyên rừng đang được duy trì, phát triểntốt Lực lượng lao động trên địa bàn khá dồi dào, có thể tham gia nhận khoán, bảo vệ,
Trang 14khoanh nuôi, trồng rừng Các chương trình dự án như: chương trình 327/CP, 661/CP,134/CP của Chính phủ bước đầu đã cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng, lâm nghiệp pháttriển, người dân có nhiều kinh nghiệm làm nghề lâm nghiệp và nâng cao ý thức bảo vệrừng.
b Hoạt động kinh tế
Hoạt động kinh tế của dân cư vùng đệm chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước vàcây hoa màu Riêng đồng bào Dao có truyền thống du canh du cư nên đã gây ra sức épvới rừng tự nhiên Hiện nay, một phần dân vùng đệm chuyển sang trồng rừng và trồngcây ăn quả Cùng với sản xuất, dân cư địa phương các xã vùng đệm còn tham gia khaithác cây thuốc, gỗ củi và tai nguyên rừng tự nhiên khác
Chăn nuôi là một hoạt động khác của đồng bào vùng đệm, đặc biệt là đồng bàoKinh và một số nông trường quốc doanh khác đóng trên địa bàn các xã vùng đệm Cácloại gia súc và gia cầm được chăn nuôi là bò sữa, bò thịt, dê, gia cầm và hiện đã xuất hiệnmột cơ sở chăn nuôi điểu Bên cạnh đó một số hộ gia đình đi theo hướng nuôi ong, nuôi
cá Hoạt động kinh tế hiện nay đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi Vườn Quốc gia vàvùng đệm là hoạt động và các dịch vụ du lịch Xung quanh VQG xuất hiện hàng loạt các
cơ sở khai thác và làm dịch vụ du lịch như Khu du lịch Đồng Mô, Khu du lịch Ao Vua.Hoạt động du lịch góp phần đáng kể tới sự sôi động của hoạt động kinh tế trong vùng.Trong tương lai, du lịch có thể trở thành hoạt động kinh tế chủ yếu của VQG và vùngđệm
Một số hoạt động công nghiệp của vùng như: chế biến nông sản, khai thác khoángsản và sản xuất vật liệu xây dựng còn ở quy mô nhỏ
Trang 15BAN GIÁM ĐỐC
nghiên cứu khoa học, dịch vụ môi trường sinh thái, giáo dục môi trường theo quy địnhcủa pháp luật Vườn Quốc gia Ba Vì có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có kinh phíhoạt động, được mở tài khoản theo quy định của pháp luật
- Nhiệm vụ:
+ Tổ chức bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng; các nguồn gen động thực vật rừngquí, hiếm, các đặc sản rừng, các di tích văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, cảnh quanthiên nhiên trong diện tích được giao quản lý
+ Phát triển rừng trên cơ sở trồng mới, phục hồi rừng và thực hiện các dự án khuyếnnông, khuyến lâm để phát triển vùng đệm
+ Thực hiện công tác nghiên cứu thực nghiệm khoa học với mục đích bảo tồn thiên nhiên
và môi sinh
+ Tổ chức các hoạt động dịch vụ khoa học (nghiên cứu, giảng dạy, thực tập…) chuyểngiao kỹ thuật, giáo dục hướng nghiệp lâm nghiệp Tổ chức tham quan nghỉ mát, nghỉdưỡng, du lịch sinh thái
+ Thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục phổ cập cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng;phòng cháy chữa cháy rừng; phòng trừ sâu bệnh hại; thực hiện các qui trình trồng rừng,chăm sóc rừng
1.3.4 Cơ cấu tổ chức
Trang 16Hình 1: Cơ cấu bộ máy quản lý
du khách Vườn quốc gia Ba Vì với khu vực núi Ba Vì, Viên Nam có nhiều cảnh quanthiên nhiên kỳ thú, là vùng đất quần cư của người Việt, người Mường, người Dao
Vườn quốc gia Ba Vì là nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ, có nhiều cảnh quanthiên nhiên ngoạn mục với nhiều con suối bắt nguồn từ núi rừng Ba Vì quanh năm nướcchảy như Thiên sơn – Suối ngà, Ao Vua, Khoang Xanh, Hồ Tiên Sa Là nơi có nhiều ditích lịch sử, văn hóa như: đền Thượng, đền Trung, đền Hạ đền thờ Bác Hồ, tháp BáoThiên, động Ngọc Hoa… Chính những điều kiện trên đã tạo nên cho Vườn quốc gia Ba
Vì từ lâu đã thành một nơi nghỉ mát vùng núi cao lý tưởng của cả nước
Trang 17Nằm trong hệ thống du lịch sinh thái, nghỉ mát của khu vực Hà Nội và vùng đồngbằng Bắc Bộ với quy mô dân số khoảng 16 đến 18 triệu dân, nhất là khi chuỗi đô thịMiếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây phát triển với quy mô 1 triệu dân sẽ là thịtrường tiềm năng về tham quan nghỉ ngơi du lịch của Vườn Hệ thống cơ sở hạ tầng, đặcbiệt là đường Đại Lộ Thăng Long nối liền Vườn với Hà Nội, đường 32 và đường 21Ađược hiện đại hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy du lịch của Vườn phát triển Ngoài
ra, sông Đà chảy dưới chân núi Ba Vì sẽ đưa khách từ các tỉnh Tây Bắc về và từ TháiBình, Hà Nội lên Sân bay Hòa Lạc và sân bay Miếu Môn được xây dựng trong tương lai
sẽ tạo điều kiện thuận lợi để khách du lịch đến với Vườn
Trong những năm qua, VQG Ba Vì được nhà nước đầu tư, về cơ bản đã hoànthành cơ sở hạ tầng, đảm bảo cho các hoạt động của Vườn Đây cũng là cơ sở quan trọng
để du lịch ở Vườn phát triển
Để xây dựng VQG có quy mô lớn hơn nhằm góp phần bảo vệ các nguồn gen, hệthống động thực vật, bảo vệ môi trường sinh thái cũng như phục vụ cho phát triển du lịch,phát triển kinh tế - xã hội, không những cho vùng núi Ba Vì thuộc TP Hà Nội mà cònphát triển mở rộng cho vùng núi Viên Nam thuộc tỉnh Hòa Bình
Vườn cũng như nhiều tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng môi trường rừng
tự hiên Ba Vì và Viên Nam để phát triển du lịch sinh thái Nhiều thành phần kinh tế thamgia hoạt động du lịch sinh thái, sử dụng môi trường rừng để kinh doanh nên nếu không cóquy định cụ thể, sự phân công và phối hợp tốt giữa Vườn và các doanh nghiệp sẽ tạo ramâu thuẫn giữa quản lý bảo vệ rừng đặc dụng với nhu cầu phát triển – xã hội ở địaphương
Để giải quyết vấn đề này Vườn đã được chính phủ và Bộ Nông Nghiệp và PhátTriển Nông Thôn cho phép thí điểm thực hiện đề án sử dụng môi trường đặc dụng kếthợp kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục hướng nghiệp
1.3.6 Hiện trạng tài nguyên rừng
Tổng diện tích tự nhiên của Vườn Quốc gia Ba Vì tại thời điểm điều tra là10.782,7 ha, trong đó diện tích đất có rừng của Vườn hiện nay là 8.192,5 ha; chiếm75,98% tổng diện tích tự nhiên toàn Vườn Trong đó:
Trang 18- Rừng tự nhiên 4.200,5 ha, chiếm 51,27% diện tích đất có rừng.
- Rừng trồng 3.992 ha, chiếm 48,73 % diện tích đất có rừng
Theo số liệu tham khảo năm 2005 của Viện Điều tra quy hoạch rừng và kết quảphúc tra tại thực địa năm 2008, Trữ lượng các loại rừng VQG Ba Vì được tính toán vàtổng hợp như sau: tổng trữ lượng gỗ của Vườn là 309,616 ngàn m3, trong đó trữ lượngrừng tự nhiên là 221,868 ngàn m3, rừng trồng là 87,748 ngàn m3 Rừng gỗ tự nhiên, tậptrung chủ yếu ở các xã Ba Vì Rừng tre nứa có 1.041,3 ngàn cây, phân bố chủ yếu ở các
xã Ba Vì, Vân Hòa và một ít ở xã Tản Lĩnh, Ba Trại
Thảm thực vật ở đây rất phong phú với 3 thảm thực vật chính là:
a Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
Đây là một quần thể nguyên sinh bị tác động nhẹ nhưng do được bảo vệ trong thờigian dài, rừng đã trải qua diễn thế hôi nguyên, nên đến nay hình thái và cấu trúc vẫnmang sắc thái một quần thể nguyên sinh Ở đai rừng á nhiệt đới còn có 2 kiểu phụ chính:
Rừng rêu (Rừng cảnh tiên)
Rừng rêu là một kiểu phụ thổ nhưỡng của đai rừng á nhiệt đới ẩm Kiểu thảm nàyphân bố chủ yếu ở đỉnh Vua và một ít ở đỉnh Tản Viên Thảm rừng phát triển trên nền đấtFeralit vàng nhạt á nhiệt đới điển hình, tầng đất mỏng phát triển trên đá pocphirit độ dốclớn, có đá nổi, tầng mùn khá dầy (15-20cm), đất chua PH = 4- 4,5)
Rừng thưa á nhiệt đới
Quần thể rừng này do hoạt động chặt chọn của con người từ xa xưa đến nay dođược bảo vệ trong thời gian dài nhưng tán rừng vẫn ở tình trạng bị phá vỡ mất hẳn tínhchất liên tục vốn có của nó độ tàn che 0,3-0,4, ở những khoảng tán rừng bị phá vỡ thường
là những đám rừng, những vạt cây trong họ phụ tre nứa (Bambusaceae) chủ yếu là giang(Dendrocalamus)
b Kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á nhiệt đới núi thấp
Đây là kiểu phụ miền thực vật thân thuộc với khu hệ bản địa Nam Trung Hoa- BắcViệt Nam và khu hệ di cư Hymalaya - Vân nam - Quý Châu Từ độ cao 900m trở lên ta
đã thấy lác đác có những cá thể loài cây Bách xanh (Calocedrus macrolepis) trong
Trang 19nghành phụ hạt trần (Gymnospermae) xuất hiện càng lên cao tần xuất xuất hiện ngàycàng tăng, và cuối cùng Bách xanh trở thành một trong những loài ưu thế của ưu hợpBách xanh + Dẻ + Re + Giổi + Mỡ Kiểu rừng này đều phân bố ở phần đỉnh sườn phíatây của 3 đỉnh Ngọc Hoa, Tản Viên và Tiểu Đồng, kiểu thảm này phát triển trên loại đấtFeralit vàng nhạt trên núi trung bình tầng đất mỏng, phát triển trên đá Pocphirit độ dốc
>350 có nơi dốc 60-700 và có nhiều đá tảng
c Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp
Trải qua quá trình chặt chọn những cây gỗ tốt làm vật liệu xây dựng của người dânđịa phương và chặt phá làm nương rẫy bởi thế đai rừng nhiệt đỡi này đã bị mất hoàn toànquần thể thành thục mà chỉ còn những kiểu phụ nhân tác sau đây:
Rừng thưa nhiệt đới
Kiểu thảm thực vật này phân bố đều khắp ở vành đai độ cao 400m-700m xungquanh sườn núi Ba Vì, rừng phát triển trên loại đất Feralit vàng đỏ có mùn trên núi thấp,tầng đất mỏng có nơi tầng đất trung bình phát triển trên đá Pocphirit độ dốc cao bìnhquân 26-350, tầng mùn mỏng xói mòn mạnh tỷ lệ đá lẫn cao độ chua lớn Những loài cây
có giá trị kinh tế ở kiểu thảm này phải kể đến: Trương vân, Gội, Sến… nhưng số cá thểxuất hiện khôngnhiều
Rừng tre nứa
Sự hiện diện của quần thể rừng giang là do hậu quả của quá trình khai thác lạmdụng quá mức hoặc quá trình đốt phấ rừng gỗ để làm nương rẫy của người dân sống xungquanh núi Giang thường phát triển thành bụi dầy đặc xếp chồng lên nhau tạo thành mộttán kín và thấp hạn chế khả năng tái sinh của mọi loài cây gỗ
Rừng phục hồi
Đây là một quần thể xuất hiện sau nương rẫy đã bỏ hoá đất vẫn còn tốt, loại thảmnày phân bố khá tập trung ở quanh khu cốt400m và trên đường từ cốt400m sang cốt600.Đây là một kiểu thảm rừng đang diễn thế, nếu được bảo vệ tốt có thể hồi nguyên trở vềkiểu phụ miền hay kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh
Rừng trồng