1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân nhằm bảo tồn rừng tại xã ba vì, huyện ba vì, thành phố hà nội

51 90 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập nhóm môn Mô hình QLMT dựa vào cộng đồng Mô hình QL rừng dựa vào cộng đồng đối với VQG Ba Vì xã Ba Vì, Bài tập nhóm môn Mô hình QLMT dựa vào cộng đồng Mô hình QL rừng dựa vào cộng đồng đối với VQG Ba Vì xã Ba Vì, Bài tập nhóm môn Mô hình QLMT dựa vào cộng đồng Mô hình QL rừng dựa vào cộng đồng đối với VQG Ba Vì xã Ba Vì, Bài tập nhóm môn Mô hình QLMT dựa vào cộng đồng Mô hình QL rừng dựa vào cộng đồng đối với VQG Ba Vì xã Ba Vì, Bài tập nhóm môn Mô hình QLMT dựa vào cộng đồng Mô hình QL rừng dựa vào cộng đồng đối với VQG Ba Vì xã Ba Vì,

Trang 1

Mục lục

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục tiêu: 4

3 Nội dung 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM 5

1.1 Cơ sở lý luận quản lý rừng dựa vào cộng đồng 5

1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) 5

1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM 5

1.1.3 Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM 7

1.2 Tổng quan mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) ở Việt Nam 8

1.2.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) .8

1.2.2 Xu thế của quản lý rừng dựa vào cộng đồng của Việt Nam 10

1.2.3 Một số kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam 11

1.3 Tổng quan về xã Ba Vì 12

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 12

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học 17

2.2.2 Phương pháp thu thập số thứ cấp 18

2.2.3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) 18

2.2.4 Phương pháp tổng hợp số liệu và viết báo cáo 18

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

3.1 Hiện trạng sinh kế của người dân tại vườn quốc gia Ba vì 20

3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất 20

3.1.2 Sản xuất nông nghiệp 21

Trang 2

3.1.3 Hoạt động phi nông nghiệp: 24

3.1.4 Các hoạt động khác 27

3.1.5 Tổng thu nhập của người dân vùng đệm Ba Vì 27

3.2 Khảo sát tính khả thi khi thực hiện mô hình sinh kế bền vững để bảo tồn tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở VQG Ba Vì 29

3.2.1 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 29

3.2.2 Khả năng tham gia của người dân 29

3.2.3 Mức độ tham gia của người dân 30

3.3 Đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho dân cư xã Ba Vì: 31

3.3.1 Phát triển nông nghiệp bền vững 31

3.3.2 Mô hình sinh kế bền vững với các hoạt động phi nông nghiệp 33

KẾT LUẬN 35

KIẾN NGHỊ 36

Tài liệu tham khảo 37

PHỤ LỤC 39

Phụ lục 1: Phiếu điều tra 39

Phụ lục 2: Ảnh thực tế 46

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rừng là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với con người nóiriêng và gần như tất cả sinh vật trên đất liền nói chung Rừng có rất nhiều công dụng hữuích Nó là nơi trú ẩn, sinh sống cho động vật, là ngân hàng gen giúp bảo tồn đa dạng sinhhọc; cung cấp lâm sản như gỗ, thảo dược, thức ăn; chống xói mòn đất, điều hòa lượngnước giúp duy trì nguồn nước ngầm Không chỉ vậy, rừng còn góp phần chống lại cácthiên tai như bão lũ; cây rừng qua quá trình quang hợp sẽ cung cấp oxi giúp duy trì sựsống của các sinh vật trên trái đất, hấp thụ bớt CO2 làm giảm nhẹ đi hiệu ứng nhà kính;khu rừng có rất nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp đẽ và hoang sơ là nguồn lợi to lớn cho pháttriển du lịch Tuy nhiên tài nguyên rừng không phải là vô tận, nếu không được bảo tồn vàkhai thác hợp lý nó sẽ dần bị hủy hoại bởi các hoạt động của con người

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2018, nước ta có14.491.295 ha rừng, độ che phủ là 41,65%, tăng 3,45% so với năm 2008 Tuy nhiên trênthực tế tại Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế trong công tác quản lý và bảo tồnrừng Trong đó đặc biệt có thể kể tới việc suy giảm diện tích rừng nguyên sinh Theo báocáo của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2005, ViệtNam là quốc gia có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh cao thứ 2 thế giới, chỉ sau Nigeria.Nguyên nhân chính là do công tác quản lý còn yếu kém và tham nhũng, tiếp tay cho lâmtặc hay phê duyệt các dự án chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang mục đích khác Chính vìvậy việc nâng cao chất lượng công tác quản lý và xã hội hóa, dân chủ hóa việc quản lýmôi trường rừng đang là một hướng đi mới vô cùng phù hợp và hiệu quả tại Việt Nam

Và để phát triển theo hướng đi đó, chúng ta có thể áp dụng phương pháp quản lý môitrường rừng dựa vào cộng đồng

Vườn Quốc Gia Ba Vì nằm tại địa bàn thành phố Hà Nội và một phần của tỉnhHòa Bình với diện tích 11.462 ha (theo cục Kiểm Lâm) Nơi đây có tài nguyên rừng vôcùng phong phú với 8.192,5 ha trong đó 51,27% là rừng tự nhiên và 2.752 ha là rừngnguyên sinh VQG Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao, 45 loài thú, 115 loài chim, 27loài lưỡng cư, 61 loài bò sát, 86 loài côn trùng, trong đó có 23 loài động vật quý, hiếm cótrong sách đỏ (theo ban quản lý VQG) Dân cư ở VQG Ba Vì chủ yếu là dân tộc thiểu sốvới người Mường chiếm 77,3% dân số (theo số liệu từ UBND tỉnh) và phụ thuộc vào khu

Trang 4

vực vườn Quốc gia bởi các hoạt động kinh tế từ du lịch, trồng rừng, cây ăn quả, trồngmốc lấy măng và làm thuốc nam

Việc bảo tồn VQG Ba Vì phải phụ thuộc rất nhiều vào người dân ở 7 xã thuộc khuvực đệm của Vườn Quốc Gia Chính vì vậy việc đảm bảo sinh kế, nâng cao đời sốngngười dân nơi đây đồng thời giúp người dân có thể mưu sinh một cách bền vững, khônggây ra những tác động xấu tới tài nguyên rừng là vô cùng quan trọng Chính vì vậy, nhóm

đã quyết định thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân

nhằm bảo tồn rừng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”.

2 Mục tiêu:

- Tìm hiểu hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì

- Xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì

3 Nội dung

- Xác định hiện trạng sinh kế của người dân xã Ba Vì

- Xác định mức độ và khả năng tham gia vào mô hình sinh kế mới của người dân xã BaVì

- Đề xuất mô hình sinh kế bền vững cho người dân xã Ba Vì

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM.

1.1 Cơ sở lý luận quản lý rừng dựa vào cộng đồng

1.1.1 Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)

Mô hình sinh kế bền vững là một trong những mô hình quản lý môi trường dựa vào cộngđồng Vậy nên trước tiên chúng ta cần phải hiểu quản lý môi trường dựa vào cộng đồng

là gì

- PFM: participation forest management là một thuật ngữ chung mô tả cộng đồng trongquản lý rừng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) là một dạng của phương phápPFM và được áp dụng cho khu đất thuộc quản lý cấp xã, những khu rừng giao cho tưnhân quản lý hoặc được quản lý bởi Ủy ban nhân dân xã

- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia quản lý rừngthuộc nguồn gốc hình thành thứ ba Rừng trong trường hợp này cộng đồng là những chủthể quản lý trực tiếp tham gia và được hưởng lợi

1.1.2 Nội dung chủ yếu của CBFM

- Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: quản lý rừng dựa vào cộng đồng đưa ra hìnhthức quản lý rừng ở cấp xã, nơi mà người dân địa phương đóng vai trò vừa là người quản

lý vừa là chủ rừng Để triển khai mô hình này một cách tốt nhất thì một cơ quan ở cấp xã

là đại diện triển khai mô hình này Vai trò của cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp

đỡ người dân quản lý rừng một cách hiệu quả và bền vững

- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình có thể áp dụng cho tất cả các loạirừng:

+ CBFM có thể áp dụng cho bất kỳ loại rừng nào, những khu rừng có độ đa dạngsinh học cao hay thấp, rừng nguyên sinh hay rừng đã bị suy kiệt, những khu rừng rộnglớn hay nhỏ… điều quan trọng nhất là ta cần hiểu được rằng CBFM được áp dụng chonhững khu rừng và đất rừng thuộc địa bàn xã chứ không áp dụng mô hình này cho nhữngkhu bảo tồn của địa phương hay quốc gia Mục tiêu của mô hình CBFM có thể là bảo tồn

và phát triển cả rừng phòng hộ và sản xuất hoặc hỗn hợp cả hai loại rừng này Trong mộtvài trường hợp, người dân mong muốn bảo tồn rừng của họ vì truyền thống hoặc những

Trang 6

mục đích thiêng liêng, trong một vài trường hợp khác nó có thể để bảo vệ một nguồnnước quan trọng.

- Người dân là mục tiêu tổng quan nhất của mô hình CBFM: người dân địa phương hoặccộng đồng trong trường hợp này là những người sống trong hoặc sống ngay bên cạnhnhững khu rừng thuộc địa bàn xã của họ Mối quan hệ lâu đời giữa người dân và nhữngkhu rừng và sự gần gũi của họ với rừng khiến họ trở thành những người tốt nhất để quản

lý rừng bền vững

- Cộng đồng không chỉ là những người bảo vệ mà còn là những người có quyền ra quyếtđịnh: việc quản lý trong mô hình CBFM bao gồm tất cả những hình thức quản lý rừng,bảo vệ rừng, đánh giá rừng thường kỳ, trồng rừng và những hoạt động phục hồi và pháttriển khả năng sản xuất của rừng Người dân không chỉ phải có trách nhiệm quản lý rừngđúng với mục đích mà còn có quyền đưa ra các quyết định Điều này đã định hướng chocách thức hoạt động của mô hình CBFM là một chiến lược phân chia quyền lợi Nó thựcthi dựa trên cơ sở các chính sách của nhà nước trong việc cho phép sự tham gia của ngườidân địa phương trong quản lý rừng và thực tế cần đưa ra những biện pháp kiểm soát vàquản lý ở cấp địa phương hợp lý hơn Nó tập trung vào bảo tồn những khu rừng khôngchỉ thông qua việc phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn phân chia quyền

sử dụng hay hưởng lợi từ chúng Vì vậy mục tiêu của mô hình này là cộng đồng khôngchỉ là những người hưởng lợi thụ động mà còn là những người hưởng tiền hoa lợi mà gắnvới đó là trách nhiệm quản lý rừng

- Tối ưu hóa cơ cấu tổ chức xã hiện hành: CBFM không tạo ra những tổ chức, cơ quanmới nhưng nó dựa vào cơ cấu hiện hành để tồn tại Xã là đơn vị hành chính thấp nhất, làtập hợp một cộng đồng người được thừa nhận là cùng chung sống trên một khu vực cụthể và có quyền bầu ra bầu ra cơ quan hành chính làm đại diện cho quyền lợi của cộngđồng (ủy ban nhân dân xã) để quản lý những công việc của xã Ủy ban nhân dân xã đãđóng vai trò khá tích cực và có khả năng để vận hành mô hình CBFM tốt ủy ban nhândân xã có quyền ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạtđộng của các thực thế trong phạm vi địa lý của xã đó, ủy ban nhân dân xã cũng là cơ quan

có trách nhiệm pháp lý đối với những người dân, hoạt động vì lợi ích của người dân.Ranh giới giữa các xã có thể phân chia dựa theo những ranh giới tự nhiên, hoặc nhữngranh giới chạy qua các khu rừng

Trang 7

- Sử dụng khu đất dự trữ như là nền tảng cơ bản CBFM được dựa trên khu đất dự trữ đó

để xây dựng một vùng phát triển rừng (phòng hộ hoặc/và sản xuất) hai quá trình phânchia đất dự trữ quan trọng diễn ra trong CBFM:

+ Người dân được giúp đỡ về kỹ thuật để xác định đặc tính của đất và phân loạiquỹ đất dự trữ ra khỏi những khu đất khác thuộc địa bàn xã

+ Những nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng được giúp đỡ để xác định đặc tính vàphân chia những khu đất rừng dự trữ mà họ sẽ cùng nhau làm chủ

- Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp:

Theo truyền thống, cán bộ kiểm lâm huyện đóng vai trò như một cảnh sát Theo mô hìnhmới, cán bộ kiểm lâm huyện hiện nay có một chức năng mới là giúp người dân nhận biết,điều tra và quản lý rừng của họ vì lợi ích chung của cộng đồng Cán bộ kiểm lâm giốngnhư một đối tác của cộng đồng, tư vấn cho họ làm cách nào để quản lý rừng tốt nhấttrong cả ngắn hạn và dài hạn phương pháp luận của việc thiết lập mô hình CBFM dựavào cán bộ lâm nghiệp như là những cố vấn viên (khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn).trong khi đang làm thay đổi mối quan hệ giữa cán bộ kiểm lâm với cộng đồng: từ vai tròngười chỉ đạo sang:

+ Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng: cung cấp những thông tin kỹ thuật thích hợp + Tạo ra sự liên kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện

+ Người trung gian hòa giải giữa các cộng đồng hoặc giữa các nhớm

+ Cảnh giới môi trường: cán bộ kiểm lâm giám sát tiến độ thực thi và họ biết lúcnào cần hỗ trợ, lúc nào cần can thiệp nếu cộng đồng không tuân theo cam kết quản lýrừng đã được ký kết

Trong khi những kiến thức chủ yếu không phải từ đào tạo mà từ thực tế, những thành quảđạt được thông qua cách giải quyết hợp lý khi cộng đồng phải đối mặt với một vấn đề vàkhả năng nhận dạng và giải quyết các vấn đề tiếp theo được nâng lên.Hướng dẫn chứkhông phải ra lệnh, nhân viên kiểm lâm là những người giúp đỡ và tư vấn cho người dânđịa phương

1.1.3 Các giai đoạn cơ bản trong việc thực hiện CBFM

- Giai đoạn 1: Khởi động

Trang 8

Giai đoạn này được triển khai ở cấp huyện, với việc lựa chọn những xã và hướngdẫn cho cán bộ huyện cộng với đó là hình thành một nhóm cán bộ với những kỹ năngkhác nhau để làm việc ở cấp xã Tổ chức các cuộc gặp và cuộc họp cấp xã để việc thiếtlập và định hướng cho bản cam kết được thuận lợi hơn.

- Giai đoạn 2: Thực hiện quản lý và đánh giá

Giai đoạn này bắt đầu bằng việc xác định và quy hoạch lại ranh giới về đất và rừnggiữa các xã Sau đó rừng sẽ được rà soát hoặc đánh giá và dựa vào đó một kế hoạch quản

lý sẽ được đưa ra cùng với những quy định của xã

- Giai đoạn 3: Chính thức hóa và hợp pháp hóa

Kế hoạch quản lý và những quy định riêng của xã được đưa ra trong những cuộchọp cấp xã để được thông qua và cuối cùng là được chấp thuận bởi ủy ban nhân dân cấphuyện khi đã được phê duyệt, xã có thể chuyển sang giai đoạn 4 và bắt đầu thực hiện kếhoạch quản lý rừng của họ

- Giai đoạn 4: Thực thi

Giai đoạn này sẽ được triển khai ở cộng đồng hệ thống quản lý rừng cần bổ nhiệm

và đào tạo đội tuần tra với chức năng ban đầu là giám sát và đảm bảo rằng những quyđịnh đã được phổ cập tới từng người dân Huyện đảm nhiệm vai trò quan trắc và hỗ trợbằng việc giám sát tiến độ và giúp giải quyết các vấn đề

- Giai đoạn 5: Xem xét và đưa ra những đề xuất hợp lý

Sau năm năm cộng đồng sẽ được xem xét và phê duyệt lại kế hoạch quản lý của họdựa vào những gì đã làm được trong khoảng thời gian đó Từ đó có thể rút ra những bàihọc kinh nghiệm và thay đổi những cách thức không còn phù hợp

- Giai đoạn 6: Mở rộng mô hình sang những địa bàn khác

Giai đoạn này là giai đoạn triển khai mô hình ở những xã khác Trong suốt giaiđoạn này chúng ta cần đưa ra những kế hoạch cụ thể và dự thảo ngân sách cho việc mởrộng mô hình sang xã khác

Trang 9

1.2 Tổng quan mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) ở Việt Nam

1.2.1 Cơ sở của việc áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM)

Nước ta có hơn 50 dân tộc thiểu số, phần lớn sinh sống ở miền núi, thôn, bản,buôn là đơn vị xã hội truyền thống, cơ bản trong nông thôn, miền núi cấu thành đơn vịhành chính cơ sở, có tính tương đối độc lập và ổn định cao, là cộng đồng dân cư tự nhiêncủa các tộc người có mối quan hệ ràng buộc, bởi có chung các yếu tố như: chung nơi cưtrú, cùng tôn giáo, tín ngưỡng, chung văn hóa, biểu hiện rõ nét trong ngôn ngữ và tậpquán thống nhất của cộng đồng và chung huyết thống Mỗi thôn buôn đều có quy định rõràng về đất đai của mình Ranh giới thường căn cứ vào sông suối, mảnh đất, vạt ruộng mà

cư dân trong thôn, bản canh tác từ lâu đời… Có thể có những đường ranh giới chỉ mangtính ước lệ, nhưng đều được các cộng đồng thôn bản bên cạnh thừa nhận và tôn trọng.Ranh giới này thường do người già và người có công khai phá vùng đất đó hoạch định.Cương vực của thôn không phải chỉ là khu vực đất cư trú, thường bao gồm: đất ở, đấtcanh tác, là những phần rừng đã được khai phá đưa vào canh tác: nương rẫy đang gieotrồng, ruộng bãi… đất dự trữ là những cánh rừng sẽ được khai phá trong thời gian nhữngmùa rẫy sắp tới và những rẫy cũ đang bỏ hoá, đất cấm canh tác là những rừng đầu nguồnnước, rừng trên chóp núi để giữ nước, chống xói mòn và những khu rừng làm nơi chôncất người chết, rừng thờ cúng, rừng thiêng, rừng sử dụng vào mục đích lấy gỗ, lâm sản,săn bắn; bến nước, nơi đánh bắt cá… Các dân tộc thiểu số thường có có tập quán quản lýcộng đồng với đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong địa phận thôn buôn Trước đây, vớitập quán làm nương rẫy phổ biến thì tài nguyên quan trọng đối với cộng đồng là rừng vàđất rừng Tuy có vài khía cạnh khác nhau, nhưng nét đặc trưng chung nhất trong việcquản lý đất đai, tài nguyên của các dân tộc thiểu số là quản lý theo cộng đồng thôn buôn,bản Theo các quan niệm truyền thống của đồng bào thì chế độ sở hữu và quyền sử dụngđất đai, tài nguyên rừng trong thôn là sở hữu cộng đồng, của tất cả các thành viên trongthôn bản, mọi thành viên trong cộng đồng đều được bình đẳng trong việc khai thác sửdụng theo luật tục/quy ước của thôn do sự điều khiển của già làng, trưởng bản, ngườingoài cộng đồng không được vi phạm

Chẳng hạn người dân ở vườn quốc gia Ba Vì có tập quán phân loại rừng núi thànhcác khu vực, nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống cộng đồng: rừng phòng

hộ nằm trên các khu vực đầu nguồn nước, tuyệt đối cấm khai thác, rừng dành cho việc

Trang 10

khai thác tre gỗ dựng nhà và các nhu cầu khác thì tuyệt đối không được phát nương làmrẫy, thường là vùng núi cao

Ở Việt Nam rừng và cộng đồng dân cư địa phương có mối quan hệ rất mật thiết,

có ảnh hưởng qua lại trực tiếp với nhau bởi các đặc điểm sau:

- Đặc điểm về tập quán Trên diện tích đất quy hoạch cho sản xuất Lâm nghiệp có

khoảng 24 triệu dân sinh sống với 54 dân tộc, chủ yếu sinh sống ở vùng núi Đời sốngcủa đồng bào rất gắn bó với rừng, một số lượng không nhỏ dân cư này có cuộc sống phụthuộc vào rừng, từ đất rừng để làm nương rẫy, đến khai thác gỗ, củi thu hái lâm sản vàsăn bắt chim thú

- Đặc điểm về xã hội Trong đời sống xã hội của người dân vùng Ba Vì thì tính

cộng đồng thôn bản là một thể chế xã hội cơ bản đã có từ lâu và đến nay vẫn còn tồn tại.Mỗi khu vực có một lối sống riêng, một quy ước riêng do cộng đồng tự xác lập, được cáccộng đồng khác thừa nhận và tôn trọng Các cộng đồng này có truyền thống riêng về sởhữu, sử dụng đất đai, trong đó tính sở hữu theo quản lý cộng đồng là một đặc điểm nổibật Qua nhiều biến động về chính trị xã hội, các truyền thông trên tuy có bị mai một,nhưng vẫn được duy trì trong công tác quản lý rừng

1.2.2 Xu thế của quản lý rừng dựa vào cộng đồng của Việt Nam

Rừng cộng đồng đang tồn tại như một xu thế mang tính khách quan và ngày càng

có vị trí quan trọng trong hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tính đếnnay diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng tham gia quản lý chiếm khoản 15,5% diệntích đất lâm nghiệp của cả nước (Trong đó được cấp có thẩm quyền giao chiếm khoảng51%) Vị trí pháp lý của cộng đồng dân cư làng bản, trước khi có Luật bảo vệ và pháttriển rừng công bố năm 2004 Trong thời gian gần đây đã có một số Nghị quyết của Đảng

và văn bản của Chính phủ đề cập đến một số nội dung có liên quan đến vị trí của cộngđồng dân cư làng bản như là:

- Xác định nhiệm vụ nghiên cứu để xây dựng hương ước

- Xác định các vùng người dân xung quanh không phải là một cấp chính quyền,nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp

và rộng rãi nhằm giải quyết công việc trong một bộ phận cộng đồng dân cư Người đạidiện cho cộng đồng dân cư trực tiếp liên hệ, đề đạt nguyện vọng của cộng dân cư với cấp

Trang 11

chính quyền cơ sở (uỷ ban nhân dân xã) Người đại diện do nhân dân bầu ra và được uỷban nhân dân xã công nhận

- Điều kiện giao rừng cho cộng đồng dân cư Có cùng phong tục, tập quán, cótruyền thống gắn bó cộng đồng với rừng về sản xuất, đời sống, văn hóa, tín ngưỡng, cókhả năng quản lý rừng, có nhu cầu được giao rừng và phải phù hợp với quy hoạch, kếhoạch bảo vệ và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ

và phát triển rừng được phê duyệt, phù hợp với khả năng qũy đất của địa phương

- Các khu rừng được xem xét giao cho cộng đồng thôn gồm có 3 loại:

+ Các khu rừng hiện do cộng đồng thôn đang quản lý có hiệu quả

+ Các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng và lợi ích kháccủa cộng đồng mà không thể giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý

+ Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các xã, huyện, không thể giao cho tổ chức hộgia đình, cá nhân quản lý

1.2.3 Một số kinh nghiệm quản lý rừng ở Việt Nam

a Xã Phúc Sen - Cao Bằng

Xã Phúc Sen là một xã vùng cao với dân số 2.027 người, trong đó đa số là ngườidân tộc Nùng An, sống ở 12 bản Người dân sống bằng nghề nông và ít liên hệ với thị xãCao Bằng, nơi cách xã Phúc Sen khoảng 40 km Xã Phúc Sen có diện tích 1.300 ha trong

đó 23 ha là khu dân cư, 267 ha là đất nông nghiệp và 1.010 ha là đất rừng Trước đây,nhân dân xã Phúc Sen đã phải đương đầu với tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng vàngười dân có mức sống rất thấp từ năm 2003 thực hiện áp dụng mô hình quản lý rừngdựa vào cộng đồng cuộc sống của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác Việc giao đấtđược thực hiện chủ yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại hiện trường Mỗilàng được giao quản lý hai hay ba ngọn núi đá vôi riêng biệt hay một nửa sườn núi.Thông qua việc bàn bạc và dàn xếp với dân làng, xã đã giao rừng trên cơ sở vị trí đấtrừng, khả năng quản lý rừng và mức độ phụ thuộc vào các khu rừng đó của người dân.Sau đó các bản làng lại giao lại cho các hộ dân sử dụng và quản lý dựa trên các quy địnhriêng của từng bản, làng Trong diện tích do bản quản lý, người dân được phép lấy củisau khi đã được phép của lãnh đạo trong bản Nếu xảy ra tình trạng chặt cây trái phép, thìngười vi phạm bị phạt 5kg gạo cho 1kg củi chặt trái phép Sau hơn 5 năm thực hiện môhình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã mang lại cho người dân cũng như những khu

Trang 12

rừng nơi đây những thay đổi đánh kể các khu rừng già bị chặt phá trước dây đã phục hồibình tốt che phủ một diện tích trên 71 ha Khoảng 176 ha đã tái sinh tốt và bình quân một

ha có 412 cây con được trồng bổ sung Đời sống của người dân trong bản được nâng caonhờ các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ

b Sơn La

Sơn La là tỉnh vùng cao nằm phía Tây Bắc Việt Nam Tổng diện tích tự nhiên toàntỉnh là 1.421.000 ha Trong đó đất lâm nghiệp có 1.034.100 ha, đất nông nghiệp có147.360 ha, đất khác và núi đá chiếm 239.530 ha Trong điều kiện khi mà tài nguyênrừng đã cạn kiệt, nền nông nghiệp đang đứng trước những thử thách mới Sơn La đã ápdụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng LâmNghiệp đang dần chuyển hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xâydựng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nônglâm kết hợp Bình quân mỗi năm tỉnh đã trồng 4000 – 5000 ha rừng tập trung, hơn 1 triệucây phong trào, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha, bảo vệ 162.000 ha rừng hiện còn, đưa độche phủ rừng lên 11,5% 25.000 hộ nông dân đã nhận khoán bảo vệ rừng Bộ mặt nôngthôn đang từng bước được cải thiện về thu nhập: có 1,72% số hộ giàu, 8,3% hộ khá,70,3% hộ trung bình, còn 19,5% hộ nghèo Đổi mới sinh hoạt của hộ gia đình: nhà kiên

cố 10,45%, nhà bán kiên cố 31,36%, được dùng điện 28,25%, dùng nước giêng 17,15%

Trang 13

Hình: Vị trí địa lý xa Ba Vì, huyện Ba Vì, TP Hà Nội (Qua ảnh VT Google Map)

- Phía Bắc giáp xã Ba Trại và xã Tàn Lĩnh

- Phía nam giáp xã Khánh Thượng

- Phía đông giáp xã Vân Hòa

- Phía Tây giáp xã Minh Quang

b Địa hình:

Xã Ba Vì cách trung tâm huyện khoảng 28 km, có đường tỉnh lộ 45 chạy qua, có hệ thốngđường giao thông liên thôn, liên xóm thuận tiện, tạo điều kiện về giao lưu kinh tế và đi lạivới các xa trong huyện

Xã Ba Vì có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng theo định hướng nông lâmnghiệp kết hợp

Nhìn chung địa hình xã Ba Vì từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây có 7 dốc cao, địahình rộng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và xây dựng kết cấu hạ tầng

c Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu:

Ba Vì có nhiệt độ bình quân năm là 23,4oC, ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuốngtới 2,7oC, nhiệt độ tối cao lên tới 42oC, ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm là 20,6oC,

Trang 14

Từ độ cao 1.000m trở lên nhiệt độ chỉ cong 16oC Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống0,2oC Nhiệt độ cao tuyệt đối chỉ còn 33,1oC Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân

bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1%.Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 1, tháng 12 Từ cốt 400 trở lên, khí hậu ít khôhanh hơn khu vực dưới cốt 400 Mùa đông có gió Bắc với tần suất > 40% Mùa hạ có gióĐông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam

- Thủy văn:

Sông Đà chảy ở phía Tây Bắc núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày nhưSuối ổi, Suối Ca, Suối Mít, Suối Ba Gò, Suối Xoan, suối Yên Cư, suối Củi…Thườngxuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng Bên cạnh còn

có các hồ chứa nước nhân tạo như Hồ Suối Hai, Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn, Hồ Cóc Cua

và các hồ chưa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn hađất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên không gian thắng cảnhtuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu du lịch và thắng cảnh cho du khách

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

a Tình hình phát triển kinh tế

Sản xuất lương thực: Năng suốt lúa 2 vụ của xã đạt trung bình 196.3 tấn/năm, bìnhquân cho hộ đạt 401kg/hộ/năm Sản lượng cây sắn đạt 680 tấn/năm , sản lượng cây Dongdiềng đạt 100 tấn/năm, sản lượng cây chè đạt 144taans/năm, sản lượng cây bương đạt

570 tấn/năm Tuy hiên, sản lượng lương thực không đủ tiêu dùng tại chỗ mà nhiều hộ vẫnphải mua từ bên ngoài vào

Chăn nuôi: Chăn nuôi đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt Ngoài việc cung

cấp sức kéo, trâu bò còn cung cấp phân bón phục vụ cho sản xuất, góp phần tăng năngxuất cây trồng, cung cấp thực phẩm tại chỗ Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi trongvùng gặp nhiều khó khăn do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp

Khai thác rừng tại vùng Đệm: khai thác chủ yếu từ rừng trồng Keo, Bạch đnà trong

các vườn hộ Sản lượng khai thcas năm 2014 khoảng 10.000 cây Luồng và 500 khối gỗ

Keo

Trang 15

Khai thác nguồn lâm đặc sản: là cây thuốc trong rừng tự nhiên: Hiện nay, tại các

bản Yên Sơn và Bản Hợp Nhất thuộc xã Ba Vì, nhiều hộ gia đình người Dao có nghềthuốc cổ truyền Hầu hết cây thuốc được lấy từ rừng tự nhiên trên Núi Ba Vì (vùng Lõi).Việc khai thác quá mức và thiếu kiểm soát đã làm giảm mạnh về số lượng và chất lượngcủa nhiều loài cây thuốc quý chữa các bệnh xương khớp, bệnh gan, thận, các bệnh phụnữ… Đây thực sự là điều cảnh báo, nếu Vườn và địa phương không kiểm soát chặt chẽhoặc không có phương án quy hoạch bảo vệ và gây trồng thì một số loài cây thuốc quý cónguy cơ không còn

Canh tác nương rãy: Nhiều nương rãy nơi tập trung, nơi xen kẽ hiện đang được bà

con xã Ba Vì canh tác cũng nằm trong phân khu phục hồi sinh thái Tuy nhiên, diện tíchnày được người dân canh tác từ lâu đời Canh tác chủ yếu trồng cây sắn, một số diện tíchtrồng luân canh Nhìn chung, năng suất ngày càng giảm dần do đất bạc mầu rửa trôi

Sản xuất tiêu thủ công nghiệp: Trên địa bàn vùng Đệm có 2 cơ sở sản xuất, quy mô

của các cơ sở nhỏ (số lao động trong các cơ sở này từ 10 – 20 người) lực lượng lao động

là người địa phương Cơ sở sản xuất thủ công, dịch vụ thương mại chủ yếu do gia đình tựlàm

Tính đến 30/11/2015 thì tổng thu nhập từ nông nghiệp đạt 9 tỷ 371 triệu đồng, từ

chăn nuôi đạt 2 tỷ 800 triệu đồng, từ thuốc nam đạt 9 tỷ 600 triệu đồng và từ thu nhậpkhác đạt 3 tỷ 100 triệu đồng

b Dân số, lao động, thu nhập và mức sống:

Trên địa bàn xã dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao Dân số của xã có 2.177khẩu, số hộ là 489 hộ gia đình, số lao động là 880 người, mật độ dân số trung bình là72,87 người/km2, dân cư sông chủ yếu bằng nghề nông nghiệp chiếm 94% ngànhnghề khác 4,8%, cán bộ công nhân viên nhà nước 1,2% tỷ lệ dân số tự nhiên bìnhquân nhưng năm gần đây từ 0,9% đến 1,2% tăng dần số cơ học không có

Mức thu nhập của cộng đồng dân cư xã Ba Vì thấp, chủ yếu ở mức dưới 700.000đồng (1 người/hộ/năm) đây là mức thư nhập của hộ nghèo, cận nghèo trên 700.000đồng (1 người/hộ/năm), hộ trung bình 1.000.000 đồng (1 người/hộ/năm) hộ khá giả từ1.500.000 – 2.000.000 đồng (1 người/hộ/năm)

c Y tế, giáo dục:

Trang 16

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được thường xuyên quan tâm.Mạng lưới y tế được cũng cố từ xã đến cơ sở thôn bản Từng bước nâng cao chất lượngkhám và điều trị, hoạt động y tế dự phòng có chuyển biến, dịch bệnh xảy ra được dập tắtkịp thời Tổ chức tốt các chương trình y tế Quốc gia như tiêm chủng mở rộng Công tácdân số gia đình và trẻ em được các cấp, các ngành quan tâm chúng đúng mức để độngviên kịp thời, tổ chức thực hiện tốt chương trình chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa giađình cho tất cả cộng đồng.

Các cấp học được duy trì và phát triển đồng đều, hệ thống trường lớp được bố trí hợp

d Giao thông, thủy lợi, đường điện:

Hệ thống đường giao thông liên thôn xóm có tổng chiều dài 25 đã được bê tông hóa.Bằng nhiều hifh thức huy động vốn như vốn đầu tư xây dwujng của nhà nước, vốn tưnhân dân tự đóng góp trong những năm qua xã đã đầu tư gần 100 triệu đồng để phát triểngiao thông

Công tác đầu tư cho thủy lợi được đặc biệt coi trọng Trong những năm qua xã đã triểnkhai xây dựng được 7.000m kênh mương cứng, nạo vét, đào đắp với khối lượng 140m3.Ngoài ra hệ thống kênh mương tưới tiêu trên địa bàn xã có tổng chiều dài trên 7km, rộng

từ 0,4 – 1m

Trang 17

Xã có 3 máy biến áp với công suất 330kw, mạng lưới đường dây được phân bố đều đếntừng xóm, từng hộ gia đình Đến nay đã có 100% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia.

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tương nghiên cứu

- Về không gian lãnh thổ: địa bàn nghiên cứu là VQG Ba Vì

- Về giới hạn khoa học: chuyên để chỉ đi sâu vào nghiên cứu mô hình quản lý rừngdựa vào cộng đồng được thực hiện tại VQG Ba Vì

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp được tiến hành thông qua:

- Việc khảo sát, quan sát thực tế hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng tạiVQG Ba Vì

- Sử dụng phiếu điều tra kết hợp phỏng vấn đối với đối tượng người dân

Bảng 1: Đối tượng phỏng vấn tại VQG Ba Vì

STT Đối tượng

phỏng vấn

Số lượngphiếu

Mục đích

Trang 18

1 Người dân 20

Hình 2: Nhóm đi điều tra người dân tại VQG Ba Vì

Trang 19

2.2.2 Phương pháp thu thập số thứ cấp

- Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từ các nguồn có sẵn:các phòng ban, cơ quan quản lý chuyên nghành, sách, báo, các tạp chí khoa học, dữ liệuInternet

- Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến hoạt động bảo vệ tài nguyên rừng và côngtác quản lý

2.2.3 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

- Dựa trên phương pháp CVM để biết được mức độ sẵn lòng chi trả của một người dân tạiVQG Ba Vì cho việc bảo vệ tài nguyên Rừng Người dân sẽ được đặt mình ở trong tìnhhuống giả định và xem xét trong trường hợp đó họ sẽ quyết định như thế nào

2.2.4 Phương pháp tổng hợp số liệu và viết báo cáo

- Tiến hành tổng hợp các tài liệu, số liệu sau khi đã thu thập và xử lý được, mặt khác kếthợp với quá trình nghiên cứu thực địa và thông qua kết quả của việc sử dụng bảng hỏiphỏng vấn rút ra được mối quan hệ giữa trách nhiệm của người dân và hoạt động quản lýcủa nhà nước

Trang 20

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hiện trạng sinh kế của người dân tại vườn quốc gia Ba vì

3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất

Theo điều tra thu thập tài liệu từ báo cáo hiện trạng sử dụng đất của xã Ba Vì thì tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 2.540.69 ha, tình hình sử dụng đất được thể hiện trong bảng sau:

Đất sản xuất nông nghiệp

- Đất trồng cây hàng năm

- Đất trồng cây lâu năm

211.7722.62189.15

(Nguồn báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất chi tiết sử dụng đất

của xã Ba Vì đến năm 2019)

Do đất đai thường xuyên có sự biến động vì thế việc kiểm kê đất đai hàng năm có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Qua báo cáo kiểm kê đất tại địa bàn xã Ba Vì nhận thấy diện tích đất nông nghiệp của

Trang 21

xuất nông nghiệp là 211.77 ha thì đất trồng cây hàng năm là rất nhỏ chỉ 22.62 ha, điều đó cho thấy vấn đề bức xúc hiện nay đặt ra là người dân thiếu đất canh tác nên hoạt động sảnxuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất của Vườn quốc gia.

3.1.2 Sản xuất nông nghiệp

Ở xã Ba Vì sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của người dân Nguồnthu nhập chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi:

- Sản xuất ngành trồng trọt

Bảng: Tình hình sản xuất cây trồng của (50 hộ)

Loại cây

Năm 2015 Diện tích (ha) Năng suất

(Nguồn số liệu điều tra tháng 12/2015)

Theo nguồn số liệu điều tra phỏng vấn các hộ gia đình và báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016 phát triển kinh tế của UBND xã Ba Vì thì diện tích cây trồng nông nghiệp chính tại khu vực nghiên cứu là:

Trang 22

- Trồng bương để lấy măng là lớn nhất với diện tích là 11.5 ha chiếm 36.44% so với tổng diện tích của 50 hộ.

- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 2 là cây sắn với diện tích là 7.97 ha chiếm 25.26% so với tổng diện tích của 50 hộ

- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 3 là cây dong diềng với diện tích 4.25 ha chiếm 13.47% so với tổng diện tích của 50 hộ

- Cây trồng chiếm diện tích lớn thứ 4 là cây chè với diện tích là 3.175 ha chiếm 10.06 %

so với tổng diện tích của 50 hộ

- Tiếp theo là cây thuốc nam, các thôn đã tiến hành trồng cây thuốc trong vườn và xen dưới tán rừng nên diện tích cây thuốc cũng đáng kể với 2.92 ha chiếm 9.25% so với tổng diện tích của 50 hộ

- Lúa cũng là cây trồng chính nhưng diện tích rất nhỏ chỉ với 1.74 ha chiếm 5.51% so vớitổng diện tích của 50 hộ

- Còn một số loại cây trồng như cây ăn quả, rau các loại do diện tích rất nhỏ và trồng theokiểu gia đình không có quy mô nên không liệt kê được cụ thể

- Từ kết quả trên cho thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân trên địa bàn

xã Ba Vì là rất nhỏ

Bảng: Hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất nông nghiệp (50 hộ)

phỏng vấn

Trang 23

(Nguồn điều tra tháng 12/2015)

- Hoạt động chăn nuôi

Nhìn chung tổng đàn gia súc, gia cầm của xã trong những năm qua còn hạn chế về

số lượng nhưng đã có sự tăng lên so với cùng kỳ trước, tăng mạnh nhất là đàn lợn và đàn gia súc Qua số liệu điều tra tình hình chăn nuôi ở địa bàn nghiên cứu và được tổng hợp dưới bảng đây:

Bảng: Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình (50 hộ)

Qua bảng điều tra cho thấy: người dân ở đây có quan niệm rằng “con trâu là đầu khởi nghiệp” nên hầu hết nhà nào cũng nuôi trâu, bò Trâu, bò được nuôi chủ yếu để lấy sức kéo (như: kéo cày, kéo bừa, kéo xe, kéo gỗ), ngoài ra nuôi để lấy phân bón Trâu bò được xem là tài sản có giá trị trong gia đình là của để giành khi gia đình có việc lớn phải bán đi để lấy tiền trang trải công việc

Ngoài nuôi trâu, bò thì ở đây cũng chăn nuôi thêm lợn, gà, dê để giải quyết các vấn đề về kinh tế, thực phẩm cải thiện những bữa ăn của gia đình Lợn, gia cầm nuôi chủ yếu để lấy giống và làm thịt, còn dê thì chiếm ít vốn tuy nhiên nguồn thu nhập từ dê chưacao

Chăn nuôi đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu nhập của nông dân Tuy nhiên, nó còn gặp nhiều khó khăn: vốn đầu tư cao, dễ gặp dịch bệnh Gia súc và gia cầm được nuôi phần lớn theo cách thả rông vào vườn quốc gia Ba Vì vì vậy việc quản lý và chăm sóc khá khó khăn

nuôi

Số hộ gia đình nuôi

Số lượng vậtnuôi

Giá (triệu đồng/con)

Trang 24

Thực trạng nghành chăn nuôi phát triển chậm, nguyên nhân là do người dân thiếu vốn, thiếu đất để xây dựng dựng chuồng trại, thiếu kỹ thuật chăn nuôi tuy nhiên có sự quản lý của kiểm lâm nhưng hiện tượng thả gia súc vẫn xảy ra Để phát triển nghành chănnuôi trong thời gian tới ngoài vốn đầu tư còn phải quan tâm đến chất lượng giống vật nuôi

3.1.3 Hoạt động phi nông nghiệp:

- Sản xuất lâm nghiệp

Hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã từng bước chú trọng và thực hiện lâu dài cho nhân dân trong xã Thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính Phủ, đến nay toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp có rừng của xã đã được giao khoán cho các tổ chức,

hộ gia đình cá nhân chăm sóc, quản lý và bảo vệ Với lợi thế tự nhiên và ý thức của ngườidân trong việc phát triển kinh tế rừng, khi có chủ trương giao đất từng nhân dân đã nhận đất, mua giống về làm vườn ươm, chủ yếu là keo và cây bạch đàn Tuy nhiên nguồn thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp là rất thấp, cứ khoảng 10 năm thì người dân mới có 1 đợt thu bán gỗ, cao nhất chỉ đạt được 15 – 20 triệu đồng/10 năm, thấp nhất chỉ được 5 – 7 triệu đồng/10 năm (Theo số liệu điều tra các hộ gia đình tại xã Ba Vì năm 2015)

Hiện nay diện tích trồng keo và bạch đàn từ cốt 100 – cốt 400 của cộng đồng dân cư

xã Ba Vì không được phép khai thác mà VQG Ba Vì thu hồi để quản lý, để đạt độ phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo rừng phòng hộ nên hầu hết người dân không còn nguồn thu từhoạt động này mà chỉ được phép khai thác củi, không được khai thác cây từ vườn giao khoán

- Khai thác gỗ

Con người là lực lượng quan trọng nhất tác động đến khu bảo tồn Người dân sống trong xã Ba Vì kề cận Khu Bảo tồn phụ thuộc tài nguyên của nó để sinh tồn Khu Bảo tồncòn bị những người buôn bán gỗ và hoạt động hoang dã khai thác

Do kinh tế của xã còn khó khăn, nhiều hộ gia đình đã khai thác gỗ để làm nhà, làm chuồng trại chăn nuôi, bên cạnh đó có 1 số hộ khai thác gỗ với mục đích buôn bán Mặc

dù đội kiểm lâm quản lý chặt chẽ song vẫn không tránh khỏi hiện trạng khai thác gỗ trái phép xảy ra trên địa bàn xã

- Khai thác lâm sản ngoài gỗ

Trang 25

Sống trong vùng đệm VQG Ba Vì, lại là xã nghèo nhất trong 7 xã miền núi, cộng đồng dân cư xã Ba Vì sống dựa vào nguồn tài nguyên rừng là chủ yếu, để phục vụ nhucầu sinh sống, người dân nơi đây thường xuyên vào rừng khai thác những nguồn lợi

từ lâm sản ngoài gỗ để phục vụ mình, bán ra thị trường lấy tiền mặt để phục vụ chi tiêu hoặc đổi lấy hàng hóa khác

Bảng: Các lâm sản ngoài gỗ thu hoạch được từ rừng (50 hộ)

Lượng sử dụng/hộ/năm

Tổng (đ/hộ/năm)

( Nguồn điều tra tháng 12/2015)

Nạn thu lượm các lâm sản ngoài gỗ như tre, nứa, măng, mật ong, cây thuốc namnằm trong số những áp lực mà VQG phải chịu ảnh hưởng Đã có nhiều biện pháp đểhạn chế việc khai thác lâm sản ngoài gỗ nhưng hoạt động này vẫn đang tồn tại mộtcách phổ biến trong địa bàn xã do điều kiện sống còn khó khăn, người dân dựa vào tàinguyên rừng để làm kế sinh nhai Hoạt động khai thác ở xã Ba Vì được thể hiện trongbảng trên Qua bảng trên ta có thể thấy rằng việc khai thác và sử dụng các loại tàinguyên rừng đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên củaVQG Ba Vì

- Hoạt động khai thác củi đun:

Gỗ củi là nhu cầu hàng ngày của gần 489 hộ dân trong xã và được khai thác từ VQG Ba Vì và các khu vực xung quanh vườn Gỗ củi được thu lượn không chỉ để nấu

Ngày đăng: 04/05/2019, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w