Phân cấp đầu nguồn là việc nghiên cứu đặc điểm của vùng đầu nguồn, phân chia thành từng cấp khác nhau, có sự đồng nhất về tiềm năng xói mòn và khô hạn, từ đó đưa ra những cơ sở để tìm ra
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn Giảng viên - Thạc sĩ Trần Thị Ngoan đã tận tâm hướng dẫn, động viên, hỗ trợ trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên KBTTN Núi Ông đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại khu vực nghiên cứu
Do thời gian thực tập có hạn và trình độ bản thân còn hạn chế nên trong quá trình hoàn thành bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ, sự góp ý quý báu, chân thành của thầy, cô giáo
để bài báo cáo khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Lê Thanh Vương
Trang 2
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm và phân cấp đầu nguồn lưu vực 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về lưu vực trên thế giới 4
1.3 Tình hình nghiên cứu về lưu vực ở Việt Nam 6
1.4 Thảo luận 8
Chương 2 : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 10
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 10
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: 10
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 10
2.3 Nội dung nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 11
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 13
Chương 3 : ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 18
3.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 18
3.1.2 Địa hình 19
Trang 3iii
3.1.3 Thổ nhưỡng 20
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 20
3.1.5 Về tài nguyên rừng 21
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 22
3.2.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu kinh tế xã hội 22
3.2.2 Sản xuất nông nghiệp 23
3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 25
3.2.4 Hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ 26
3.2.5 Công tác quy hoạch, xây dựng và tài nguyên và môi trường 26
3.2.6 Đánh giá chung về tình hình kinh tế xã hội 28
Chương 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Xác định ranh giới của Lưu vực Thác Bà 31
4.2 Phân cấp đầu nguồn lưu vực 34
4.2.1 Xây dựng các bản đồ thành phần 34
4.2.2 Xây dựng bản đồ phân cấp đầu nguồn lưu vực Thác Bà 42
4.3 Đặc điểm các trạng thái rừng của lưu vực 44
4.3.1 Đặc điểm tầng cây cao 47
4.3.2 Đặc điểm tầng cây thấp 54
4.3.3 Đặc điểm lớp thảm khô 57
4.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý hiệu quả cho từng cấp đầu nguồn 59
4.4.1 Giải pháp đối với vùng rất xung yếu 60
4.4.2 Giải pháp đối với vùng xung yếu 60
4.4.3 Giải pháp đối với vùng ít xung yếu 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Tồn tại 63
3 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 4D1,3: Đường kính ở vị trí 1,3
DEM: Mô hình số hóa địa hình
GIS: Hệ thống tông tin địa lý
GPS: Thiết bị định vị toàn cầu
Hvn: Chiều cao vút ngọn
Hdc: Chiều cao dưới cành
Hcb: Chiều cao cây bụi
Htt: Chiều cao thảm tươi
Trang 5v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Đặc điểm tầng cây cao 13
Bảng 2.2 Biểu điều tra lớp thảm mục 13
Bảng 2.3 Biểu điều tra tầng cây bụi và lớp thảm tươi 13
Bảng 2.4: Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ cao tương đối 14
Bảng 2.5: Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ dốc 14
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội huyện Tánh Linh năm 2017 23
Bảng 4.1: Diện tích lưu vực Thác Bà 33
Bảng 4.2: Phân bố diện tích theo từng cấp độ cắt sau 35
Bảng 4.3: Phân bố diện tích theo từng cấp độ dốc 36
Bảng 4.4: Phân bố diện tích lưu vực theo mức độ ảnh hưởng của độ dốc 38
Bảng 4.5: Phân bố diện tích lưu vực theo cấp độ cao 40
Bảng 4.6: Phân bố diện tích lưu vực theo cấp dạng địa hình 42
Bảng 4.7: Bảng ma trận phân cấp đầu nguồn 42
Bảng 4.8: Phân bố diện tích lưu vực theo từng cấp đầu nguồn 44
Bảng 4.9: Các hiện trạng rừng của lưu vực Thác Bà 45
Bảng 4.10: Hiện trạng cho từng cấp đầu nguồn 47
Bảng 4.11 Đặc điểm tầng cây cao ở các trạng thái rừng 48
Bảng 4.12 Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi 55
Bảng 4.13 Khối lượng thảm khô ở các trạng thái rừng 58
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Quy trình phân cấp lưu vực Thác Bà 17
Hình 3.1 Bản đồ KBTTN Núi Ông 19
Hình 4.1: Điểm đầu ra của lưu vực Thác Bà 31
Hình 4.2: Tọa độ điểm đầu ra của lưu vực Thác Bà 32
Hình 4.3: Ranh giới lưu vực Thác Bà 33
Hình 4.4: Bản đồ phân cấp độ cắt sâu 34
Hình 4.5: Bản đồ phân cấp độ dốc 36
Hình 4.6: Bản đồ phân cấp độ dốc theo cắt sâu 37
Hình 4.7: Bản đồ phân cấp độ cao 39
Hình 4.8: Bản đồ phân cấp địa hình 41
Hình 4.9: Bản đồ phân cấp đầu nguồn Thác Bà 43
Hình 4.10 Bản đồ hiện trạng rừng lưu vực Thác Bà 46
Hình 4.11 Biểu đồ đường kính D1.3 của cây gỗ ở các trạng thái rừng 49
Hình 4.12 Biểu đồ mật độ cây gỗ ở các trạng thái rừng 50
Hình 4.13 Biểu đồ đường kính tán của các trạng thái rừng 51
Hình 4.14 Biểu đồ độ tàn che của các trạng thái rừng 52
Hình 4.15 Biểu đồ chiều cao Hvn của cây gỗ ở các trạng thái rừng 53
Hình 4.16 Biểu đồ chiều cao Hdc của cây gỗ ở các trạng thái rừng 54
Hình 4.17 Biểu đồ thể hiện độ che phủ của cây bụi của các trạng thái rừng tại từng cấp đầu nguồn 55
Hình 4.18 Biểu đồ độ che phủ thảm tươi của từng hiện trạng rừng tại từng cấp đầu nguồn 56
Hình 4.19 Biểu đồ độ độ cao cây bụi các hiện trạng rừng tại từng cấp đầu nguồn 56
Hình 4.20 Biểu đồ chiều cao thảm tươi ở các trạng thái rừng tại từng cấp đầu nguồn 57
Trang 7vii
Hình 4.21: Biểu đồ độ che phủ lớp thảm khô của các trạng thái rừng ở từng cấp đầu nguồn 58 Hình 4.22: Biểu đồ khối lƣợng lớp thảm khô ở các trạng thái rừng trong các cấp đầu nguồn 59
Trang 81
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vai trò của rừng rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, đảm bảo cung cấp nước cho mùa khô, hạn chế lũ lụt vào mùa mưa và còn cung cấp các sản phẩm tự nhiên từ rừng phục vụ cho nhu cầu con người
Hằng năm ở Việt Nam mỗi khi mùa mưa đến, khiến mực nước sông, suối chảy xiết và lũ thác cuồn cuộn đổ về phía hạ lưu, cuốn theo đó là khoảng
300 triệu tấn bùn cát Gây ra mối đe dọa lớn luôn rình rập cuộc sống của con người và sự phát triển của kinh tế xã hội ở nước ta, vì vậy để giảm thiểu thiên tai và để cho tất cả mọi nguồn nước trước khi chảy ra biển đều mang lại lợi ích tối đa cho con người, đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc suy ngẫm và đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc quản lý lưu vực theo hướng bền vững
và có hiệu quả kinh tế cao
Phân cấp đầu nguồn là việc nghiên cứu đặc điểm của vùng đầu nguồn, phân chia thành từng cấp khác nhau, có sự đồng nhất về tiềm năng xói mòn và khô hạn, từ đó đưa ra những cơ sở để tìm ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp và bền vững nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng người dân sống ở vùng
đó và toàn xã hội
Bình Thuận có địa hình chủ yếu là đồi núi cao, có kiểu rừng gỗ lá rộng, kiểu rừng rụng lá, kiểu rừng hỗn giao và tre nứa thuần loại chiếm ưu thế Bên cạnh đó, sông ngòi tại Bình Thuận đều ngắn, lượng nước không điều hòa, mùa mưa nước sông chảy mạnh, mùa nắng làm sông bị khô hạn
Lưu vực Thác Bà thuộc huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận có tầm quan trọng không những cung cấp nước cho KDL Thác Bà mà còn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng nghìn hộ dân đồng thời cung cấp nước tưới cho đất sản xuất nông nghiệp Với vùng đất khô hạn hiện đã và đang đặt ra nhiều vấn đề thách thức và khó giải quyết trong việc sử dụng bền vững nguồn nước đầu nguồn, đặc biệt trong lĩnh vực quy hoạch quản lý tài nguyên rừng bền vững trong lưu vực
Trang 92
Để góp phần vào việc quản lý lưu vực, phân cấp lưu vực bằng các biện
pháp kỹ thuật và công nghệ mới, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phân cấp
đầu nguồn lưu vực Thác Bà, huyện Tánh Linh – Bình Thuận”
Trang 103
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và phân cấp đầu nguồn lưu vực
Theo khái niệm chung, Lưu vực là một đơn vị diện tích mặt đất mà trong đó những quá trình tích lũy và vận chuyển của nước diễn ra tương đối độc lập với các diện tích xung quanh
Theo tài liệu hướng dẫn quản lý lưu vực của tổ chức Nông lương Thế giới thì “Quản lý lưu vực là quá trình thiết lập và thực hiện một chuỗi các hành động liên quan đến việc đẩy mạnh việc sử dụng hệ thống tự nhiên trong
một lưu vực (watershed) để đạt được những mục tiêu cụ thể.” (FAO
Conservation Guide, 1986)
Phân cấp đầu nguồn là phân chia một cảnh quan (hoặc diện tích đầu nguồn) thành các cấp khác nhau như một sự mô tả tiềm năng về các nguy cơ xói mòn đất theo đặc điểm tiềm năng địa hình dựa vào các đặc trưng địa lý và môi trường của chúng
Mức nhảy cảm ở vùng đầu nguồn không đồng nhất, phụ thuộc vào đặc điểm của những nhân tố quyết định đến tiềm năng xói mòn và nguy cơ khô hạn, trong đó quan trọng nhất là độ dốc, độ cao, loại đất và chế độ mưa Khi
độ dốc càng lớn, độ cao càng tăng, khả năng chứa nước của đất càng thấp, lượng mưa càng nhiều thì mức nhảy cảm càng cao Việc phân tích tính nhảy cảm của vùng đầu nguồn, phân chia và ghép nhóm các diện tích trong đó thành những cấp có mức nhảy cảm khác nhau và cần có những biện pháp quản
lý khác nhau được gọi là phân cấp đầu nguồn
Ở Việt Nam, vùng đầu nguồn được phân chia thành 3 cấp với mức độ xung yếu khác nhau:
- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ có nguy cơ xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước
Trang 114
- Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình, nơi có điều kiện phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ đất và sử dụng đất
- Vùng ít xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc thấp, ít nguy cơ xảy
ra xói mòn, dòng chảy và các sự cố khác về môi trường
1.2 Tình hình nghiên cứu về lưu vực trên thế giới
Nghiên cứu phát triển phương pháp phân cấp đầu nguồn để giải quyết các vấn đê thực tiễn đang diễn ra của trường Đại học Kasetsart Bangkok (1983) Mục tiêu chính của phân cấp đầu nguồn là ngăn chặn suy thoái môi trường Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu cơ bản như: bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000, bản đồ đất tỷ lệ 1:100.000, bản đồ địa chất tỷ lệ 1:250.000 với lích thước ô lưới nhỏ nhất là 1km2
Năm1990, trường đại học Chiang Mai đã nghiên cứu phân cấp đầu nguồn với mục đích quy hoạch sử dụng đất một cách bền vững về mặt sinh thái và kinh tế Tiêu chí sử dụng trong phân tích gồm: độ dốc, độ cao, độ che phủ rừng, nguồn nước, vị trí của làng người dân, cơ sở hạ tầng
Nghiên cứu đánh giá hiểm hoạ xói mòn và chất lượng đất cho các nước thuộc phía Nam của cộng đồng Châu Âu (1991) Nó được dựa trên 5 tập hợp
dữ liệu: đất, khí hậu, độ dốc, thực vật và thuỷ lợi Tất cả dữ liệu này được đồng nhất về lưới chiếu, được kiểm tra về độ chính xác và độ tương thích Kết quả nghiên cứu đã thu được trong thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất
Năm 1993, trường đại học Giessen đã thực hiện lên kế hoạch nghiên cứu quản lý vùng đầu nguồn tại Tây Nguyên nhiệt đới của vùng hạ lưu Sông
Mê Kong Mục đích của dự án này phân tích xung đột việc sử dụng đất tại vùng đầu nguồn, sử dụng phương pháp tiếp cận khác nhau và đặc biết ứng dụng công nghệ mới vào trong việc quản lý lưu vực đầu nguồn
Nghiên cứu sửa đổi khả năng phân loại cho một lưu vực ở phía bắc Thái Lan của Tiến sỹ Weyerhaeuser (1994) Nghiên cứu sử dụng các dữ liệu cơ bản như: bản đồ địa hình tỷ lệ 1:500.000, bản đồ sử dụng đất và ảnh vệ tinh
Trang 125
Lansat Các nhận tố phân tích để đưa ra các giá trị cấp đầu nguồn gồm: độ dốc, độ cao, tài nguyên nước, cơ sở hạ tầng và che phủ rừng Nghiên cứu phân chia khu vực phía bắc Thái Lan thành 5 cấp đồng thời khuyến nghị mục đích
sử dụng đất tương ứng với từng cấp đầu nguồn
Năm 1996, nhận thấy được tầm quan trọng của tài nguyên nước và các vấn đề thiếu nước trong mùa khô nên chính phủ của Thái Lan đã giải quyết vấn đề đó bằng “ phân cấp đầu nguồn”, giải pháp này đã thực hiện phân lưu vực thành 5 khu vực: khu vực 1 (WSC1) chiếm 17,86% diện tích và khu vực 2: chiếm 8,3% (WSC2) tập trung bảo vệ rừng, khu vực 3: chiếm 7,54% (WSC3), khu vực 4: chiếm 16% (WSC4), khu vực 5: chiếm 50,3% (WSC5) sản xuất nông nghiệp Các thông số sử dụng như sau: độ dốc, độ cao, thành phần cơ giới đất, độ che phủ rừng và địa chất
Năm 2003, Thomas Kohler và Thomas Breu đã ứng dụng GIS phân cấp đầu nguồn cho vùng hạ lưu của Sông Mê kong với phạm vi 4 nước: Thái lan, Lào, Campuchia, Việt Nam Kết quả của bài nghiên cứu đã góp phần cho việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng hạ lưu Sông Mê Kong, trong nội dung các chuyên gia chỉ sử dụng 3 nhân tố: độ dốc, độ cao, địa hình và đưa ra phương trình như sau:
WSC = 1,76 – (0,035độ dốc) + (0,163*địa hình) + (0,002 độ cao)
Năm 2005, Andreas Heinimann đã nghiên cứu phân cấp đầu nguồn trên phạm vi cả nước Lào, kết quả nghiên cứu đã góp phần nâng cao mo hình sản xuất, hạn chế việc chặt phá rừng làm nương rẫy và xây dựng bản đồ quy hoạch
sử dụng đất
TS Claudia Sadoff và các nhà khoa học thuộc Viện quản lý nước Quốc
tế (IWMI) năm 2012 đã nghiên cứu và cho ra mắt ấn phẩm “Quản lý nước xuyên biên giới”, công trình đã nêu lên đặc điểm của các lưu vực xuyên biên giới, cách quản lý, bảo vệ để thu được lợi ích tối đa từ các lưu vực đó Nghiên cứu đã được Maria Mutagamba (Bộ trưởng Bộ nước và Môi trường – Chủ tịch hội đồng các bộ trưởng song Nile) kí và công nhận
Trang 136
Đại học California, Mỹ (2015) sử dụng dữ liệu vệ tinh thời tiết và vệ tinh đo trọng lực Trái đất của NASA để mô tả tổn thất nước ngầm trong lòng đất thông qua dữ liệu từ không gian Nghiên cứu đã trình bày được mối liên hệ giữa dân số và nguồn nước ngầm trên trái đất, từ đó chỉ ra những khu vực có nguồn nước ngầm quá tải và những khu vực cạn kiệt nguồn nước ngầm để đưa
ra giải pháp sử dụng nguồn nước bền vững cho từng khu vực Bài viết được đăng trên Tạp chí tài nguyên nước thế giới (6/2015)
Và một số nghiên cứu khác như: Sử dụng thông tin khoa học và logic để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ sinh, xây dựng các tiêu chuẩn và biện pháp rõ ràng để kiểm tra và đánh giá hiệu quả của việc quản lý lưu vực…
1.3 Tình hình nghiên cứu về lưu vực ở Việt Nam
Việc quản lý và phân cấp lưu vực ở nước ta đang là một vấn đề được quan tâm trong những năm gần đây Các lưu vưc sông nhất là các lưu vực đầu nguồn vẫn chưa được khảo sát, đánh giá và phân cấp một cách hợp lý, các biện pháp quản lý và bảo vệ lưu vực thường chỉ tập trung ở các phần của lưu vực nơi mà sự xói mòn đã xảy ra ở mức cao và sự can thiệp được xem là cấp bách, hay ở những nơi mà các biện pháp kiểm soát xói mòn được coi là rất quan trọng trong việc duy trì các chức năng thiết yếu mà các phần này của lưu vực đang nắm giữ vai trò then chốt Một số đề tài nghiên cứu về lưu vực ở nước ta như:
Chu Văn Chung (2007) đã ứng dụng công nghệ GIS trong phân cấp xung yếu lưu vực tại xã Hiếu, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum Nghiên cứu
đã xây dựng được phương pháp phân cấp xung yếu của một lưu vực; đề xuất được phương pháp quản lý lưu vực và tài nguyên của lưu vực
Nguyễn Thám và Hồ Đình Thanh (2011), đã ứng dụng công nghệ GIS thành lập bản đồ phân chia lưu vực song phục vụ cho việc cảnh báo nguy cơ lũ quét tỉnh Gia Lai Nghiên cứu đã được đánh giá rất cao và được đăng trên Tạp chí khoa học Đại học sư phạm TP HCM
Trang 147
Nguyễn Tiến Chính và Trần Quang Bảo (2014), đã ứng dụng cộng nghệ GIS nghiên cứu phân cấp đầu nguồn tại khu vực hồ thủy điện Nậm Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá đặc điểm các trạng thái rừng tự nhiên, đặc điểm và hiệu quả tồng hợp các mô hình rừng trồng cây ăn quả, các mô hình cây lương thực Trên cơ sở đó nghiên cứu đã đề xuất được một số giải pháp sử dụng đất thích hợp cho từng cấp đầu nguồn trong lưu vực thủy điện Nậm Chiến
Năm 2014, Nguyễn Trần Đăng Quang đã ứng dụng GIS phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn tỉnh Gia Lai Dựa vào các chỉ tiêu phân cấp rừng phòng
hộ đầu nguồn như: Lượng mưa, độ dốc, độ cao tương đối và thành phần cơ giới, từ các giá trị chỉ tiêu đã xây dựng bản đồ phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn qua kết quả thống kê diện tích lưu vực nằm trong cấp rất xung yếu chiếm 0,23% tổng diện tích, cấp xung yếu chiếm 82,98% tổng diện tích, cấp ít xung yếu chiếm 16,79% tổng diện tích và đề xuất các giải pháp như: đối với cấp xung yếu yêu cầu bảo vệ đất cao, cần xây dựng rừng phòng hộ kết hợp với sản xuất lâm nghiệp, đảm bảo độ che phủ tối thiệu 50%, đối với cấp ít xung yếu có độ dốc < 8 có mức độ xói mòn thấp, có khả năng và như cầu sản xuất nông lâm nghiệp, đảm bảo tỷ lệ che phủ tối thiểu 30% và đối với cấp rất xung yếu có như cầu cao nhất về điều tiết dòng nước, danh cho việc xây dựng rừng phòng hộ, đảm bảo độ che phủ tối thiểu 70%
Phạm Văn Duẩn và cộng sự (2016) đã thực hiện đề tài “ Ứng dụng GIS thử nghiệm phân cấp mức độ xung yếu đầu nguồn tại tỉnh Đắk Nông”
Trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong những năm gần đây đã bắt đầu xuất hiện các đề tài ứng dụng GIS trong nghiên cứu không chỉ với tài nguyên thiên nhiên mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, đó là dấu hiệu của sự phát triển công nghệ khoa học và hệ thống thông tin địa lý của tỉnh Một số nghiên cứu đáng
kể trong địa bàn tỉnh như:
Trang 158
Một số nghiên cứu tại tỉnh Bình thuận:
Sở Tài Nguyên và Môi Trường Bình Thuận cùng Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông Bình Thuận (2011), đã thực hiện nghiên cứu “Ứng dụng GIS xây dựng CSDL, bộ bản đồ phục vụ quản lý và cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Bình Thuận”, đây là một trong những nghiên cứu lớn trong lĩnh vực này của tỉnh với quy mô ở tất cả các huyện trong tỉnh, ngoài ra còn có một số đề tài quy mô nhỏ hơn nhưng đã được đánh giá khá cao
Lương Thị Ánh (2015), đã nghiên cứu mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Lũy (Phan Thiết – Bình Thuận) Nghiên cứu đã làm rõ được đặc điểm địa chất và chế độ thủy văn; mô phỏng dòng chảy và đưa ra một số giải pháp phòng tránh lũ lụt cho người dân tại lưu vực sông Lũy
Tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã có 2 nghiên cứu về phân cấp đầu nguồn của sinh viên Phân hiệu trường Đại học Lâm nghiệp
- Nguyễn Hữu Thế (sinh viên Phân hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp,
Đồng Nai - 2017) Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu phân cấp đầu nguồn lưu vực Huy Khiêm, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.”
- Hudthaphone Sombounkhan (sinh viên Phân hiệu trường Đại học Lâm
nghiệp, Đồng Nai - 2017)Khóa luận tốt nghiệp“Nghiên cứu phân cấp đầu nguồn lưu vực La Ngâu, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.”
1.4 Thảo luận
Qua một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến phân cấp đầu nguồn trên thế giới thì nhận thấy rằng những quốc gia này rất quan tâm đến bảo vệ vùng đầu nguồn Còn tại Việt Nam những chuyên đề nghiên cứu thì hầu như chỉ tập trung đến các lĩnh vực đất đai và môi trường của các vùng có nguy cơ xói mòn hoặc suy thoái đất, còn những nghiên cứu về lưu vực đầu nguồn vẫn còn khá
ít, chủ yếu thực hiện ở các tỉnh phía Bắc
Phân cấp đầu nguồn là một trong những lĩnh vực phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng, bổ sung kiến thức chuyên môn, thường thì chỉ có những
Trang 169
nhà nghiên cứu hay những đề tài lớn mới thực hiện, đến nay đề tài về phân cấp đầu nguồn đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, không chỉ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu mà còn nhận được sự quan tâm của các bạn sinh viên
Tại KBTTN Núi Ông chưa có đề tài nào nghiên cứu về phân cấp đầu nguồn, để nâng cao tính hiệu quả công việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
đầu nguồn, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu phân cấp đầu nguồn lưu vực
Thác Bà, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận”
Tôi hy vọng rằng đề tài nghiên cứu này sẽ góp một phần cung cấp được thông tin quan trọng, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp về phát triển lưu vực đầu nguồn theo hướng bền vững
Trang 1710
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài thực hiện nhằm đề xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý với từng cấp đầu nguồn và đảm bảo sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng được bản đồ Phân cấp đầu nguồn cho lưu vực Thác Bà
- Xác định được một số đặc điểm trạng thái rừng ở các cấp đầu nguồn tại lưu vực
- Đề xuất được một số giải pháp sử dụng đất hợp lý cho từng cấp đầu nguồn ở lưu vực Thác Bà
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Phân cấp đầu nguồn lưu vực Thác Bà tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
Trang 1811
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định Ranh giới lưu vực
- Xây dựng bản đồ phân cấp đầu nguồn cho lưu vực Thác Bà
- Phân tích một số đặc điểm trạng thái rừng ở các cấp đầu nguồn tại lưu vực
- Đề xuất giải pháp sử dụng đất thích hợp cho từng cấp đầu nguồn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa
- Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tại KBTTT Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận và các kết quả nghiên cứu trước tại khu vực nghiên cứu liên quan đến xói mòn, sử dụng đất
- Thu thập các phần mềm, bản đồ liên quan: bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ hiện trạng rừng
2.4.1.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
a Xác định ranh giới lưu vực:
Sử dụng máy GPS để xác định tọa độ điểm đầu ra lưu vực, sau đó sử dụng bản đồ địa hình cùng với dữ kiệu DEM với sự hỗ trợ của phần mềm ARCGIS tiến hành khoanh vẽ lưu vực
b Điều tra các đặc điểm trạng thái rừng:
Sau khi phân cấp đầu nguồn lưu vực thành 3 cấp, Lập OTC với diện tích 500m2 tương ứng với 3 cấp đầu nguồn Vì thời gian và nhân lực hạn chế,
đề tài chọn 3 trạng thái rừng chiếm tỉ lệ lớn trong lưu vực để điều tra đánh giá đặc điểm các trạng thái ảnh hưởng đến nguy cơ khô hạn và tiềm năng xói mòn
Trang 1912
- Mỗi trạng thái rừng trên 1 cấp điều tra 1 OTC của khu vực gồm: rừng giàu, rừng trung bình và rừng phục hồi Nhƣ vậy đề tài lập 9 OTC với diện tích là 500 m2/OTC trong mỗi OTC sẽ tiến hành xác định các yếu tố nhƣ sau:
Trang 2013
- Trong các OTC điều tra một số đặc điểm như:
Tầng cây cao: Sử dụng thước dây 1,5m để đo đường kính D1.3, dùng thước cuộn 25m để đo đường kính tán cây Dt, dùng sào cao 8m để
đo chiều cao Hvn và Hdc, ngoài ra còn điều tra độ tàn che của tán rừng, tính mật độ M và đánh giá phẩm chất cây gỗ
Tầng cây thấp: dùng thước dây 1,5m để đo chiều cao tầng cây bụi Hcb và lớp thảm tươi Htt, ngoài ra còn đánh giá độ tàn che của tầng cây thấp (CPcb;CPtt)
Lớp thảm khô: thu gom lớp thảm khô trong ô dạng bản 1m2 sau đó dùng cân đồng hồ 5kg để cân lấy kết quả, khối lượng thảm khô của 1 OTC sẽ là trung bình cộng của 5 OTC dạng bản điều tra ở ô đó Kết quả điều tra được thể hiện trong mẫu sau:
Bảng 2.1: Đặc điểm tầng cây cao
DT (m)
Hvn (m)
Hdc (m)
Tan che ( % )
Sinh trưởng (%)
Bảng 2.2 Biểu điều tra lớp thảm mục
Bảng 2.3 Biểu điều tra tầng cây bụi và lớp thảm tươi
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng các phần mềm như excel, mapinfo xử lý tính toán các số liệu
Trang 212.4.2.1 Phương pháp phân cấp đầu nguồn
Đề tài lựa chọn 3 tiêu chí phân cấp gồm: độ dốc, độ cao và địa hình dựa theo phương pháp phân cấp đầu nguồn do Ủy ban Sông Mê Kong áp dụng Các tiêu chí phân cấp được chia theo tiêu chí phân cấp của Quyết định số
61/2005/QĐ-BNN của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và quyết định
số 17/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Ban hành Quy chế quản lý
rừng phòng hộ, cụ thể như sau:
- Phân cấp độ cao: Dựa vào sự chênh lệch độ cao giữa mức cao nhất và
thấp nhất trong lưu vực chia thành 3 cấp:
Bảng 2.4: Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ cao tương đối
Cấp 3 C3 1/3 độ chênh cao về phía trên (đỉnh)
Cấp 2 C2 1/3 độ chênh cao ở khoảng giữa (sườn)
Cấp 1 C1 1/3 độ chênh cao về khoảng dưới (chân)
- Phân cấp độ dốc: căn cứ vào 3 kiểu địa hình khác nhau sẽ chia thanh
3 cấp như sau:
- Vùng A: Địa hình đồi, núi và độ chia cắt sâu > 50m
- Vùng B: Địa hình đồi, núi và độ chia cắt sâu từ 25 - 50m
- Vùng C: Địa hình đồi, núi và độ chia cắt sâu < 25m
Bảng 2.5: Tiêu chí phân cấp mức độ ảnh hưởng của độ dốc
Trang 2215
- Phân cấp địa hình: Dạng địa hình được phân thành 3 dạng:
Địa hình lõm có giá trị âm
Địa hình lồi có giá trị dương
2.4.2.2 Quy trình phân cấp đầu nguồn
Sử dụng phương pháp Raster với sự hỗ trợ của phầm mềm ArcGIS 10.5
để xây dựng bản đồ phân cấp đầu nguồn và có các bước thực hiện như sau:
1 Xác định hệ thống sông suối của lưu vực từ bản đồ địa hình của lưu vực (DEM)
Bước 1: Mở lưu vực trong ArcMap
Bước 2: Sử dụng công cụ Fill để làm bằng bề mặt của lưu vực
Bước 3: Sử dụng công cụ Flow Direction để xác định hướng dòng chảy
Bước 4: Sử dụng công cụ Flow Accumulation để xác định tích luỹ dòng chảy
Bước 5:Sử dụng công cụ Reclassify trong Menu Spatial Analysis để xác
định hệ thống sông suối
Bước 6: Sử dụng công cụ Stream Order để xác định bậc sông suối
Bước 7: Sử dụng công cụ Stream to Feature để chuyển sông suối dạng
Raster về Vector
Bước 8:Sử dụng phần mềm SnagIt và Powerpoint để thể hiện kết quả theo
sơ đồ như sau:
2 Khoanh vẽ lưu vực từ DEM
- Sử dụng công cụ Watershed trong Hydrology (ArcToolbox => Spatial Analysis)
- Chồng ghép lưu vực được khoanh với hệ thống sông suối của lưu vực
Trang 23Độ dốc: Được chia làm 3 cấp: thấp, trung bình, cao
Độ cao: Được chia làm 3 cấp: thấp, trung bình, cao
Địa hình: Được chia làm 3 cấp: lõm, bằng phẳng, lồi
1 Xây dựng bảng ma trận 2 chiều giữa cấp độ dốc và độ cao để xác định
7 Tạo Layout cho bản đồ phân cấp đầu nguồn
Bản đồ phân cấp đầu nguồn lưu vực Thác Bà được xây dựng bằng
phương pháp Rasrer theo trình tự các bước như sơ đồ hình 2.1
Trang 24BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
BẢN ĐỒ PHÂN CẤP ĐẦU NGUỒN
BẢN ĐỒ ĐỘ CAO
BẢN ĐỒ PHÂN CẤP
ĐỘ DỐC
BẢN ĐỒ PHÂN CẤP ĐỘ CAO
BẢN ĐỒ PHÂN CẤP ĐỊA HÌNH
Trang 2518
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, hành chính
- Khu BTTN Núi Ông nằm trên địa bàn hành chính 2 huyện: Huyện Hàm Thuận Nam (xã Mỹ Thạnh) và Huyện Tánh Linh (bao gồm các xã: La Ngâu Đức Bình, Đức Thuận, Gia Huynh, Suối Kiết và Thị trấn Lạc Tánh), tỉnh Bình Thuận Nằm cách TP Phan Thiết 40 km về phía Tây Bắc và cách
- Đặc điểm vị trí cho thấy khu vực phía Tây của KBT tiếp giáp với nhiều khu dân cư và gần các trục giao thông, mặc dù tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại nhưng cũng là áp lực gây khó khăn cho công tác bảo vệ, ngăn chặn việc tiếp cận vào Khu bảo tồn trái phép
Trang 26- Cấu trúc địa hình Khu BTTN Núi Ông từ phía Đông sang phía Tây theo kiểu địa hình biến đổi nhƣ sau: vùng đồi núi trung bình – vùng núi thấp – vùng đồi cao – vùng đồi thấp – vùng bằng gợn sóng Cấu tạo địa hình vừa đa
Trang 27và Thiết kế nông nghiệp Nam Bộ trên cơ sở phương pháp phân loại đất của FAO-UNESCO cho thấy các loại đá kết tinh chua là đá mẹ tạo ra các loại đất
ở Khu BTTN Núi Ông, điển hình là đá Granit Trong đó có các loại đất chính như sau:
- Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá axit kết tinh chua nghèo dinh dưỡng, hạt thô, độ kết dính kém Do quá trình xói mòn và rửa trôi nên đã tạo thành dạng đất xương xẩu ở sườn và đỉnh núi cao và núi trung bình trong hệ thống Núi Ông
- Đất Feralit vàng xám phát triển trên nền phù cổ, tầng rất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng dưới bị đá ong hóa, tầng trên bị rửa trôi theo chiều thẳng đứng làm cho đất bị bạc màu
- Đất Feralit vàng xám phát triển trên phiến thạch sét, tầng đất dày trung bình, thành phần cơ giới nặng, độ màu mỡ khá, nhưng diện tích loại đất này phân tán thường phân bố ở dưới chân đồi, núi
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
- Về khí hậu: Tánh Linh có 2 mùa mưa và khô rõ rệt; mùa mưa bắt đầu
từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau; mang tính chuyển tiếp giữa chế độ mưa của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và vùng đồng bằng ven Biển Vì vậy, Tánh Linh là vùng ẩm nhất tỉnh Bình Thuận, chỉ số ẩm ướt trong năm đều trên 2; chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Lượng mưa trung bình trong năm tương đối cao (từ 2.000 - 2.500 mm), tập trung theo mùa, chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Mùa
Trang 2821
nắng kéo dài, số giờ nắng trong năm cao (khoảng 8 giờ/1 ngày); tổng lượng bức xạ năm vào khoảng 140kcl/cm2/năm; độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 70 - 85%, độ ẩm không khí cao từ tháng 6 đến tháng 11 đạt khoảng 84,3 - 86,9% Nhìn chung, huyện Tánh Linh có nguồn nước dồi dào, đảm bảo được phần nào việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác Tuy nhiên do lượng mưa tập trung theo mùa, địa hình nhiều đồi núi nên hiện tượng hạn hán cục bộ vào mùa khô hoặc lũ quét, sạt lỡ vào mùa mưa thường xảy ra tại một số nơi trên địa bàn huyện
- Về thủy văn: Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông là khu vực có nguồn nước phong phú, trữ lượng khá dồi dào với nhiều sông suối lớn chảy qua, sông
La Ngà bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh là sông lớn nhất chảy qua KBTTN Núi Ông, sông bao quanh phía Bắc Núi Ông là nguồn nước cung cấp cho Thủy điện Trị An và đập thủy lợi Tà Pao Phía Đông Núi Ông có các hệ thống sông lớn như: Kapét, sông Móng, sông Dịch, sông Trang, sông Phan cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp huyện Hàm Thuận Nam và Hàm Tân Ngoài ra còn có sông Các chảy từ đỉnh Núi Ông qua khu vực Thác Bà ra cầu quận (thị trấn Lạc Tánh) cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp huyện Tánh Linh và Đức Linh, là nguồn nước đầu nguồn thủy điện Trị An; ở đây có Thác Bà là thắng cảnh vui chơi sinh thái của KBTTN Núi Ông hiện nay và trong tương lai
3.1.5 Về tài nguyên rừng
Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có thảm thực vật rộng lớn, tỷ lệ độ che phủ rừng của khu bảo tồn chiếm tới 93%; vì vậy, nơi đây có sự đa dạng sinh học rất lớn, là nơi sinh sống của trên 1.000 loài động thực vật
- Hệ thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có đến 763 loài thực vật bậc cao; trong đó, có 55 loài thực vật bị đe dọa ở cấp quốc gia và/hoặc quốc
tế Trong đó có lòai Erythorophleum fordii oliv Lim là loài cây gỗ lớn thuộc
họ vang( Caesalpininoideae) mới phát hiện có phân bố tự nhiên ở khu vực Núi Ông mà các tỉnh phía Nam không có Một số loài thực vật quý hiếm như: Cẩm
Trang 2922
lai (Dalbergia bariensis Pierre), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Giáng hương qủa
to (Ptero carpus Kosf), Kim giao lá nhỏ (Podocarpus wallichianus Presl), Trắc mật (Dalbergia cochinchinensis Pirerre), Lim xanh (Erythorophleum fordii oliv Lin) Đặc điểm nổi bật quan trọng là hệ thực vật Khu bảo tồn thiên
nhiên Núi Ông mang các yếu tố Đông Dương và Malaysia thuộc vùng hệ thực vật Ấn Độ-Mã Lai, cũng chứa đựng phần nào yếu tố châu Phi, châu Úc Ngoài
ra hệ thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông còn hiện diện một số loài trong các họ thực vật cổ xưa thuộc hai khu hệ thực vật cổ xưa á nhiệt đới và nhiệt đới
- Hệ động vật Khu BTTN Núi Ông có 46 loài thú, 98 loài chim, 22 loài
bò sát và 18 loài ếch nhái (trong đó có loài ếch cây thuộc loài đặc hữu) Đặc biệt, có 19 loài được xếp ở cấp CR trong sách đỏ Việt Nam như: hổ, gấu chó, báo hoa mai, tê tê java, rắn hổ chúa, gà lôi hông tía ….và một số loài được ưu tiên bảo tồn cao, được thế giới đặc biệt quan tâm, như Chà vá chân đen, Vượn đen má vàng, Cu li nhỏ
Từ những yếu tố trên cho thấy Khu BTTN Núi Ông có những động thực vật đa dạng và phong phú, là kho tàng tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, không những có giá trị to lớn về phòng hộ bảo vệ môi trường mà còn có giá trị cao về nghiên cứu khoa học, về tính đa dạng sinh học
3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu kinh tế xã hội
Trong thời gian vừa qua mặc dù vẫn cón những khó khăn chung như giá
cả một số mặt hàng nông sản chủ lực tiếp tục ở mức thấp, không ổn định, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất của nhân nhân; trong khi đó nguồn lực cho đầu tư phát triển còn thấp, tác động bất lợi đến sự phát triển, tuy nhiên kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Tánh linh năm 2017 đã đạt được nhiều thành tựu tích cực (bảng 3.1)
Trang 3023
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội
huyện Tánh Linh năm 2017
hoạch
Thực hiện
5 Giải quyết việc làm l động 2100 2000 105
6 Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào
cây công nghiệp dài ngày và
cây lâu năm)
Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng năm 2017 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 huyện Tánh Linh
3.2.2 Sản xuất nông nghiệp
Nhờ chủ động được lịch thời vụ, chủ động nguồn nước tưới, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn huyện gieo trồng được 35.280ha/34.475 ha, đạt 102,34% KH năm, tăng trên 370 ha so cùng kỳ Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt 30.220 ha/29.500 ha, đạt 102,4% KH năm; tổng sản lượng lương thực đạt 189.800 tấn/183.000 tấn, đạt 103,7% KH năm, tăng 7.000 tấn
so với cùng kỳ (sản lượng bắp giảm trên 7.300 tấn nhưng sản lượng lúa tăng trên 14.300 tấn so với cùng kỳ) Cụ thể: Cây lúa gieo trồng 27.020 ha, đạt 108,1% KH năm, tăng 1.990 ha so với cùng kỳ; sản lượng thóc thu hoạch đạt 164.565 tấn, đạt 111,4% KH năm, tăng 14.390 tấn so với năm trước; cây bắp
Trang 3124
gieo trồng 3.200 ha, đạt 71,1% KH năm, giảm 855 ha so với cùng kỳ, sản lượng bắp thu hoạch đạt 25.035 tấn, đạt 71,8% KH năm, giảm 7.290 tấn so với cùng kỳ
Cây điều 4.521 ha, diện tích thu hoạch 4.089 ha, do ảnh hưởng thời tiết, sâu bệnh nên năng suất điều đạt thấp, sản lượng thu hoạch đạt 330 tấn; trước tình hình trên, đã tập trung chỉ đạo chủ động quản lý sâu bệnh gây hại, thâm canh, cải tạo tăng năng suất trên cây điều, tranh thủ nguồn vốn Trung ương (Viện Nông nghiệp Miền Nam), nguồn vốn sự nghiệp nông nghiệp, vốn sự nghiệp CTMTQG xây dựng nông thôn mới để triển khai mô hình thâm canh
39 ha điều, hỗ trợ giống điều mới gần 8.000 cây trên địa bàn các xã, thị trấn,
tổ chức nhiều lớp hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, cải tạo vườn điều cho nhân dân trên địa bàn huyện
Cây cao su diện tích 21.293 ha, ước sản lượng mủ khai thác 30.900 tấn Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả là 365 ha ( ), nâng tổng diện tích chuyển đổi trên địa bàn huyện đến nay là 3.165 ha Diện tích nhân giống lúa xác nhận đạt 149 ha, đạt 114,6% kế hoạch Diện tích liên kết đóng bao lúa giống với Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long là 12 ha/25 tấn
Đã tập trung chỉ đạo triển khai phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm
và kiểm tra tình hình buôn bán, vận chuyển gia súc, gia cầm, sản phẩm gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện nên đàn gia súc gia cầm phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra
Công tác thủy lợi được quan tâm thường xuyên, thực hiện bơm tưới phục vụ cho sản xuất, diện tích tưới từ các công trình trạm bơm điện, đập tự chảy đạt 20.871 ha, đạt 99,39% kế hoạch năm
Công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn được tập trung chỉ đạo; thường xuyên kiện toàn tổ chức Ban Chỉ huy từ huyện đến xã, thị trấn Tập trung thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo khẩn của tỉnh về đối phó với tình hình thời tiết (bão, áp thấp nhiệt đới)
Trang 3225
Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng, chống lấn chiếm đất lâm nghiệp và PCCCR Từ đó, đã hạn chế được tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, nhất là các vùng giáp ranh với các tỉnh, huyện bạn Tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy Kế hoạch, đồng thời xây dựng Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng Tập trung chỉ đạo việc xử lý, thu hồi và quản lý đất lâm nghiệp bị lấn chiếm tại Khu BTTN Núi Ông (xây dựng và triển khai 03 Kế hoạch thực hiện chia làm 3 đợt) Số vụ vi phạm bảo vệ và phát triển rừng giảm
so với cùng kỳ( ) Trong năm, toàn huyện đưa vào giao khoán thêm 2.164,4
ha, nâng diện tích giao khoán lên 23.645,74 ha/502 hộ
Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tiếp tục được ổn định và phát triển; công tác quản lý sử dụng đất vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường Thực hiện đầy đủ và đúng quy định các chương trình, chính sách phát triển sản xuất và an sinh xã hội; các hạng mục công trình thiết yếu giao thông, thủy lợi, trường học tiếp tục được quan tâm đầu tư; duy trì diện tích giao khoán bảo vệ rừng theo Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy 14.307 ha/371 hộ và mở rộng diện tích giao khóan theo Nghị định
99 của Chính phủ Từ đó, đời sống của hộ đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tụ được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo trong hộ đồng bào dân tộc thiểu số giảm hơn 2%
3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất CN-TTCN trên địa bàn huyện ước đạt 911,16 tỷ đồng, bằng 104% so với cùng kỳ; một số sản phẩm như: Gạch Hoffman 320 triệu viên, đá chẻ 6,484 triệu viên; đá xây dựng các loại 273.000 m3
; khai thác cát 449.000 m3,
Duy trì, phát triển các ngành nghề CN-TTCN các ngành nghề truyền thống ở các xã thị trấn như hàn tiện, gia công cơ khí, kỹ nghệ sắt, sản xuất
Trang 3326
nông cụ cầm tay, xay xát lương thực, sơ chế nhân điều, sơ chế mủ cao su Tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tư vào các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện
3.2.4 Hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ
Tập trung xúc tiến, mời gọi đầu tư; thực hiện tốt công tác quảng bá, tuyên truyền, xây dựng tập san Thu hút đầu tư ngoài ngân sách có chuyển biến bước đầu như: Khu du lịch sinh thái Thác Bà, Ngân hàng An Bình, Chuỗi Siêu thị BTtmart, nhà máy xử lý rác thải Thanh Long, điều chỉnh cụm công nghiệp Lạc Tánh, một số cửa hàng xăng dầu tại Gia An, Đức Bình, Huy Khiêm và Trạm chiết nạp gas tại xã Đức Bình Toàn huyện đón khoảng 60.000 ngàn lượt khách du lịch đến tham quan, doanh thu ước khoảng 930 triệu đồng
Công tác huy động nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư xây dựng mới
và nâng cấp chợ được tập trung chỉ đạo thực hiện; hệ thống chợ nông thôn từng bước được nâng cấp, xây dựng mới, đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa của nhân dân; hoạt động thương mại - dịch vụ tại các chợ tăng về số lượng
cơ sở kinh doanh lẫn chất lượng, các chủng loại hàng hóa ngày càng đa dạng
và phong phú Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường được tăng cường ( ) Dịch vụ vận tải hàng hóa, hành khách, bưu chính viễn thông đáp ứng kịp thời
3.2.5 Công tác quy hoạch, xây dựng và tài nguyên và môi trường
Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được quan tâm gắn với thực hiện quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới; tiếp tục rà soát, điều chỉnh các
đồ án quy hoạch không còn phù hợp; tăng cường chỉ đạo kiểm tra quản lý trật
tự xây dựng và chất lượng công trình xây dựng Đẩy nhanh tiến độ, rà soát các vướng mắc trong triển khai các khu dân cư trên địa bàn huyện
Công tác giải phóng mặt bằng được tập trung thực hiện và đạt được một
số kết quả tích cực Nhất là đối với tuyến kênh chính Nam, đoạn qua địa bàn
xã Gia An (qua khu dân cư), đã Thành lập Tổ vận động và xây dựng Kế hoạch, trực tiếp vận động, giải thích 14 hộ chưa nhận tiền bồi thường, hỗ trợ;
tổ chức đối thoại với hộ ông Võ Tươi; kết quả đã vận động được 08 hộ thống nhất nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đang tiếp tục vận động, giải
Trang 3427
thích những 06 hộ dân còn lại Ngòai ra, các công trình như: Công trình mở rộng đường thị trấn Lạc Tánh (giai đoạn 2); nâng cấp đê bao và kênh thoát lũ đồng 41 xã Đức Tân; Cầu qua sông La Ngà tại Bản 2 - xã La Ngâu, Đường giao thông Biển Lạc - Núi Ông, Đường trung tâm xã Gia Huynh, Nghĩa trang Liệt sĩ huyện được tập trung tháo gỡ vướng mắc
Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu được 1.022,21 ha/1002,6, đạt 102,01% chỉ tiêu giao Tiếp tục tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong triển khai thực hiện Dự án đo đạc tổng thể (920) theo Quyết định giao của tỉnh năm 2017 Thành lập Đoàn
và triển khai thanh tra trên lĩnh vực đất đai tại các xã, thị trấn theo chỉ đạo của UBND tỉnh Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản được tăng cường; phối hợp với huyện Đức Linh ban hành và thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản giữa 02 huyện; ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND để chỉ đạo tăng cường công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản; tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy Nghị quyết số 15-NQ/HU ngày 31/7/2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn huyện, đồng thời xây dựng Kế hoạch tổ chức thực hiện Chỉ đạo công bố, công khai và tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than trên địa bàn huyện Tánh Linh, giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt Toàn huyện phát hiện, xử lý vi phạm hành chính 134 vụ, với tổng số tiền thu phạt 454,7 triệu đồng; tịch thu 19 máy bơm hút cát và 305 m3 cát
Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm; việc thanh, kiểm tra các cơ
sở được thực hiện thường xuyên; chỉ đạo triển khai phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường theo Quyết định 51/2016/QĐ-UBND của UBND tỉnh Tập trung tháo gỡ các vướng mắc trong triển khai dự
án Nhà máy rác thải của Công ty Thanh Long tại Gia An, dự án của Công ty
Bá Phát tại xã Gia Huynh Đồng thời tích cực phối hợp với ngành chức năng
Trang 3528
của tỉnh trong triển khai giải phóng mặt bằng và thi công tuyến ống nước từ Thác Bà về Nhà máy nước Lạc Tánh để tăng số hộ sử dụng nước sạch Lĩnh vực tài nguyên nước được quan tâm hơn, nhân dân đã từng bước ý thức được tầm quan trọng của nguồn tài nguyên nước
3.2.6 Đánh giá chung về tình hình kinh tế xã hội
Triển khai nhiệm vụ trong năm 2017, ngay từ đầu năm, UBND huyện
đã cụ thể hóa và bám sát Quyết định của UBND tỉnh, Kết luận của Huyện ủy, Nghị quyết của HĐND huyện một cách đồng bộ, với quyết tâm cao, phối hợp tốt với các Sở, ngành của tỉnh trong việc tháo gỡ các vướng mắc của địa phương, vừa triển khai nhiệm vụ gắn với công tác kiểm tra đôn đốc thực hiện nên tình hình kinh tế và đời sống xã hội tiếp tục ổn định, có nhiều mặt chuyển biến tích cực, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đạt khá, có chỉ tiêu tăng cao so với cùng kỳ năm 2016, trong đó:
- Thu ngân sách tăng cao so với cùng kỳ năm 2016; đầu tư xây dựng cơ bản, công tác giải phóng mặt bằng được tập trung chỉ đạo; nhiều dự án có nguồn vốn ngoài ngân sách được triển khai; tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư đạt kết quả khá, nhất là trên lĩnh vực thương mại, du lịch; hoạt động sản xuất kinh doanh khá sôi động, cấp thêm 165 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
hộ cá thể, giải quyết việc làm cho trên 2000 lao động, kinh tế tập thể được duy trì
- Sản xuất công nghiệp thương mại, dịch vụ được duy trì ổn định; sản xuất nông nghiệp có nhiều cố gắng, mô hình cánh đồng mẫu lớn, liên kết sản xuất nông nghiệp được phát huy hiệu quả, xây dựng được nhãn hiệu Gạo Tánh Linh; diện tích và sản lượng lương thực tăng so với cùng kỳ năm 2016, diện tích cây trồng lâu năm phát triển ổn định Triển khai tốt công tác quản lý, bảo
vệ, chống lấn chiếm đất lâm nghiệp và phòng cháy chữa cháy rừng; công tác
xử lý, thu hồi và quản lý đất lâm nghiệp bị lấn chiếm tại Khu BTTN Núi Ông được tập trung chỉ đạo Kết quả xây dựng nông thôn mới; cấp Giấy chứng
Trang 36* Tuy nhiên vẫn còn một số thuận lợi - khó khăn, kèm theo đó là:
Thuận lợi:
- Đặc điểm vị trí cho thấy khu vực phía Tây của KBT tiếp giáp với nhiều khu dân cư và gần các trục giao thông, mặc dù tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại
- Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông có thảm thực vật rộng lớn, tỷ lệ độ che phủ rừng của khu bảo tồn chiếm tới 93%; vì vậy, nơi đây có sự đa dạng sinh học rất lớn
- Nhìn chung, huyện Tánh Linh có nguồn nước dồi dào, đảm bảo được phần nào việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh
tế khác
- Phía Đông Núi Ông có các hệ thống sông lớn như: Kapét, sông Móng, sông Dịch, sông Trang, sông Phan cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp huyện Hàm Thuận Nam và Hàm Tân
- Ngoài ra còn có sông Các chảy từ đỉnh Núi Ông qua khu vực Thác Bà
ra cầu quận (thị trấn Lạc Tánh) cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp huyện Tánh Linh và Đức Linh, là nguồn nước đầu nguồn thủy điện Trị An Ở đây có Thác Bà là thắng cảnh vui chơi sinh thái của KBTTN Núi Ông
Khó khăn:
- Kinh tế phát triển còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp chưa rõ nét, đầu ra sản phẩm nông nghiệp còn khó khăn, giá trị thấp Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chưa có
Trang 37- Giáo dục toàn diện cho học sinh có mặt còn hạn chế Đội ngũ bác sĩ còn thiếu; cơ sở vật chất của Trung tâm Y tế xuống cấp nhưng chưa được đầu tư; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao (30,8%)
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, nhất là công tác tôn giáo, khiếu kiện liên quan đến đất đai, tệ nạn ma túy còn diễn biến phức tạp
- Lượng mưa tập trung theo mùa, địa hình nhiều đồi núi nên hiện tượng hạn hán cục bộ vào mùa khô hoặc lũ quét, sạt lỡ vào mùa mưa thường xảy ra tại một số nơi trên địa bàn huyện
- Người dân làm rẫy, đốt rẫy khá cao, gây khó khăn trong công tác bảo
vệ rừng
Trang 3831
Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Xác định ranh giới của Lưu vực Thác Bà
Để phân cấp đầu nguồn cho khu vực nghiên cứu, công việc đầu tiên là phải xác định ranh giới của lưu vực, ranh giới của lưu vực được xác định theo nguyên tắc “từ điểm đầu ra vẽ đường vuông gốc với tiếp tuyến của đường đồng mức tại vị trí điểm nằm trên đường giống cho khi khép kín” Điểm đầu
ra của lưu vực được xác định tại vị trí KDL Thác Bà, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình thuận có kinh độ X= 414962 m và vĩ độ Y= 1219275 m
Hình 4.1: Điểm đầu ra của lưu vực Thác Bà
Trang 3932
Hình 4.2: Tọa độ điểm đầu ra của lưu vực Thác Bà
Đề tài sử dụng phần mềm Arcgis 10.5 bằng cách thiết lập hệ thống dữ liệu dạng Raster có kích thước 30 x 30 m Quá trình thực hiện tạo ra ranh giới lưu vực như hình 4.3:
Trang 4033
Hình 4.3: Ranh giới lưu vực Thác Bà
Kết quả hình 4.3 cho thấy Thác Bà Nằm trên 2 xã Đức Bình, Đức Thuận thuộc huyện Tánh Linh và một phần nhỏ xã Mỹ Thạnh thuộc huyện Hàm Thuận Nam
Bảng 4.1: Diện tích lưu vực Thác Bà
(%)