Câu 1: Anh/Chị hãy phân tích và làm rõ điều kiên khách quan và chủ quan quyết định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:- Khái niệm về giai cấp công nhân: o Giai cấp công nhân là tập đ
Trang 1NHÓM 3/ K02XDĐ-B
DANH SÁCH NHÓM
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI
MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHIÃ MÁC- LÊNIN PHẦN 3
Trang 3Câu 1: Anh/Chị hãy phân tích và làm rõ điều kiên khách quan và chủ quan quyết định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
- Khái niệm về giai cấp công nhân:
o Giai cấp công nhân là tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao,
là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp tham gia vào sản xuất, tái sản xuất ra vật chất và cải tạo các mối quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH
o Về phương thức lao động - phương thức sản xuất: giai cấp công nhân là những người lao động (giántiếp hoặc trực tiếp) có tính chất công nghiệp để tạo ra của cải vật chất cho xã hội
o Về địa vị đối với tư liệu sản xuất: giai cấp công nhân là những người không có tư liệu sản xuất, phảilàm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư
- Điều kiện khách quan:
o Thứ nhất, do sự quy định của địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân
CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của lực lượng sản xuất Sự ra đời củanền đại công nghiệp, một mặt tạo ra cơ sở vật chất, nhờ đó có thể xóa bỏ được chế độ bóc lột,xây dựng một xã hội công bằng, mặt khác sản sinh ra giai cấp công nhân, lực lượng xã hội đạidiện cho lực lượng sản xuất mới
Giai cấp công nhân gắn liền với phương thức sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại, mangtính xã hội hóa cao Phương thức sản xuất quy định phương thức tư tưởng, giai cấp công nhân
vì vậy có được những đặc điểm của một giai cấp cách mạng : tính tổ chức kỷ luật, tác phongcông nghiệp, tinh thần triệt để cách mạng, tính đoàn kết quốc tế, tính dân tộc… những phẩmchất này khách quan xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất và
có năng lực lãnh đạo các giai cấp khác trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới
o Thứ hai, những tiền đề vất chất của chủ nghĩa tư bản và sự vận động của mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Xã hội hóa sản xuất là tiền đề quan trọng nhất đã thúc đẩy sự vận động của mâu thuẫn cơ bản trong lòng phương thức sản xuất TBCN Mâu thuẫn cơ bản đó là xung đột giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Quy luật chung là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX Công hữu những tư liệu SX chủ yếu là yêu cầu khách quan và đã được quá trình SX hiện đại vạch ra Xã hội hiện đại với xu thế xã hội háo, dân chủ hóa mạnh mẽ hiện nay cũng đang làm chín muồi những tiền
đề khách quan cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Trang 4o Thứ ba, mẫu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tất yếu dẫn đến sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Chế độ bóc lột giá trị thặng dư đã khiến cho lợi ích cơ bản của hai giai cấp này đối lập nhau: một bên là giai cấp bị bóc lột sức lao động, một bên là đi bóc lột sức lao động Mâu thuẫn đó làkhông thể điều hòa và là động lực chính cho cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại
Giải quyết mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa hai giai cấp này theo hướng xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư là yếu tố khách quan Muốn thực hiện được điều đó phải xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhưng muốn xóa bỏ nó thì phải xóa bỏ chế độ chính trị là cái đang bảo
vệ quan hệ sản xuất ấy Lật đổ chế độ tư sản, nhà nước của giai cấp tư sản, xác lập nhà nước giai cấp công nhân là tất yếu trong quá trình cách mạng kinh tế
o Hiện nay, yêu cầu phát triển nhanh, nhân bản và bền vững của thế giới hiện đại cũng khách quan coi
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân như một giải pháp mới cho phát triển
- Điều kiện chủ quan
- Thứ nhất, là sự phát triển của giai cấp công nhân, là kết quả của quá trình phát triển tự thân, tự giác, chủđộng
o Với tư cách là chủ thế thực hiện sứ mệnh lịch sử, sự phát triển giai cấp công nhân là yếu tố chủ quanquy định chất lượng và quy mô, tốc độ của quá trình này Sự phát triển giai cấp công nhân được thểhiện ở sự phát triển về lượng và phát triển về chất
o Sự phát triển về chất của giai cấp công nhân được thể hiện ở năng lực làm chủ công nghệ hiện đại và
ý thức giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc
- Thứ hai, là có Đảng cộng sản, nhân tố chủ quan cơ bản để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân
o Giai cấp công nhân coi Đảng cộng sản là hạt nhân chính trị của mình và sự ra đời của Đảng là mốcđánh dấu sự trưởng thành của giai cấp Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định việc giai cấp công nhân có
tổ chức được chính đảng trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức là dấu hiệu đã trở thành giaicấp tự giác và đủ năng lực để thực hiện sứ mệnh lịch sử
o Đảng coi giai cấp công nhân là cơ sở xã hội hàng đầu của mình Quan hệ giữa Đảng cộng sản và giaicấp công nhân là quan hệ “máu thịt” Tính chất tiền phong thực tiến và lý luận, tính tổ chức khoa học
và chặc chẽ xác định Đảng là người lãnh đạo, là hạt nhân của giai cấp công nhân
- Thứ ba, là phải có sự thống nhất của phong trào công nhân (phong trào công nhân trong từng nước vớiphong trào công nhân quốc tế), từng bước xây dựng ý thức đoàn kết quốc tế
- Tóm lại, chính địa vị kinh tế xã hội và những đặc điểm của giai cấp công nhân nêu trên là những điều kiệnkhách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, quy định khả năng lãnh đạo cách mạng của
Trang 5nó trong cuộc đấu tranh lâu dài nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN vàCNCS Sứ mệnh lịch sử đó không phải là thực hiện sự chuyển biến từ một chế độ tư hữu này sang chế độ tưhữu khác, nhằm thay thế một hình thức bóc lột này bằng một hình thức bóc lột khác mà là nhằm mục tiêuxóa bỏ giai cấp, giải phóng triệt để con người mà trước hết là xóa bỏ chế độ tư hữu, cơ sở mà mọi hìnhthức bóc lột người Ngoài giai cấp công nhân không một lực lượng nào khác có đủ điều kiện tất yếu kháchquan để có khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó
Câu 2:
Phân tích sự biến đổi của giai cấp công nhân trên thế giới hiện nay
Khái niệm: Giai cấp công nhân là tập đoàn người lao động sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại; là lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội, đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
*Dưới chủ nghĩa tư bản họ làm hoàn toàn không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất , làm thuê cho giai cấp
tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; trong chủ nghĩa xã hội, họ cùng với nhân lao động làm chủ những tư liệu sảnxuất chủ yếu, là giai cấp quyết định tiến trình phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay
- Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa:
+Phương thức lao động: lao động công nghiệp
+Vị trí trong quan hệ sản xuất: bị áp bức, bị bóc lột
- Giai cấp công nhân hiện nay:
+Hiện nay khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; nền công nghiệp tự động hóa cao; lao động tri thức phát triể; xã hội thông tin; văn minh trí tuệ giai cấp công nhân cũng phát triển cả
số lưởng và chất lượng
+Lao động công nghiệp:_công cụ lao động là máy móc
_phân công lao động
_hợp tác lao động
***Những đặc điểm chính trị xã hội của giai cấp công nhân:
- Là giai cấp tiên tiến nhất
- Có tinh thần triệt để cách mạng
- Tính tổ chức kỹ luật cao
- Có bản chất quốc tế
Trang 6***Chất lượng giai cấp công nhân:
- Giai cấp công nhân các ngành công nghiệp mới tăng nhanh, các ngành công nghiệp truyền thống giảm
- Công nhân tri thức tăng, công nhân truyền thống giảm
- Công nhân các ngành dịch vụ tăng, công nhân trực tiếp giảm
Ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, song nhìn chung giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển
đã đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước Ngày nay, trongbối cảnh toàn cầu hoá và phát triển kinh tế tri thức, giai cấp công nhân ở các nước này vẫn là một trong những lực lượng xã hội quan trọng nhất, đang tham gia tích cực vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Một số đặc điểm
Sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã và đang tác động mạnh mẽ đến giai cấp công nhân các nước Đối với giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển, sự tác động này tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu của nó cả về số lượng và chất lượng, đồng thời cũng làm xuất hiện nhiều biểu hiện mới Nhìn tổng quát, có thể thấy rõ một số điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu dân cư của từng nước (khoảng 15 - 30%), song lại có chiều hướng gia tăng tỷ trọng trong tổng số giai cấp công nhân trên thế giới Bởi lẽ đa phần dân số thế giới là dân cư các nước đang phát triển (trong tổng số hơn 6 tỷ người trên thế giới hiện nay, chỉ có gần 2 tỷ người sống ở các nước công nghiệp phát triển - các nước OECD, còn lại sống ở các nước đang phát triển) Ở các nước này, trong thế kỷ XX, giai cấp nông dân chiếm số đông, nhưng hiện nay do diễn ra quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nên giai cấp công nhân có sự gia tăng nhanh chóng
Thứ hai, là lực lượng lao động có trình độ học vấn ngày càng được nâng cao, được đào tạo nghề nghiệp nhất địnhtrong cơ cấu lao động chung So với giai cấp nông dân và những người làm dịch vụ giản đơn, giai cấp công nhân được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp tốt hơn
Thứ ba, là nhóm người lao động đang từng bước được tiếp xúc với khoa học - công nghệ tiên tiến, được rèn luyện tác phong, kỷ luật lao động công nghiệp
Thứ tư, giai cấp công nhân khá đa dạng, phức tạp về thành phần xã hội, về nghề nghiệp chuyên môn Khác với các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển đang gia tăng về số lượng, cả ở bộ phận công nhân công nghiệp truyền thống, cả ở bộ phận công nhân làm việc trong các lĩnh vực sản xuất mới, lĩnh vực công nghệ cao Điều này được các nhà nghiên cứu xã hội học lý giải là do các nước đang phát triển đangtrong quá trình công nghiệp hoá (còn các nước phát triển đã hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, chuyển các ngành công nghiệp truyền thống, sử dụng nhiều lao động sang khu vực các nước đang phát triển), đang thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là của các nước phát triển Mặt khác, trong khi ở các nước công nghiệp phát triển,
Trang 7lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp đang dần thu hẹp lại, lĩnh vực dịch vụ mở rộng, thì ở các nước đang phát triển, lĩnh vực công nghiệp có xu hướng ngày càng mở rộng.
Thứ năm, một bộ phận giai cấp công nhân các nước đang phát triển làm việc tại các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đang (hoặc sẵn sàng) chấp nhận sự bóc lột trực tiếp của tư bản nước ngoài Tuy nhiên, đây cũng là bộ phận công nhân có mức thu nhập khá hơn so với mặt bằng thu nhập chung của nhập chung của giai cấp công nhân tại đây
Thứ sáu, cũng như phần lớn các giai tầng lao động khác, giai cấp công nhân ở các nước này có cơ hội và điều kiện thuận hơn để tiếp cận thông tin, các giá trị văn hoá tinh thần từ các dân tộc, các cộng đồng người khác nhau Nhiều kết quả điều tra xã hội học cho thấy, đa số họ không chấp nhận kiểu tuyên truyền một chiều, mang tính áp đặt, mà có xu hướng tự do hơn trong việc tiếp nhận các tư tưởng chính trị khác nhau Hiện nay, giống như
đa phần các tầng lớp lao động khác trên thế giới, giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển thường ít quan tâm hơn đến lý tưởng, chủ nghĩa Mối quan tâm hàng đầu của họ là việc làm, thu nhập và các chế độ phúc lợi xã hội cấp thiết mà họ cần được hưởng Đây là một khó khăn lớn trong công tác tư tưởng đối với giai cấp công nhân
ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở các nước mà Đảng Cộng sản chưa nắm quyền lãnh đạo
Vai trò và vị trí
Sau những kịch biến chính trị ở Liên Xô và Đông Âu, ở một loạt nước đang phát triển đấy lên làn sóng đa nguyên,
đa đảng, khiến cho đất nước rơi vào bất ổn chính trị, khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiên trọng, phong trào công nhân bị phân hóa và phân liệt sâu sắc Tuy nhiên, phong trào cộng sản và công nhân ở các nước đang phát triển vẫn tồn tại Từ những năm cuối thế kỷ XX đầu XXI, phong trào từng bước hồi phục và thu được những thành tựu nhất định Trước tác động khách quan của cách mạng khoa học- công nghệ và quá trình toàn cầu hóa, mặc dù sốlượng, chất lượng và cơ cấu giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển có những thay đổi đáng kể, song vẫn thể hiện vai trò khá nổi bật trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
- Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: Giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển không chỉ là lực lượng lao động quan trọng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, mà còn là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến Với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ và cách thức tổ chức hiện đại trong sản xuất, giai cấp công nhân
có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ phát triển kinh tế, tăng năng suất lao động Tại các nước đang phát triển, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm mạnh, sản xuất công nghiệp và dịch vụ đang gia tăng Đóng góp của công nghiệp và dịch vụ cho GDP cũng liên tục tăng (ở Việt Nam, các ngành công nghiệp đóng góp tới 40% GDP) Điều
đó khẳng định vai trò lao động sáng tạo của giai cấp công nhân trong xã hội - đó là lao động công nghiệp hiện đại Giai cấp này ngày càng tạo ra nhiều giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội
Quá trình công nghiệp hoá và phát triển khoa học kỹ thuật làm cho kết cấu giai cấp có sự thay đổi rõ nét Chiều hướng gia tăng về số lượng được khẳng định: năm 1890 toàn thế giới có 80 triệu công nhân, năm 1960 có 315
Trang 8triệu, năm 1990 có 615 triệu, năm 2003 có trên 800 triệu Tại các nước đang phát triển, đầu thế kỷ XX có 19 triệu công nhân (trong đó châu Á có 11 triệu, Mỹ La-tinh 5 triệu, châu Phi 3 triệu) Đến cuối thế kỷ XX, giai cấp công nhân ở các nước này tăng lên 217 triệu, trong đó châu Á có 130 triệu, Mỹ La-tinh 63 triệu, châu Phi 24 triệu Hiện nay đội ngũ giai cấp công nhân ở đây đa số là công nhân công nghiệp, số lượng tiếp tục tăng so với
số người làm việc trong các lĩnh vực sản xuất khác Một trong những nguyên nhân của sự gia tăng này trước hết phải kể đến chiến lược công nghiệp hoá của các nước đang phát triển Mặt khác, các công ty của các nước tư bảnphát triển cũng đang chuyển mạnh sang đầu tư tại các nước đang phát triển để thu hút nguồn lao động dồi dào, chi phí nhân công rẻ Ngoài ra, lợi nhuận thu được lại khá cao cũng dẫn đến sự gia tăng giai cấp công nhân ở đây
Ngay trong một nước, thì cơ cấu giai cấp công nhân cũng biến đổi mạnh Chẳng hạn, ở Trung Quốc, giai cấp côngnhân được xác định theo cơ cấu đa tầng, bao gồm:
Thứ nhất là tầng lớp các nhà quản lý doanh nghiệp - tầng lớp trưởng thành qua làn sóng cải cách kinh tế đất nước Họ có tư duy linh hoạt, nhạy bén, đổi mới quan niệm nhanh, có tri thức quản lý hiện đại Sự xuất hiện của tầng lớp này được giới chiến lược kinh tế Trung Quốc đánh giá là một trong những tiêu chí quan trọng để công cuộc cải cách kinh tế của nước này giành được thành công cơ bản và cũng là chỗ dựa về mặt xã hội để Trung Quốc tiến sâu hơn vào cải cách thể chế kinh tế
Thứ hai là tầng lớp trí thức, được đánh giá cao theo tư tưởng của Đặng Tiểu Bình “khoa học - kỹ thuật là lực lượngsản xuất thứ nhất” Khi Đảng và Nhà nước Trung Quốc ban hành và thực thi chiến lược khoa học - giáo dục chấn hưng đất nước, thì lực lượng trí thức được đưa vào phạm trù của giai cấp công nhân Trước sự tác động mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cũng như việc thực hiện chiến lược khoa họcgiáo dục chấn hưng đất nước, lực lượng trí thức sẽ trở thành số đông trong giai cấp công nhân Trung Quốc
Thứ ba là tầng lớp công nhân làm thuê ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn nước ngoài Đa số công nhân làm việc ở khu vực này có độ tuổi trẻ, trình độ văn hoá văn hoá thấp, thời gian lao động dài, cường độlao động lớn, trong khi điều kiện lao động kém, khả năng thất nghiệp cao Mặc dù thu nhập của họ khá cao so vớicông nhân ở khu vực khác, song giá thành lao động của họ chiếm tỷ trọng ở trong giá thành chung rất thấp Vì thế, mức độ bị bóc lột sức lao động khá cao
Thứ tư là tầng lớp công nhân nông thôn Công việc của họ trên thực tế là công việc mà công nhân ở thành thị vẫnlàm, song mang nặng tính thời vụ, mối quan hệ với nông thôn còn khá sâu sắc Ngoài ra còn một bộ phận công nhân, nhân viên mất việc làm, thất nghiệp ở thành thị Đây là kết quả không tránh khỏi của quá trình cải cách,
Trang 9giảm nhân công, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước lớn và vừa Số công nhân này không hề mất
đi trong lực lượng giai cấp công nhân, họ vẫn là bộ phận cấu thành trong giai cấp công nhân
Như vậy, những biến đổi trong cơ cấu thành phần giai cấp công nhân tự nó không phải là hiện tượng mới Những thay đổi đó đang diễn ra trong những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, là kết quả của sự phân công lao động mới,
là hiện tượng kinh tế - kỹ thuật của mọi xã hội phát triển chứ không riêng ở các nước đang phát triển Do đó, xác định giai cấp công nhân không dựa vào thu nhập, mà dựa vào nguồn gốc thu nhập, dù là lương hay tài sản, được gắn với quan hệ sản xuất Trên thực tế, giai cấp công nhân, xét về số lượng và chất lượng, cả trong công nhân truyền thống và công nhân trong các ngành kỹ nghệ mới, vẫn là một phạm trù xã hội ổn định Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, cùng với chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước đang phát triển đã và đang tác động mạnh mẽ đến giai cấp công nhân
Tóm lại, trong bối cảnh cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, giai cấp công nhân ở các nước đang phát triển
có nhiều biến đổi quan trọng Tuy nhiên, xét đến cùng, vị thế, tư cách làm thuê, bị bóc lột của họ ở tuyệt đại đa
số các nước đang phát triển vẫn không thay đổi Do địa vị kinh tế - xã hội quy định nên giai cấp công nhân ở các nước này vẫn tiếp tục là lực lượng cách mạng tiên phong trong tiến trình giải phóng và phát triển vì hòa bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
(LLCT) - Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, liên minh, đoàn kết chặt chẽ với nông dân, trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc Trong quá trình đó, GCCN luôn thể hiện là giai cấp “dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
Trong thời kỳ đổi mới, GCCN Việt Nam ngày càng phát triển lớn mạnh về số lượng và chất lượng, đóng góp to lớnvào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, một loạt vấn
đề bức thiết đang đặt ra đối với sự phát triển của GCCN, đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu, từ đó đề xuấtnhững giải pháp sát thực để nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân
1 Về số lượng, cơ cấu
Trong thời gian qua, số lượng công nhân Việt Nam có xu hướng tăng nhanh theo quy mô nền kinh tế Khởi đầucông cuộc CNH, HĐH, đội ngũ công nhân nước ta có khoảng 5 triệu người Đến cuối năm 2005, số lượng côngnhân trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế ở nước ta là 11,3 triệu người, chiếm13,5% dân số, 26,46% lực lượng lao động xã hội Trong đó, 1,84 triệu công nhân thuộc các doanh nghiệp nhànước, 2,95 triệu trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, 1,21 triệu trong các doanh nghiệp FDI, 5,29 triệu trong
Trang 10các cơ sở kinh tế cá thể So với năm 1995, tổng số công nhân tăng 2,14 lần, trong đó doanh nghiệp nhà nướctăng 1,03 lần, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,86 lần, doanh nghiệp FDI tăng 12,3 lần, các cơ sở kinh tế cáthể tăng 1,63 lần(1) Hiện nay, cả nước có hơn 12,3 triệu công nhân trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp và
cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
Công nhân thuộc các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm do sự sắp xếp lại cơ cấu Năm 1986, có 14 nghìndoanh nghiệp với 3 triệu công nhân; năm 1995 tương ứng là 7.090 và 1,77 triệu; năm 2005 là 3.935 và 1,84triệu; năm 2009 là 3.369 và 1,74 triệu(2) Mặc dù đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp nhà nước có xu hướnggiảm, nhưng đây là lực lượng nòng cốt của GCCN nước ta
Công nhân thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước và các doanh nghiệp có vốn FDI tăng mạnh do số lượngcác doanh nghiệp này tăng nhanh Năm 1991, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước mới có khoảng 1.230doanh nghiệp, đến năm 1995 đã tăng lên 17.143 doanh nghiệp với hơn 430 nghìn công nhân Năm 2009, con sốnày lên tới 238.932 với 5.266,5 nghìn công nhân, trong đó kinh tế tập thể 261,4 nghìn, kinh tế tư nhân 571,6nghìn; các loại khác 4.433,5 nghìn(3) Số lượng công nhân khu vực ngoài nhà nước chủ yếu tăng ở các tỉnh,thành phố phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai,Bình Dương, Đà Nẵng
Trong khu vực có vốn FDI, đến cuối năm 2009, có 1.919,6 nghìn người đang làm việc trong 6.546 doanh nghiệp.Tính đến hết năm 2011, cả nước có 283 khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX) được thành lập tại 58 tỉnh,thành phố, thu hút khoảng 1,6 triệu lao động(4)
Ngoài ra, lực lượng lao động ở nước ngoài cũng là bộ phận quan trọng tạo nên sự lớn mạnh của GCCN Việt Nam.Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến tháng 6-2008, tổng số lao động vàchuyên gia Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài trên 500 nghìn người Bộ phận này được tiếp xúc và làm việctrong môi trường công nghiệp hiện đại, có điều kiện học tập, rèn luyện chuyên môn, tay nghề, nâng cao tácphong công nghiệp
Công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, ngành dịch vụ và thương mại chiếm24,3%, các ngành khác chiếm 4,8% Riêng các cơ sở kinh tế cá thể, công nhân chủ yếu làm việc trong các lĩnhvực dịch vụ và thương mại chiếm 66,7%, 33,33% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp(5)
Hiện tượng thay đổi việc làm, nghề nghiệp của công nhân nước ta cũng có chiều hướng gia tăng Sự thay đổi nơilàm việc cũng diễn ra thường xuyên ở tất cả các thành phần kinh tế Đặc biệt, công nhân lao động khu vực kinh
tế ngoài nhà nước có tỷ lệ thay đổi nơi làm việc rất lớn
Trang 11GCCN Việt Nam chiếm tỷ lệ không lớn so với dân số cả nước nhưng hằng năm đóng góp khoảng 50% tổng sảnphẩm xã hội và bảo đảm hơn 60% ngân sách nhà nước
2 Chất lượng giai cấp công nhân
Độ tuổi bình quân của công nhân nước ta nhìn chung trẻ, nhóm công nhân từ 18 đến 30 tuổi chiếm 36,4%, đặcbiệt trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài công nhân dưới 25 tuổi chiếm 43,4%, từ 26-35 tuổi chiếm 34,7%,
từ 36-45 tuổi chiếm 14% Hầu hết công nhân được tiếp cận với kinh tế thị trường nên năng động, thích ứngnhanh với công nghệ hiện đại
Tuổi nghề của công nhân: dưới 1 năm chiếm 6,9%, từ 1-5 năm: 30,6%, từ 6-10 năm: 16,4%, từ 11-15 năm:10,5%, 16-20 năm: 16,8%, 21-25 năm: 13,3%, trên 25 năm: 5,5%
Trình độ học vấn của công nhân trong tất cả các khu vực kinh tế có xu hướng được nâng lên: năm 1985, tỷ lệcông nhân có học vấn trung học phổ thông là 42,5% thì năm 2003 tăng lên 62,2%, năm 2005 tăng lên 69,3%(6).Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và so với trình độ công nhân ở các nước trong khu vực và thếgiới thì trình độ học vấn của công nhân nước ta còn thấp Mặt khác, lực lượng công nhân có trình độ học vấn caophân bố không đồng đều, thường tập trung ở một số thành phố lớn và một số ngành kinh tế mũi nhọn Trình độ nghề nghiệp của công nhân tuy đã được nâng cao, nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra Năm 1996, số công nhân chưa qua đào tạo nghề là 45,7%, năm 2005 là 25,1% Trình độ chuyên môn, taynghề của công nhân các loại hình doanh nghiệp năm 2005 như sau: lao động có trình độ từ cao đẳng trở lênchiếm 16,1%, lao động có trình độ trung cấp chiếm14,6%, công nhân kỹ thuật chiếm 28,1%, lao động khôngđược đào tạo chiếm 41,2% Năm 2010, số lao động có trình độ đại học trở lên là 5,7 %, cao đẳng là 1,7 %, trungcấp là 3,5 %, dạy nghề 3,8 %(7) Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu lao động kỹ thuật khá lớn Nhiều doanhnghiệp có thiết bị công nghệ cao nhưng lại thiếu công nhân lành nghề Đặc biệt, chỉ có 75,85% công nhân đanglàm những công việc phù hợp với ngành nghề đào tạo Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, chấtlượng sản phẩm, gây lãng phí trong đào tạo nghề
3 Đời sống, việc làm của công nhân lao động
Việc làm cho người lao động Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp đầu tư
phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên, do quy mô nền kinh tế nhỏ, trình độ pháttriển, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn yếu so với khu vực và thế giới nên tỷ lệ thất nghiệp còn ở mứccao Theo số liệu của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2009, cả nước có 83% số công nhân có việc làmthường xuyên ổn định, còn 12% việc làm không ổn định và 2,7% thường xuyên thiếu việc làm Chỉ có khoảng21% doanh nghiệp ngoài nhà nước đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho công nhân và trích nộp kinh phícông đoàn
Trang 12Thu nhập của người lao động Mức lương của người lao động hiện nay về cơ bản không đáp ứng được nhu cầu
sinh hoạt tối thiểu của bản thân, chứ chưa nói đến việc tích lũy hay chăm lo cho con cái Nhà nước đã từng bướcthực hiện lộ trình tăng lương tối thiểu, thậm chí có quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao độnglàm ở các loại hình doanh nghiệp (Nghị định số 70/2011/NĐ-CP) Tuy nhiên, mức tăng thường không theo kịp tốc
độ tăng giá của thị trường Chẳng hạn, năm 2010, tiền lương của người lao động trong các loại hình doanhnghiệp tăng 10,3% so với năm 2009 nhưng chỉ số giá sinh hoạt tăng 11,75%, nên việc tăng lương không có tácdụng nhiều trong việc cải thiện đời sống công nhân, đặc biệt là công nhân ở các KCN, KCX Trong khi đó, phầnlớn các chủ doanh nghiệp vẫn đang lấy mức lương tối thiểu để trả lương cho người lao động, chưa thật sự quantâm đến việc xây dựng thang, bảng lương Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp còn bớt một phần lương của người laođộng chi cho các khoản phụ cấp như ăn trưa, tiền hỗ trợ đi lại, thưởng
Nhà ở của người lao động Do nhiều nguyên nhân khác nhau, hầu hết các tỉnh, thành phố lớn, các KCN, KCX
không xây nhà lưu trú cho công nhân Số người lao động trong các KCN khoảng 1,6 triệu người, trong đó, chỉ có20% số người có chỗ ở ổn định(8) Đa số người lao động ngoại tỉnh làm việc tại các KCN đều phải thuê nhà trọ,với điều kiện vệ sinh, môi trường không bảo đảm
Thực hiện Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg ngày 24-4-2009 của Thủ tướng Chính phủ về Cơ chế, chính sách phát
triển nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp, các tỉnh, thành phố đã đăng ký 110 dự án nhà ở cho
người lao động tại các khu công nghiệp giai đoạn 2010 - 2015 Tuy nhiên, theo Thanh tra Chính phủ, đến nay,các dự án nhà ở cho công nhân tại các KCN đều chậm tiến độ so với yêu cầu, trong số 27 dự án đã được khởicông xây dựng mới có 9 dự án hoàn thành
Trong quy hoạch phát triển các KCN, KCX, phần lớn chưa tính tới nhu cầu về chỗ ở, nhà trẻ, trường học cho giađình người lao động Một số nơi xây nhà ở cho người lao động thì lại thiếu đồng bộ với việc xây dựng kết cấu hạtầng xã hội Do vậy, gây khó khăn không nhỏ đối với người lao động trong sinh hoạt, làm việc
Đời sống văn hóa của công nhân Những năm gần đây, các doanh nghiệp đã từng bước đáp ứng nhu cầu văn hóa
tinh thần của người lao động Tuy nhiên, ở hầu hết các KCN, KCX chưa tạo ra những điều kiện bảo đảm sinh hoạtvăn hóa cho công nhân Theo kết quả điều tra xã hội học tại Bình Dương, có đến 71,8% công nhân không có điềukiện để đến rạp chiếu phim, 88,2% không đi xem ca nhạc, 84,7% không đi xem thi đấu thể thao, 95,3% chưatừng đến sinh hoạt tại các câu lạc bộ, 91,8% không bao giờ đến các nhà văn hóa tham gia các hoạt động vui chơigiải trí, văn hóa tinh thần, 89% giải trí bằng tivi, 82,4% bằng nghe đài, chỉ có 1,2% sử dụng internet Nguyênnhân của tình trạng trên là do công nhân không có thời gian, kinh phí và các KCN cũng không có cơ sở vật chất
để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần của họ
Trang 13Điều kiện làm việc Nhìn chung, điều kiện làm việc của công nhân chưa được bảo đảm Nhiều công nhân phải làm
việc trong môi trường bị ô nhiễm nặng như nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt tiêu chuẩn cho phép Điều đó đã tácđộng xấu đến sức khoẻ người lao động, gây ra các bệnh nghề nghiệp
4 Ý thức, tâm trạng chính trị
Hiện nay, công nhân nước ta năng động trong công việc, nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học côngnghệ hiện đại và đã bắt đầu hình thành ý thức về giá trị của bản thân thông qua lao động Vị thế giữa công nhânlao động trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước không còn cách biệt nhiều Tâm lý lấylợi ích làm động lực là nét mới đang dần trở thành phổ biến trong công nhân Sự quan tâm hàng đầu của côngnhân là việc làm, thu nhập tương xứng với lao động Mong muốn có được sức khoẻ, đất nước ổn định và pháttriển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, dân chủ, công bằng xã hội được thực hiện, doanhnghiệp sản xuất kinh doanh thuận lợi, có đủ việc làm Mong muốn được học tập, nâng cao trình độ học vấn,chuyên môn, được bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng
Thực tế cho thấy GCCN Việt Nam đang có những biến đổi căn bản về chất Tuy nhiên, so với những yêu cầu CNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế thì GCCN Việt Nam còn không ít hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, GCCN không những bất cập so với yêu cầu phát triển chung của thời đại mà đang thực sự bất cập với
chính yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của công nhân lao động cònthấp so với yêu cầu phát triển đất nước và đang mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu lao động kỹ thuật giữacác bộ phận công nhân Rõ nét nhất là tình trạng thiếu nghiêm trọng chuyên gia kỹ thuật, nhà quản lý giỏi, côngnhân có trình độ tay nghề cao
Thứ hai, đời sống vật chất, tinh thần của công nhân chưa được đảm bảo, môi trường làm việc độc hại, quyền lợi
không được giải quyết một cách thỏa đáng đã dẫn đến các cuộc đình công Các cuộc đình công tự phát ngàycàng gia tăng với tính chất gay gắt, phức tạp Theo Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2011, cả nước xảy ra
981 cuộc đình công, tăng hơn 2,3 lần so với năm 2010, tập trung chủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động không thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luậtnhư không trả lương đúng bảng lương đã đăng ký, tự ý thay đổi định mức lao động, sa thải công nhân vô cớ,không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ cho công nhân, v.v
Thứ ba, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp của một bộ phận công nhân còn yếu Ý thức chính trị,
nhận thức về luật pháp của công nhân còn hạn chế Tỷ lệ đảng viên, đoàn viên công đoàn trong công nhân laođộng còn thấp
Thứ tư, vai trò của tổ chức đảng và các đoàn thể trong các doanh nghiệp chưa đáp ứng được sự phát triển nhanh
chóng về số lượng, cơ cấu của GCCN Công tác phát triển đảng trong công nhân chậm Ở hầu hết các doanh
Trang 14nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân đều không muốn hoặc không quan tâm đến việc xâydựng các tổ chức đảng Hoạt động của Đoàn Thanh niên, tổ chức công đoàn còn mang tính hình thức Nhiều tổchức công đoàn chưa thực sự đứng về phía người lao động, bởi cán bộ công đoàn do doanh nghiệp trả lương, làmviệc không chuyên trách dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của chủ doanh nghiệp
Để xây dựng GCCN Việt Nam ngày càng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế,cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động, đặc biệt là người lao động ở các KCN,
KCX Bao gồm:
Từng bước thực hiện chính sách tiền lương bảo đảm đời sống cho người lao động và có tích lũy từ tiền lương;đồng thời, mở rộng cơ hội cho công nhân mua cổ phần trong doanh nghiệp, nhằm góp phần xây dựng quan hệlao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trong doanh nghiệp Các cơquan chức năng nhà nước và tổ chức công đoàn cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để bảo đảm quyền,lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm quyền lợi của người laođộng Xây dựng và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối vớingười lao động
Có chính sách cụ thể giải quyết nhà ở cho người lao động Khi phê duyệt các KCN, KCX, cần yêu cầu dành quỹđất tương xứng để xây dựng nhà ở và các công trình thuộc kết cấu hạ tầng xã hội cho công nhân Cần có chínhsách ưu đãi thích đáng cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở tại các KCN như chính sách ưu đãi về tiền sửdụng đất, miễn giảm thuế, vay vốn ưu đãi, hỗ trợ hạ tầng…
Nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho công nhân Nhà nước cần thể chế hóa các quy định, xác định tráchnhiệm rõ ràng đối với các cấp chính quyền, các doanh nghiệp trong việc chăm lo xây dựng đời sống văn hóa chongười lao động Có các chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư xây dựng các dịch vụ văn hóa, thể thao, chăm sócsức khỏe cho người lao động
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân có trình độ cao, làm chủ được khoa học
công nghệ, có kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật Cần kịp thời bổ sung, sửa đổi, xây dựngchính sách đào tạo và đào tạo lại công nhân; tạo điều kiện cho họ tự học tập nâng cao trình độ; điều chỉnh, bổsung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề gắn với các ngành, các vùng kinh tế trọng điểm Khuyến khích cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dành kinh phí thích đáng và thời gian cho đào tạo, đào tạo lại côngnhân
Thứ ba, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến việc đảm bảo quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của công nhân Xây dựng, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, đời
Trang 15sống, nâng cao thể chất cho công nhân Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước, tổ chức côngđoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong doanh nghiệp, có chế tài xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân viphạm chính sách, pháp luật Khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động chủ động học tập nâng cao nhậnthức, nắm bắt những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, giúp họ tự bảo vệquyền và lợi ích chính đáng trong trường hợp cần thiết
Thứ tư, tăng cường vai trò của các cấp uỷ Đảng, Đoàn Thanh niên và đặc biệt là của Công đoàn trong việc nâng
cao đời sống, đảm bảo quyền lợi cho công nhân nhất là công nhân ở các KCN, KCX Tăng tỷ lệ tham gia của côngnhân trong cơ cấu tổ chức chính trị - đoàn thể ở doanh nghiệp, nhất là tổ chức Công đoàn để tăng cường tính đạidiện cho lợi ích của công nhân
Câu 3:
1 Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Để hiểu rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết cần làm rõ khái niệm giai cấp công nhân và đểphù hợp với sự tồn tại của nó, giai cấp công nhân buộc phải làm gì về mặt lịch sử ?
a Khái niệm về giai cấp công nhân :
Mác và Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ, theo từng tiêu chí khác nhau để nói về giai cấp công nhân như:giai cấp vô sản, những người làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp công nhân đại công nghiệp, giai cấp công nhân hiệnđại v.v… Dù sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau nhưng Mác và Ăngghen đều chỉ ra hai tiêu chí cơ bản của giaicấp công nhân :
- Một là, về phương thức lao động - phương thức sản xuất - thì giai cấp công nhân là những người lao động
(gián tiếp hoặc trực tiếp) có tính chất công nghiệp để tạo ra của cải vật chất cho xã hội
- Hai là, về địa vị đối với tư liệu sản xuất : trong CNTB giai cấp công nhân là những người không có tư liệu
sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư Chính điềunày khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản
Căn cứ hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa: giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hộihình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại Trong xã hội tư bản, giai cấpcông nhân là giai cấp của những người lao động làm thuê cho nhà tư bản, họ hoàn toàn không có TLSX, phảibán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống Vì vậy, trong sản xuất giai cấp công nhân là giai cấp bị phụthuộc và trong phân phối, giai cấp công nhân bị nhà tư bản bóc lột gía trị thặng dư, do đó giai cấp công nhân
là giai cấp đối lập trực tiếp về lợi ích của giai cấp tư sản, là động lực chính của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTBlên CNXH
b Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân :
Trang 16Đánh giá về vị trí vai trò của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác Lênin xác định giai cấp công nhân chính làgiai cấp có sứ mệnh lịch sử hết sức to lớn là xoá bỏ chế độ bóc lột TBCN, thực hiện sự chuyển biến cách mạng từ
XH TBCN lên xã hội XHCN và Cộng sản chủ nghĩa.Theo Mác và Ăngghen, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhânkhông phải do ý muốn chủ quan của giai cấp công nhân hoặc do sự áp đặt của các nhà tư tưởng mà do nhữngđiều kiện khách quan quy định
Trước hết đó là do địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân quy định nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
CNTB ra đời đánh dấu một bước tiến vĩ đại và phát triển của lực lượng sản xuất Sự ra đời của nền đại côngnghiệp, một mặt tạo ra cơ sở vật chất, nhờ đó có thể xóa bỏ được chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội côngbằng, mặt khác sản sinh ra giai cấp công nhân, lực lượng xã hội đại diện cho lực lượng sản xuất mới Giai cấpcông nhân xét về nguồn gốc ra đời là con của nền đại công nghiệp, sinh ra và phát triển theo đà phát triển của
kỹ thuật và công nghiệp, họ chỉ trở thành một giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơbản nền sản xuất thủ công Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của giai cấp công nhân, lực lượng sản xuấtmang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, trong khi đó quan hệ sản xuất TBCN lại dựa trên chế độ chiếm hữu tưnhân về tư liệu sản xuất Chính điều đó đã tạo ra mâu thuẫn cơ bản trong lòng XHTB và được biểu hiện ra ngoàibằng mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp công nhân - đại diện cho lực lượng sản xuất mới - với giai cấp tư sản - đạidiện cho quan hệ sản xuất lỗi thời
Theo quy luật khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Một khi quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ xảy ra xung đột gay gắt trong xãhội, lúc đó giai cấp tiên tiến trong xã hội - đại diện cho lực lượng sản xuất mới - sẽ lãnh đạo cuộc đấu tranh lật
đổ giai cấp thống trị, thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, tạonên phương thức sản xuất mới, tiến bộ hơn phương thức sản xuất cũ bị thay thế Khi ấy hình thái kinh tế xã hội
cũ sẽ thay đổi bằng hình thái kinh tế - xã hội mới cao, tiến bộ hơn : đó là quy luật phát triển cơ bản của xã hộiloài người đã được lịch sử chứng minh, không một học thuyết nào bác bỏ được
Như vậy, với mâu thuẫn trong xã hội tư bản, sớm hay muộn người đại diện cho lực lượng sản xuất mới sẽlãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản - đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời - thiết lậpquan hệ sản xuất mới, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Giai cấp công nhân là lực lượng sảnxuất tiên tiến, cơ bản nhất của phương thức sản xuất TBCN, vì vậy nó sẽ là người quyết định phá vỡ quan hệ sảnxuất TBCN, hình thành phương thức sản xuất mới : phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa, nền tảng cho xãhội CSCN ra đời
Mặt khác, trong xã hội tư bản, giai cấp công nhân luôn luôn phát triển ngày càng đông về số lượng và tăng
về chất lượng cùng với sự phát triển không ngừng của công nghiệp và quá trình CNH-HĐH nền kinh tế Tuynhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân cũng đồng thời dẫn đến sự gia tăng mâu thuẫn ngày càng gay gắt
Trang 17giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tất yếu dẫn đến cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ CNTB, hình thành xãhội mới, xã hội XHCN và CSCN Hiện nay, giai cấp tư sản đã và đang tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệTBCN nhằm cứu vãn chế độ thống trị của giai cấp mình và trên thực tế giai cấp tư sản đã đạt được một số thànhtựu và kết quả nào đấy nhưng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của XHTB, vẫn phải thường xuyênđối đầu với các cuộc khủng hoảng nặng nề với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyên không tránhkhỏi của hàng chục triệu người Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những thửthách hết sức nặng nề nhưng bức tranh toàn cảnh của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới vẫn đang chuẩn
bị những tiền đề khách quan cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, dù có trãi qua nhữngbước thăng trầm, quanh co nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử
Bên cạnh đó, những đặc điểm của giai cấp công nhân cũng là yếu tố quy định nên sứ mệnh lịch
sử giai cấp công nhân.
Từ địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân trong nền SX công nghiệp lớn TBCN cũng đã hình thành nênnhững đặc điểm của giai cấp công nhân
- Nền SX công nghiệp luôn luôn phát triển về mặt kỹ thuật, công nghệ, vì vậy nó đòi hỏi trình độ của ngườicông nhân phải luôn luôn được nâng lên, đổi mới và phát triển gắn liền với trình độ phát triển KH-KT và công
nghệ Do đó giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại nhất.
- Giai cấp công nhân là người sản xuất ra những của cải dư thừa của xã hội nhưng lại là người bị giai cấp tưsản áp bức bóc lột nặng nề nhất, do đó họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản và xét về bản chất
họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất, họ không có con đường nào khác là chống lại chế độ áp bức bóc lột
TBCN Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóngtoàn xã hội khỏi chế độ TBCN và trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới
về mình
- Giai cấp công nhân cũng là giai cấp tiên phong cách mạng nhất bởi vì trong môi trường làm việc của
họ - nền SX công nghiệp - luôn phát triển và có những đổi mới, những cuộc cách mạng KHKT không ngừng, chínhcuộc cách mạng mà giai cấp công nhân tham gia đòi hỏi họ phải có sự tiên phong
- Địa vị KT-XH khách quan còn tạo cho giai cấp công nhân khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, khả
năng đạt tới sự giác ngộ về địa vị lịch sử của mình và khả năng hành động chính trị để từng bước đạt mục tiêucách mạng Bên cạnh đó, giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp đối lập về lợi ích trực tiếp với giai cấp tư sản
mà còn là giai cấp đại biểu cho lợi ích của toàn bộ các giai cấp khác và tầng lớp lao động trong xã
hội, hiểu được tâm tư nguyên vọng của họ, có khả năng lôi cuốn đoàn kết các giai cấp, tầng lớp lao động khác lại
theo mình làm cách mạng xã hội Do tính tiên phong trong cách mạng, giai cấp công nhân luôn là người đi đầu
và trở thành lãnh tụ tự nhiên của các giai cấp, tầng lớp lao động khác, của toàn thể nhân dân lao động, của dân