ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Câu 1: Trình bày về khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan. Nội dung bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học. Những nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ thế giới quan duy vật biện chứng và việc vận dụng chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Trả lời: 1. Trình bày về khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan A. Khái niệm Thế giới quan Là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới. con người sống trên thế giới dù muốn hay không, họ vẫn phải tìm hiểu về những thứ xung quanh mình. Bao hàm cả những cái thuộc về thế giới tự nhiên, trong xã hội loài người, những cài thuộc về con người, thuộc xã hội loài người. Nguồn gốc của thế giới quan: TGQ ra đời từ cuộc sống; nó là kết quả trực tiếp của quá trình nhận thức; song, suy cho đến cùng nó là kết quả của cả những yếu tố khách quan và chủ quan, của cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.. Nội dung của TGQ : cực kỳ phức tạp, nhưng khái quát lại có 3 mảng nội dung chính Những cái bên ngoài con người : TGQ là TGQ của con người, là kết quả nhận thức của con người, khi con người nhận thức những cái bên ngoài bản thân mình sẽ hình thành những mảng nội dung riêng Những cái bên trong chính bản thân con người : con người hiểu về mình, nhận thức về mình, có những quan điểm , quan niệm của riêng mình Mối quan hệ của con người và cái bên ngoài con người : con người có sự hiểu biết những cái bên ngoài mình, những cái bên trong mình và hiểu mối quan hệ giữa cái bên trong con người về thế giới bên ngoài con người. Cấu trúc của TGQ gồm hai yếu tố cơ bản là Tri thức và Niềm tin. Một TGQ coi là nhất quán, hoàn chỉnh khi tri thức và niềm tin thống nhất với nhau và con người hành động theo niềm tin đó.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Câu 1: Trình bày về khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan Nội dung bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học Những nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ thế giới quan duy vật biện chứng và việc vận dụng chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Trả lời:
1 Trình bày về khái niệm thế giới quan, các hình thức thế giới quan
A Khái niệm Thế giới quan Là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới con người sống trên thế giới dù
muốn hay không, họ vẫn phải tìm hiểu về những thứ xung quanh mình Bao hàm cả những cái thuộc về thế giới tự nhiên, trong xã hội loài người, những cài thuộc về con người, thuộc xã hội loài người
Nguồn gốc của thế giới quan: TGQ ra đời từ cuộc sống; nó là kết quả trực tiếp của quá trình nhận thức; song, suy cho đến cùng nó
là kết quả của cả những yếu tố khách quan và chủ quan, của cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Nội dung của TGQ : cực kỳ phức tạp, nhưng khái quát lại có 3 mảng nội dung chính
- Những cái bên ngoài con người : TGQ là TGQ của con người, là kết quả nhận thức của con người, khi con người nhận thức những cái bên ngoài bản thân mình sẽ hình thành những mảng nội dung riêng
- Những cái bên trong - chính bản thân con người : con người hiểu về mình, nhận thức về mình, có những quan điểm , quan niệm của riêng mình
- Mối quan hệ của con người và cái bên ngoài con người : con người có sự hiểu biết những cái bên ngoài mình, những cái bên trong mình và hiểu mối quan hệ giữa cái bên trong con người về thế giới bên ngoài con người
Cấu trúc của TGQ gồm hai yếu tố cơ bản là Tri thức và Niềm tin Một TGQ coi là nhất quán, hoàn chỉnh khi tri thức và niềm tin
thống nhất với nhau và con người hành động theo niềm tin đó
S
T
T
1 Con người có Tri thức thiếu niềm tin dẫn đến hành động dao động ví dụ: nhiều người nói nhiều về CNXH, CNCS rất hay vì người này có tri thức về CNXH, CNCS Nhưng những người này chưa chắc gì có niềm tin về CNXH, CNCS nên dẫn tới hành động ngược lại với CNXH, CNCS
2 Con người có niềm tin thiếu tri thức dẫn đến hành động dao động ví dụ: tất cả giáo dân của tôn giáo rất tin vào tôn giáo của họ nhưng họ thiếu tri thức về tôn giáo của mình nên dẫn tới hành động dao động lúc thế này lúc thế khác
3 Con người có tri thức có niềm tin thì dẫn đến TGQ nhất quán, hoàn chỉnh Nhưng để có tri thức và niềm tin thì trải qua một quá trình học tập, tìm hiểu, nguyên cứu sau đó con người kiểm nghiệm tri thức đó, trải nghiệm tri thức đó thì con người mới có niềm tin
về tri thức đó
Chức năng của TGQ: TGQ có rất nhiều chức năng như nhận xét, đánh giá, nhận thức, nhận định… nhưng chức năng quan trọng
nhất là chức năng định hướng cho hoạt động của con người, định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người định hướng cho quan
hệ con người, định hướng cho hệ giá trị con người, từ cách đi cách đứng của con người những người có TGQ khác nhau sẽ định hướng cho hoạt động của mình khác nhau Ví dụ: Mỗi con người có TGQ khác nhau dẫn đến hành động khác nhau Toàn bộ hành động của con người bị TGQ chi phối Cuộc sống của chúng ta đang bị TGQ của chúng ta chi phối
B Những hình thức cơ bản của TGQ: Sự phát triển của TGQ đã là TGQ thể hiện dưới ba hình thức cơ bản: TGQ huyền thoại,
TGQ tôn giáo, TGQ triết học
1 TGQ Huyền thoại hình thành và phát triển trong giai đoạn đầu của XH loài người Đặc trưng cơ bản về TGQ huyền thoại:
Về hình thức thể hiện: TGQ huyền thoại thể hiện chủ yếu qua các câu chuyện thần thoại.
Về tính chất: Nội dung của truyện thần thoại có sự pha trộn giữa thần và người, giữa thật và ảo, trật tự không gian và thời gian bị
đảo lộn không tự giác Bời vì Công Xã Nguyên Thủy chưa có chữ viết, câu chuyện thông qua truyền miện nên khi truyền miện thì không chính xác, bản thân người dẫn chuyện đưa tình cảm của mình vào đó và càng ngày độ chính xác càng ít Nội dung câu chuyện càng ngày càng nhiều hơn Trong tất cả những câu chuyện thần thoại thì thần thoại Hy Lạp thể hiện rõ nét nhất đặc điểm của TGQ TGQ huyền thoại thể hiện nổi bật nhất trong thần thoại Hy Lạp Yếu tố thần và người có sự hòa trộn, đan xen.Thần nhưng lại rất người, người nhưng lại rất thần
Về trình độ nhận thức: TGQ huyền thoại thể hiện trình độ nhận thức thấp, chủ yếu ở cấp độ nhận thức cảm tính nên những gì trừu
trượng thường được con người hình dung dưới những sự vật hữu hình, cụ thể
2 TGQ tôn giáo: yếu tố niềm tin là yếu tố giữa vai trò tuyệt đối sức mạnh của thế lực siêu nhiên.
Về hình thức thể hiện: TGQ tôn giáo thể hiện qua giáo lý của các tôn giáo.
Về tính chất: Niềm tin cao hơn lý trí, nặng tính hư ảo, tuyệt đối hóa yếu tố thần thánh, vai trò con người bị hạ thấp.
Về trình độ nhận thức: TGQ tôn giáo ra đời khi trình độ nhận thức và khả năng hoạt động thực tiễn của con người còn rất thấp nên
con người bất lực, sợ hãi trước những lực lượng tự nhiên cũng như những lực lượng xã hội dẫn đến việc họ thần thánh hoá chúng, quy chúng về sức mạnh siêu tự nhiên và tôn thờ chúng Trong tất cả các tôn giáo chỉ có tôn giáo phật giáo là nói đến sức mạnh của con người con người có thể giải thoát cho mình bằng cách tích nghiệp thiện, tạo nghiệp thiện do vậy nó không thể tồn tại với tư cách là một TGQ KH3
TGQ triết học là TGQ có hạt nhân lý luận là các học thuyết triết học TGQ triết học, các học thuyết triết học là bộ phận quan trọng
nhất vì nó chi phối tất cả những quan điểm, quan niệm khác của TGQ con người
Về hình thức thể hiện: TGQ triết học thể hiện chủ yếu qua các học thuyết triết học TGQ triết học không chỉ thể hiện quan điểm,
quan niệm của con người về thế giới mà nó còn chứng minh các quan điểm, quan niệm ấy bằng lý luận
Về tính chất: đề cao vai trò trí tuệ Cụ thể hơn tính chất của TGQ triết học bị tính chất của các học thuyết triết học qui định và tất
cả các học thuyết triết học điều thể hiện cấp độ nhận thức cao
Về trình độ nhận thức: TGQ triết học ra đời khi nhận thức của con người đã đạt đến trình độ cao của sự khái quát hoá, trừu tượng
hoá và khi các lực lượng xã hội đã ý thức được sự cần thiết phải có định hướng về tư tưởng để chỉ đạo cuộc sống
2 Nội dung bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học
1
Trang 2A Nội dung: của CNDVBC với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế giới quan khoa học bao gồm 2 nhóm quan niệm Đó là nhóm
quan niệm duy vật về thế giới nói chung và nhóm duy vật vầ xã hội nói riêng:
a)Quan điểm duy vật về thế giới:
- Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, tính vật chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên
- Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau:
+ Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận
+ Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất định; đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan của TGVC
+ Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao; thế giới thống nhất và duy nhất
- Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác
- Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tác động lên thế giới góp phần biến đổi thế giới
b Quan điểm duy vật về xã hội:
- Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động thực tiễn
- Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử gắn liền với một phương tiện sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội
- Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, là lịch sử phát triển các hình thái kinh tế - xã hội một cách đa dạng nhưng thống nhất từ thấp đến cao, mà thực chất là lịch sử phát triển của xã hội
LLSX QHSX PTSX (CSHT + KTTT)CSHT + KTTT) HTKTXH
- Quần chúng nhân dân (CSHT + KTTT)QCND) là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử: QCND là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, quyết định thành bại của mọi cuộc cách mạng Vai trò chủ thể QCND biểu hiện khác nhau ở những điều kiện lịch sử khác nhau và ngày càng lớn dần; sức mạnh của họ chỉ được phát huy khi họ được hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo
B Bản chất
Bản chất của CNDVBC:
- CNDVBC đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn:
CNDV cũ thiếu quan điểm thực tiễn, máy móc không thấy được tính năng động của ý thức; riêng CNDVBC khẳng định vật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn ý thức tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất theo nhu cầu của con người
- CNDVBC đã thống nhất hữu cơ giữa TGQDV với phép biện chứng: CNDV cũ mang nặng tính siêu hình, PBC được nghiên cứu trong hệ thống triết học duy tâm Mác cải tạo CNDV cũ, giải thoát PBC ra khỏi tính thần bí, tư biện xây dựng nên CNDVBC; thống nhất giữa TGQDV với PBC
- CNDVBC là CNDV triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn trong lĩnh vực xã hội CNDVLS là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loài người: CNDV cũ không triệt để; CNDV lịch sử ra đời là kết quả vận dụng CNDV vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội, tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản Với CNDVLS nhân loại tiến bộ có được một công cụ vĩ đại trong nhận thức, cải tạo thế giới
- CNDVBC mang tính thực tiễn - cách mạng, nó hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới:
+ CNDVBC là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản: Lợi ích giai cấp vô sản phù hợp lợi ích nhân loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học CNDVBC trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng
+ CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới
+ CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới tiến bộ
+ CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động
3 Những nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ thế giới quan duy vật biện chứng và việc vận dụng chúng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
A Những nguyên tắc phương pháp luận của thế giới quan duy vật biện chứng
Nguyên tắc luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của con người là: Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người phải tôn trọng khách quan đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình
Tôn trọng khách quan:
- Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Điều này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hành động của mình
- Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan:
+ Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể
+ Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra kết luận mang tính định hướng là: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”
+ Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng, phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện nó
Phát huy tính năng động chủ quan: Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và
phát huy vai trò của nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy
- Một số biểu hiện cơ bản của nó là:
+ Phải tôn trọng tri thức khoa học, phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động
Trang 3Như vậy, tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là những ý nghĩa phương pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn
B Vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay.
- Ở Việt Nam, trong khoảng 10 năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được chúng ta nôn nóng, tách rời hiện thực, vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nên đã phạm một số sai lầm trong việc xác định mục tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế
- Ngày nay, với quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chúng ta xác định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành kinh tế và của toàn xã hội” cũng chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
- Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh phức tạp của thế giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta khẳng định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu” Việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học, việc chủ trương xã hội hoá giáo dục để “cả nước trở thành một xã hội học tập”
Câu 2: Trình bày và phân tích nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và nguyên lí về sự phát triển Hãy phân tích ý nghĩa phương pháp luận được rút ra từ hai nguyên lí này và việc vận dụng chúng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Khái niệm Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng trong thế giới Cơ sở lý luận của mối liên hệ phổ biến
là tính thống nhất vật chất của thế giới; theo đó các sự vật, hiện tượng dù có đa dạng, khác nhau đến thế nào đi chăng nữa, thì chúng cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất
Tính chất của các mối liên hệ phổ biến
a) Tính khách quan Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ, tác động của bản thân thế giới vật
chất Có mối liên hệ, tác động giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau Có mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng và cái tinh thần Có cái liên hệ giữa những hiện tượng tinh thần với nhau, như mối liên hệ và tác động giữa các hình thức của quá trình nhận thức Các mối liên hệ, tác động đó, suy cho đến cùng, đều là sự phản ánh mối liên hệ và sự quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan
b) Tính phổ biến Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau và tách biệt nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy, mà còn diễn ra đối với các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
c) Tính đa dạng, phong phú Có nhiều mối liên hệ Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa
các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, nhưng cũng có những mối liên hệ gián tiếp Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên hệ bản chất cũng có mối liên hệ chỉ đóng vai trò phụ thuộc (CSHT + KTTT)không bản chất) Có mối liên hệ chủ yếu và có mối liên hệ thứ yếu v.v chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Do vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát được toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó
d) Tính vô hạn của thế giới khách quan; tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối
liên hệ phổ biến, được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau
Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng
duy vật, rút ra nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng :
- Trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính cùng các mối liên hệ của chúng
- Trong mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp
- Trong không gian, thời gian nhất định, nghĩa là phải nghiên cứu quá trình vận động của sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại
và phán đoán cả tương lai của nó
- Nguyên tắc toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện chỉ thấy mặt này mà không thấy các mặt khác; hoặc chú ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét tràn lan, dàn đều, không thấy được mặt bản chất của sự vật, hiện tượng rơi vào thuật nguỵ biện và chủ nghĩa chiết trung
2 Nguyên lý về sự phát triển.
Khái niệm: Trong phép biện chứng duy vật phát triển dùng để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới luôn vận động và sự vận động của sự vật hiện tượng có khuynh hướng đi lên
Các tính chất
- Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân
sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả moi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó; trong mỗi quá trình biến đổi đã bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với qui luật khách quan
- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau sự vật sẽ phát triển khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu nhiều sự
3
Trang 4tác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử, cụ thể Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí có thể làm cho sự vật thụt lùi tạm thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này
và thoái hóa ở mặt khác…Đó đều là những biểu hiện của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển
Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển Theo Lênin: “Logic biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động…trong sự biến đổi của nó” Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển
Sự phát triển bao hàm cả sự thụt lùi tạm thời và diễn ra quanh co, phức tạp do đó trước nưững khó khăn không được hoang mang, dao động mà phải có niềm tin chắc chắn vào quy luật phát triển khách quan Cái mới nhất định thắng đó là xu hướng tất yếu
Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối quan hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên Đồng thời, phải phát huy vai trò nhân tố chủ quan của con nguời để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng qui luật
II Việc vận dụng chúng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay?
1 Mối liên hệ phổ biến
Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống
xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…), mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về CNXH Cụ thể,
về xã hội: giải quyết tốt mối liên hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức tạo thành mối liên hệ công nông trí thức Về chính trị: đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hệ thống, chức năng, tránh chồng chéo, tạo sự đồng bộ giữa đảng và nhà nước Về tư tưởng: với ba bộ phận chủ yếu: văn hóa, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Nó phải có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó giáo dục đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu
Tuy nhiên không phải đổi mới tất cả các lĩnh vực ngay cùng một lúc (như thế sẽ không đủ lực để thực hiện) mà phải xác định đổi mới có trọng tâm, trọng điểm Trong đổi mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục… Đảng xác định đổi mới kinh tế là trước hết; đổi mới giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu trên cơ sở phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ ngoại lực
2 Nguyên lý về sự phát triển
Trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước, Đảng ta luôn đấu tranh phê phán với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến Điều này được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng lần IX
Gắn liền CNH với HĐH, đẩy mạnh CNH, HĐH để đến năm 2020, về cơ bản Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 2001), Đảng ta đã nhấn mạnh phải thực hiện “CNH đất nước theo hướng hiện đại” và coi đây là một nhiệm vụ trung tâm, phương hướng
cơ bản của quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay chúng ta đã cải biến căn bản, toàn diện để tạo nền tảng của một nước công nghiệp có cơ sở vật chất
-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế tiên tiến, quan hệ sản xuất phù hợp sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và chính sách phát triển vì mục tiêu phát triển con người Việt Nam Đó cũng là quá trình tăng cường nguồn lực con người, năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại, thân thiện và bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững Nguyên lý về sự phát triển là nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, nó giúp chúng ta nâng cao được nhận thức được những tính chất phức tạp, quanh co về sự vật, hiện tượng trong thế giới quan, đồng thời giúp ta giải quyết được những mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng Chẳng hạn, bản thân chúng ta là cán bộ, công nhân, viên chức, lao động muốn có sự thăng tiến trong công việc đòi hỏi phải hiểu rõ bản chất của công việc mình đang làm, từ đó học tập, tìm hiểu những cách làm mới, hiệu quả hơn để làm tốt hơn công việc, đó gọi là sự phát triển trong con người
Câu 3: Phân tích nội dung quy luật mâu thuẫn của PBCDV Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong sự phát
hiện và phân tích mâu thuẫn ở nước ta hiện nay
Trả lời:
1 Phần chung (Giới thiệu về Quy luật)
- Định nghĩa: Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, ổn định và lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các quá
trình của sự vật
5 đặc trưng cơ bản của quy luật: mối liện hệ bản chất, tất yếu, phổ biến, ổn định, lặp đi lặp lại
- Phân loại: Có nhiều cách phân loại quy luật:
+ Phân theo mức độ rộng hẹp của sự tác động của QL: QL riêng, QL đặc thù, QL phổ biến (CSHT + KTTT)Triết học nghiên cứu những QL này) + Phân theo phạm vi phản ánh: QL tự nhiên (CSHT + KTTT)vô cơ, hữu cơ), QL xã hội, QL tư duy
- Vai trò: Vì QL có tính khách quan nên con người chỉ có thể phát hiện ra QL và nhờ đó xác định được phương hướng hoạt động
của mình, chủ động điều chỉnh hoạt động phù hợp với QL Và có thể tạo ra điều kiện để thay đổi sự tác động của QL phục vụ cho mục đích của mình (CSHT + KTTT)Lợi dụng QL)
2 Phần riêng
a Nội dung QL mâu thuẫn của PBCDV Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong sự phát hiện và phân tích mâu thuẫn ở nước ta hiện nay
QL mâu thuẫn là 1 trong 3 QL cơ bản của PBCDV Lênin đã nói: “QL mâu thuẫn là hạt nhân của PBC”, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển trong thế giới quan.
* Mâu thuẫn BC
- Khái niệm
+ Mặt đối lập: Mặt đối lập: là một phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Chính những mặt như vậy nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng
+ Mâu thuẫn: Là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập Đó là những mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau cùng tốn tại trong mỗi sự vật MT là sự thống nhất của 2 mặt đối lập
+ MTBC: là do các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại với nhau trong 1 sự vật (CSHT + KTTT)một chỉnh thể) tạo thàn
Trang 5- Tình chất của MTBC
+ Tồn tại khách quan
+ Tồn tại phổ biến trong cả tự nhiên, xh và tư duy
+ Mang tính đa dạng và phức tạp
Thống nhất của các mặt đối lập: hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn luôn luôn tồn tại trong sự “thống nhất” với nhau nghĩa là chúng nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau, sự tồn tại của mặt này phải lấy mặt kia làm tiền đề và điều kiện cho sự tồn tại của mình Sự thống nhất của hai mặt đối lập thể hiện tính không thể tách rời của hai mặt đó
Đấu tranh của các mặt đối lập: là sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau
Chuyển hoá của các mặt đối lập là kết quả tất yếu của sự tác động qua lại thường xuyên giữa các mặt đối lập làm cho sự vật thay đổi
về chất chuyển sang sự vật khác Sự vật mới tồn tại với những mâu thuẫn mới, các mặt đối lập lại đấu tranh với nhau, chuyển hoá làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển
Sự chuyển hoá các mặt đối lập có thể xảy ra ở từng bộ phận hay xảy ra toàn phần dưới hai hình thức cơ bản:
+ Chuyển hoá lẫn nhau: các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình
+ Chuyển hoá lên hình thức cao hơn: cả hai mặt đối lập cũ đều mất đi và hình thành hai mặt đối lập mới trong sự vật mới
- Phân loại:
+ MT bên trong & bên ngoài
+ MT cơ bản và không cơ bản
+ MT chủ yếu và thứ yếu
+ MT đối kháng và không đối kháng
MT có sự chuyển hóa cho nhau Mỗi loại MT lại có cách giải quyết khác nhau và tùy vào hoàn cảnh khác nhau mà xác định MT
* Nội dung quy luật
- Khi mới hình thành, mâu thuẫn thường chỉ biểu hiện là hai mặt khác nhau, song chỉ có hai mặt khác nhau có liên hệ hữu cơ với nhau và có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một thể thống nhất của sự vật thì mới hình thành bước đầu một mâu thuẫn
- Trong quá trình phát triển hai mặt khác nhau đó trở thành hai mặt đối lập, hai mặt đối lập đó đấu tranh với nhau đến độ chín muồi và có điều kiện thì chúng chuyển hoá Chính bằng cách đó mâu thuẫn được giải quyết
Tóm lại: Nguyên nhân chính và cuối cùng của mọi sự vật là sự tác động qua lại lẫn nhau Đấu tranh của các mặt đối lập quy định
một cách tất yếu những thay đổi của sự vật nói chung làm cho sự vật chuyển sang trạng thái khác về chất Nói cách khác đấu tranh của các mặt đối lập và sự chuyển hoá giữa chúng là nguồn gốc và động lực của sự phát triển
Trong bài “Về vấn đề phép biện chứng” Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập được hiểu là:
Quá trình hình thành và phát triển của một mâu thuẫn: lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt, sau đó phát triển thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và ó điều kiện thì giữa chúng có sự chuyển hoá -mâu thuẫn được giải quyết
Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và lại một quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động và phát triển Nếu mâu thuẫn không được giải quyết (CSHT + KTTT)các mặt đối lập không chuyển hoá) thì không có sự phát triển Chuyển hoá của các mặt đối lập là tất yếu, là kết quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
* Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong sự phát hiện và phân tích mâu thuẫn ở nước ta hiện nay
- Muốn phát hiện ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sv, ht phải tìm trong chính sv, tìm trong thể thống nhất giữa các mặt đối lập không tìm được nguồn gốc vận động ở bên ngoài (CSHT + KTTT)Mâu thuẫn bên trong giải quyết được mới là điều quan trọng)
VD1: Mảng giáo dục: MT: Điều kiện học tập tốt nhưng chất lượng đầu ra ngày càng kém (Tại sao chất lượng giáo dục ngày càng
đi xuống?)
Phải chăng do kinh tế khó khăn nên chất lượng không tốt? Thực chất cơ chế thị trường (CSHT + KTTT)thực dụng) chỉ có tác động tới 1 phần đó là mang đến nhiều trò giải trí tác động vào học sinh làm các bạn giảm niềm say mê khoa học Mà mâu thuẫn của nó phải là bên trong học sinh: sự hưởng thụ + tâm lý lười nhác >< Động lực học tập Chúng ta cần nhìn thẳng vào vấn đề để học tập tốt cần các yếu tố:
Tự giác, thông minh, niềm say mê tìm tòi và giải quyết được mâu thuẫn giữa học và chơi của học sinh Nhìn sự vật phải nhìn vào bản chất và giải quyết đúng MT cơ bản
VD2: Ở VN hiện nay không có sự MT về giai cấp mà MT cơ bản là: Phát triển KT thị trường theo định hướng XHCN với sự phân hóa giàu nghèo trong XH.
- Mỗi loại MT khác nhau có cách giải quyết khác nhau do vậy phải linh hoạt tìm hình thức thích hợp để giải quyết MT
Tham khảo thêm: Ở nước ta hiện nay (CSHT + KTTT)nền kinh tế thị trường), việc xây dựng CNXH xuất hiện mâu thuẫn giữa sự tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội (CSHT + KTTT)Sự công bằng giữa các ngành nghề).Vì muốn tăng trưởng KT phải tập trung vào các ngành dịch vụ đem lại lợi nhuận cao Trong khi đó nhiều ngành nghề được đầu tư nhiều nhưng sản phầm đầu ra khó tiêu thụ thu nhập của người làm thấp, đời sống khó khăn (CSHT + KTTT)Các ngành KH cơ bản,…)
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, còn gọi là quy luật mâu thuẫn, là hạt nhân của phép biện chứng, nó vạch ra nguồn gốc bên trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng
1 Khái niệm
a Đối lập, mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những khuynh hướng
biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy; chính những mặt đối lập này nằm trong sự liên hệ tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng
b Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này là tiền
đề cho sự tồn tại của mặt kia; chúng luôn tác động qua lại và đấu tranh lẫn nhau theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau gữa các mặt đối lập
2 Nội dung quy luật
Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới
3 Phân tích nội dung quy luật
a Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và mang tính phổ biến, là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
5
Trang 6Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận có sự đối kháng,
sự xung đột bên ngoài giữa các sự vật hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là có tính quy luật
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong; mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau, những mặt đối lập nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành mâu thuẫn
Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn là hiện tượng phổ biến; mâu thuẫn tồn tại khách quan trong thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người; tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng mà còn phổ biến trong suốt quá trình vận động và phát triển của chúng; mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành
b Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Khái niệm "thống nhất" trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là 2 mặt đối lập liên hệ nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại và phát triển (CSHT + KTTT)ví dụ: đồng hóa và dị hóa, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa)
Khái niện "thống nhất" trong quy luật mâu thuẫn còn đồng nghĩa với khái niệm "đồng nhất", đó là sự thừa nhận những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau trong tất cả các hiện tượng, các quá trình của tự nhiên, xã hội và tư duy; song "đồng nhất" còn có
ý nghĩa khác, đó là sự chuyễn hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập; và như vậy sự "đồng nhất" là không tách rời với sự khác nhau và đối lập, (CSHT + KTTT)ví dụ liên hệ: một vật vừa là nó vừa không phải là nó; quan điểm này hoàn toàn đối lập với quan điểm siêu hình, phiến diện, xem sự vật mang tính đồng nhất thuần túy không có đối lập, không có sự chuyển hóa
Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không thể tách rời sự đấu tranh bài trừ nhau, phủ định nhau giữa chúng; hình thức đấu tranh được thể hiện trong thế giới vật chất là rất đa dạng, từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp (CSHT + KTTT)ví dụ: trong thế giới tự nhiên chỉ là những tác động ảnh hưởng lẫn nhau, trong xã hội đó là những xung đột gay gắt, quyết liệt bằng bạo lực cách mạng mới có thể giải quyết căn bản các mâu thuẫn)
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn với những đặc điểm riêng của nó; khi mới xuất hiện, mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của 2 mặt có khuynh hướng trái ngược nhau; trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác nhau đó biến thành sự đối lập, khi 2 mặt đối lập xung đột nhau gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi sẽ chuyễn hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết; kết quả là sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập cũ bị phá hũy, sự thống nhất của 2 mặt đối lập mới được hình thành cùng mới mâu thuẫn mới
Bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính chất tạm thời tương đối, nghĩa là nó tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật hiện tượng; còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là có tính chất tuyệt đối, nghĩa là nó phá vỡ sự ổn định dẫn đến sự chuyển hóa về chất của các sự vật hiện tượng, làm cho vật chất luôn vận động và phát triển
3 Các loại mâu thuẫn
mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy tồn tại rất đa dạng; tính đa dạng được quy định bởi đặc điểm của các mặt đối lập, điều kiện thực hiện sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn tại
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, người ta phân loại thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật hiện tượng; mâu thuẫn bên ngoài
là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác (CSHT + KTTT)ví dụ: đồng hóa-dị hóa: bên trong; cơ thể-môi trường: bên ngoài); cách phân loại này chỉ mang tính tương đối, các mâu thuẫn tác động lẫn nhau và mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng (CSHT + KTTT)ví dụ: chính sách đối nội-đối ngoại)
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng, người ta phân loại thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật hiện tượng, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật hiện tượng, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật hiện tượng; mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển một mặt nào đó của sự vật (CSHT + KTTT)liên hệ: mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa)
Căn cứ vào vai trò mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật hiện tượng, giải quyết nó tạo điều kiện giải quyết các mâu thuẫn thứ yếu; phân biệt mâu thuẫn chủ yếu với mâu thuẫn thứ yếu chỉ mang tính tương đối, trong cùng một sự vật trong điều kiện này là mâu thuẫn thứ yếu, trong điều kiện khác lại là mâu thuẫn chủ yếu
Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập trong xã hội, người ta phân chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau (CSHT + KTTT)ví dụ); mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, những khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích những mang tính cục bộ, tạm thời (CSHT + KTTT)ví dụ: mâu thuẫn trong các bộ phận công nhân, giữa thành thị-nông thôn) Phân biệt được các loại mâu thuẫn trên sẽ góp phần xác định chính xác phương pháp giải quyết phù hợp: bằng bạo lực cách mạng hay bằng giáo dục thuyết phục
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn, yêu cầu này đòi hỏi chúng ta phải biết phân tích các mặt đối lập của mâu thuẫn, nắm được bản chất của sự vật, khuynh hướng vận động và phát triển của chúng
Hoạt động thực tiển nhằm biến đổi sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó, muốn vậy phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn; không nên giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa đủ điều kiện.Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ loại mâu thuẫn mà có phương pháp giải quyết cụ thể
Câu 4: Phân tích quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận
thức quy luật này trong xây dựng CNXH ở VN hiện nay
Trả lời:
Vị trí của quy luật: là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BC, quy luật này nói lên cách thức, phương thức của sự vận động, của
sự phát triển Mỗi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng Để hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt này, trước hết cần phải nắm vững các khái niệm chất và lượng
*
Khái niệm chất – lượng
- Khái niệm chất :Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó phân biệt nó với cái khác vd: đường, muối
Trang 7- Khái niệm lượng: Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quyết định khách quan vố có của sự vật hiện tượng về các ơhng diện:số lưọng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động phát tiển của sự vật
- Sự phân biệt giữa chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mqh khác lại là lượng
*
Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất
Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi Sự biến đổi về lượng có thể xảy ra hai trường hợp khác nhau:
- Một là: sự tăng lên hoặc giảm đi về lượng dẫn đến sự biến đổi ngay về chất
- Hai là: Sự tăng lên hoặc giảm đi về lượng không làm cho chất thay đổi ngay mà thay đổi dần dần từng bước
- Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm
thay đổi căn bản về chất của sự vật Trong giới hạn của độ, lượng và chất tác động biện chứng với nhau theo cách thức bắt đầu là sự thay đổi tuần tự về lượng (CSHT + KTTT)tăng dần hoặc giảm dần) nhưng sự thay đổi đó chưa làm cho chất đổi mà chỉ khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì chất mới thay đổi, sự vật không còn là nó nữa, sự vật mới ra đời thay thế nó
- Điểm giới hạn khi lượng đạt tới sẽ làm thay đổi chất của sự vật thì gọi là điểm nút.
- Sự thay đổi về chất qua điểm nút gọi là bước nhảy, đó là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là
sự “đứt đoạn” trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật Do vậy có thể nói phát triển là “đứt đoạn” trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút
- Khi sự vật mới ra đời với chất mới lại có một lượng mới phù hợp, tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng Sự tác động của chất mới đối với lượng mới được biểu thị ở qui mô, nhịp điệu phát triển mới của lượng
Như vậy không có sự thay đổi dần dần về lượng thì không có sự nhảy vọt về chất được, sự thay đổi dần dần về lượng được gọi là sự tiến hoá - sự nhảy vọt về chất được gọi là cách mạng.
Tuy nhiên không thể không đề cập đến sự tác động của chất đối với lượng hay nói cách khác “chiều ngược lại” của qui luật
Lượng thay đổi luôn luôn trong mối quan hệ với chất, Chịu sự tác động của chất, nhưng sự tác động của chất thể hiễn rõ nét nhất khi
sự vật có bước nhảy về chất - chất mới thay thế chất cũ
Khi chất mới ra đời nó qui định qui mô, tốc độ phát triển của lượng mới trong độ mới tạo ra bước phát triển mới trong sự thay đổi của lượng
Tóm lại: Qui luật lượng - chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật và hiện tượng Trước hết lượng biến đổi dần dần và liên tục,
khi đạt đến điểm nút (CSHT + KTTT)giới hạn của sự thống nhất giữa chất và lượng) sẽ dẫn đến bước nhảy vọt về chất; chất mới ra đời lại tạo nên
sự thống nhất mới giữa chất và lượng Sự vận động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới diễn ra theo cách thức lúc thì biến đổi tuần tự về lượng, lúc thì nhảy vọt về chất tạo ra một đường nút vo tận làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế cho sự vật cũ
* Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong xây dựng CNXH ở VN hiện nay
Ý nghiã phương pháp luận:
Qui luật lượng - chất có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Đối với nhận thức: để có tri thức đúng về sự vật chúng ta phải nhận thức cả về mặt chất và lượng của nó
Đối với hoạt động thực tiễn:
Do sự vận động và phát triển của sự vật, trước hết là sự tích luỹ về lượng và khi sự tích luỹ về lượng vượt quá giới hạn độ thì tất yếu có bước nhảy về chất, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống cả hai khuynh hướng
Thứ nhất, “tả khuynh” - tư tưởng nôn nóng, chủ quan duy ý chí, thể hiện ở chỗ khi chưa có sự tích luỹ về lượng đã muốn thực hiện
bước nhảy về chất
Thứ hai, “hữu khuynh” - tư tưởng bảo thủ, chờ đợi, không thực hiện bước nhảy về chất khi đã có sự tích luỹ đầy đủ về lượng hoặc
chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng
Vận dụng linh hoạt các hình thức bước nhảy theo quan niệm lịch sử
Có thể thay đổi các sự vật bằng cách tác động làm thay đổi phương thức liên kết của các yếu tố hợp thành trên cơ sở hiểu rõ kết cấu
sự vật
Cần có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các bước nhảy khi có các điều kiện đầy đủ
Vận dụng XDXHCN (Các bạn nêu và triển khai ý thêm)
Đổi mới từ nền HT tập trung quan liêu, bao cấp sang nền KT thị trường theo định hướng XHCN…- Phân tích (CSHT + KTTT)Lượng: trình độ lao động sx thấp Thay đổi dần về lượng; SX: tập trung HTX cha chung không ai khóc Cải biến thay đổi các quan hệ KT – ruộng đất khoán cho hộ gia đình,….)
(CSHT + KTTT)Đổi mới trước & sau năm 86: Sau 20 năm đổi mới thì chúng ta lại phải tổng kết, rút kinh nghiệm
Trước: Thừa nhận 6 thành phần kinh tế trong đó sở hữu nhà nước là chủ đạo Nhưng sau đó sở hữu nhà nước lại có sự khuyết điểm trong sự quản lý làm gây thất thoát ngân sách NN Cần đổi mới cách thức QL của NN với các tp kinh tế Tiếp đến đổi mới chính trị: Xây dựng cơ chế dân chủ ở địa phương, tổ chức công đoàn ở các cơ sở tư nhân,… )
Câu 5: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong việc xây
dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay?
Trả lời:
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ xu hướng đi lên của sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển
1 Phủ định biện chứng:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng Trong đó sự vật, hiện tượng này thay thế cho
sự vật, hiện tượng khác
- “Phủ định biện chứng”: là phủ định mà trong đó cái mới ra đời thay thế cho cái cũ Cái mới làm tiền đề, tạo điều kiện
cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy vật cho rằng: sự diệt vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới, sự thoái hóa và sự phát triển có liên hệ nội tại với nhau Không có mặt này cũng không có mặt kia
“Phủ định trong phép biện chứng không chỉ có ý nghĩa đơn giản là nói không hoặc giả là tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó… Cho nên phải thiết lập sự phủ định thứ nhất như thế nào cho sự phủ định lần thứ hai vẫn có khả năng thực hiện được hay trở thành có khả năng thực hiện được” (CSHT + KTTT)Ăngghen “Chống Đuy-rinh”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 230-321)
Đặc trưng của phủ định biện chứng:
Thứ nhất: Tính khách quan
7
Trang 8Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phát triển ngay
trong bản thân sự vật Đó là kết quả giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật
Phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động và phát
triển của sự vật
Thứ hai: Tính kế thừa
Sự vật mới ra đời đó là một quá trình mà nền tảng của nó là ở sự vật cũ Cái mới ra đời trên cơ sở gạt bỏ những cái mặt tiêu cực ,lỗi thời lạchậu của cái cũ va chọn lọc, giữ lại , cải tạo những mặt còn thích hợp với hiện thực,Điều này nói lên rằng phủ
định biện chứng mang tính kế thừa
Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển trên cơ sở những mâu thuẫn vốn có của sự vật và hiện tượng nên nó không thể là một sự phủ định tuyệt đối, một sự phủ định sạch trơn
Phép biện chứng duy vật coi sự kế thừa là nội dung cơ bản của phủ định biện chứng
2 Nội dung quy luật:
Nội dung của quy luật phủ định của phủ định có thể được trình bày như sau: Quá trình vận động của sự vật là quá trình phủ định liên tiếp các tính chất của nó Trong chuỗi các phủ định một tính chất nào đó, cứ sau hai lần phủ định thì tính chất ban đầu được lặp lại Khi lặp lại một tính chất nào đó, sự vật không hoàn toàn giống với nó lúc đầu, vì có thêm những tính chất mới.
Tức là, tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều luôn luôn vận động, phát triển, quá trình đó cũng là quá trình phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Khuynh hướng tất yếu của sự vận động là: cái mới thay thế cho cái cũ, cái mới làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng Nhưng sự phát triển có tính chu kỳ
a Tính chu kỳ của sự phát triển:
Từ một điểm xuất phát (CSHT + KTTT)A) qua một số lần phủ định biện chứng (CSHT + KTTT)B(CSHT + KTTT)n)) sự vật dường như lặp lại điểm xuất phát (CSHT + KTTT)A’) nhưng trên cơ sở cao hơn
┤A → B(CSHT + KTTT)n) →A’├ →
Chẳng hạn, sự thay đổi của thời tiết ở Việt Nam theo khuynh hướng là hết nắng sẽ đến không nắng (CSHT + KTTT)mưa), hết không nắng
sẽ đến nắng; hết ngày sẽ đến không phải ngày (CSHT + KTTT)đêm), hết không phải ngày sẽ đến ngày; hết mùa xuân sẽ đến không phải mùa xuân (CSHT + KTTT)các mùa hạ, thu, đông), hết không phải mùa xuân sẽ đến mùa xuân Sự thay đổi về sức khỏe của con người theo khuynh hướng là: hết khỏe sẽ đến không khỏe (CSHT + KTTT)yếu), hết không khỏe sẽ đến khỏe; hết béo lại đến không béo, hết không béo lại đến béo Sự thay đổi của loài lúa theo khuynh hướng là: hết hạt lại đến không phải hạt (CSHT + KTTT)cây), hết không phải hạt lại đến hạt Sự thay đổi về mặt xã hội của một quốc gia theo khuynh hướng là: hết ổn định sẽ đến bất ổn định, hết bất ổn định sẽ đến ổn định; hết cào bằng sẽ đến không cào bằng, hết không cào bằng sẽ đến cào bằng Chúng ta không thể đưa ra tất cả ví dụ, vì số lượng sự vật và số lượng tính chất là vô cùng nhiều Tuy nhiên, không có một ví dụ nào mà lại trái ngược với công thức trên
- Sự phủ định biện chứng lần thứ nhất (CSHT + KTTT)B) là bước trung gian trong sự phát triển Trình độ mới của (CSHT + KTTT)A) phải qua (CSHT + KTTT)B) mà được thực hiện chứ không phải (CSHT + KTTT)B) là giai đoạn cao hơn (CSHT + KTTT)A)
- Sự phủ định biện chứng lần thứ hai (CSHT + KTTT)A’) là phủ định của phủ định
- (CSHT + KTTT)A’) là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển mới
- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lần phủ định biện chứng
b Hình thức và khuynh hướng của sự phát triển:
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động của sự vật và hiện tượng Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc” Trong thế giới vô sinh, khuynh hướng vận động nói chung và nói riêng đều không phải phát triển Chẳng hạn, mùa xuân sau không phát triển hơn mùa xuân trước Vì thế, chúng ta có thể hình dung khuynh hướng vận động trong thế giới vô sinh giống như đường xoắn lòxo Nhưng trong thế giới hữu sinh và trong xã hội loài người, khuynh hướng vận động nói chung là sự phát triển; sự vật ở giai đoạn sau tuy lặp lại một tính chất nào đó ở giai đoạn trước, nhưng lại có những điểm tiến bộ hơn Ví dụ, lúa thế hệ sau nhìn chung tốt hơn lúa thế hệ trước Do có sự phát triển, nên chúng ta có thể hình dung khuynh hướng vận động nói chung trong thế giới hữu sinh và trong xã hội loài người giống như đường xoáy ốc
Lênin viết: “Một sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một hình thức khác ở một trình độ cao hơn (CSHT + KTTT)phủ định của phủ định), một sự phát triển có thể nói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng (CSHT + KTTT)Lênin toàn tập, T.26, Nxb Tiến bộ, Maatsxcơva, 1981, tr.65)
- “Đường xoáy ốc” biểu hiện các mặt của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại, tính tiến lên của sự vận động
- “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sự vật Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
3 Ý nghĩa phương pháp luận nói riêng
- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng, nhiều khâu trung gian
- Là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quá trình diễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện Cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ Phải biết phát hiện cái mới, duy trì và phát triển cái mới
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặc phủ định sạch trơn
Ý nghĩa phương pháp luận của sự nhận thức quy luật này trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
ở nước ta hiện nay
Hiện nay,vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc và những biến thể của nó đang là một trong nhữg vấn đề được đặc biệt quan tâm ở Việt Na m.Nỗi ám ảnh về bản sắc hiện diện ở khắp nơi, từ những diễn ngôn chính trị như "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, hiện đại, đậm đà b
ản sắc
dân tộc", "hội nhập nhưng không hòa tan" cho đến các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội
như xây dựng thương hiệu Việt, tự kiểm điểm tính cách dân tộc hay phê bình văn học nghệthuật
«Bản» là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật; «Sắc» là thể hiện
ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam tức là nói những giá trị gốc,căn bản,
cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam.Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân
Trang 9tức là không phải nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất, chúng mang tính dân tộc sâu sắc đến nỗi chúng biểu hiện trong mọi lĩnh vực như: vănhọc nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứ
ng xử
hằng ngày của người Việt Nam
Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó được tạo thành dần dần và được
khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước Việt Nam Những giá trị đó không phải là không th
ay đổi trong quá trình lịch sử Có những giá trị cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung vào Có những g
iá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới
Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá
tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ
thế hệ này sang thế hệ khác
Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối
với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất Nếu dân tộc không có ý thức
giữ gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai một và tàn lụi đi
Giai cấp lãnh đạo phải sáng suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân
tộc Những giá trị nào lỗi thời phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào,
những giá trị nào cần kế thừa, nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao?
Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận
tư tưởng Phật giáo Cũng với những lý do xác
đáng, dân tộc ta kinh qua cuộc cách Mạng tháng tám đã chấp nhận hệ tư tưởng MácLênin
như là dòng tư tưởng chủ lưu hiện nay của mình.Những cuộc kiểm nghiệm như thế cũng
cần được tiến hành khi xảy ra giao tiếp văn hóa rộng rãi giữa các nền văn hóa khác nhau,
ví dụ giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Xô Viết, văn hóa Việt Nam và văn hóa Ấn Độ,
Trung Hoa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Âu, Mỹ
Thời đại hiện nay là thời đại của kỹ thuật giao thông liên lạc và thông tin cực kỳ phát triểnTrái đất như bị thu nhỏ lại hàng mấy trăm lần, so với chục năm về trước Do đó sự tiếp xúcvăn hóa giữa các dân tộc sống cách xa nhau là tất nhiên và tất yếu
Qua những cuộc tiếp xúc đó, bản sắc văn hóa của các dân tộc đều có sự thay đổi, bên cạnh
những cái khẳng định
Những yếu tố tiến bộ của văn hóa nước ngoài, một khi đã được dân tộc ta chấp nhận và
biến thành sở hữu của mình rồi, thì chúng có thể trở thành một bộ phận của giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, của dân tộc Việt Nam
Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình
toàn cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay
+Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp
của đất nước, tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trong xây dựng, nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắ
c dân tộc đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội
+Chúng ta phải gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ trung tâm xây dựng
kinh tế và nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng, bảo đảm hoạt động văn hoá tiến hành đồng bộ với hoạt động kinh tế, hình thành nền t ảng tinh thần vững chắc cho xã hội
+ tăng cường các nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá, trước hết và tăng mức đầu tư từ ngân sách cho phát triển sự nghi
ệp văn hoá đi đôi với việc huy động sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực đó; +sớm xây dựng và thực hiện chiến lược tuyển chọn, đào tạo, phát triển các tài năng văn
hoá, nghệ thuật; tăng cường và đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với văn hoá
Câu 6: Trình bày quan niệm của triết học Mác – Lenin về thực tiễn, những nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực
tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm này trong việc nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta?
Trả lời:
1 Phạm trù thực tiễn
Khái niệm: Phạm trù thực tiễn là phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học
Mác - Lênin nói chung
Các nhà duy vật trước Mác có đóng góp to lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và phát triển thế giới quan duy vật C.Mác chỉ rõ: “Khuyết điểm chủ yếu từ trước cho đến nay, của mọi chủ nghĩa duy vật (CSHT + KTTT)kể cả duy vật của Phoiơbắc) là sự
vật, hiện thực, cái có thể cảm giác đựơc, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn”1
Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII đã nhiều năm đấu tranh không khoan nhượng chống lại chế độ phong kiến và tôn giáo, nhưng vẫn không hiểu được rằng thực tiễn đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân là yếu tố quyết định những bước chuyển biến xã hội Con đường chủ yếu để cải tạo xã hội, theo họ là mở mang trí tuệ, là giáo dục con người
Phoiơbắc tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không thấy được thực tiễn như là hoạt động vật chất cảm tính, có tính năng động của con người Hêghen thấy được tính năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người, vì vậy, “ý niệm thực tiễn” trong triết học của ông chứa đựng một tư tưởng sâu sắc: bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóa bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn, theo Hêghen là hoạt động tinh thần, là sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối'”, chứ không phải là hoạt động vật chất của con người
Trên cơ sở khắc phục những yếu tố sai lầm, kế thừa có chọn lọc các quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đây, Mác và Ăngghen đã đưa ra một quan niệm khoa học về thực tiễn và về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Với đóng góp này, hai ông đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, V.I.Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ
bản của lý luận về nhận thức”2
Thực tiễn là phạm trù chỉ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội.
1 C Mác, Ph Ăngghen: Toàn tập, t.1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1980, tr.252.
2 13 V.i.Lênin: Toàn tập, t.18, Nxb tb, M, 1980, tr.167
9
Trang 10Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người cần phải tiến hành những hoạt động xã hội Hoạt động xã hội gồm: hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần, hoạt động sản xuất và hoạt động phi sản xuất, v.v
Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản của xã hội và nó có những đặc trưng riêng Đây là hoạt động vật chất
(CSHT + KTTT)đối lập với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), theo cách nói của C.Mác là hoạt động cảm tính Trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng các công cụ, phương tiện vật chất, sức mạnh vật chất của chính mình để cải tạo tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễn là hoạt động đối tượng hóa, vật chất hóa tư tưởng Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tạo ra một hiện thực mới, “một nhiên nhiên thứ hai” với tính cánh là điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
Hoạt động thực tiễn có tính lịch sử - xã hội Cải tạo tự nhiên và xã hội là hoạt động cơ bản, phổ biến, là phương
thức tồn tại của xã hội loài người Động vật hoạt động theo bản năng, chỉ biết tìm kiếm những gì sẵn có trong tự nhiên để sống Con người không thể thỏa mãn với những cái mà tự nhiên mang đến cho mình dưới dạng sẵn có Để tồn tại, con người phải tiến hành lao động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất nuôi sống mình Như vậy, cũng như các động vật khác, con người để lại dấu vết của mình trong tự nhiên Nhưng sự tham gia,''sự can thiệp'' của con người vào môi trường xung quanh khác về nguyên tắc so với hoạt động của loài vật
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Thực tiễn là
phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội
Đồng thời, thực tiễn là hoạt động có tính chất "loài" (CSHT + KTTT)loài người) Đó là hoạt động của cộng đồng người, của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Thực tiễn có quá trình vận động của nó Trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người
Thực tiễn gồm những dạng cơ bản và không cơ bản Dạng cơ bản đầu tiên của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn Dạng cơ bản thứ hai của thực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội nhằm cải tạo xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Với sự ra đời và phát triển của khoa học, một dạng cơ bản khác của thực thực tiễn cũng xuất hiện - đó là hoạt động thực nghiệm khoa học Các dạng không cơ bản của thực tiễn là những hoạt động trong một số lĩnh vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, v.v Các dạng này được hình thành và phát triển từ những dạng cơ bản, chúng là dạng thực tiễn phát sinh
2 Phạm trù lý luận
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan trên cơ sơ thực tiễn xã hội Quá trình nhận thức không diễn ra thụ động, giản đơn, máy móc, mà là quá trình phản ánh năng động, sáng tạo, biện chứng Đó là quá trình đi từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ không đầy đủ và không chính xác đến đầy đủ và chính xác hơn Quá trình nhận thức của con người và loài người nói chung trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Sự nhận thức của loài người tất yếu dẫn đến sự ra đời của lý luận
Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của nhận thức, nhưng chúng lại thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, giả định lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận thức cảm tính
và nhận thứ lý tính, bởi vì trong nhận thức kinh nghiệm đã bao hàm yếu tố lý tính Do đó, có thể coi kinh nghiệm và lý luận là những bậc thang của lý tính Chúng khác nhau về trình độ, tính chất phẩn ánh hiện thực, về vai trò cũng như về trật tự lịch sử
Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm và bao gồm hai loại sau:
1) Tri thức kinh nghiệm thông thường thu nhận được từ những quan sát hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất
2) Tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học
Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của con Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - một sự nghiệp vô cùng khó khăn và phức tạp - những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn sẽ đem lại cho chúng ta những bài học hết sức quan trọng Kinh nghiệm còn là cơ sở để chúng ta kiểm tra lý luận, sửa đổi, bổ sung lý luận đã có, đồng thời tổng kết khái quát thành lý lý luận mới
Tuy vậy, tri thức kinh nghiệm có những hạn chế nhất định bởi nó giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữ kiện thu được từ quan sát và thí nghiệm; mới chỉ đem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối mối liên hệ bên ngoài ở trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể nắm bắt được mối quan hệ bản chất, tất yếu của các sự vật, hiện tượng
Vì vậy, coi trọng tri thức kinh nghiệm, nhưng chúng ta không được cường điệu nó, không nên dừng lại ở kinh nghiệm mà cần phát triển lên trình độ lý luận
Tri thức lý luận được khái quát từ kinh nghiệm Theo Hồ Chí Minh, lý luận "là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy lại trong quá trình lịch sử"3
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan
Lý luận được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, nhưng lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận thể hiện trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ đó, nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến hơn, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm C Mác, Ph Ăngghen chỉ rõ: “Sự quan sát theo kinh nghiệm
tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu và nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự”4
II Những nguyên tắc cơ bản của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1 Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của lý luận và là tiêu chuẩn của chân lý; sự hình thành và phát triển của lý luận xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; luận phải được kiểm nghiệm, được bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó, thực tiễn có vai trò quyết định V.I.Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (CSHT + KTTT)lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”5 Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học Nhưng bản thân lý luận không có mục đích tự thân Lý luận khoa học ra đời vì chúng cần thiết cho hoạt động cải tạo
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 789.
421 C.Mác, Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb st, Hà Nội, 1981, t 25, ph I, tr 343
5 V.I Lênin: Toàn tập, t.29, Nxb Tiến Bộ, M 1981, tr.230