1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng đồng quê trong thơ mới 1932 1945 (tt)

15 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, từ kết quả nghiên cứu sẽ cho phép chúng ta khẳng định vị trí của mảng thơ này trong đóng góp chung của Thơ mới đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ trước.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



LÊ THÙY LINH

CẢM HỨNG ĐỒNG QUÊ TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN THÁI HỌC

Huế, Năm 2014

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép

sử dụng và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thùy Linh

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo khoa Ngữ văn

và Phòng Đào tạo sau đại học Trường đại học Sư phạm Huế đã giảng dạy

và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, và các anh chị em đồng khóa học đã có những chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi về nhiều mặt để hoàn tất khóa học

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Thái Học đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Huế, năm 2014

Lê Thùy Linh

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

A MỞ ĐẦU 6

1.Mục đích, ý nghĩa của đề tài 6

2.Lịch sử vấn đề 7

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

4.Phương pháp nghiên cứu: 14

5.Đóng góp của đề tài: 14

6.Cấu trúc của luận văn 15

B PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 : KHÁI LƯỢC VỀ CẢM HỨNG, CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT, CẢM HỨNG ĐỒNG QUÊ TRONG THƠ MỚI (1932-1945) 16

1.1 Cảm hứng, cảm hứng nghệ thuật, cảm hứng đồng quê 16

1.1.1 Cảm hứng 16

1.1.2 Cảm hứng nghệ thuật 18

1.1.3 Cảm hứng đồng quê trong Thơ mới 19

1.2 Cảm hứng đồng quê - một phương thức hóa giải thực tại trong Thơ mới 21

1.3 Vị trí của mảng thơ về đề tài đồng quê trong Thơ mới 29

1.3.1 Đóng góp của mảng thơ về đề tài đồng quê đối với “Phong trào Thơ mới” 29

1.3.2 Thơ mới trên hành trình hiện đại hóa văn học 33

Chương 2 CẢM HỨNG ĐỒNG QUÊ TRONG THƠ MỚI (1932 – 1945) NHÌN TỪHIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI 39

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 5

2.1 Cảm hứng đồng quê qua những cảm nghiệm về hiện thực quê

hương, đất nước. 39

2.1.1 Thôn quê truyền thống 39

2.1.2 Thôn quê trong sự tác động của văn hóa đô thị hiện đại 48

2.2 Cảm hứng đồng quê qua hình ảnh con người 52

2.2.1 Con người chân quê bình dị chất phác 52

2.2.2 Con người với tâm trạng lưỡng phân trong sự tác động của văn hóa đô thị hiện đại 57

Chương 3 CẢM HỨNG ĐỒNG QUÊ TRONG THƠ MỚI (1932 -1945) NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆ. 66

3.1 Cảm hứng đồng quê biểu hiện qua thể thơ. 66

3.2 Cảm hứng đồng quê biểu hiện qua ngôn ngữ. 76

3.3 Cảm hứng đồng quê biểu hiện qua giọng điệu. 83

3.4.Cảm hứng đồng quê biểu hiện qua thời gian, không gian. 88

C KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 108

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

1.1.Phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945 với những thành tựu rực rỡ của nó

đãthực sự đem đến cho thi ca Việt Nam một thời đại mới, mở đầu cho tiến trình hiện đại hoá của thơ Việt trong những thập niên đầu thế kỷ XX Phong trào Thơ mới được đánh giá là cuộc cách mạng trong thơ ca xuất phát từ sự bùng nổ của tư duy sáng tạo với sự hội ngộ của hai nền văn hoá - văn học phương Đông và phương

Tây trên cơ sở văn chương Việt

Có thể nói trong lịch sử thi ca Việt Nam nói chung, trong phong trào Thơ mới nói riêng, làng quê là một nguồn cảm hứng lớn Ca dao, dân ca và văn thơ trung đại trải qua mười thế kỷ đã có nhiều tác phẩm viết về đề tài này, nhưng có thể nói, chỉ đến Thơ mới thì thơ viết về đề tài làng quê mới thực sự trở nên phong phú và có nhiều tác phẩm xuất sắc chưa từng thấy Mảng sáng tác này có một khối lượng tác

phẩm khá lớn Theo thống kê của chúng tôi (dựa vào bộ tuyển tập: Thơ mới 1932 -

1945, Tác giả và tác phẩm do Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Hội nhà

văn, HN, 1999 là công trình được coi là tập hợp đầy đủ và nghiêm túc nhất về Thơ mới hiện nay), sốtác phẩm viết về làng quê là 426/1075, chiếm tỉ lệ 39,62% Con số này tuy chỉ có giá trị tương đối, song có thể lấy đó làm tư liệu tham khảo và cho phép chúng ta hình dung được về số lượng khá lớn của mảng thơ sáng tác theo đề tài này Sự phong phú của mảng sáng tác này không phải chỉ ở số lượng mà còn được thể hiện cả về nội dung, khuynh hướng thẩm mỹ, phong cách, và bút pháp thơ

Trong thành tựu chung của phong trào Thơ mới, mảng thơ viết về làng quê giữ một vị trí quan trọng đặc biệt Mặc dù là một bộ phận của Thơ mới, thơ viết về đề tài làng quê có mang những đặc điểm chung, nhưng do quan niệm mĩ học và đối tượng thẩm mĩ có những nét đặc trưng riêng biệt nên thành tựu của nó cũng có những đặc sắc riêng Khám phá để chỉ ra cái riêng, cái độc đáo và đặc sắc này sẽ làm sáng tỏ phần nào lý thuyết về thơ, nhất là thơ trữ tình gắn liền với sắc thái dân tộc truyền thống Việt Nam Đặc biệt, từ kết quả nghiên cứu sẽ cho phép chúng ta khẳng định vị trí của mảng thơ này trong đóng góp chung của Thơ mới đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ trước

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 7

1.2.Từ năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, Thơ mới đã được

giới phê bình quan tâm nghiên cứu, được đánh giá lại ngày càng nhiều theo chiều hướng tích cực Sự nhìn nhận, đánh giá theo chiều hướng tích cực đã thể hiện một thái độ khách quan và nghiêm túc mà trước đó không có được Mặt tích cực của Thơ mới nói chung và của mảng thơ viết về đề tài làng quê nói riêng được chỉ ra ở nhiều điểm khác nhau như tinh thần dân tộc, giá trị nhân bản, tiếng nói cá nhân, tình yêu thiên nhiên đất nước Nhiều công trình đã tiếp cận Thơ mới bằng nhiều phương phápmới như thi pháp học, phân tâm học, tiếp nhận văn học, văn hóa học…nên đã góp phần định hướng cho độc giả nhận thức được toàn diện giá trị và ý nghĩa của Thơ mới nói chung và thơ viết về đề tài đồng quê nói riêng Đó là công trình của những nhà phê bình tiêu biểu như: Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy Đồng thời, việc tuyển chọn nhiều bài thơ viết về làng quê được đưa vào chương trình sách giáo khoa ở các cấp học phổ thông chứng tỏ sự đánh giá cao về những cách tân cả về nội dung và nghệ thuật của Thơ mới Đã đến lúc cần nghiên cứu một cách tập trung và sâu hơn mảng thơ về đề tài đồng quê để qua đó nêu bật cảm hứng sáng tạo của một thế hệ nhà thơ trong bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ trước Đồng thời, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho việc

giảng dạy ở nhả trường

Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Cảm hứng đồng quê trong

Thơ mới 1932 -1945” Thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn góp thêm một

tiếng nói khoa học để chiếm lĩnh một cách vững chắc một cảm hứng nghệ thuật chủ đạo, một mảng sáng tác quan trọng, có giá trị nhiều mặt trong lịch sử thơ ca dân tộc, đồng thời góp phần nghiên cứu sâu hơn, có hệ thống hơn phong trào Thơ mới –

“một thời đại trong thi ca” Việt Nam

2 Lịch sửvấn đề

Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong Lịch sử được chúng tôi chia làm hai nhóm: Nhóm công trình có liên quan gián tiếp và trực tiếp theo các giai đoạn sau:

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 8

Đây là thời kỳ Thơ mới ra đời và đi trọn con đường của nó Mặc dù chưa thành hình, nhưng Thơ mới được những ý kiến, dư luận trái chiều tranh cãi một cách sôi nổi trên thi đàn thúc đẩy quá trình hình thành một trào lưu, phong trào với đầy đủ các yếu tố: quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng nghệ thuật, phong cách sáng tác, lực lượng sáng tác… Chỉ trong vòng mười năm (1932 – 1942) những công trình nghiên cứu

có giá trị cao về phong trào thi ca này đã liên tiếp xuất hiện Tiêu biểu có thể kể đến

Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh, Hoài Chân và Nhà văn hiện đại (1942),

của Vũ Ngọc Phan Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phanđiểm mặt khá đầy đủ các thi sĩ Thơ mới,nhưng gần như không thấy nhà thơ “làng quê” nào Đề cập đến lối thơ tả chân, Vũ Ngọc Phan không mấy tin tưởng về giá trị của khuynh hướng

này: “Không bao giờ có thể dùng thơ viết lối “tả chân” triệt để và cũng không bao giờ nhà thơ có thể đứng vào địa vị khách quan mà thơ lại có thể cảm người ta được.” [67, tr.653]

Trước cách mạng, các nhà nghiên cứu chưa quan tâmlắm đến thơ làng quê, cảm hứng đồng quê như một dòng, một mảng thơ riêng; như một cảm hứng nghệ thuật

có chỗ đứng chi phối sáng tác riêng Có chăng là ý kiến của Hoài Thanh, Hoài Chân

trong Thi nhân Việt Nam khi liệt kê đến các nhà thơ, sáng tác dưới cùng cảm hứng

này Trong đó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tuy ở những tác giả khác nhau, không đặt liền kề nhau thành một nhóm, một khuynh hướng, song xu hướng tả chân

lần đầu tiên được gọi tên bằng những mốc son “Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân” đã “biệt hẳn ra một lối” [85, tr.31] được đánh giá là một trong ba xu hướng thơ những năm 1936 – 1939 Bởi đây là lối thơ “đi theo xu hướng gần sự thực, dẫu

sự thực tầm thường là một đặc tính của văn học phương Tây.” [ 85, tr.31] Qua đây, tác giả Thi nhân Việt Nam có những lời giới thiệu, đánh giá mảng thơ làng quê một

cách chân xác, có giá trị khám phá sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị

2.1.2 Từ 1945 đến 1986

Từ 1945 đến 1975, đất nước nằm trong hoàn cảnh chiến tranh, cách mạng dân tộc dân chủ chi phối mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, đến văn hóa và văn học…của toàn dân tộc Văn nghệ cũng trở thành một “mặt trận” với nhiệm vụ quan trọng được đặt lên hàng đầu là phục vụ cách mạng, trở thành một vũ khí chiến

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 9

đấu sắc bén Vì vậy, Thơ mới và một số hiện tượng văn học tiền chiến được xem xét, đánh giá chủ yếu trên lập trường quan điểm cách mạng Nghiên cứu Thơ mới,

Phan Cự Đệ đã tuyên bố: “Nói chung thì ở cả hai lĩnh vực nội dung và hình thức

“Thơ mới” chúng ta đều phải tiếp thu một cách có phê phán và thường là phải phê phán thật nghiêm khắc” [24, tr.216] Ngay cả Hoài Thanh cũng đã phủ nhận một cách cực đoan quan điểm, ý kiến của mình trong Thi nhân Việt Nam: “Có thể nói toàn bộ sự đánh giá ở đây vẫn là sai vì sai từ gốc sai đi Ngay cả những đoạn có vẻ đúng thật ra vẫn là sai và sai về căn bản” [84, tr.1082] Thơ mới và văn học lãng

mạn nói chung hầu như bị đặt ra ngoài đời sống văn học Tác phẩm không được in lại và không đưa vào giảng dạy trong nhà trường vì về cơ bản, khuynh hướng lãng

mạn lúc bấy giờ bị coi là “tiêu cực và thoát ly” [25, tr.559] Bản thân các nhà Thơ

mới sau này đi theo kháng chiến, phục vụ cách mạng cũng tự lên án những sáng tác trước đây của mình

Hiển nhiên, tuy phê phán mạnh mẽ Thơ mới do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử lúc đó nhưng ở các công trình nghiên cứu của Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức…vẫn khẳng định những yếu tố tiến bộ, tích cực, những đóng góp to lớn về nghệ thuật của Thơ mới Một trong những giá trị tư tưởng tích cực nhất của Thơ mới được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định và đề cao là tinh thần dân tộc Phần lớn người ta vẫn khẳng định cái tình đối với đất nước ấy được thể hiện ở nhiều phương diện, nhất là tấm lòng gắn bó với cảnh sắc, con người quê

hương: Thơ mới “có phong vị đậm đà của cảnh sắc quê hương (…) Và giữa những cảnh sắc quê hương ấy, những con người cũng đúng là của quê hương.” [84,

tr.1069 - 1070]

Trong cuốn Phong trào Thơ mới, NXB Khoa học, Hà Nội, 1966, Phan Cự Đệ cũng hào hứng viết: “Một hình ảnh khá đặc biệt trong Thơ mới là hình ảnh làng quê Việt Nam (…) những mái nhà tranh, những dậu mồng tơi xanh rờn, những rặng hoa xoan tím mùa xuân, những hàng phượng đỏ mùa hạ” [24, tr.129]

Cùng giai đoạn này, ở đô thị miền Nam, Thơ mới không bị kết án nặng nề như

ở miền Bắc Nhiều nhà Thơ mới được giới nghiên cứu miền Nam bàn luận rộng rãi

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 10

Thế Phong… Điểm đáng chú ý là các nhà nghiên cứu miền Nam cũng có những

quan tâm, đánh giá nhất định cho “dòng”, “khuynh hướng” thơ làng quê, tuy chưa

sâu sát và quy mô nhưng hầu hết đều tương đối thống nhất với các nghiên cứu ở miền Bắc, đặc biệt ở sự khẳng định tinh thần dân tộc trong mảng thơ này

Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Tập 3, (1965), Phạm Thế Ngũ

chia Thơ mới thành năm khuynh hướng mà khuynh hướng đầu tiên là khuynh

hướng “tả chân quê hương” Khác với Hoài Thanh, Phạm Thế Ngũ xếp cả Nguyễn

Bính vào khuynh hướng này

Có thể thấy, ý kiến đánh giá về các tác giả viết về thơ làng quê cũng như những sáng tác đi kèm ở cả hai miền Nam - Bắc giai đoạn này có một sự tương đồng nhất định về quan điểm Cái chính vẫn là trân trọng một mảng thơ trong sáng, lành mạnh, có giá trị ít phải bàn cãi trái chiều như các mảng thơ khác

2.1.3 Từ 1986 đến nay

Trong trào lưu đổi mới của đất nước, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), nhiều giá trị văn học cũ được xem xét và đánh giá lại một cách khách quan hơn, khoa học hơn, trong đó có phong trào Thơ mới Trong những năm trở lại đây,

các công trình chuyên luận riêng về Thơ mới liên tiếp ra đời: Con mắt thơ (1992) của Đỗ Lai Thúy, Thơ mới những bước thăng trầm (1993) của Lê Đình Kỵ, Một thời đại trong thi ca (1997) của Hà Minh Đức, Những thế giới nghệ thuật thơ (2001) và Văn học và thời gian (2002) của Trần Đình Sử Đồng thời xuất hiện các

hướng tiếp cận mới đối với phong trào thi ca này: Thi pháp học (Trần Đình Sử), văn hóa học (Đỗ Lai Thúy), ngôn ngữ học (Đỗ Đức Hiểu)… các công trình đã lần giở ra những hướng khám phá, định vị giá trị phong trào Thơ mới một cách công bằng, khách quan, có ý nghĩa khoa học Lẽ tất nhiên, mảng thơ làng quê của phong trào thi ca này cũng được nhìn lại với sự đề cao mạnh mẽ, nhiều khám phá mới ở cả các phương diện tác phẩm, tác giả…

2.2 Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài:

2.2.1 Trước 1945

Demo Version - Select.Pdf SDK

Trang 11

Tiêu biểu nhất vẫn kể đến là công trình Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh –

Hoài Chân) trong từng bài viết cụ thể về các thi sĩ làm thơ làng quê, hai tác giả đã

có những phát hiện được xem như những đóng gópnhiều giá trị trong việc hình thành khuynh hướng/dòng thơ làng quê trong phong trào Thơ mới

Về thi sĩ “quê mùa” Nguyễn Bính, Hoài Thanh có cảm nhận tinh tế ở nhà thơ

này “có một điều quý vô ngần”, “điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí”,

đó là “hồn xưa của đất nước” [85, tr.344]; Đoàn Văn Cừ là người “trong các nhà thơ đồng quê không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ” [85, tr.178] như thế; nhận xét

về “tranh quê có bức chỉ là bức ảnh” của Anh Thơ vì lối tả chân chặt chẽ “thản nhiên trống rỗng của nhà nghề” song cũng “với một vài điều nhỏ nhặt hầu như thô lậu, người hé mở cho ta một cảnh trời” [85, tr.190] Đến Tế Hanh, Hoài Thanh có những khám phá của một người hoàn toàn bị thuyết phục “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh tế lắm Tế Hanh đã ghi lại được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương Người nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm…” [85, tr.140] Đối sánh với Anh Thơ, Hoài Thanh nhận ra nét đặc sắc của hồn thơ Bàng Bá Lân “Anh Thơ có khi nhìn cảnh không mến cảnh Bàng Bá Lân có khi lại mến cảnh quên nhìn (…) Bởi thế có lúc người đã cảm được hồn quê vẫn bàng bạc sau cảnh vật” [85, tr.190]

2.2.2 Từ 1945 đến 1986

Giai đoạn này ở miền Bắc xuất hiện nhiều công trình có những nghiên cứu tìm tòi, vạch ra những nét chính cả về nội dung và thể loại của thơ làng quê trong phong trào Thơ mới

Ở chương Phong trào Thơ mới, in trong Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945,

NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1973, Nguyễn Hoành Khung nhấn mạnh đến giá trị riêng

của thơ làng quê: “Cùng xuất hiện với xu hướng thơ điên là những thi sĩ hướng về đồng quê, tiêu biểu là Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Tế Hanh…Những người này tìm đến những mối tình quê, những cảnh vật quen thuộc của quê hương,

và đã đem lại cho “Thơ mới” một phong vị riêng (…) Với xu hướng đi về đồng quê

“Thơ mới” đã gợi được phần nào hình ảnh đất nước, quê hương thân thuộc, nên

Demo Version - Select.Pdf SDK

Ngày đăng: 18/04/2019, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w