loại văn học Hoàng Thị Huế [71], Hình thức Thơ mới với các thể thơ đặc trưng đột phá từ thơ cổ điển Nguyễn Huệ Chi [13],… Gần đây xuất hiện một số bài viết theohướng nghiên cứu chuyên
Trang 1ViÖn hµn l©m khoa häc x héi viÖt nam · héi viÖt nam
häc viÖn khoa häc x· héi
BiÖn thÞ quúnh nga
hÖ thèng thÓ lo¹i truyÒn thèng
trong th¬ míi 1932 - 1945
CHUY£N NGµNH: V¡N HäC VIÖT NAM
M· héi viÖt nam Sè: 62.22.34.01
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kếtquả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Tác giả luận án:
Biện Thị Quỳnh Nga
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của luận án 3
6 Cấu trúc của luận án 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Thơ mới 1932 - 1945 từ phương diện thể thơ trên lịch trình nghiên cứu suốt hơn tám thập kỷ qua 5
1.2 Vấn đề nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 8
CHƯƠNG 2: VỊ THẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945 15
2.1 Nhìn chung về loại hình Thơ mới 1932 - 1945 15
2.1.1 Hiện tượng Thơ mới 1932 - 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc 15
2.1.2 Loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhìn từ góc độ thể thơ 24
2.2 Vị thế của các thể truyền thống trong “bảng” thể thơ của Thơ mới 35
2.2.1 Một vài giới thuyết về thể thơ truyền thống trong Thơ mới 35
2.2.2 Tỉ lệ, dung lượng, số lượng và dạng thức tồn tại của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 37
2.2.3 Khả năng lôi cuốn độc giả của các thể thơ truyền thống trong sự “cạnh tranh” với các thể khác của Thơ mới 1932 - 1945 41
2.3 Vai trò của các thể thơ truyền thống đối với Thơ mới 1932 - 1945 43
CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG VÀ NỘI DUNG CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945 45
3.1 Khái luận về chức năng và nội dung của các thể thơ 45
3.2 Các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trước Thơ mới 46
3.2.1 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập 46
3.2.2 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt 51
3.3 Đặc trưng chức năng và nội dung các thể truyền thống trong Thơ mới 58
Trang 43.3.1 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập 58
3.3.2 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt 78
3.3.3 Những thành công và bất cập về chức năng và nội dung của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 (thay cho tiểu kết) 97
CHƯƠNG 4: THI PHÁP CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945 101
4.1 Thi pháp và thi pháp các thể thơ 101
4.2 Thi pháp các thể truyền thống trong lịch sử thơ ca dân tộc trước Thơ mới 103
4.2.1 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ du nhập 103
4.2.2 Các thể truyền thống thuộc hệ thống thể thơ thuần Việt 106
4.3 Thi pháp các thể truyền thống trong Thơ mới 111
4.3.1 Các thể truyền thống trước những thử thách của thời đại Thơ mới 111
4.3.2 Thi pháp các thể truyền thống du nhập trong Thơ mới 111
4.3.3 Thi pháp các thể truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 125
4.3.4 Những thành công và bất cập về thi pháp của các thể truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 (thay cho tiểu kết) 143
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ mới 1932 - 1945 là cuộc cách tân (có người gọi là cuộc “cách
mạng”) thắng lợi lớn về thơ, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử thơ ca vàvăn học dân tộc Những đóng góp của nó cho quá trình hiện đại hoá thơ ca nói riêng
và văn học dân tộc nói chung là khó có thể thay thế Thơ mới 1932 – 1945 (từ đây trở đi gọi tắt là Thơ mới) đã được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên,không phải mọi vấn
đề của Thơ mới đã được / “bị” khai thác cạn kiệt Thơ mới vẫn còn sức hấp dẫn lớn
và chờ đợi những tìm hiểu, khám phá, luận giải mới Xung quanh vấn đề đánh giá
thành tựu của Thơ mới (xét về mặt thể loại) cũng như của cả phong trào thơ (xét về
mặt “khuynh khướng”, “tổ chức”) vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến không thống nhất…
Thơ mới cho đến nay vẫn là một hiện tượng độc đáo của thơ Việt cần phải được tiếp
tục nghiên cứu, nhất là trên phương diện loại hình - thể loại
1.2 Việc nhận chân giá trị cũng như bản chất của Thơ mới có thể được tiến
hành khảo sát, xác định trên nhiều phương diện và bằng nhiều con đường khác
nhau Chúng tôi chọn hướng tiếp cận Thơ mới từ phương diện thể loại, đặc biệt ở
đây là những thể thơ truyền thống (bao hàm cả các thể thơ du nhập và các thể thơthuần Việt), vì nhận thấy đây vừa là chỗ đem lại vinh quang cho thơ Việt suốt cảmột quá trình dài hàng nghìn năm, vừa là chỗ dễ gây ngộ nhận cho không ít độc giả
(tưởng rằng Thơ mới là một sự phủ định truyền thống), từ đây cung cấp một cái nhìn
sâu hơn, khoa học và thoả đáng hơn về đặc trưng loại hình của Thơ mới Mặt khác,
tìm hiểu, nghiên cứu văn học theo xu hướng loại hình, thể loại đang là hướngnghiên cứu có nhiều triển vọng và ý nghĩa
1.3 Trên hành trình phát triển và hiện đại hóa thơ ca dân tộc, sự hiện diện
của các thể thơ truyền thống trong một cuộc cách tân vĩ đại về thơ ca (qua hiện
tượng Thơ mới) thực sự có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng Chức năng, nội dung và thi pháp của những thể thơ này trong Thơ mới có gì biến đổi không? Nó tồn
tại như thế nào trong thế cạnh tranh với các thể thơ hiện đại - “mới”? Đây đang lànhững câu hỏi mà cho đến nay vẫn chưa có những lời giải thoả đáng Từ đây, có thểtìm thấy nhiều bài học quý báu cho quá trình đổi mới thơ Việt
1.4 Thơ mới nói chung, các thể thơ truyền thống trong Thơ mới nói riêng giữ
vị trí quan trọng trong chương trình dạy - học ngữ văn ở các nhà trường phổ thông
Trang 7và bậc đại học Thực hiện đề tài này, luận án còn nhằm phục vụ cho việc tham khảo
và vận dụng vào dạy - học ngữ văn ở nhà trường (nhất là ở các trường đại học)
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các thể thơ truyền thống (bao hàm các thể ở cả hai hệ thống thể thơ du nhập
và thuần Việt) trong Thơ mới 1932 - 1945.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các thể thơ truyền thống trong Thơ
mới 1932 - 1945 (các thể khác – các thể “phi truyền thống” hay hiện đại dĩ nhiên
luận án vẫn quan tâm nhưng chỉ dùng làm cơ sở để đối sánh)
Văn bản khảo sát chính là tuyển tập Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác
phẩm [128] Ngoài ra, còn một số tài liệu khác được chúng tôi dùng khảo sát thêm,
so sánh và đối chiếu, gồm: Thi nhân Việt Nam [175], Việt Nam thi nhân tiền chiến [95] và 15 tuyển thơ của các tác giả tiêu biểu cho phong trào Thơ mới của Nxb Hội
Nhà văn, 1995 [129]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án khảo sát các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 – 1945 nhằm
làm rõ đặc trưng về cả 3 phương diện (chức năng, nội dung, thi pháp) của từng thểthơ cũng như cả hệ thống thể thơ; xác định vị thế, vai trò của nó trong cấu thành loạihình thơ hiện đại Việt Nam, từ đây có thể có những đề xuất mới cho việc nghiên
cứu Thơ mới nói riêng, thơ ca dân tộc nói chung trên con đường đi đến hiện đại…
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Xác định vị thế và vai trò của các thể thơ truyền thống trong hệ thống
thể thơ của Thơ mới 1932 - 1945.
3.2.2 Khảo sát, phân tích, luận giải, xác định đặc trưng chức năng và nội
dung của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945.
3.2.3 Khảo sát, phân tích, xác định đặc trưng thi pháp của các thể thơ truyền
thống trong Thơ mới 1932 - 1945
Cuối cùng rút ra một số kết luận về hệ thống các thể thơ truyền thống trong
Thơ mới 1932 - 1945.
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng và phối – kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
Trước hết là phương pháp loại hình – và đây cũng là quan điểm cơ bản của tác giả
luận án trong nhìn nhận vấn đề Phương pháp loại hình giúp cho việc đối sánh, phânđịnh và nhận diện đặc trưng các hệ thống thể thơ theo từng loại hình thơ / loại hình
văn học một cách khoa học Một số phương pháp của thi pháp học cũng được luận án
chú trọng vận dụng vì đây chính là chìa khoá nhằm giải mã “thể loại” và đặc trưngcác thể thơ trên ba phương diện cơ bản của nó: chức năng, nội dung và thi pháp
Các phương pháp khác được vận dụng trong luận án đều giữ vai trò riêng:
Phương pháp thống kê – miêu tả được vận dụng để khảo sát, thống kê, miêu tả với
những con số cụ thể; phương pháp phân tích – tổng hợp giúp cho việc chi tiết hoá, phân tích và tổng hợp các dữ kiện; phương pháp lịch sử giúp cho việc xác định quá trình hình thành, phát triển của các thể thơ truyền thống theo lịch sử; phương pháp
cấu trúc – hệ thống giúp cho việc hệ thống hoá và nhìn các thể thơ theo những tập
hợp mang tính chỉnh thể của quá trình văn học,
Trong quá trình triển khai thực thi đề tài, luận án còn vận dụng nhiều thaotác cần thiết của khoa học nghiên cứu văn học (như: phân tích, so sánh, đối chiếu,
mô hình hoá, v.v )
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu đặc trưng chức năng, nội
dung và thi pháp của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 với một
cái nhìn hệ thống; từ đây xác định vị thế, vai trò, vận mệnh và sức sống của các thểthơ này trong thơ Việt Nam hiện đại
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định con đường đi đến hiệnđại của thơ ca dân tộc rõ ràng không phải là con đường tách rời, cắt mạch với truyềnthống Sức mạnh của các yếu tố mang giá trị của truyền thống vẫn có thể tạo nênthành tựu mới nếu biết phát huy và làm mới nó
Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, giúp cho việc dạy
-học văn -học trong nhà trường và tiếp nhận Thơ mới, thơ hiện đại được tốt hơn.
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án
được triển khai trong bốn chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trang 9Chương2: Vị thế và vai trò của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945 Chương 3: Chức năng và nội dung của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới
1932 - 1945
Chương 4: Thi pháp các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945.
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Thơ mới 1932 - 1945 từ phương diện thể thơ trên lịch trình nghiên
cứu suốt hơn tám thập kỷ qua
Vấn đề nghiên cứu thể loại nói chung và các thể thơ nói riêng trong phong
trào Thơ mới đã được đề cập từ rất sớm Ngay từ khi mới ra đời, Thơ mới trước hết
được nhìn nhận ở góc độ thể loại, được hiểu là thơ “tự do” (theo nghĩa là một “lốithơ” hay “thể thơ”) nhằm phân biệt, đối lập với những bài thơ làm theo hình thứcthơ luật Đường một cách gò bó, khuôn sáo, xuất hiện không ít trên báo chí công
khai thời bấy giờ Phan Khôi trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ
(1932) xác định đó là lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu
có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [85, 53] Được Phan
Khôi khơi mào, các tác phẩm Thơ mới liên tục được in ra, các báo ở hai miền đã cho đăng các bài “bút chiến” tranh luận Thơ cũ - Thơ mới, phê bình Thơ mới Các bài viết tham gia tranh luận đã được tập hợp khá đầy đủ trong cuốn Tranh luận văn
nghệ thế kỷ XX [131] Nhìn chung, cái đích lớn nhất mà cuộc tranh luận hướng đến
là nhằm đi tìm và xác lập diện mạo lối “thơ mới” Lúc đầu, Thơ mới được xác định
bằng cách đối sánh với các thể thơ cũ để tìm ra khuôn vần, nhạc điệu và hình thức
của các thể thơ mới Khi Thơ mới đang trên hành trình vận động của nó (vài năm đầu của thập niên 40 - thế kỷ XX), ngoài các ý kiến ngắn về Thơ mới tiếp tục xuất hiện trên báo chí, có hai công trình nổi bật là Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm [59] và Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân [175] Dương Quảng Hàm bước đầu khảo cứu âm luật và thể cách của Thơ mới Đặc biệt, Hoài Thanh - Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam, nhất là bài viết Một thời đại
trong thi ca, đã tỏ ra rất nhạy cảm, xác đáng trong tinh tuyển, tổng duyệt, tổng luận
thế nào là Thơ mới, trong đó có vấn đề các thể thơ Vấn đề các thể thơ của Thơ mới,
tuy chưa được Hoài Thanh - Hoài Chân đi sâu khảo sát (hai ông tập trung nhiều hơn
về cái tôi của Thơ mới), nhưng những ý kiến của các ông rất có ý nghĩa.
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Thơ mới cũng như việc nghiên cứu
Thơ mới trải nhiều thăng trầm Ở miền Bắc, do thực tiễn, nhiệm vụ cách mạng đặt ra
cho văn nghệ nói chung và cái nhìn về văn học lãng mạn chưa được “cởi trói”, việc
nghiên cứu Thơ mới còn ít, sự đánh giá Thơ mới chưa thỏa đáng, nhất là về nội dung
Trang 11tư tưởng Thành tựu nghiên cứu về Thơ mới trong thời gian này, đáng chú ý nhất là công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức [124] Trong công trình này, ở chương V: Các thể thơ ca trong phong trào Thơ
mới, Hà Minh Đức đã thống kê, khảo sát, phân tích khá thuyết phục các thể được
dùng phổ biến của phong trào Thơ mới, nhất là trên phương diện thi pháp thể thơ Ngoài ra, các công trình Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức [47], Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ [33] cũng khẳng định những đóng góp to lớn về nghệ thuật của Thơ mới, trong đó ít nhiều có đề cập đến các thể thơ.
Trong giai đoạn này, ở miền Nam, Thơ mới được đánh giá cao, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Các công trình: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập III, 1961) của Phạm Thế Ngũ [119], Khảo luận luật thơ của Lam Giang [54],
Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và Thơ mới của Bùi Đức Tịnh [165],… có
quan tâm Thơ mới trên phương diện thể thơ Tuy nhiên, ở các công trình trên, các thể thơ của Thơ mới mới chỉ được giới thiệu một cách khái quát, các tác giả chủ yếu
nghiêng về miêu tả những biểu hiện “bề mặt”, chứ chưa đi sâu tìm hiểu tính đặc thù
về chức năng, nội dung và thi pháp các thể của Thơ mới.
Từ 1975, sau ngày đất nước thống nhất, vấn đề đánh giá Thơ mới vẫn trượt
theo quán tính phủ định Từ 1986 (kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI) đến nay,
trong bối cảnh thời kỳ đổi mới, hội nhập (với thế giới), Thơ mới và nhiều hiện tượng
văn học tiền chiến được nhìn nhận lại, được quan tâm, đánh giá một cách bình tĩnh,khách quan và khoa học hơn Xu hướng nghiên cứu văn học theo nhiều phương phápmới, trong đó có phương pháp loại hình, ngày càng chứng tỏ tính ưu việt của nó
Trong xu thế đó, loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhất là từ góc độ thể thơ cũng được quan tâm nhiều và được đánh giá cao Phổ biến nhất là các bài viết đăng trên các báo,
tạp chí (từ trung ương đến địa phương), và các trang website Có thể kể đến các bài
viết tiêu biểu: Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống (Xuân Diệu) [31], Cái mới
của Thơ mới từ xung khắc đến hòa giải với truyền thống (Trần Đình Hượu) [75], Cuộc cải cách của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt (Lại Nguyên Ân)
[7], Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình tiếng Việt (Trần Đình Sử) [154],
Loại hình câu thơ của Thơ mới (Lê Tiến Dũng) [21], Địa vị lịch sử của phong trào Thơ mới (Trần Đình Sử) [158], Vấn đề mới cũ trong thơ Việt Nam trước 1945 nhìn từ phong trào Thơ mới (Lưu Khánh Thơ) [181], Thơ mới thành công và thất bại của thành công (Đỗ Lai Thúy) [188], Thể Thơ mới nhìn từ sự vận động nội tại của thể
Trang 12loại văn học (Hoàng Thị Huế) [71], Hình thức Thơ mới với các thể thơ đặc trưng đột phá từ thơ cổ điển (Nguyễn Huệ Chi) [13],… Gần đây xuất hiện một số bài viết theo
hướng nghiên cứu chuyên sâu những thể thơ riêng lẻ của Thơ mới như: Bằng trắc thơ
bảy chữ Xuân Diệu (Lý Toàn Thắng) [163], Thể tám tiếng trong thơ Việt Nam [24] và
Thơ tự do, khuynh hướng chủ yếu trong thơ Việt Nam đương đại (Lê Tiến Dũng)[23],
Mối quan hệ giữa hát nói và Thơ mới (Nguyễn Đức Mậu)[108],…
Vấn đề các thể thơ của Thơ mới cũng được đề cập trong các công trình là
chuyên luận, chuyên khảo hoặc giáo trình dùng trong các trường đại học Tiêu biểu
là các công trình: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh) [11], Văn học lãng mạn Việt
Nam 1930 - 1945 (Phan Cự Đệ) [34], Thơ mới - bình minh thơ Việt Nam hiện đại
(Nguyễn Quốc Túy) [167], Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (Bùi Công Hùng) [72], Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy) [186], Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu) [66], Tìm
hiểu thơ (Mã Giang Lân) [89], Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Giáo trình lịch
sử văn học của Nguyễn Đăng Mạnh) [106], Cấu trúc thơ (Thụy Khuê) [86], Thơ,
v.v…và v.v (Nguyễn Hưng Quốc) [145],… Hầu hết các bài viết và công trình, hoặc
mới đưa ra cái nhìn bao quát, hoặc mới chỉ nghiên cứu một phương diện nào đó củacác thể thơ, hoặc tìm hiểu các thể thơ chưa phải vì mục đích nghiên cứu thể loại mà vìmục đích khác theo tư tưởng của người nghiên cứu Ngoài ra, còn có dạng các công
trình đi vào vấn đề thể thơ thuộc phong cách riêng của các nhà thơ, như: Thế giới
nghệ thuật thơ Chế Lan Viên của Hồ Thế Hà [55], Ba đỉnh cao Thơ mới Xuân Diệu Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử của Chu Văn Sơn [150], Thơ tình Xuân Diệu (Lưu
-Khánh Thơ) [179], Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng tám 1945 của Lý Hoài Thu [183], Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu, thời kỳ trước 1945 (Lê Quang Hưng) [74], Thế Lữ, nghệ sĩ hai lần tiên phong của Phan Trọng Thưởng [190],
Dưới dạng là các khóa luận tốt nghiệp đại học, các luận văn thạc sĩ, luận án
tiến sĩ, vấn đề thể thơ của Thơ mới ngày càng được khai thác nhiều Nổi bật có: Kết
cấu thơ trữ tình (Phan Huy Dũng) [26], Thơ tình trong Thơ mới (Lê Hồ Quang)
[142], Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Trần Thị Lệ Thanh) [174],
Thơ mới với thơ Đường (Lê Thị Anh) [5],… Rất đáng chú ý là luận án Tiến sĩ Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động thể loại của Hoàng Sĩ Nguyên [121] Đây là
công trình đầu tiên đi sâu vào các thể thơ của Thơ mới để tìm hiểu tiến trình vận
động, sự tương tác giữa các yếu tố thể thơ một cách khá công phu, hệ thống; từ đâycung cấp một cái nhìn khách quan về con đường nảy sinh, phát triển và thành tựu
Trang 13của Thơ mới, vị trí của Thơ mới trong văn mạch dân tộc Song, vấn đề đặc trưng các
thể thơ không phải là mục đích chính của đề tài nên chưa được tác giả luận án chútrọng
Nhìn chung, Thơ mới và vấn đề thể thơ của Thơ mới đã được quan tâm,
nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung khảo sát hệ thống thể
thơ của Thơ mới một cách đầy đủ, hệ thống Trên lịch trình nghiên cứu hơn tám mươi năm qua, Thơ mới, nhất là ở phương diện các thể thơ vẫn còn nhiều bỏ ngỏ.
1.2 Vấn đề nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945
Các thể thơ truyền thống (bao hàm cả các thể thơ du nhập và các thể thơ
thuần Việt) trong Thơ mới, nhất là các thể lục bát (LB), song thất lục bát (STLB),
ảnh hưởng của thể hát nói (HN) đến thể 8 chữ, và thơ Đường luật (ĐL), trên phươngdiện lý thuyết và trong lịch sử văn học dân tộc nói chung, được nhiều nhà nghiên
cứu rất quan tâm Trước 1945, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu bước đầu khảo sát âm luật cùng thể cách Thơ mới và nhận thấy “phần nhiều là
những bài viết theo lối câu có số chữ nhất định” mà “thường dùng” nhất là lối câu 5
chữ, 7 chữ, 8 chữ [59, 431-432] Hoài Thanh trong Một thời đại trong thi ca ít nhiều chú ý nhận diện một số thể thơ dân tộc trong Thơ mới: “Thơ Đường luật vừa động
đến là tan Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh Ca trù biến thành thơ 8 chữ Lục bát
vẫn được trân trọng: ảnh hưởng Truyện Kiều và ca dao Song thất lục bát cơ hồ chết,
không hiểu vì sao Thơ 4 chữ trước chỉ thấy trong những bài vè, nay cất lên hàng
những thể thơ nghiêm chỉnh Lục ngôn thể trước chỉ thấy trong Bạch Vân thi tập
thỉnh thoảng cũng được dùng Từ khúc chết dần với thơ tự do…” [175, 42] Đặc
biệt nhất phải kể đến ý kiến của chính những người đương thời Thơ mới bàn về Thơ
mới (được nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn tập hợp thành nhiều bài viết như Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Xuân Diệu, Người đương thời Thơ mới bàn
về thơ Huy Cận, Người đương thời Thơ mới bàn về thơ Lưu Trọng Lư, v.v… đăng
tải rộng rãi trên http://phongdiêp.net), trong đó vấn đề các thể truyền thống của Thơ
mới cũng được đề cập rải rác ở một vài khía cạnh Quách Tấn còn có hẳn một công
trình bàn về Thi pháp thơ Đường [161] và khẳng định nét mới trong các sáng tác
ĐL của chính mình,…
Từ 1945 đến 1986, dù có nhiều ý kiến đánh giá không thống nhất và số
lượng công trình nghiên cứu về Thơ mới không nhiều, song Thơ mới, và nhất là vấn
đề thể thơ của Thơ mới vẫn được các nhà lí luận, nghiên cứu đặc biệt chú ý Một số
Trang 14công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, công phu về Thơ mới thời kỳ này có đề cập đến các thể thơ truyền thống Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản
ước tân biên khi nói đến “sự đổi mới về thể cách” đã nhận xét: “Đa số là các bài 5
chữ, 7 chữ và 8 chữ… Về sau thơ phá thể làm ra ngày càng ít, người ta tự nhiên đivào mấy điệu đều đặn và cố định,… Điệu 5 chữ tương tự thơ ngũ ngôn xưa, điệu 7chữ tương tự thơ thất ngôn xưa và điệu 8 chữ”, “Thơ Đường mặc dầu bị công kíchhết sức cũng không biến hẳn, thơ lục bát về sau được đưa lên chỗ danh dự, song thấtlục bát bị sa thải, thơ hát nói biến thành lối thơ 8 chữ, Thế Lữ khai trương rồi trởthành một sở trường của Xuân Diệu và những nhà viết kịch thơ sau này”, các nhàthơ mới “chống lại lối đối chọi gò ép, cấu tứ khuôn sáo, những điều lệ tuân hànhmột cách máy móc cũng như cái giới hạn bát cú của thơ Đường Họ buông theo lốithả vần dễ dàng của thơ lục bát, nhưng họ không ưa lối kết vần ràng rịt máy móccủa song thất… Họ có khuynh hướng vần bằng hơn là vần trắc, vần cước hơn là vầnyêu Họ ưa những bài năm chữ thả dài để gợi mở một tâm tư súc tích ẩn kín và tìm
ra câu thơ 8 chữ để trang trải nỗi xúc động mênh mông tràn ngập tâm hồn” [119,
568-573] Nói về “thơ cũ”, “thơ mới”, Lam Giang có ý kiến: “Hình thức Thơ mới
vẫn hiển nhiên khác hẳn với lối thơ thất ngôn bát cú Một số luật Đường về ngũtuyệt, thất tuyệt vẫn được các nhà thơ mới ưa dùng và trong khi ấy câu thơ 8 tiếng
của trường Thơ mới cũng tiến dần đến một hình thức có khuôn phép ổn định” [54, 66-67] Đến 1971, vấn đề nghiên cứu các thể thơ trong Thơ mới đạt một bước tiến mới, được đánh dấu bởi sự ra đời của công trình Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể
loại (Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức) Bên cạnh việc khảo sát, phân tích khá thuyết
phục một số đặc trưng thi pháp của các thể thơ truyền thống (như vần, nhịp, thanhđiệu, ngôn ngữ), Hà Minh Đức đã có những ý kiến sâu sắc về chức năng, nội dungcác thể thơ này trong thời đại mới Ông nhận diện khuynh hướng của thể LB (“Thểthơ lục bát trong thời kỳ thơ mới được khai thác theo hai khuynh hướng: khuynhhướng “hiện đại hóa” và khuynh hướng trở về với ca dao” [124, 383]), khẳng định
khả năng trữ tình ở thể 5 từ (“Thể thơ 5 từ của phong trào Thơ mới không cô đúc
một cách gò bó như ngũ ngôn Đường luật, mạch thơ mở rộng hơn, tứ thơ bay bổng
và tình ý thiết tha hơn” [124, 372]) và xác nhận mối quan hệ cội nguồn giữa thể 8chữ và HN cùng những cách tân của các nhà thơ mới (“Các nhà thơ mới đã sáng tạođược thể thơ 8 từ trên cơ sở khai thác và kế thừa hình thức hát nói của thơ ca dântộc Thể 8 từ với nhịp điệu uyển chuyển, với sự không hạn định của số câu và với
Trang 15cách hiệp vần rộng rãi đã trở nên một thể thơ có khả năng biểu hiện khá sinh động”
[124, 119]) Ở công trình Phong trào Thơ mới, Phan Cự Đệ giành hẳn một chương (chương VI) để bàn về “nghệ thuật của phong trào Thơ mới lãng mạn” Sau khi tổng thuật công cuộc định giá các thể của Thơ mới, tác giả kết luận: “Thơ mới thực chất
ra không phải là lối thơ tự do Lúc đầu nó phá ra một cách phóng túng, nhưng dầndần nó trở nên nhuần nhị và dừng lại ở một số thể thơ quen thuộc Số chữ trong câu
có thể từ 2 chữ (Sương rơi) đến hơn 10 chữ nhưng dùng nhiều nhất là lối thơ 5 chữ,
7 chữ, 8 chữ Số câu trong bài không nhất định, thường thường mỗi bài chia làm
nhiều khổ, mỗi khổ 4 câu” [33, 168-169] Công trình Thơ và mấy vấn đề trong thơ
Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức [47] cũng điểm qua một vài thể thơ truyền
thống của Thơ mới, nhưng mới chỉ dừng lại ở những ví dụ nhỏ, tản mạn.
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, vấn đề các thể thơ truyền thống
trong Thơ mới thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Trong đó, ĐL, LB,
8 chữ (vốn thoát thai từ HN) là những thể được ưu tiên nghiên cứu hàng đầu trong
hệ thống thể thơ truyền thống của Thơ mới Các bài viết riêng về các thể thơ đăng trên các báo, tạp chí, website nở rộ: Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể
loại thơ lục bát [82] và Về việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay của Nguyễn Xuân Kính [83], Một số cách tân trong thể thơ lục bát hiện đại của
Hà Quảng [144], Bằng trắc thơ bảy chữ Xuân Diệu của Lý Toàn Thắng [170], Tìm
hiểu quá trình hình thành và phát triển của thể thơ song thất lục bát của Ngô Văn
Đức [50], Thơ lục bát Việt Nam, lạm bàn và Lục bát, một thể thơ anh minh của Nguyễn Trọng Tạo [159], Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: một số
lượng đáng kinh ngạc [171], Quách Tấn với thơ Đường luật [172] và Âm vang của luật Đường trong phong trào Thơ mới [173] đều của Trần Thị Lệ Thanh, v.v…
Các chuyên luận, chuyên khảo hoặc giáo trình dùng trong các trường đại học,đặc biệt là các tuyển tập, công trình, luận án nghiên cứu về các thể thơ truyền thống
của Thơ mới xuất hiện ngày càng nhiều Trong Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ
trữ tình Việt Nam, Trần Đình Sử chú ý đến việc cách tân loại hình câu thơ của Thơ mới: “Thơ mới đã mang một nhãn quan mới về ngôn ngữ thơ… Thơ mới đã căn bản
cải tạo lại thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói” [154,
108] Nguyễn Bá Thành với Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại khẳng định công lao “phát triển, hoàn chỉnh và cải tiến các thể thơ dân tộc” của phong trào Thơ
mới: “Chính cuộc đấu tranh chống cái cũ ấy đã đạt đến thành tựu bất ngờ là hoàn
Trang 16chỉnh thơ lãng mạn, đẩy các thể thơ dân tộc đến một đỉnh cao “cổ điển” khác Họ đãlàm được một việc mà nền thơ dân tộc sẽ phải ghi công: phát triển, cải tiến và hoànchỉnh các thể thơ dân tộc trước khi Cách mạng thành công Thơ 2 chữ của Nguyễn
Vỹ, thơ 5 chữ của Vũ Đình Liên, thơ 7 chữ của Huy Cận, Chế Lan Viên, Thâm Tâm,
Vũ Hoàng Chương, thơ lục bát của Nguyễn Bính, thơ 8 chữ của Thế Lữ,… Có nhữngbài đã đạt đến chuẩn mực “cổ điển” trong phương thức trữ tình” [176, 323] Vũ Tuấn
Anh trong các công trình Văn học Việt Nam hiện đại - nhận thức và thẩm định [3] và
Sự vận động của cái tôi trữ tình và tiến trình thơ ca [4] đã đề cập đến “sự hoàn chỉnh
và tính năng động của thể loại trong đời sống văn học 1930 - 1945” Tác giả cho
rằng: việc Thơ mới tìm về, cách tân các thể thơ truyền thống “là sự hòa giải tỉnh táo của ý thức thể loại” [4, 36] Với Loại hình câu thơ của Thơ mới [21] và Thể 8 tiếng
trong thơ Việt Nam [24], Lê Tiến Dũng đã đưa ra những ý kiến mới về sự vận động,
tiếp thu thể thơ truyền thống, sự ảnh hưởng của thơ phương Tây và sự sáng tạo của
thể thơ 8 chữ trong Thơ mới Đồng thời, tác giả có so sánh sự khác nhau của một số thể thơ mới và thơ cũ Trong Thơ mới, những bước thăng trầm, Lê Đình Kỵ khảo sát
qua các loại câu thơ và nhận xét: “Câu thơ thất ngôn, ngũ ngôn không còn độc tôn,
Thơ mới không hạn chế số câu trong mỗi bài thơ, không quy định số từ bắt buộc cho
mỗi dòng thơ Câu thơ có thể đi từ 2 từ đến 9, 10 từ” [84, 119] Bàn về Thơ Việt Nam
trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc, Vũ Văn Sỹ nhận thấy: “Thơ mới đã kết
hợp được truyền thống thơ lâu đời của dân tộc như câu 8 âm tiết trong ca trù, xử lí lạicâu thơ thất ngôn và ngũ ngôn Đường luật, thơ lục bát… Đặc biệt nó đã tiếp nhậnđược một phần kinh nghiệm nghệ thuật của ngót trăm năm thơ Pháp từ các trườngphái lãng mạn đầu thế kỷ XIX (Chateaubriand, Lamartine, Musset, Vigny, Hugo) quaBaudelaire đến các trường phái hiện đại khác” [148, 16],…
Nổi bật hiện nay là các công trình nghiên cứu theo hướng chuyên sâu về các
thể loại văn học dân tộc (trong đó có các thể thơ truyền thống trong Thơ mới) của các tác giả: Phan Diễm Phương với Lục bát và song thất lục bát [139], Phan Ngọc với Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát [115] và Nội dung thơ song thất lục
bát [116], Nguyễn Đức Mậu với Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học [110] và Mối quan hệ giữa hát nói với Thơ mới [108], Trần Thị Lệ Thanh với Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX [174], Lê Thị Anh với Thơ mới với thơ Đường [5], Hồ Hải với Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ
[57], Hoàng Sĩ Nguyên với Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động thể loại [121],
Trang 17… Phan Ngọc bước đầu nhận diện sự đổi thay về cấu trúc, chức năng và nội dungphản ánh của STLB đầu thế kỷ XX: “Tuy các khổ bốn câu vẫn còn, nhưng khôngchia tách rạch ròi, mỗi khổ một ý nữa Hình thức liệt kê chiếm bá chủ, liệt kê các sựviệc, các cảnh khổ, các cố gắng cho nhân dân Nó chứa đựng một yếu tố mới, yếu tốkêu gọi, thúc đẩy Nó là những bài ca xung trận” [116, 290], và ông lí giải: “Sanggiai đoạn 1930 - 1940, trong thơ song thất lục bát chỉ có thơ các chiến sĩ cộng sản làhay, còn các nhà thơ mới không làm được thể thơ này vào mức gọi là tạm được.Không phải vì họ bất tài, mà bởi vì trong lòng họ chưa có được cái chữ nghĩa củathể loại: khi một thể thơ lấy hạnh phúc làm nội dung, những con người không nhìnthấy hạnh phúc ở đâu cả làm thế nào nó viết hay được.” [116, 291] Nhằm minhchứng cho nhận định về sức sống mãnh liệt của thể LB trong thơ ca Việt Nam hiệnđại, Phan Diễm Phương đã đi sâu khảo sát, phân tích các đặc trưng cơ bản về chứcnăng, nội dung và thi pháp của thể thơ, trong đó có sáng tác LB của một số nhà thơmới Tác giả cũng có những cắt nghĩa thuyết phục về số phận trái ngược của hai thể
LB và STLB (vốn song hành cùng nhau một thời gian dài trong lịch sử văn học dân
tộc) trong Thơ mới nói riêng và thơ hiện đại nói chung: “Thể lục bát với những cách
thức xử lý phong phú, đa dạng đang duy trì được sức sống và hòa nhập vào đời sốngchung của thơ ca hiện đại”, “Phải chăng vì tinh thần hướng theo truyền thống quámạnh, khó chấp nhận những sự biến đổi về cả hai phương diện cấu trúc và chứcnăng, lại cũng không có nhu cầu hòa hợp về thi pháp mà thể song thất lục bát ít có
cơ hội để phát huy vai trò của mình trong đời sống thơ ca hiện đại?” [139, 213]
Nguyễn Đức Mậu nhìn thấy mối liên hệ xa gần giữa HN với thể thơ 8 chữ trong
biểu đạt nội dung về con người cá nhân cá thể Còn Hoàng Sĩ Nguyên tìm hiểu tiến
trình vận động của các thể thơ của Thơ mới và nhận thấy: “Thể thơ 7 tiếng chiếm tỷ
lệ lớn nhất, đạt đến độ hoàn hảo, tạo ra được nhiều kiệt tác”, “Thể lục bát tuy có sựbắt nhịp nhanh nhưng tỷ lệ sử dụng còn ít, mạch vận động qua các giai đoạn biếnđổi không nhiều Có lẽ nó chỉ phù hợp với tâm hồn thi nhân có điệu thơ thuộc về âmhưởng nhẹ nhàng, đề tài quê hương, thiên nhiên hơn là sự quẫy đạp, tung hô, thíchđổi mới của cái tôi thành thị” [121, 106], “Thể 8 tiếng có sự phóng túng câu, chữ,nhịp điệu linh hoạt, sử dụng vần hỗn hợp và sự giãn nở gần văn xuôi hơn nên mởrộng được sức dung chứa cuộc sống Từ đó, câu thơ dễ giãi bày chất tự sự, lời kể, nên
nó có khả năng thể hiện tiếng nói sâu kín của tâm hồn con nguời, thích hợp với kiểucon nguời cá nhân thành thực, con người tâm linh” [121, 101], “Thể 5 tiếng được sử
Trang 18dụng ít nhưng có nhiều bài thơ hay, có sự vận động biến đổi nhanh hơn,… Mạch thơ,
tứ thơ mở rộng, thanh điệu nhịp nhàng, thanh thoát, bay bổng, diễn tả được tâm hồnmới thường lâng lâng trước nỗi buồn hay cảm xúc suy tư bất chợt” [121, 95-102] Lê
Thị Anh dày công trong việc khảo sát, phân tích sự tiếp thu nhiều mặt của Thơ mới
đối với thơ Đường, từ cấp độ hình thức (tiêu đề, đề từ, từ ngữ, hình ảnh, câu thơ, liênthơ, khổ thơ, bài thơ, nhà thơ) đến nội dung cảm hứng (nỗi niềm biệt ly - cô đơn, cảmxúc thoát tục, đồng cảm với thân phận bị vùi dập của kiếp đời ca kỹ), trong đó tác giả
có khảo chứng các thể ĐL, cổ phong (CP) được dùng trong Thơ mới đồng thời điểm qua các gương mặt Thơ mới sử dụng thành công thơ ĐL (Thâm Tâm, Quách Tấn,
Hàn Mặc Tử, Vũ Đình Liên,…) [5], v.v…
Nhìn chung, Thơ mới và vấn đề thể thơ của Thơ mới (nhất là các thể truyền
thống) đã có một bề dày lịch sử nghiên cứu, phê bình, phân tích, đánh giá và ngàycàng có thêm nhiều thành tựu Tuy nhiên, do mục đích khoa học cụ thể của từng tácgiả đề tài là khác nhau (thể hiện ở các tiêu đề bài viết và các công trình đã nêu ở
trên), việc nghiên cứu các thể thơ truyền thống của Thơ mới còn không ít những vấn
vấn đề bỏ ngỏ
Một thể loại văn học nói chung, một thể thơ nói riêng bao giờ cũng bao hàm
ba phương diện cơ bản: chức năng, nội dung và thi pháp Ba phương diện gắn bóhữu cơ với nhau như mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức làm nêntính chỉnh thể toàn vẹn của thể thơ… Trong một số công trình, nhiều khi các kháiniệm này bị tách bạch, chia lẻ dẫn đến việc nghiên cứu vấn đề chỉ mới dừng lại ởmột vài khía cạnh riêng biệt (hoặc chức năng, nội dung, hoặc thi pháp thể thơ) Lâunay giới nghiên cứu thường chú trọng khai thác các đặc điểm thi pháp của các thểthơ (và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận), trong khi đó hai phương diệnchức năng và nội dung các thể thơ còn chưa được quan tâm đúng mức Thiết nghĩ,cần phải có một cái nhìn toàn diện về đặc sắc của các thể thơ truyền thống trong
Thơ mới trên cả ba phương diện vừa nêu.
Việc nghiên cứu các thể thơ truyền thống trong Thơ mới nhiều khi mới chỉ
dừng lại ở dạng khái quát lí luận mà thiếu những khảo chứng, phân tích thuyết phục.Theo quan sát của chúng tôi, ở đây vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề rất đáng quan tâm,
như: số phận thể STLB trong Thơ mới và thơ hiện đại chưa được lí giải thấu đáo, mối quan hệ mật thiết giữa thơ HN truyền thống và Thơ mới 8 chữ chưa được quan
tâm làm rõ, dấu vết của các thể thơ truyền thống như từ khúc, thể 4 chữ trong các
Trang 19bài vè, bài nói lối của văn học dân gian hay ảnh hưởng ít nhiều của câu văn biềnngẫu trong thơ một số nhà thơ mới thời kì đầu chưa được khảo sát, minh định cụthể, v.v…
Thể loại là “nhân vật chính” (chữ dùng của M Bakhtin) của đời sống vănhọc Mỗi một cuộc vận động cách tân, chuyển đổi, thay thế giữa các loại hình vănhọc luôn phản chiếu một cách tập trung nhất qua thể loại Sự tồn tại và phát huy thếmạnh của một số thể thơ thuộc loại hình văn học truyền thống trong loại hình văn
học hiện đại (mà điển hình nhất là Thơ mới) rõ ràng mang một ý nghĩa cách tân và
kế thừa to lớn Các công trình nghiên cứu phần lớn đều nhận thấy tầm quan trọngnày nhưng chỉ mới nhận định thông qua khảo sát, phân tích một số thể thơ riêng lẻ.Thực tế còn thiếu vắng công trình chuyên biệt mang tính quy mô và hệ thống về tất
cả các thể thơ truyền thống có mặt trong Thơ mới; cũng chính vì thế mà việc xác định vị thế, vai trò, ý nghĩa của các thể thơ truyền thống trong Thơ mới nói riêng,
thơ hiện đại dân tộc nói chung, từ đó tìm bài học không chỉ cho nghiên cứu thơ màcòn cho cả sáng tạo thơ còn là những thử thách chưa có lời giải
Do có những vấn đề bị bỏ ngỏ như trên, việc nghiên cứu các thể thơ truyền
thống trong Thơ mới vẫn cần phải được tiếp tục trên một quy mô lớn hơn và theo
một góc nhìn toàn diện hơn Tất nhiên, ý kiến và thành quả nghiên cứu của nhữngngười đi trước luôn luôn là bài học quý cho chúng tôi kế thừa và phát triển
Trang 20Chương 2
VỊ THẾ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC THỂ THƠ TRUYỀN THỐNG
TRONG THƠ MỚI 1932 - 1945
2.1 Nhìn chung về loại hình Thơ mới 1932 - 1945
2.1.1 Hiện tượng Thơ mới 1932 - 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc
2.1.1.1 Xác định nội hàm cho một khái niệm là việc làm cần thiết nhằmthống nhất những “khái niệm công cụ” trước khi đi vào vấn đề cần nghiên cứu, nhất
là đối với Thơ mới - một hiện tượng thơ nhiều hấp dẫn và từng không ít bàn cãi Xung quanh vấn đề nhận diện, định danh và định giá Thơ mới vẫn còn tồn tại nhiều
ý kiến không thống nhất Ngay từ khi mới ra đời, Thơ mới đã được nhìn nhận từ phương diện hình thức, thể loại Danh từ “Thơ mới” lần đầu tiên được chính thức khởi xướng bởi Phan Khôi, trên báo Phụ nữ tân văn, số 122, năm 1932, khi ông
muốn dấy lên một phong trào thơ “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng nhữngcâu có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [85, 53] nhằm phản
ứng và đối lập với “thơ cũ” - một khái niệm cũng lần đầu tiên xuất hiện theo logíc
của tư duy phân loại, dùng để chỉ lối thơ làm theo hình thức luật Đường đã trở nên
gò bó, khuôn sáo xuất hiện đầy rẫy trên báo chí thời đó Trong giai đoạn đầu của
phong trào Thơ mới, để đấu tranh định hình một lối thơ khác với thơ cách luật cổ
điển, mang “tinh thần tự do”, những người làm thơ mới đã nhất loạt tấn công vào
tính quy phạm cứng nhắc của “thơ cũ” bằng cách cố tình đưa cú pháp văn xuôi vào
thơ; dỡ bỏ mọi nề nếp niêm, luật và phép tắc đối thanh, đối ý của thơ cổ điển; chophép cảm xúc tự do đi về trong câu chữ và vần Do tiêu điểm của cuộc chiến nằm ở
đó mà chính họ và cả những người chống đối họ từng có lúc ngỡ rằng Thơ mới là
thơ “tự do” (theo nghĩa thể thơ) Lại có người còn cho thơ viết theo các thể từ khúc(lời của những điệu hát cổ Trung Hoa gồm những câu dài, câu ngắn không đều
nhưng cố định) là Thơ mới Nhưng đến những giai đoạn sau của phong trào, nhiều
nhà thơ lại tìm về với các thể thơ truyền thống như thất ngôn, ngũ ngôn, LB Ngaylối thơ 8 chữ là sáng tạo của các nhà thơ mới nhưng kiểu cách thể này đã ít nhiều có
bóng dáng từ HN Vậy là quan niệm Thơ mới là thơ tự do hay thơ viết theo các thể
từ khúc tỏ ra không ổn nữa Cách nhận diện Thơ mới chỉ xét riêng trên phương diện
hình thức hay thể loại xem ra khó có thể thỏa mãn trong định danh một loại hình thơ
Trang 21đã khác với “thơ cũ” (thơ trung đại) Từ những năm 40 của thế kỷ XX, khái niệm
“Thơ mới” được nhận diện từ phương diện nội dung Năm 1942, với Một thời đại
trong thi ca [175], Hoài Thanh đã chỉ ra đích xác cái mới cơ bản nhất của “tinh thần Thơ mới” là cái tôi cá nhân - chữ “tôi” với ý nghĩa tuyệt đối Từ đây, mệnh đề “Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân - cá thể (individu)” ngày một trở nên quen thuộc
và được thừa nhận Sau nhiều thế kỷ bị phong tỏa bởi nhiều áp lực, với phong trào
Thơ mới, lần đầu tiên cái tôi cá nhân có cơ hội lên tiếng đòi quyền sống cho chính
nó Hoài Thanh từng viết: “Xã hội Việt Nam từ xưa không có cá nhân Chỉ có đoànthể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình Còn cá nhân, cái bản sắc của cá nhân chìmđắm trong gia đình, trong quốc gia như giọt nước trong biển cả” [175, 45] Sự trỗidậy của cái tôi cá nhân, vì vậy, đúng như khẳng định của Phan Huy Dũng, “có ýnghĩa văn hóa lớn lao trong đời sống con người Đối với văn học và thơ ca, nó cótác dụng khích lệ các nhà thơ bày tỏ mình một cách thành thực, dám từ lập trường,quan điểm cá nhân để giao tiếp với cuộc đời và nhìn nhận thế giới, tạo ra tính “đa
thanh” của cả một nền thơ” [27, 6] Nhìn chung, “vào thời điểm phong trào Thơ mới đang làm cuộc “cách mạng” thi ca, luận điểm nhấn mạnh vào cái mới của Thơ mới
ở phương diện tinh thần như trên được xem là luận điểm đáng kể nhất Chính nó đã
góp phần khẳng định ý nghĩa đích thực cần được thừa nhận của danh hiệu “Thơ
mới” mà người đề xướng phong trào là Phan Khôi lúc đầu chỉ định tạm dùng” [27,
6] Như vậy, cho đến nay đã có không ít ý kiến giới thuyết về Thơ mới, hoặc thiên
về hình thức, hoặc thiên về nội dung như những cách nhận diện trên Tùy thuộc vàotừng vấn đề mà người nghiên cứu có thể lựa chọn cho mình một góc độ tiếp nhận
Thơ mới hợp lý Mặt khác, cần phải có cái nhìn toàn diện về Thơ mới, bởi từ các tác
phẩm cụ thể đến cả một nền thơ, phong trào thơ, là một chỉnh thể Với đề tài Hệ
thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932 - 1945, chúng tôi chọn hướng tiếp
cận Thơ mới từ góc độ loại hình - thể loại, đặc biệt ở đây là các thể thơ Xuất phát từ góc nhìn này, có thể thấy Thơ mới đã vượt qua ý nghĩa chỉ một phong trào, trào lưu thơ Thơ mới đã thực sự thuộc loại hình thơ hiện đại - một loại hình thơ khác với
loại hình thơ truyền thống (thơ trung đại) nhưng không cắt đứt truyền thống Khôngít thể thơ truyền thống, đặc biệt là các thể thơ truyền thống thuần Việt, tiêu biểu như
LB, vẫn có mặt và phát huy được thế mạnh của nó trong cuộc “hòa nhạc” của nhiều
thể thơ khác của Thơ mới Một điều nữa xin được nói thêm là nhìn trên phương diện khuynh hướng, “tổ chức” - đội ngũ thì Thơ mới là cả một “phong trào”, một phong
Trang 22trào thơ rộng lớn (chứ không hẹp như “nhóm”, nhóm Tự lực văn đoàn) Phong trào
Thơ mới thực ra không phải chỉ dành riêng cho các nhà thơ lãng mạn (Thế Lữ, Lưu
Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, ) Do các tác giả theo khuynh hướng lãng mạn
chiếm số lượng áp đảo và sáng tác của họ là nền tảng cơ bản tạo nên Thơ mới nên lâu nay nhiều khuynh hướng nghiên cứu vẫn quen nhìn nhận Thơ mới là phong trào
thơ ca lãng mạn hoàn toàn Thực tế, không ít nhà thơ có khuynh hướng hiện thực
vẫn tham gia và làm Thơ mới Các tác giả sưu tầm, biên soạn Thơ mới 1932 - 1945,
tác giả và tác phẩm [128] rất có cơ sở khi cho công bố cuốn sách này Trong đó
xuất hiện một số gương mặt Thơ mới mà lâu nay chúng ta cứ nghĩ họ là nhà thơ
“hiện thực” như Tú Mỡ, Đồ Phồn Thậm chí, ngay cả những nhà thơ cách mạng,
tiêu biểu là Tố Hữu, thời kỳ đầu cũng chịu ảnh hưởng của Thơ mới Ngoài ra, trong
thơ một số nhà thơ, nhóm thơ mới còn mang ít nhiều dấu ấn của khuynh hướng
tượng trưng, siêu thực (Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, nhóm Xuân thu nhã
tập,…), v.v Vậy, có thể khẳng định: Phong trào Thơ mới là một hiện tượng thơ lôi
cuốn đông đảo nhiều người làm thơ, yêu thơ hưởng ứng Trong đó, khuynh hướngchủ yếu là lãng mạn, thể hiện tiếng nói của cái tôi cá nhân cá thể với nhiều biểu hiệnmới lạ, phong phú
2.1.1.2 Thơ mới 1932 - 1945 vừa với tư cách là một phong trào, vừa với tư
cách là một cuộc cách tân thơ, là hiện tượng thơ lớn nhất ở thời kỳ nửa đầu thế kỷ
XX Cuộc xung đột và gặp gỡ với phương Tây trên nhiều phương diện đã tạo nênnhững biến thiên lớn trong đời sống dân tộc, nhất là trên lĩnh vực ý thức hệ tưtưởng, văn hóa, văn học Sự bừng tỉnh của cái tôi cá nhân và nhu cầu khẳng định cáthể một cách bức thiết, tâm lí thoát li của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, yêu cầu hiệnđại hóa văn học nảy sinh trên những tiền đề lịch sử văn hóa, xã hội những năm đầu
thế kỷ chính là nguyên nhân đặc thù trực tiếp thôi thúc buộc Thơ mới phải ra đời
như một tất yếu lịch sử, giải phóng thơ Việt thoát khỏi những khuôn khổ mang tínhquy phạm chặt chẽ của loại hình thơ trung đại để bước sang phạm trù hiện đại vớimột loại hình thơ mang “tinh thần tự do”, tự do về biểu hiện tư tưởng, cảm hứng, tự
do về cách thức thể hiện, nghĩa là không còn bị ràng buộc, câu thúc bởi một quy
phạm không cần thiết nào Với ý nghĩa đó, Thơ mới xứng đáng là cuộc cách tân thơ
ca lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, một cuộc cách tân triệt để vàtoàn diện từ nội dung, tinh thần đến hình thức nghệ thuật Cái tôi và quan niệm cá
nhân là thành tựu lớn nhất của cuộc cách tân về nội dung, cảm hứng trong Thơ mới.
Trang 23Lúc đầu, nó xuất hiện trên thi đàn trong trạng thái “bỡ ngỡ”, “như lạc loài nơi đấtkhách” bởi xã hội Việt Nam trước đó chưa dành đất cho nó Cái tôi và ý thức cánhân thực chất là một khái niệm triết học khẳng định tính độc lập của con người Nóxuất hiện từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp gắn liền với sự ra đời của tư tưởng
tư hữu Thế nhưng không phải ở bất kì thời đại nào ý thức về cái tôi của con ngườicũng được chấp nhận Dưới áp lực của thiết chế xã hội phong kiến cộng với tưtưởng thống trị của Nho giáo, con người được xem là một phần tử của vũ trụ, một
bộ phận không tách rời khỏi thế giới (“thiên nhân hợp nhất”, “thiên địa vạn vật nhấtthể”), nó có ý thức về bản ngã trong mối quan hệ khăng khít với chỉnh thể cộngđồng (gia đình, dòng tộc, họ hàng, làng xã, đất nước) mà trong đó nó là một bộ phậnphục tòng A.JA.Gurevich nói: “Con người trung cổ chỉ có thể ý thức được bản thânmình một cách đầy đủ trong khuôn khổ của tập thể mà nó là thành viên, và với tưcách là thành viên này nó được giao tiếp với những giá trị thống trị trong một môitrường xã hội nhất định” [2, 332] Cũng có nghĩa là con người cá nhân không đượcquyền tồn tại độc lập với những nhu cầu của chính nó Con người chỉ còn là công cụcho những giá trị trừu tượng và theo đó văn chương cũng chỉ nhằm hướng “chí”,thờ “đạo” Theo Nguyễn Đăng Mạnh, văn học trung đại thể hiện thế giới qua “một
hệ thống ước lệ chặt chẽ, có tính uyên bác, cách điệu hóa, sùng cổ và phi ngã
(impersonnel), đề cao văn học đạo lí hơn văn học tình cảm” [106, 153-156] Khái
quát đó hoàn toàn có cơ sở, nhưng khái niệm “tính phi ngã” dành cho văn học trungđại có lẽ cũng cần được hiểu một cách uyển chuyển Hệ thống thi pháp văn chương
cổ dẫu sao cũng kiềm tỏa cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Chỉ có những phongcách lớn với tài năng, cá tính độc đáo mới thật sự vượt lên trên những giới hạn củathời đại, bộc lộ mạnh mẽ cái tôi của mình Đó là những phút nổi loạn của con người
cá nhân trong Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Những con người này đã từng “bất quy phạm” để chống lại những quy phạm, nhưngchống lại mà vẫn bị ràng buộc, vẫn bị hạn chế; điều ấy là tất yếu khi tính ước lệ phingã đã trở thành hệ thống Đến những năm đầu thế kỷ XX, với những đổi thay củalịch sử, kinh tế - xã hội, văn hóa, văn học, con người cá nhân bước đầu được giảiphóng Các cá nhân giờ đây tự tách mình ra khỏi các cộng đồng phường hội, nó ýthức về mình như một cá thể độc lập, tự trị Con người phát hiện ra bản thân mình,tâm hồn mình, cá tính mình, giá trị mình,… Toàn bộ những thay đổi ấy đã phác nên
hình hài cái tôi cá nhân cá thể với “khát vọng thành thực” nhất trong Thơ mới Thơ
Trang 24mới đã nói lên được “một nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (Tố Hữu).
Quan niệm cá nhân, cái ý thức phát huy bản ngã đó được thức dậy mạnh mẽ trongthơ của hàng loạt các nhà thơ mới Nó thôi thúc cái tôi khẳng định mình như mộtbản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệthuật Cái tôi của chủ thể sáng tạo được giải phóng sẽ đưa đến một cái nhìn mangtính cá thể hoá, một hệ thống thi pháp và tư duy thơ mới, với sự sáng tạo nhữnghình thức biểu hiện phong phú mang sắc thái độc đáo của phong cách cá nhân HoàiThanh quả quyết: “Trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đạiphong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần mộthồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như HuyThông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa nhưNguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên,… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như XuânDiệu…” [175, 29] Cái tôi ấy còn tự bộc lộ đầy đủ mọi trạng thái tâm hồn mình ởtrong thơ Trần Đình Sử rất có cơ sở khi gọi nó là “cái tôi tự biểu hiện”, tiếp nốithành tựu nghiên cứu của Hoài Thanh, bổ sung vào nội dung quan niệm cá nhân của
Thơ mới Với Thơ mới, thế giới tâm hồn con người được mở rộng, ngày càng phong
phú hơn… Nhưng rồi, tư thế tươi mới, say mê, dõng dạc buổi ban đầu dần dẫn đến
sự tuyệt đối hóa của cái tôi cá nhân nên cô đơn, hiu quạnh, đau buồn Cái tôi trong
Thơ mới “vừa mới ra đời đã hoá ngay thành con bướm trắng” (Xuân Diệu), nó
nhanh chóng tìm cách thoát li thực tại “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh / Một vìsao trơ trọi cuối trời xa” (Chế Lan Viên), trốn chạy chính mình “Chớ để riêng emphải gặp lòng em” (Xuân Diệu) Ý thức về cái tôi cá nhân cá thể còn được bộc lộ rõnét ngay cả trong những nhu cầu, khuynh hướng thoát li của các nhà thơ mới “Khácvới các nhà thơ cổ điển luôn vươn tới sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên, conngười và xã hội, chưa có nhu cầu bức bách phải bộc lộ mình như một cá thể táchkhỏi xã hội; ở các nhà thơ mới lãng mạn “cái bình yên thời trước”, “cái cốt cáchhiên ngang” có lúc được xây dựng trên sự cân bằng hài hòa giữa cá nhân và cộngđồng không còn nữa” [35, 31] Đối với họ giờ là thời của cái tôi cô đơn cách biệt
(Mỗi người một núi đứng riêng tây), cái tôi sầu vạn kỷ (Một chiếc linh hồn nhỏ /
Mang mang thiên cổ sầu), Mỗi cái tôi tự tìm thấy cho mình một lối thoát, một
hoài vọng vào quá khứ, vào tôn giáo, vào những thế giới siêu hình, Và đây cũng là
cách để mỗi nhà thơ tự bộc bạch cái tôi của riêng mình Thời đại Thơ mới là thời đại
của chữ tôi, và “vòng đời” của những nhà thơ mới cũng “nằm trong vòng chữ tôi”
Trang 25của thời đại ấy Tiếng nói của cái tôi là những thay đổi trong tinh thần, là đổi mới về
phương diện nội dung mà Thơ mới mang lại
Sự giải phóng tinh thần trong Thơ mới đòi hỏi những cách thức biểu hiện phù hợp Cùng với sự ra đời của cái tôi cá nhân, Thơ mới đồng thời đưa lại một quan
niệm hoàn toàn mới về thơ; sáng tạo ra một hệ thống thi pháp mới cho phép thay thế
hệ thống thi pháp thơ trung đại ngự trị hàng nghìn năm, trong đó Thơ mới đặc biệt
đề cao quan điểm cá nhân, mang lại cho thơ một nhãn quan ngôn ngữ mới, cách
thức thể hiện mới, và một hệ thống thể thơ mới Trước hết, Thơ mới đã có công giải
phóng thơ ra khỏi chức năng “tải đạo”, “ngôn chí” của quan niệm thơ ca truyềnthống, đưa lại một quan niệm mới về thơ: thơ trước hết là của cái đẹp, của cảm xúc,thành thực và tự do Ngay từ buổi đầu, trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn, trong
sáng tác và cả lí luận, Thế Lữ (Cây đàn muôn điệu), Xuân Diệu (Cảm xúc), Hoài Thanh (Quan niệm văn chương) đã tuyên ngôn cho quan điểm nghệ thuật mới lạ của
Thơ mới Nhìn chung, các nhà thơ mới tôn thờ cái đẹp thuần túy, một cái đẹp nếu
thoạt nhìn có vẻ xa lạ với lí trí và lợi ích; họ đặt nghệ thuật cao hơn chính trị và cổsúy cho một nền nghệ thuật với mục đích tự thân, đặc biệt chú trọng đề cao rungcảm trong sáng tạo thơ ca Cùng với quá trình tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân, quanđiểm về cái đẹp và quá trình sáng tạo nghệ thuật ngày càng được đẩy đến mức caohơn ở nhóm nhà thơ thuộc “trường thơ loạn”, “thơ điên” (tiêu biểu là Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên, Bích Khê) và đặc biệt về sau là nhóm Xuân thu nhã tập Chịu ảnh
hưởng của chủ nghĩa tượng trưng (một phần siêu thực) Tây Âu với các tên tuổiEdgar Poe, Baudelaire, chủ nghĩa thuần túy (Valéry),… trường thơ loạn chủ trươngđẩy xa hiện thực ra khỏi thi ca, họ đi tìm cái đẹp ở những bến bờ xa lạ, kinh dị Cáiđẹp là cái thần bí và sáng tạo nghệ thuật là sáng tạo cái siêu hình, thần bí Làm thơvới Hàn Mặc Tử “tức là điên”, còn Chế Lan Viên “làm thơ là làm sự phi thường”,Bích Khê luôn “khát khao, hoài vọng cái đẹp” đến mức “hồn phách tê liệt dại khờ”,
… Họ dám công khai đối đầu với quan điểm cái đẹp phải gắn liền với cuộc sống,nghệ thuật phải gắn với đạo đức, chính trị, xã hội Thái độ đối lập gay gắt này vềsau được Chế Lan Viên đẩy đến mức cực đoan, từ chối việc phục vụ chính trị, phụcvụ xã hội Ông viết: “Nếu vẫn cứ quốc gia, đạo đức, xã hội, luân thường, bốnphần tư nhân loại sẽ chết vì đau dạ dày, thế kỷ XX chưa khóa xong cánh cửa”
(Vàng sao)… Đến Xuân thu nhã tập, chủ trương này càng được khẳng định quyết liệt hơn Nhóm Xuân thu nhã tập “muốn phát triển mặt “bác học”, tính trí thức của
Trang 26thơ, rất đề cao việc tìm tòi hình thức và muốn tiến tới một chủ nghĩa duy mĩ về mặtquan niệm” [27, 13] Họ chủ trương một lối thơ “thuần túy”, trong trẻo hàm súc.
“Thơ chỉ cần rung động, không cần hiểu và không nên giải thích thơ” [35, 461] Họ
đã làm một cuộc thể nghiệm và đi khá xa trong sự tìm tòi với những bài thơ kín mít,
một thời bị đánh giá là lối thơ “hũ nút” (Buồn xưa - Nguyễn Xuân Sanh, Đường
xuân - Phạm Văn Hạnh,…) Việc đề cao quá mức quan điểm thần bí hóa quá trình
sáng tạo đã dần đưa thơ vào địa hạt siêu hình, bí hiểm, thậm chí còn khiến các nhàthơ mới nhiều khi dễ đánh đồng sự sáng tạo nghiêm túc, chân chính trong thơ vớikiểu nghệ thuật thuần túy Tuy nhiên, sự vận động trong quan niệm của các nhà thơmới đồng thời cũng cho thấy ý thức cách tân, nỗ lực tìm tòi, đổi mới và khôngngừng hoàn thiện trong sáng tạo thơ ca Đương thời, những quan điểm như vậy rất
có ý nghĩa trong việc đề cao một lối thơ gắn liền với xúc cảm trực tiếp của cái tôi cánhân và giải phóng bản ngã, giải phóng cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Nó thôithúc các nhà thơ mới tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật vị nghệ thuật, khơi dậyniềm say mê tìm tòi và sáng tạo hình thức Thơ Hàn Mặc Tử ngày một dấn bướcvào cõi siêu thực một cách không tự giác, nó tạo cho thơ ông một vẻ huyền diệu,mới mẻ, tân kì và đầy sáng tạo Thơ Bích Khê là miền tượng trưng đầy âm thanh,ánh sáng và hương hoa với ngôn từ “điêu khắc” được “chạm trổ” công phu, tỉ mỉ
Những thể nghiệm của Xuân thu nhã tập chưa hẳn thành công nhưng những kết quả
của họ đáng được ghi nhận như những tìm tòi không phải không giàu ý nghĩa,…
Cùng với quan niệm nghệ thuật, hệ thống thi pháp thơ cũng được thay mới.Biến đổi đầu tiên mang tính bao trùm, chi phối đến các đặc điểm thi pháp khác của
Thơ mới là quan niệm nghệ thuật về con người, trong đó Thơ mới đặt quan điểm cá
nhân ở vị thế trung tâm Các nhà thơ mới đã dám coi cái tôi cá nhân như một quanđiểm, một cách thế nhìn đời và nói chuyện với mọi người Điều này tác động trựctiếp đến quá trình sáng tác nghệ thuật của các nhà thơ trên nhiều khía cạnh Trướchết, sự thức tỉnh cá nhân đòi hỏi thơ lấy cái tôi, cái cá nhân làm đề tài, thậm chí làm
“hệ quy chiếu” vạn vật Nếu ở Tản Đà, mới chỉ thấy cái tôi cá nhân như một hiệntượng dị biệt, “ngông”, gần với sự “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ, thì với
Thơ mới, cái tôi này đã trở thành thông thường, phổ biến Xuân Diệu kiêu hãnh để
cái tôi của mình lên trên bình diện thứ nhất không cần che đậy, giấu giếm: Ta là
Một, là Riêng, là thứ Nhất / Không có chi bè bạn nổi cùng ta, thậm chí còn mang
những khát vọng ngông cuồng vượt thoát khỏi chính mình: Mái chèo đập mau, ta
Trang 27thoát ngoài ta Cái tôi tự do trong thơ Huy Thông cũng có những ước mơ khác
thường Nó muốn hóa thành một con chim để cùng gió bay vút lên bầu trời caorộng, “muốn uống vào trong buồng phổi”, “tất cả ánh sáng dưới bầu trời lồng lộng”,
“muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng, để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi”,v.v…Quyền lợi của con người cá nhân giờ đây không đồng nhất với một cặp phạm trùcộng đồng nữa mà đã được ý thức ở một cấp độ mới: một vấn đề xã hội, một triết línhân sinh Bởi vậy, nếu thơ cổ quan tâm đến tình cảm ở dạng khái quát nhất, tạo
thành khuôn chung mang tính đơn điệu, thì Thơ mới lại thiên về cái riêng, quan tâm
đến tự do cảm xúc, tự do tư duy, tạo nên cả một nền thơ đa thanh Bản thân conngười giờ đây đã trở thành một đối tượng thẩm mỹ, khai thác không bao giờ cạn Quan điểm cá nhân chi phối cái nhìn của con người về thế giới Thế giới hiện lêntrong thơ trung đại, có thể thấy, còn mang tính chung chung, vĩnh cửu, tĩnh tại, ước
lệ, đến Thơ mới đã khác, nó mang đậm tính cá nhân Hiện thực trong Thơ mới trước
hết được nhìn qua lăng kính của cái tôi cá nhân nên hết sức sinh động, mới mẻ vàluôn ở trong tư thế vận động Dường như bất cứ nhà thơ mới nào cũng đều có ý thức
cá thể hóa trong cách cảm thụ con người và thế giới Xuân Diệu nhìn mặt đất nhưmột thiên đường đầy hoa thơm trái ngọt Thơ ông là sự thức nhận các giác quantrong niềm say mê ngoại giới và tình yêu lứa đôi Đó là một thế giới không ngừngchuyển động, ngay cả những sự vận động sẽ sàng khó nắm bắt nhất - sự vận động
của tâm hồn: Mây biếc về đâu bay gấp gấp / Con cò trên ruộng cánh phân vân Trăng trong thơ xưa chung chung, vĩnh cửu: Trăng vẫn năm năm sông nước giãi (Trương Nhược Hư),… đến Thơ mới đã mang màu sắc cá nhân, riêng tư và được cá thể hóa cao độ: Trăng mờ thổn thức (Lưu Trọng Lư), Trăng vú mộng của muôn đời
thi sĩ (Xuân Diệu), Bỗng hôm nay trước mặt bóng trăng quỳ / Úp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu (Hàn Mặc Tử),… Quan điểm cá nhân trở thành nguyên tắc xây
dựng hình tượng thơ Để khẳng định bản ngã, cái tôi Thơ mới vừa là một hình tượng
sống động trong thơ vừa là tiêu chuẩn làm thước đo cắt nghĩa và lí giải thế giới
Khác với hình thức khuyết chủ ngữ của thơ ca trung đại, câu thơ của Thơ mới mang tính chất định danh rõ rệt: “Tôi / Ta là…”, hoặc xưng danh xác định: Thế Lữ là một
chàng kỳ khôi, Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm,… Thơ mới còn mang lại một
nhãn quan mới về ngôn ngữ thơ Câu thơ luật truyền thống mang tính độc lập cao,mỗi câu thơ là một tập hợp từ mang ý nghĩa hàm súc, “giảm thiểu đến mức tối đacác yếu tố ngữ điệu, giọng điệu, màu sắc, cảm xúc và các hư từ” [154, 110] Mỗi bài
Trang 28thơ tựa như một “bức tranh cổ tĩnh lặng, thảng hoặc mới có tiếng nói và giọng điệu
con người” [158] Trái lại, ngôn ngữ Thơ mới luôn gắn liền với “ngữ điệu nói”, với cảm xúc của con người cá nhân Trần Đình sử khẳng định: “Thơ mới đã căn bản cải
tạo lại câu thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ “điệu ngâm” sang câu thơ “điệu nói” Câu thơ mới đã được chủ thể hóa, cá thể hóa cao độ, nó lấy tiếng nói, giọng điệu,hơi thở con người làm vật liệu, tạo thành thế giới thơ điệu nói với bao nhiêu tiếnggọi, lời thưa, tiếng giãi bày, câu tâm sự” [154, 108-111] Hình thức đó làm chokhông gian câu thơ, bài thơ không còn đông cứng, cô đúc toàn khối như thơ luật mà
tự do, vắt dòng, trùng điệp, nhảy vọt, không gò bó Với nhãn quan ngôn ngữ đó
hình thức thể thơ cũng thay đổi theo Thơ mới đã làm một cuộc tổng duyệt đánh giá
lại các thể thơ tiếng Việt, tiếp thu cái tốt đẹp trong thơ truyền thống đồng thời họctập một cách có sáng tạo thơ ca nước ngoài nhất là thơ Pháp, tìm những hình thứcbiểu hiện mới lạ, phong phú cho thơ
Quan niệm nghệ thuật mới, quan niệm mới về con người, nhãn quan ngôn ngữmới, cách thức thể hiện mới cùng một hệ thống thể thơ mới,… với chừng ấy đổi thay
Thơ mới đã thực sự thuộc loại hình thơ hiện đại Ngày nay, khi nhìn lại Thơ mới, có
thể quả quyết chắc chắn đây là một sự kiện thiết yếu đồng thời đánh dấu bước độtkhởi chưa từng có trong lịch sử thơ ca và văn học dân tộc Công lao lớn nhất của nócần ghi nhận là đã thực hiện thành công cuộc cách tân sâu sắc có ý nghĩa quyết địnhtrong công cuộc hiện đại hóa thơ ca và văn học nước nhà, từ đó mở ra “một thời đạitrong thi ca”, mở đầu cho một hành trình mới của thơ Việt Nam hiện đại
2.1.1.3 Dĩ nhiên, cuộc “cách mạng” mà Thơ mới thực hiện không chỉ đơn
thuần dừng lại ở việc chuyển đổi, thay thế giữa hai loại hình thơ ca (trung đại vàhiện đại) trong khuôn khổ nền văn học dân tộc tại thời điểm đương thời Cốt lõi của
Thơ mới là tính chất “mở”, “cá nhân” và “tự do” Đây chính là nguyên tắc nền tảng
cho thơ thời hiện đại, trở thành kim chỉ nam xuyên suốt hành trình sáng tạo của thơViệt không chỉ hiện đại, mà còn của đương đại, thậm chí hậu hiện đại Từ góc nhìn
này, có thể thấy, “Thơ mới còn tạo thành một truyền thống mới cho thơ Việt”
[157,11], có vai trò làm nền tảng và gợi mở ý hướng vận động, phát triển phù hợp
cho thơ ca dân tộc từ Thơ mới và sau Thơ mới Hiểu đúng bản chất, tầm vóc của
cuộc cách mạng ấy mới nhận thức sâu sắc được ý nghĩa và tầm ảnh hưởng sâu rộng,lâu dài của nó Không ngẫu nhiên khi nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy thơ trữ
tình Việt Nam kể từ Thơ mới, dù phát triển thế nào đều là sự phát triển sâu hơn,
Trang 29nhiều vẻ hơn những khả năng nghệ thuật mới của thi ca đã mở đầu và định hình từ
phong trào Thơ mới Trần Đình Sử khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của Thơ
mới là “thể hiện chân lí cá nhân” và mang một “hệ thống thi pháp mở” [157, 18-22] Thơ mới là thẩm mĩ, cảm xúc, tự do và thành thực, nó chống lại mọi ràng buộc, câu
thúc và không đặt ra bất cứ một giới hạn nào cho thơ Đây là cơ sở khơi gợi sự sángtạo không ngừng cho thơ ca, là tiền đề thôi thúc sự phát triển cho thơ Việt ở những
giai đoạn sau Thơ Tố Hữu thời Từ ấy đã trực tiếp thoát thai từ Thơ mới Các nhà
thơ thuộc thế hệ tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư,Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Bính,… đều chuyển hóa từ thơ mới lãng mạn sang thơ
mới cách mạng Những “khuôn hình thức” do Thơ mới đề xuất vẫn tiếp tục sống trong các sáng tác thơ có định hướng ý thức hệ hoàn toàn khác Thơ mới Nhiều bài
thơ hay của thơ kháng chiến là thơ tự do, hoặc là những “hợp thể”, thơ văn xuôi,
“thơ không vần” của Nguyễn Đình Thi,… Đặc biệt, ngày nay, khi “nền thơ đươngđại đang diễn ra ngày càng phổ biến kiểu cảm quan hoài nghi chân lí chung, hoàinghi đại tự sự cùng cảm quan hư vô, lạc loài khiến người ta có xu hướng muốn rời
bỏ Thơ mới như là tính hiện đại để đi về phía hậu hiện đại” [157, 21] thì tính “cá nhân” và “tự do” trong nguyên tắc của Thơ mới, có thể nói như Trần Đình Sử, vẫn
“cho phép thơ phát triển, đổi thay đến vô hạn” [157, 21] Nếu không có Thơ mới khó có thể nói đến bước phát triển của thơ hiện đại Thơ mới không chỉ để lại dấu ấn
sâu sắc đương thời mà còn mở ra một viễn cảnh phát triển lâu dài, vô hạn cho thơ
Việt Với những đổi mới của mình, Thơ mới 1932 - 1945 xứng đáng là cuộc cách
tân thi ca vĩ đại nhất trong lịch sử văn học dân tộc
2.1.2 Loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhìn từ góc độ thể thơ
2.1.2.1 Thơ mới 1932 - 1945, một cuộc cách tân về thể thơ
Nhìn Thơ mới trên hành trình hiện đại hóa của văn học dân tộc, nhà phê bình Hoài Thanh không kiệm lời khi nhận định: Thơ mới là một “cuộc cách mệnh về thi ca” [175, 19] Tiếp nối Hoài Thanh, không ít tác giả, hễ định giá về phong trào Thơ
mới lại dùng ngay khái niệm “cách mạng”: “Thơ mới, cuộc cách mạng về thi pháp
và tư duy thơ” [36, 578], “cuộc cách mạng ấy trước hết là về tinh thần, tư tưởng”[48, 38], “cuộc cách mạng về thi ca ấy ngày nay đã yên lặng như mặt nước hồ thu”[81, 286], Dùng từ “cách mạng” trong trường hợp này có nên không? Theo thiển
nghĩ của chúng tôi, dùng từ “cách mạng” đối với hiện tượng Thơ mới như vừa phân
tích một cách tổng quát ở trên, đành rằng không phải không có cơ sở, nhưng chúng
Trang 30tôi vẫn cảm thấy có điều gì đó không thật ổn, nhất là khi nhìn nó trong dòng mạchcòn có liên hệ với truyền thống “Cách mệnh” (từ cũ) hay “cách mạng” (từ mới xuấthiện vào khoảng trước sau 1945) nhằm chỉ quá trình biến đổi theo hướng tiến bộ
trong một lĩnh vực nào đó, cuộc biến đổi ấy phải thực hiện một cách triệt để,
nghĩa là loại bỏ hoàn toàn cái cũ để thay thế bằng cái mới Khái niệm “cách
mạng” thường dùng để chỉ các sự kiện lịch sử lớn, các cuộc biến đổi chính trị xã hội
mà trong đó chế độ xã hội lỗi thời bị lật đổ để thay thế bằng một chế độ xã hội mớitiến bộ (Cách mạng tư sản Pháp, Cách mạng xã hội chủ nghĩa, Cách mạng thángTám, ) Ngoài ra còn có Cách mạng khoa học kỹ thuật, Cách mạng tư tưởng
Phong trào Thơ mới cũng là một sự kiện lớn trong lịch sử văn học dân tộc, là cuộc
biến đổi lớn lao về thi pháp và tư duy thơ, nhất là thể thơ Nhưng cuộc biến đổi của
Thơ mới không phải là một sự thay thế hoàn toàn cái “cũ” bằng cái “mới” Thơ mới
xuất hiện không giống như “chiếc nấm lạ trên cây gia hệ văn học dân tộc” [186, 11]
Những đổi mới của Thơ mới rõ ràng không thể không dựa trên cơ sở tiếp thu có sáng tạo những tinh hoa văn học truyền thống Thơ mới đi vào quỹ đạo hiện đại mà
không thoát li nguồn mạch dân tộc và văn chương nước nhà Vì thế, chúng tôi muốn
gọi Thơ mới là một cuộc cách tân về thể thơ Gọi là “cách tân” bởi vì Thơ mới vừa
mang nội dung đổi mới vừa bao hàm ý nghĩa kế thừa truyền thống
Và quả thật, Thơ mới thực sự là một cuộc cách tân về thể thơ Bước đầu của
cuộc cách tân diễn ra khá rõ nét trong đời sống văn học 30 năm đầu thế kỷ XX.Trong khi chờ đợi một thế hệ trẻ được đào luyện trong các trường Pháp - Việt thựcthi cuộc cách tân thể thơ, thế hệ các nhà thơ trong hai thập kỷ đầu có gắn bó với cáihọc cũ đã tích cực thể nghiệm các thể “thơ ta”, tức thơ truyền thống nhằm cách tânnền thơ ca nói chung Trong giai đoạn văn học giao thời, các thể thơ cũ như là nơithử nghiệm cho các nhà thơ Một cuộc thăm dò, tìm kiếm và thể nghiệm ráo riết tất
cả những gì sẵn có trong kho tàng văn học viết và văn học dân gian dường như đểchọn lấy hay tạo ra những thể thơ tối ưu nhất phục vụ cho việc diễn đạt các cảm xúccủa con người trong kỷ nguyên mới Trong giai đoạn chuyển tiếp này, nổi lên dòngthơ ca của những người hoạt động cách mạng, của các nhà chí sĩ yêu nước, tiêu biểu
như thơ ca của nhóm Đông kinh nghĩa thục, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc
Kháng, Phan Châu Trinh và nổi bật nhất là Phan Bội Châu Sáng tác của họ (thườngđược lưu hành bí mật hoặc nửa công khai) đã có nhiều biến đổi về nội dung tư tưởng,
ý thức hệ Nét nổi bật trong sáng tác của Phan Bội Châu là tinh thần yêu nước thiết
Trang 31tha và sục sôi ý chí đấu tranh cách mạng, “con người đạo lý hy sinh vì dân vì nướcthay thế con người đạo lý trung hiếu của Nho gia” [35, 447] Với nội dung mới, chứcnăng và hình thức thể thơ cũng thay đổi Thế hệ này nhìn ra trong thơ văn chân chínhmột khả năng to lớn, một chức năng quang vinh: giác ngộ nhân dân, tuyên truyền tưtưởng mới, tập hợp lực lượng dân tộc Họ giải thoát thơ ca khỏi chức năng ngâmvịnh, cảm hoài và giao cho nó một trách nhiệm cao quý là phục vụ nhân dân, phục vụđất nước Các thể thơ quen thuộc như thất ngôn ĐL, STLB, LB, phú, văn tế, ca trùvẫn được sử dụng nhưng câu chữ sáng rõ, dễ hiểu, không còn quá gò bó, từ ngữ bớtphần uyên bác, gần với tiếng nói hàng ngày hơn để dễ đi vào quần chúng nhân dân Mặc dù vậy, nhìn chung, thơ ca của các tác giả trên vẫn bị hạn chế nhiều về giá trịnghệ thuật Câu thơ còn chưa được điêu luyện, hàm súc Ngôn ngữ còn nhiều từ cổ,khuôn sáo Nội dung, cảm hứng mới bị khuôn trong những hình thức thể thơ cũ nênkhông tránh khỏi tình trạng bất cập Vai trò của Phan Bội Châu và những người cùng
“chí hướng” sáng tạo như ông trong cuộc canh tân thơ ca đầu thế kỷ chủ yếu được ghinhận ở tính chất tiến bộ của lí tưởng và lòng nhiệt tình cách mạng
Một số hiện tượng thơ xuất hiện trên sách báo công khai từ đầu thế kỷ đếnnhững năm 30 như Nguyễn Ngọc Ẩn, Tương Phố, Đông Hồ, Đoàn Như Khuê, cũng có ý thức thoát li các khuôn sáo của thơ cũ bằng cách làm thơ trữ tình, đemnhững cảm xúc riêng tư, cá nhân gửi vào thơ Thế hệ các nhà thơ này bước đầu thểnghiệm khả năng trữ tình trong việc phô diễn tâm tư vốn giàu nỗi niềm của conngười cá nhân buổi giao thời ở các thể thơ dân tộc Họ viết những bài thơ, bài ca,thể thức dân gian: sa mạc, bồng mạc, hát xẩm, hát điên, những bài LB hay STLB,…song song với những thể thơ CP hoặc luật Đường để thể hiện những nỗi buồn thêlương, dai dẳng, cái buồn có cớ và cả những cái buồn vô cớ - dấu hiệu của cái buồnthành thị lúc bấy giờ Trong dàn hợp xướng đó vẳng lên tiếng của Đông Hồ khóc
vợ, Tương Phố khóc chồng, Đoàn Như Khuê khóc đời,… Nhìn chung, nỗi buồntrong thơ thế hệ tiền lãng mạn này đã khác nỗi buồn trong thơ trước đây nhưng cũngchưa đến mức ảo não, da diết như các nhà thơ lãng mạn sau này Về hình thức, thơ
họ vẫn chưa thể tránh được cách diễn đạt có phần sáo cũ, ước lệ, gọt giũa, lời nhiềuhơn ý, ngôn ngữ cổ, có phần bay bướm Tuy vậy, xét đến cùng, “tác phẩm của họ đã
góp một làn điệu quan trọng cho một nền Thơ mới lãng mạn lấy trời sầu bể thảm
làm cái đẹp theo đuổi” [178, 596]
Trang 32Đến Tản Đà và Trần Tuấn Khải, thơ ca đã đi một bước mới trong hành trìnhcải tiến các thể thơ dân tộc Trong sáng tác của Tản Đà và Trần Tuấn Khải, các thểthơ dân tộc chứa đựng yếu tố mới mẻ trong nội dung xúc cảm cũng như trong hìnhthức thể hiện Đặc biệt nhất là Tản Đà, nhà nho tài tử có tiếp thu văn hóa phươngTây, đã bộc lộ cái tôi cá nhân một cách mạnh mẽ Cái tôi ngông nghênh đa tình củaTản Đà vừa là sự hiện diện của bản ngã cá nhân tài tử, kế tục tinh thần của các thế
hệ như Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn CôngTrứ,… vừa là biểu hiện của một tâm hồn mới và tâm lí thị dân Tản Đà là nhà nhotài tử sống trong xã hội tư sản hóa - “xã hội quá độ diễn ra quá trình thay đổi cácbảng giá trị” [193, 413] Điều này đem lại những nét mới cho sáng tác của Tản Đàđồng thời cũng đặt ra những giới hạn lịch sử, thời đại mà loại hình nhà nho của xãhội cũ không thể vượt qua Chính trong lòng xã hội quá độ, cái tôi bản ngã tài tử cóđất phát triển, đi vào thơ ca, lần đầu tiên đưa đến cho thi đàn một hương vị lạ, mang
đủ mọi sắc thái “thành thật”: đa tình, sầu, buồn, ngông, mộng, say Nó làm xaoxuyến tâm hồn cả một thế hệ thanh niên lúc bấy giờ đang thẹn thùng, e ấp, khaokhát yêu đương, khao khát được sống mạnh dạn với chính mình, sống hết mình Cáitôi của Tản Đà là sự hiện diện và khẳng định của cá nhân - những nhu cầu của tinh
thần con người thời hiện đại, chuẩn bị hành trang quan trọng cho sự ra đời của Thơ
mới Thơ Tản Đà, Trần Tuấn Khải cũng có nhiều đóng góp về hình thức, thể thơ.
Công lớn nhất của Tản Đà là đã “chuyển các thể loại phi chính đạo vào trung tâmvăn học, thị dân hóa các thể loại văn học truyền thống” [35, 487-488] Tản Đà kếthừa tất cả thể thơ cổ điển và thơ ca dân gian dân tộc (từ thơ ĐL, hành, từ khúc, HN,
LB, STLB đến phong dao, hát xẩm), sáng tạo nên những lối viết thơ luật riêng (lộng
hoàn, ô thước kiều, thu thủy) Ngòi bút Tản Đà đã thoát khỏi sự gò bó của thơ ca
cách luật, sử dụng chúng một cách phóng túng, tài hoa, khiến lời thơ trở nên hồnnhiên, biến hóa sinh động, như tiếng nói bật lên từ rung cảm đáy lòng Trong thơTản Đà, những làn điệu từ khúc và làn điệu thơ ca dân tộc luôn có sự kết hợp linhhoạt uyển chuyển, cấu trúc của những câu ca dao truyền thống bị phá vỡ, câu thơngâm bị dịch chuyển sang câu thơ nói Ngay như thơ thất ngôn vốn rất nghiêmtrang cũng trở nên xộc xệch, buông thả, mất đi cái âm điệu khuôn thước, trở thành
lời nói ngang ngang, khác lạ dưới ngòi bút của Tản Đà: Chơi lâu nhớ quê về thăm
nhà/ Đường xa người vắng bóng chiều tà (Thăm mả cũ bên đường) Cùng với Tản
Đà, thơ Trần Tuấn Khải nghiêng về cảm hứng yêu nước thương nòi nên có những
Trang 33sáng tạo thành công ở những bài hát theo lối dân tộc, đại chúng Ông có thơ tứtuyệt, bát cú, thơ trường thiên, văn tế, ca trù, hành văn, cổ bản, nam ai hay nhữngbài LB biến thể thường kéo dài ngân nga, thêm từ ngữ và những ý tứ rất linh hoạt,
biểu hiện sinh động, cụ thể tâm trạng nhân vật trữ tình (Gánh nước đêm, Mong anh
Khóa), v.v Như vậy, so với Phan Bội Châu, Đông Hồ, Tương Phố, Tản Đà đã có
những cố gắng vượt bậc làm giàu cho thơ ca dân tộc, chuẩn bị cả về nội dung và
nghệ thuật cho Thơ mới ra đời Điều này cho thấy Tản Đà là người có ý thức cách
tân thể thơ sâu sắc nhất ở giai đoạn này Song, Tản Đà cũng như thế hệ tiền lãngmạn, cũng chỉ dừng lại với một “khối mâu thuẫn lớn” giữa hai hệ tư tưởng cũ vàmới (phong kiến và tư sản) chưa được giải tỏa Tản Đà, tuy trong điều kiện cuộcsống tư sản, đã xích lại gần sát các nhà thơ mới, nhưng vẫn không trút bỏ được “lốt
y phục, lốt tư tưởng” của mẫu hình nhà nho Những vần thơ của Tản Đà hay TrầnTuấn Khải chỉ là dấu hiệu của sự đổi thay hơn là bản thân một sự đổi thay HoàiThanh rất tinh ý khi đặt Tản Đà vào vị trí người “dạo những bản đàn mở đầu chomột cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [175, 12]
Ở một phía khác, lúc bấy giờ, người đọc đã thấy cái lạ về tiết tấu, nhịp điệu,
vần ở tập Thơ buông của Lê Khánh Đồng, ở bài thơ của Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ
La Fontaine: Con ve và cái kiến mà theo Hoài Thanh là dấu hiệu báo trước “cái thời
vận luật Đường đã cực kỳ suy vi” [175, 19] Thơ dịch phương Tây trong giai đoạnnày chủ yếu là thơ Pháp Thơ Pháp được giới thiệu trên báo chí Việt Nam, sớm nhất
là bài Con ve và cái kiến của La Fontaine, năm 1907, in trên Đăng cổ tùng báo.
Trần Nho Thìn cho biết: thoạt đầu ông Vĩnh đã chuyển dịch sang thể LB, là lối thơtruyền thống của Việt Nam Đến năm 1914, ông dịch lại, theo đúng điệu Tây, vần
Tây, đăng trên Đông Dương tạp chí Hẳn là Nguyễn Văn Vĩnh muốn giới thiệu một
lối thơ của phương Tây với quốc dân đồng bào Nhưng một thử nghiệm táo bạo củaông Vĩnh như vậy dường như quá sớm trong khi tất cả đều quen với lối thơ niêmluật chặt chẽ, cách hiệp vần cũ nên không được chú ý, trở thành đơn độc, bị lãng
quên để mãi mười bốn năm sau, Trung Bắc tân văn cho in lại, năm 1928, trong một
không khí văn hóa dường như chín muồi hơn nên được chú ý hơn Một lối thơ kháchẳn của một nền văn minh khác hẳn Âm điệu thơ là lạ, vần chân liền hoặc cáchquãng, với số chữ so le Bản dịch bám rất sát nguyên bản, cả từ và điệu Triết límạnh mẽ của con người cá nhân kiểu phương Tây cũng được kín đáo truyền tải:
“Câu chuyện về con ve không chăm lo cho cuộc sống, ca hát suốt mùa hè đến mùa
Trang 34đông phải đi vay ăn mà không được kiến cho vay không chỉ đơn giản phê phán kẻlười biếng mà còn bao hàm triết lí sâu xa về sự tự quyết định số phận của bản thân,con người chỉ có thể dựa trước hết vào bản thân mình” [178, 644-645] Phải chăng,những mầm mống ấy đã âm thầm khơi mạch và mở lối đi cho sự du nhập nhữngkiểu vần chân, vần liền, ôm nhau, gián cách, nhịp điệu tự do, câu “thơ buông”, dài,
ngắn với đủ kiểu dáng leo thang, trùng điệp,… sau này sẽ hiện diện trong Thơ mới?
Vào những năm 20, thơ dịch có phong phú, đa dạng hơn, bắt đầu giới thiệu nhiềubài thơ có hình tượng con người cá nhân phương Tây rõ nét hơn là thơ ngụ ngôn
Đã thấy xuất hiện những tên tuổi sẽ được các nhà thơ mới sau này tôn sùng nhưLamartine, Hugo, Musset, Ronsard, Baudelaire, Verlaine… Dòng thơ dịch, kể từNguyễn Văn Vĩnh đã báo hiệu và góp phần chuẩn bị cho một cuộc cách tân thể thơtheo hướng hiện đại hóa, Âu hóa đang trở thành hiện thực Một thế hệ trí thức trẻtuổi chịu ảnh hưởng của thi ca Pháp đang chuẩn bị bước vào thi đàn Theo Phan
Cự Đệ, “những tìm tòi nghệ thuật kiểu Tản Đà một phía, kiểu Lê Khánh Đồng ởmột phía khác, hướng sự khai thác những thành tựu nghệ thuật của chỉ văn họcphương Đông hoặc chỉ văn học phương Tây, đều không mang lại sự đổi mới có tínhchất nguyên tắc thơ Việt Nam” [36, 239] Thực tế này cho thấy, để thực thi cuộccách tân thơ ca, văn học cần phải có những tiếp bước từ truyền thống (như Tản Đà)đồng thời không thể thiếu những tiếp nhận, học hỏi từ thơ ca hiện đại Âu Tây Mặtkhác, vai trò cách tân không thể đặt lên vai thế hệ nhà nho vẫn chịu sự quy định của
hệ tư tưởng cũ, dù là nhà nho cách tân Trọng trách đó thuộc về thế hệ các trí thứcTây học trẻ tuổi đã thoát khỏi ràng buộc của Nho giáo, mang tư tưởng, tình cảm vàquan điểm thẩm mỹ mới Rõ ràng, thơ ca giai đoạn giao thời mới chỉ là những nỗlực bước đầu từ hệ thống thể thơ cũ chuyển sang hệ thống thể thơ mới, nó có ýnghĩa thăm dò, mở đường chuẩn bị cho sự ra đời của những hình thức thơ mới mẻ
hơn sẽ đến trong cuộc cách tân thể thơ của phong trào Thơ mới ở những năm 30 thế
kỷ XX Toàn bộ thơ ca công khai thời kỳ này đang như chờ đợi sự xuất hiện nhữngcái gì thật mới mẻ
Nhận thức được điều này, ngày 10 tháng 3 năm 1932, Phan Khôi với bài thơ
Tình già đã “trình chánh giữa làng thơ” một lối thơ “mới” với những câu thơ dài
ngắn khác nhau, mở đầu cho cuộc cách tân mạnh mẽ về thể thơ của thơ ca ViệtNam Từ đây, vượt thoát khỏi khuôn vàng thước ngọc, sáo mòn, cứng nhắc của thơluật Đường, các nhà thơ mới đã tìm tòi cho mình những thể thức sáng tạo riêng
Trang 35thích hợp diễn tả những điệu hồn phong phú và tinh tế của thời đại mới Có thể tìm
gặp trong Thơ mới khá nhiều thể thơ với những hình thức diễn đạt khác nhau Đó là
những thể thơ có nguồn gốc dân tộc, dân gian và bác học như thể LB, STLB, 8 chữ;hay các thể thơ du nhập đã trở thành truyền thống như thể hành, thất ngôn, ngũngôn và tứ tuyệt ĐL, nhưng dòng thơ, câu thơ đã khác; tức là đã sáng tạo, nângcao phù hợp với “dòng cảm xúc” Bên cạnh việc tân tạo những hình thức thơ truyền
thống, Thơ mới còn đặc biệt chú ý vận dụng hình thức thơ Pháp - thơ tự do, sản
phẩm độc đáo của trường phái thơ tượng trưng, để làm giàu hệ thống thể thơ Cáccâu thơ được kéo dãn tới 9 chữ, thậm chí là 12 chữ như dạng thơ của Alexandrin
(Viếng mồ lữ khách - Mộng Sơn) Mặc dù chịu ảnh hưởng của thơ ca nước ngoài nhưng Thơ mới đã học tập một cách có sáng tạo để “hồn thơ Pháp hễ chuyển được
vào thơ Việt Nam là đã Việt hoá hoàn toàn” [93, 33] Điều đáng nói là các nhà thơ
đã biết sử dụng các yếu tố dân tộc, truyền thống như là chỗ dựa để phát triển, sángtạo nên những vần thơ có giá trị, tạo nên cuộc cách tân thể thơ lớn nhất trong thơ ca
nửa đầu thế kỷ XX Thơ mới đã thực hiện cuộc cách tân thể thơ ấy trên cả hai hệ
thống: hệ thống thể thơ thuần Việt và hệ thống thể thơ du nhập Hai hệ thống thể
thơ này bổ sung cho nhau tạo nên diện mạo đặc sắc cho Thơ mới.
2.1.2.2 Hệ thống thể thơ của Thơ mới 1932 - 1945
Thể loại văn học (genre littéraire) là một trong những phạm trù cơ bản nhất
của sáng tác và tiếp nhận (bao hàm cả nghiên cứu, phê bình, giảng dạy) văn học Lýluận văn học căn cứ vào các yếu tố ổn định của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ mà
chia tác phẩm thành các loại và thể (khái niệm loại rộng hơn thể, thể nằm trong
loại) Bất kỳ một sáng tác văn học nào cũng đều thuộc về một loại dưới dạng một thể nhất định nào đó Thời Hy Lạp cổ đại khái niệm loại văn học đã được phát biểu
qua các tác phẩm tiêu biểu của Platon (427 - 347 tr.CN) và đặc biệt của Aristotle(384 - 322 tr.CN) Aristotle chia tác phẩm văn học thành ba loại theo ba phương
thức “mô phỏng” (chữ mô phỏng - tiếng Hy Lạp mimesis cần được hiểu với ý nghĩa
tích cực, có tính chất sáng tạo) Phương thức một: “Có thể mô phỏng bằng cùng mộtphương tiện và cùng một đối tượng bằng cách kể về một sự kiện như về một cái gìtách biệt với mình” Phương thức hai: “Người mô phỏng tự nói về mình mà khôngthay đổi ngôi xưng” Phương thức ba: “Trình bày tất cả các nhân vật được mô tảtrong hành động” Ông cũng xác định rõ “bất kỳ sự mô phỏng nào cũng bao gồmtrong ba điểm khác biệt đó” [1, 21-25] Ba loại hay ba phương thức cơ bản của văn
Trang 36học (tự sự, trữ tình, kịch) được Aristotle phân định cách đây 23 thế kỷ đến nay vẫncòn nguyên ý nghĩa khoa học, trở thành cơ sở cho việc phân loại loại thể tác phẩmvăn học Quan niệm của lý luận truyền thống và lý luận hiện đại về cơ bản là thốngnhất trong xác định các phương thức chiếm lĩnh đời sống của văn học xoay quanh các
phạm trù loại trữ tình, tự sự, kịch Mỗi loại trên bao gồm nhiều thể Tuy nhiên, khái niệm thể lại tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Lý luận văn học Trung Quốc quan niệm thể loại (hay thể, thể tài) “trỏ một loại tác phẩm văn học cụ thể biểu đạt một nội dung nhất định nào đó” [56, 49] Trần Đình Sử trong công trình Lí luận văn học cho biết thêm: “Thể loại tiếng Trung Quốc gọi là thể tài (với ý nghĩa là “lượng thể tài y”,
nghĩa là đo thân thể mà cắt vải may áo), chỉ hình thức cụ thể, thông thường được xem
là thể hay kiểu, dạng của loại văn học” [156, 245] Từ điển thuật ngữ văn học [60] cũng xác định rõ: thể loại (hay thể, thể tài) chỉ dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác
phẩm văn học, đấy là các dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành những hình thức nghệthuật riêng biệt, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểmcủa các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ củanhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy Trong quá trình sáng tác, “các nhà vănthường sử dụng các phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện nhữngquan hệ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực, có những cách xây dựng hình tượngkhác nhau Các phương thức ấy với những hình thức hoạt động khác nhau của conngười - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về cácloại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Đó
là cơ sở khách quan của sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây
dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học” [58, 203] Thể loại mang đặc trưng của
loại Các thể không cùng loại dĩ nhiên là khác nhau, nhưng các thể cùng loại vẫn
khác nhau sâu sắc, thể hiện trên nhiều phương diện: hình thức lời văn (thơ, văn xuôi),dung lượng ngôn từ (truyện ngắn, truyện dài), nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch,thơ ca ngợi, thơ trào phúng, ), đề tài, chủ đề (thơ tình, thơ điền viên, thơ vịnh sử,truyện tâm lý xã hội, truyện lịch sử, truyện phong tục, ) Rõ ràng, thể loại văn họcmang trong mình nó sự thống nhất giữa một loại nội dung với một dạng hình thứcvăn bản và phương thức chiếm lĩnh đời sống
Một số nhà nghiên cứu Việt Nam lại muốn tiến đến một sự phân loại cặn kẽ
hơn khi phân biệt các khái niệm thể loại, thể tài và thể Theo đó, thể loại là phạm
Trang 37trù rộng, trong đó bao hàm các thể (tiểu thể) Ví dụ: thể loại thơ, thể loại văn xuôi,
v.v ; trong các thể loại này lại có các thể nhỏ hơn, như các thể thơ (thể thơ LB, thểthơ STLB, thể thơ ĐL, ), các thể văn xuôi (thể truyện ngắn, thể tiểu thuyết, thể
ký, ) Còn thể tài là khái niệm chỉ nhóm các tác phẩm thuộc cùng một loại hình
thức ngôn từ gọi tên một đề tài nhất định nào đó Ví dụ: thể tài truyện trinh thám,thể tài tiểu thuyết lịch sử, v.v Những nội hàm mới của các khái niệm này, suy chocùng, là một mong muốn hợp lí của các nhà nghiên cứu khi tìm cách phân loạitường minh các khái niệm cũng như bổ sung thêm những nét nghĩa mới cho chúng.Tuy nhiên, không nên lí giải một chiều để tránh ngộ nhận Người ta có thể phân loạitác phẩm, nhưng không thể phân chia tác phẩm ra thể vì thể có trước mọi sự phânchia Mặt khác, cho đến nay cách hiểu này vẫn chưa được minh định rõ ràng và giữa
các khuynh hướng nhận diện về khái niệm thể loại, thể tài, thể vẫn chưa có một sự
ngã ngũ nào Hơn nữa, xét tương quan giữa hai khuynh hướng vừa nêu thì khuynh
hướng nhận diện khái niệm thể loại của lý luận văn học đã tồn tại và được thừa
nhận rộng rãi từ lâu trong giới nghiên cứu, thậm chí đã trở thành một tập quán, một
thói quen (Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại - Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức [124]; Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát - Phan Ngọc [115]; Khảo và luận
một số tác gia, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam - Bùi Duy Tân [160]; Lục bát
và song thất lục bát (lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại) - Phan Diễm Phương
[139]; Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học - Nguyễn Đức Mậu [110]; Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ sự vận động thể loại - Hoàng Sĩ Nguyên [121]; v.v…) Vì vậy, ở đây chúng tôi lựa chọn cách hiểu thể loại (hay thể, thể tài) với ý nghĩa là thể của loại Và trong trường hợp này khái niệm thể loại được hiểu là thể
thơ Tên gọi “hệ thống thể loại truyền thống” ở đây được chấp nhận như một quy
ước là “hệ thống thể thơ truyền thống trong Thơ mới”.
Các thể loại văn học “là những phạm trù lịch sử Nó chỉ xuất hiện vào mộtgiai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế”(D.Likhachov, dẫn theo [60, 204]) Do đó, thể loại văn học luôn vừa mới, vừa cũ,vừa biến đổi, vừa ổn định Thể loại văn học mang đặc điểm thời đại, đặc điểm dântộc Nó là “siêu cá thể” nhưng vẫn mang đặc điểm cá tính nhà văn, là nơi thể hiện rõ
nhất đặc trưng của loại hình văn học Có thể thấy rõ những điều này ở Thơ mới.
Hệ thống thể thơ của Thơ mới được định lượng cụ thể trong các bảng thống
kê ở phần Phụ lục Việc thống kê thể thơ của Thơ mới trong cùng một phạm vi tư
Trang 38liệu nêu ở phần Mở đầu đã có một số công trình nghiên cứu thực hiện Tuy nhiên,
kết quả thống kê giữa các công trình nghiên cứu này có sự chênh lệch nhau, thậmchí có những số liệu không chính xác Sai khác này có nhiều nguyên nhân mà quan
trọng nhất có lẽ là do tiêu chí phân loại thể thơ của người nghiên cứu Thơ mới có
sự tham gia đông đảo nhiều thể thơ, trong đó có những thể xác định được rõ ràng(LB, STLB, ĐL, ), có những thể khó xác định do hiện tượng giao thoa, cộng sinhgiữa các thể xảy ra phổ biến Các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng pha trộn từ nhiềunguồn văn hóa Đông Tây, kim cổ và đã thí nghiệm kết hợp các thể thơ trong sự ảnhhưởng đó Những thí nghiệm táo bạo này làm mờ đường biên ranh giới các thể thơvốn có và nảy sinh những hiện tượng thể thơ mới Ví dụ: có tác phẩm phần nhiều
mang đặc trưng thể 8 chữ nhưng có sự tham gia một vài câu thuộc thể khác (Vội
vàng - Xuân Diệu) Vậy nên gọi là thể 8 chữ hay hợp thể?; một số tác phẩm mang
khuôn hình 4 câu 7 chữ (Em lấy chồng, Một nửa trăng - Hàn Mặc Tử), 8 câu 7 chữ (Bữa cơm quê - Đoàn Văn Cừ) nhưng mang thi pháp hoàn toàn hiện đại thì nên xếp
vào thể thất ngôn tứ tuyệt / bát cú ĐL hay thể 7 chữ hiện đại? Với tình hình này,những tiêu chí phân loại khác nhau sẽ cho những kết quả thống kê không giốngnhau Vì vậy, việc phân chia thể thơ ở đây chỉ mang tính tương đối Xét riêng các
thể thơ truyền thống, một số thể đi vào Thơ mới quá ít (HN, từ khúc, phú, văn tế)
khiến các tác giả không lưu tâm và bỏ qua, hoặc đặt nó trong những thể khác Khắcphục những hạn chế trên, lấy đặc trưng thể thơ (chức năng, nội dung, thi pháp) làmtiêu chí khoa học, chúng tôi đưa ra một hệ thống phân loại mới cố gắng với cái nhìnchính xác, khoa học, từng bước rút ngắn những sai số Trong quá trình phân tích,
luận giải, chúng tôi lấy số liệu thống kê từ tuyển tập Thơ mới 1932 - 1945, tác giả
và tác phẩm [128] (bảng 1, Phụ lục) làm căn cứ chính, vì đây là công trình tập hợp
đầy đủ, nghiêm túc nhất về Thơ mới hiện nay trên cơ sở nhiều văn bản gốc mới, đáng tin cậy Các tuyển tập Thi nhân Việt Nam [175], 15 tuyển thơ tiêu biểu cho
Thơ mới của Nxb Hội Nhà văn [129], tác giả, tác phẩm Thơ mới không phong phú
bằng Cuốn Việt Nam thi nhân tiền chiến [98] phạm vi khá rộng, bao gồm cả những tác giả, tác phẩm không thuộc Thơ mới, hoặc được sáng tác trước hoặc sau Thơ mới.
Số liệu từ các công trình này chỉ dùng để tham khảo, đối chiếu
Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy hệ thống thể thơ mà phong trào Thơ mới
sử dụng để sáng tác hết sức đa dạng, phong phú; chủ yếu quy tụ vào hai hệ thống
lớn là: hệ thống thể thơ thuần Việt và hệ thống thể thơ du nhập Trong đó, phổ biến
Trang 39nhất là các thể 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, LB, hợp thể và tự do Thể 5 chữ được khá nhiềunhà thơ sử dụng (5,6%) Thể 7 chữ phát triển mạnh nhất, đạt đỉnh về số lượng: 340bài (31,72%) Hai thể thơ 5 chữ và 7 chữ vừa có nét gần gũi với thơ ngũ ngôn vàthất ngôn CP, vừa phỏng dáng ngũ ngôn và thất ngôn ĐL, nhưng mềm mại hơn ởthanh điệu, ưa vần bằng hơn vần trắc, nhiều bài kết hợp hình thức chia khổ của thơphương Tây Thể 8 chữ đặc trưng bởi nhịp điệu uyển chuyển, số câu không hạnđịnh, cách hiệp vần rộng rãi và khả năng biểu hiện hết sức sinh động Đây là sángtạo của các nhà thơ mới trên cơ sở khai thác và kế thừa hình thức HN của thơ ca dântộc Thể LB vẫn tiếp tục phát triển, ghi dấu bằng những sáng tác có giá trị, vừamang dáng dấp ca dao, vừa mang những nhân tố mới của cấu tứ thơ ca thời hiện đại.STLB ít được dùng Thể 4 chữ, trước thường dùng trong các bài vè, nói lối, nayđược sử dụng trong nhiều sáng tác có giá trị nghệ thuật Các thể thơ cũ du nhập từTrung Hoa như thể hành, tứ tuyệt (thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt) và bát cú
ĐL (thất ngôn bát cú và ngũ ngôn bát cú) ít được chú ý “Thơ mới đã triệt hạ vai trò
chủ soái của thể thất ngôn bát cú và tấn công vào mọi quy tắc ràng buộc về niêm,
luật, kết cấu, đối của thơ cũ” [124, 120] Các thể Thơ mới không còn bị ràng buộc
bởi thi luật, câu, chữ, vần, điệu; trở nên phóng khoáng, tự do, thanh thoát hơn Một
số bài làm theo thể kịch thơ và số ít bài thơ văn xuôi xuất hiện, gây sự chú ý củangười đọc Các sáng tác kịch thơ tương đối dài Hình thức phân vai và đối thoạigiúp cho ý thơ đi xa hơn, đỡ đơn điệu hơn Thơ văn xuôi là một thử nghiệm táo bạocủa các nhà thơ mới Một số ý kiến cho rằng bóng dáng của thơ văn xuôi đã có thểtìm thấy từ thơ Đông Hồ, Tương Phố, thậm chí xa hơn trong văn học trung đại ở các
thể văn vần như phú, văn tế, các loại biền văn như hịch, cáo Tuy nhiên, đến Thơ
mới, cùng với thơ tự do, thơ văn xuôi mới được xem là một thể có diện mạo hoàn
chỉnh, có tên rõ ràng Đáng chú ý nhất là sự ra đời và phát triển khá mạnh của hìnhthức hợp thể và tự do Hình thức hợp thể là sự kết hợp linh hoạt những dòng thơ và
khổ thơ thuộc các thể thơ khác nhau trong cùng một bài (Hồ Dzếnh trong bài Phong
Châu đã dùng thể 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ cho những khổ thơ đầu và thể LB cho những
khổ thơ sau) Hình thức hợp thể “chỉ là một dạng thức trên đường đi đến thơ tự do.Bản thân nó không tự xác định đầy đủ tư cách của một thể thơ độc lập và ổn định ”[124, 121] Còn thơ tự do hiểu đúng nghĩa là loại thơ không tuân theo quy tắc nào
cả như các thể thơ cách luật Số câu không hạn định, số chữ nhiều ít không đều,ngắt nhịp linh hoạt, vần có thể gieo vần trắc hoặc vần bằng, có thể gieo vần lưng,
Trang 40vần chân, vần liền, vần gián cách, vần hỗn hợp hoặc không có vần nào cả Thực tế,nhiều bài từ khúc của Tản Đà đã có dáng dấp, cách điệu tự do nhưng chưa vươn lênđược một hình thức thơ ổn định Thơ tự do chính thức được khởi phát từ phong trào
Thơ mới và phát triển mạnh trong dòng thơ ca cách mạng sau 1945, nhất là những
năm đầu kháng chiến Cùng với thể 8 chữ, thơ tự do là thể thơ của loại hình thơ hiện
đại, giàu tính sáng tạo của các nhà thơ mới Trong Thơ mới có những câu thơ dài
ngắn đan xen và không hiệp vần theo quy củ hợp thành bài thơ, có khi là những câu
dài câu ngắn khoảng 2, 3, 4 chữ (Thi vị - Bích Khê) Khoảng 8 đến 10, 11, 12 chữ
(thơ Nguyễn Vĩ, Mộng Sơn); thậm chí 15, 16 chữ (thơ Nguyễn Thị Manh Manh); cókhi là những bài thơ mang hình thức lạ, tạo ấn tượng thị giác mạnh mẽ: hình nón,
hình giọt nước, hình cánh chim bay, v.v Tóm lại, Thơ mới đã kế thừa và phát triển
các thể thơ cổ truyền dân tộc, tân tạo các thể thơ du nhập, đồng thời sáng tạo nênnhững hình thức thể thơ mới thích hợp biểu hiện dòng cảm xúc mới của thời đại
2.2 Vị thế của các thể truyền thống trong “bảng” thể thơ của Thơ mới 2.2.1 Một vài giới thuyết về thể thơ truyền thống trong Thơ mới
Tên gọi khoa học chính xác, đầy đủ của luận án là: Hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới 1932 -1945 Từ góc nhìn loại hình - thể loại trong tương quan
truyền thống và hiện đại có thể phân xuất thể thơ của Thơ mới thành hai hệ thống lớn: hệ thống thể thơ truyền thống và hệ thống thể thơ hiện đại (ở từng hệ thống đều
bao hàm cả hai loại du nhập và thuần Việt) Vì vậy, đầu tiên, cần phải xác định vàthống nhất nội hàm cho các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài trước khi đi vàovấn đề nghiên cứu, bao gồm: khái niệm “thể thơ truyền thống”, “thể thơ truyềnthống du nhập (ngoại nhập) / vay mượn”, “thể thơ truyền thống nội sinh / thuầnViệt”; đồng thời lựa chọn định danh (tên gọi) cho từng hệ thống thể thơ
Một nền thơ nói riêng, nền văn học nói chung của một dân tộc bao giờ cũng
có hệ thống thể loại truyền thống của nó Chữ truyền thống ở đây vừa nhằm chỉ giớihạn thời gian (trước 1932), vừa nhằm chỉ tính ổn định vững bền của cả một hệthống thể loại trong nền thơ dân tộc Hệ thống thể loại truyền thống ở đây trỏ hệ
thống thể loại (thể thơ) trước Thơ mới 1932 – 1945, bao hàm cả hai hệ thống: hệ
thống các thể loại du nhập / ngoại nhập (hay vay mượn) và hệ thống các thể loại nộisinh (dân tộc hay thuần Việt) Hai hệ thống trong hệ thống các thể thơ truyền thống
đã có một quá trình tồn tại, vận động, và phát triển lâu dài