Lưu ý điều thiếu sót Thể hiện ở việc NTV nhận ra được những thông tin mập mờ chưa đầy đủ, thông tin bị mâu thuẫn, những ý nghĩ tiềm ẩn, những khoảng ngừng trong câu nói, những chỗ thiếu
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN : TÂM LÝ HỌC THAM VẤN
NHÓM NGHIỆP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
KHOA GIÁO DỤC NGÀNH TÂM LÝ HỌC
KỸ NĂNG THAM VẤN TÂM LÝ
1 Kỹ năng lắng nghe
Thể hiện ở việc NTV phải biết điều chỉnh bản thân, dừng nói, dừng suy, tập trung vào các từ ngữ mà TC đang nói mà không xem xét các mối quan hệ khác
* Lắng nghe sẽ kém hiệu quả khi:
NTV không kiên nhẫn chờ đợi người nói
Thông tin TC đưa ra quá nhiều và gây nhiễu cho sự tập trung lắng nghe ở NTV
NTV đang bận tâm đến chuyện khác
NTV cho rằng những điều đang nghe không có giá trị
NTV vội vàng rút ra kết luận vì cho rằng mình đã rõ nan đề của TC
NTV có thành kiến từ trước
NTV thiếu đồng cảm
NTV có thái độ tiêu cực đến TC và nan đề của họ
NTV bị phân tán do ngoại cảnh như tiếng ồn, nhiệt độ,
Cách nói chuyện kém của TC
* Các yếu tố của sự lắng nghe :
NTV hòa nhập với ngôn ngữ cơ thể của thân chủ (sự đáp ứng không lời)
Thể hiện ở tư thế, hành vi giống TC Gật đầu khi công nhận điều TC nói hoặc bày tỏ nét mạnh phù hợp với tâm trạng TC Hòa nhịp tốc độ nói và giọng nói của TC
→ Ảnh hưởng lớn đến việc NTV bày tỏ sự thấu hiểu, đặc biệt là hòa nhịp tốc độ nói và giọng
nói của TC Thông thường NTV chỉ tập trung vào “công thức” để nói sao cho đúng mà không để ý tốc độ và giọng nói của mình dẫn đến cho dù NTV nói đúng nhưng TC vẫn không có cảm giác được thấu hiểu
- Sử dụng câu trả lời tối thiểu
Sẽ xảy ra khi NTV lắng nghe nhiều hơn nói Câu trả lời tối thiểu như : gật đầu, “a ha”,
“phải”, “được”, “điều đó đúng”, “ừ”, “à”, “vâng, tôi đang nghe anh nói”, “tiếp tục đi”…
→ TC cảm thấy mình đang được chú ý, quan tâm, vì vậy họ sẽ muốn nói nhiều hơn, họ sẽ sợ
nói bỏ sót hoặc nói không hết khiến NTV không hiểu được họ
Không nên biểu lộ quá lộ liễu sự tán thưởng hay không tán thưởng (thái độ) như “ối”, “chà”,
“thật kinh khủng”, sẽ làm TC phán đoán về thái độ của NTV từ đó có thể ngăn cản, chuyển cảm
Trang 2xúc , hoặc bóp méo thông tin từ phía TC do sợ không được sự tán thưởng của NTV Sử dụng quá nhiều, thường xuyên sẽ gây sao lãng, xâm phạm mối quan hệ thân chủ trọng tâm
Nhấn mạnh
Thể hiện ở việc nhấn lại từ chốt, sử dụng các biểu hiện của hành vi phi ngôn ngữ như: gật đầu, dướn mắt, sử dụng cường độ, nhịp độ giọng nói,…
→ Được sử dụng như KN phản hồi của TV Giúp TC tăng cường và lưu ý những thông tin
vừa nói Khuyến khích TC tiếp tục câu chuyện, thể hiện sự ủng hộ, nhiệt tình của NTV trong cuộc đàm thoại mà không có gợi ý hay dẫn dắt gì từ phía NTV
Sử dụng phản hồi
Thể hiện ở việc NTV phản ánh lại những gì mình cảm nhận cũng như TC cảm nhận để TC có khoảng thời gian yên lặng để xem xét những gì mình đang nói ra như “dường như bạn đang cảm thấy…”, “cứ như điều bạn đang mô tả thì ai trong tình cảnh này cũng cảm thấy não lòng”, “bạn lo lắng khi thấy con mình say sưa với trò điện tử hơn là học”
→ TC thấy được NTV đã cảm thấy như thế nào về điều họ nói, qua đó TC đánh giá và kiềm
chế cảm xúc của họ Thể hiện sự lắng nghe tích cực, chủ động của NTV Giúp TC ý thức hơn về sự hiện hữu các vấn đề trong bản thân họ một cách tốt hơn
Lưu ý điều thiếu sót
Thể hiện ở việc NTV nhận ra được những thông tin mập mờ chưa đầy đủ, thông tin bị mâu thuẫn, những ý nghĩ tiềm ẩn, những khoảng ngừng trong câu nói, những chỗ thiếu logic trong câu chuyện, sự thở dài, nói lạc chủ đề, tư thế bồn chồn, cựa người liên tục hay những động tác thừa khi đang trò chuyện Hoặc có thể nhận biết qua các cơ chế phòng vệ mà TC đang sử dụng một cách vô thức khi lo âu, căng thẳng
→ Giúp cho NTV, TC (quan trọng) sáng tỏ, thấu hiểu vấn đề.
Tóm tắt, tóm lược
Thể hiện ở việc NTV tóm tắt, gom lại những điểm chính trong nội dung câu chuyện của TC cũng như kiểm lại những cảm xúc mà TC đã mô tả như “những ý chính mà bạn đã nêu ra là…”,
“nếu tôi không hiểu sai thì bạn nhìn nhận vấn đề này là…”
→ Tóm tắt toàn bộ câu chuyện của TC vào một trọng tâm, từ đó tạo đà thảo luận những khía
của vấn đề TC đang rối bời các cảm xúc sẽ dễ bị lẫn lộn các chi tiết khách quan với cảm nghĩ, kinh nghiệm chủ quan của bản thân, sự tóm tắt sẽ làm sáng tỏ điều mà TC nói và đặt thông tin vào trình tự của nó để TC có một hình ảnh rõ rệt và tập trung tốt hơn, có thể sẽ tự tìm ra những giải pháp cho vấn đề của mình
2 Kỹ năng đặt câu hỏi
Hỏi trong TV không chỉ khai thác những thông tin bề nổi có liên quan đến sự kiện của TC,
mà qua đó làm toát lên những thông tin được ẩn chứa đằng sau sự kiện đó
Các loại câu hỏi : Bất kể mục đích gì thì các dạng câu hỏi cuối cùng cũng chỉ có thể là câu hỏi đóng hoặc mở; trực tiếp hay gián tiếp
Câu hỏi đóng
Trang 3Giới hạn câu trả lời của TC Đưa đến câu trả lời cụ thể, đơn giản, ngắn : “có” hoặc “không” Bắt đầu từ những từ “đã”, “có thể”, “sẽ”, “có phải”,…
→ Kiểm tra thông tin vì phương án trả lời ở dạng câu hỏi đóng đã được NTV dự đoán trước.
Hạn chế tối đa loại câu hỏi này vì dù ít hay nhiều TC cũng bị dẫn dắt bởi nhận thức, thái độ của NTV, tạo ra câu trả lời không khách quan, chạy theo lối suy luận của NTV mà không theo logic của sự việc cũng như của TC
Câu hỏi mở
Đòi hỏi TC trả lời theo nhiều cách khác nhau, khuyến khích TC nói nhiều hơn Bắt đầu với các từ “thế nào”, “khi nào”, “ai”, “cái gì”,… và đạt được những câu trả lời miêu tả
→ Cho phép NTV khai thác vấn đề ở mức độ sâu hơn Giúp NTV nhìn vấn đề một cách
khách quan, tránh hướng theo quan điểm chủ quan của bản thân và dẫn dắt TC theo hướng quan điểm đó Phù hợp với giai đoạn tìm hiểu vấn đề và lựa chọn giải pháp hành động
Câu hỏi trực tiếp – gián tiếp
Một câu hỏi gián tiếp sẽ đem lại cuộc trò chuyện cởi mở hơn như “chắc ông phải có rất nhiều cảm xúc liên quan đến việc bỏ đi của vợ ông?” thay vì “khi vợ ông bỏ ông bỏ đi, cảm xúc nào chế ngự trong con người ông?” Hay “điều gì khiến vợ ông bỏ đi?” thay vì “ông đã xử sự thế nào khiến
vợ ông bỏ đi?”
Câu hỏi tìm thông tin chung
Thông tin mào đầu của cuộc gặp gỡ đầu tiên như “cô nghĩ điệu nhảy HipHop thường dành cho nam giới, thế điều gì khiến cháu say mê học điệu nhảy này?”
→ Dễ dàng khơi thông tin câu chuyện NTV có cái nhìn chung về TC.
Tránh hỏi quá nhiều dẫn đến buổi TV trở thành một câu chuyện phiếm, thiếu mục đích và TC không còn là trọng tâm của cuộc TV
- Câu hỏi hướng về mục đích
Khuyến khích TC tìm kiếm giải pháp để cải thiện thực trạng như “tóm lại anh muốn chị xử sự với anh như thế nào?” , “sau việc hiểu lầm này chị định giải quyết như thế nào?”
→ Buộc TC phải tư duy cụ thể, trực tiếp vào vấn đề, giúp TC nhìn vấn đề của mình rõ ràng
hơn
Câu hỏi về nhận thức, cảm xúc và hành vi
Các câu hỏi thường trực diện và rõ ràng để làm rõ trạng thái tâm lí của TC hoặc người có liên quan tới nan đề của TC như “chị cảm thấy như thế nào khi cháu đã nhận ra sai lầm của mình?”,
“anh đánh giá như thế nào về hành vi đập phá một cách giận dữ của cháu?”
→ Giúp TC ý thức về bản thân và sự trải nghiệm tâm lí rõ ràng hơn.
Câu hỏi phản hồi
Khuyến khích TC ý thức tốt hơn về vấn đề họ vừa trình bày như “khi biết anh chị đã ly thân
từ nhiều tháng nay, còn con chị đã bỏ anh chị đi bụi đời, mẹ chị sẽ như thế nào?”
Trang 4→ Giúp NTV và TC xem xét sự kiện này trong mối quan hệ với các sự kiện khác một cách
khách quan
Câu hỏi dẫn dắt
Câu hỏi đóng có gợi ý câu trả lời như “tôi không ngờ chị ta lại xử sự như vậy với con mình, anh thấy thế nào về chị ấy?” hay “mọi việc như vậy là tốt lắm rồi, chị còn phàn nàn về điều gì nữa không?”
NTV không nên đưa ra nhiều câu hỏi rồi đưa ra luôn các câu trả lời nhiều lựa chọn, điều này
sẽ ngăn cản việc TC nghiên cứu kĩ các khả năng “Bạn cảm thấy thế nào về điều đó – buồn, vui, giận dữ…?”
Câu hỏi lựa chọn
Hướng thân chủ đến sự mạch lạc trong tư duy, so sánh, cân nhắc vấn đề có lựa chọn hoặc thế này hoặc thế kia như “nếu chồng em vẫn tiếp tục đánh hai mẹ con em thì em sẽ làm gì?”
→ Giúp TC ý thức điều nào là quan trọng hơn và chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình
Câu hỏi cảnh báo về sự nhạy cảm
Dùng cho những tình huống nhạy cảm NTV cần có lời cảnh báo và giải thích rõ ràng trước khi đặt câu hỏi như “bạn không phiền lòng nếu tôi hỏi bạn về mức chi tiêu của gia đình?” hay “tôi
sẽ hỏi bạn một câu mang tính riêng tư, những thông tin mà bạn chia sẻ sẽ giúp chúng ta làm rõ về mối quan hệ hiện nay của bạn với cô A Bạn đã quan hệ tình dục với cô ấy?”
Câu hỏi vòng vo
Sử dụng “người thứ ba” để làm rõ những thông tin, thái độ, cảm nghĩ của TC về vấn đề của
“người khác” (thực tế TC đang trải nghiệm vấn đề của mình) như “cô đang có vấn đề khó khăn cần nhờ cháu giúp Cô có một người bạn nhỏ cỡ tuổi cháu, không hiểu chuyện gì mà mấy hôm nay bạn ấy không chịu đi học, bỏ cả ăn uống Cô rất muốn giúp bạn ấy nhưng không biết phải làm gì Theo cháu, điều gì có thể xảy ra với bạn ấy?”
→ Gạt bỏ cảm giác tự vệ ở TC Phù hợp trong TV trẻ em và thanh thiếu niên, những người có
học vấn thấp, những người có khả năng đương đầu hạn chế
Câu hỏi chuyển tiếp
Khuyến khích TC trò chuyện, “ngắt” được sự mạch lạc của TC, chuyển tiếp vấn đề một cách linh hoạt như “lúc trước anh có nói về việc mẹ anh không hài lòng với vợ anh, thế vợ anh nghĩ gì
về chuyện này?”
→ Giúp TC liên thông mạch tư duy, NTV tập trung vào những đề hiện hữu của TC, tránh việc
NTV đi lạc vấn đề hoặc khai thác thông tin theo ý NTV
Câu hỏi ngoại lệ
Hướng TC tới hành vi ngoại lệ giúp TC kiểm soát tốt bản thân Bắt đầu từ những mệnh đề
“có bao giờ”, “có khi nào”, “liệu có thể” như “làm cách nào để anh giữ được bình tĩnh khi xay rượu?”
→ Giúp TC không tư duy theo khuôn mẫu cố định mà nhìn nhận vấn đề theo khía cạnh khác
của một hành vi xấu Chỉ nên sử dụng khi NTV hiểu rõ TC, nắm bắt tốt những hành vi gây hạn chế
sự thay đổi ở TC
Trang 5Câu hỏi tưởng tượng
Buộc TC phải tư duy tưởng tượng, thường bắt đầu với từ “nếu” như “nếu em được ba điều ước, em sẽ ước những điều gì?” hoặc “nếu anh nhất định đòi li hôn thì chị sẽ xử lý chuyện này như thế nào?”
→ Giúp TC tư duy sâu hơn về những thứ chưa xảy ra, bộc lộ những mong muốn thầm kín,
thay đổi cách nhìn và có thể chuẩn bị tinh thần sẵn sàng cho mọi việc sẽ xảy ra
Câu hỏi kép
Đặt ra cùng một lúc nhiều câu hỏi như “bố em có đồng ý cho em bỏ học không? Còn mẹ em thì như thế nào? Ông bà nữa?”
Tránh sử dụng câu hỏi kép khiến TC có cảm giác bị chất vấn dồn dập, gây rối loạn cảm xúc hay thông tin vì TC không biết phải đáp ứng như thế nào
* CHÚ Ý
- Thận trọng với câu hỏi tại sao Tuy là câu hỏi mở nhưng có vẻ như buộc tội và đôi khi dễ khiến TC cảm thấy bản thân đã hoặc đang làm sai điều gì đó Khiến câu trả lời có suy tính (vô tình
tự vệ) hơn là tập trung vào những điều xảy ra bên trong lòng TC Câu hỏi tại sao phù hợp với TC
có nhận thức tốt về bản thân, thân chủ có khả năng thách thức với vấn đề của mình và muốn giải quyết
- TC lần đầu tiên đến TV, NTV cần đặt câu hỏi mà TC dễ trả lời, dễ hòa nhập vào cuộc TV Câu hỏi cần đơn giản, dễ hiểu, liên quan đến mục đích khai thác thông tin
- Câu chuyện của TC lạc hướng, NTV cần gợi mở câu hỏi để TC tập trung vào chủ đề
- Việc đặt nhiều câu hỏi sẽ biến TC trở nên thụ động, chỉ nói hay trả lời khi được hỏi TC có thể học được cách đón đầu các câu hỏi và sẽ chờ các câu hỏi tiếp theo thay vì tự suy nghĩ và nói ra những điều mà TC cho là quan trọng Nên sử dụng câu hỏi đúng mức và dè sẻn
- Cần xác định khả năng làm biến đổi cảm xúc hay làm rối loạn tâm can TC trước khi đặt câu hỏi Cách hỏi phù hợp nhất là đi theo logic của sự kiện và tư duy của TC như giúp TC mô tả hiện trạng với câu hỏi “như thế nào?”, sau đó yêu cầu TC phân tích, lí giải “vì sao lại như thế?” và TC
sẽ trả lời câu hỏi “nó là gì?” “Vấn đề là gì?”
3 Kỹ năng thấu hiểu
- Cho phép NTV lắng nghe sâu sắc hơn ý nghĩ và cảm giác của TC
- Để đưa ra một câu trả lời thấu hiểu đòi hỏi NTV phải sử dụng các kĩ năng lắng nghe, im lặng, kĩ năng phản hồi tốt…
Biểu hiện của NTV có sự thấu hiểu:
Khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của TC và đánh giá đúng vấn đề của TC
Lắng nghe tốt không chỉ ở bề mặt ngôn từ mà còn những biểu cảm dưới ngôn từ đó
Khả năng cảm nhận, hiểu những cảm xúc, những điều mà TC đã hoặc đang trải qua
Quan tâm đầu tiên đến nhu cầu của TC
Trang 6Nhạy cảm và tôn trọng những giá trị, trải nghiệm của TC dù nó có phù hợp với quan niệm NTV hay không
Có sự trao đổi với TC những điều mà NTV đã hiểu
* Các mức độ của thấu hiểu:
TC: “Nghĩ sắp đến ngày được trở về với gia đình, em lại cảm thấy rất lo lắng, không biết bố
mẹ em có chấp nhận sự trở về của em hay không, vì bố mẹ em cho rằng em là đứa con không ra gì, làm nhục nhã bố mẹ.”
MĐ 1: Nói theo sách vở, giáo điều chứ không thực sự hiểu trong lòng TC đang nghĩ gì, cảm thấy như thế nào
→ NTV: “Nếu bố mẹ em nghĩ thế thì em cũng phải chịu vì việc em làm đã gây cho bố mẹ em những điều khổ tâm Em hãy thông cảm cho họ, từ từ họ cũng nhận ra.”
MĐ 2: Nói theo suy nghĩ chủ quan của bản thân, củng cố tinh thần không có cơ sở, không hiểu được cảm xúc mà TC đang trải qua
→ NTV: “Bây giờ em đã khác trước rất nhiều rồi, bố mẹ em cũng biết điều này, bố mẹ em sẽ chấp nhận em khi em trở về thôi Em cứ yên tâm, cha mẹ nào chẳng yêu thương con Khi biết em
sắp trở về, chắc cha mẹ em mừng lắm.”
MĐ 3: Không khái quát vấn đề thành một quy luật nhất là trong chuyện tình cảm vì đó là tiếng nói của con tim -> không ai giống ai
→ NTV: “Em cho rằng trước đây mình đã làm một số điều không hay khiến cha mẹ không hài lòng, vì vậy em lo sợ rằng cha mẹ sẽ không chấp nhận khi em trở về, trong khi em rất mong
đến ngày đoàn tụ này Một số người rơi vào hoàn cảnh của em họ cũng có những cảm xúc như
em ”
MĐ 4: Không nói theo ý chủ quan một cách máy móc, giáo điều
→ NTV: “Em cảm thấy lo lắng vì sợ cha mẹ không chấp nhận sự trở về của mình Chỉ có những đứa trẻ biết ăn năn hối cải và thật sự muốn được đoàn tụ với gia đình mình mới có những suy nghĩ day dứt như em”
-> máy móc, giáo điều.
* Lưu ý:
Khó có thể thấu hiểu chỉ thông qua 1 câu nói → Đặt câu hỏi để thấu hiểu
Nên thể hiện sự thấu hiểu có chừng mực
Thể hiện sự thấu hiểu thông qua cách đặt câu hỏi
4 Kỹ năng diễn giải
- Sự phân tích hành vi, ý nghĩa và cảm xúc của TC từ quan điểm tiếp cận của NTV và đạt được sự chấp thuận, hài lòng của TC
- Kỹ năng là kết quả của sự lắng nghe sâu sắc và tập trung cao độ (giống với KN thấu hiểu), đáp ứng sâu sắc nội tâm thân chủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dẫn dắt TC theo một cách nhìn nhận khác
Trang 7* Lưu ý:
- Lời diễn giải không phải là “nhắc lại lời của một con vẹt”, mà phải bằng ngôn từ của NTV thể hiện nội dung cốt lõi của thông điệp (không thêm bớt) nhằm cung cấp cho TC một cách nhìn
về tình trạng của họ
- Thực tế, không phải TC nào cũng tiếp thu sự diễn giải của NTV Nó phụ thuộc vào quan điểm nhận thức, triết lí sống của TC Tuy nhiên sẽ dễ dàng hơn nếu NTV xây dựng được mối quan
hệ tin tưởng với TC và chuẩn bị cho mình kiến thức vững vàng về một lí thuyết nào đó
- Mục đích của KN diễn giải:
TC thấy được NTV đang lắng nghe, thấu hiểu những gì mình nói, cảm nhận
TC nhìn lại vấn đề của mình một cách rõ ràng, sáng tỏ và cô đọng hơn
NTV nhìn ra được vấn đề chính của TC để điều chỉnh bước đi cho phù hợp
NTV biết được mình hiểu rõ vấn đề và cảm xúc chủ đạo của TC như thế nào sau khi TC phản hồi lại
* Thao tác khi thực hành KN diễn giải
1 Lắng nghe cẩn trọng vấn đề của TC (bỏ các chi tiết rườm rà), phải xác định rõ trong
TC đang diễn ra tâm trạng gì và cảm nhận được tâm trạng của TC
2 Phân tích sự kiện:
Chỉ ra cảm xúc và quy chiếu nguyên nhân của nó
Xác định vấn đề
3 Diễn giải lại vấn đề một cách ngắn gọn, rõ ràng hơn thông tin mà TC cung cấp theo cách hiểu, cảm nhận của NTV để TC nhìn nhận lại vấn đề theo hướng tích cực hơn Bắt đầu với các mệnh đề: dường như, đôi khi, có vẻ như,…
3 Im lặng, lắng nghe sự phản hồi của TC
LƯU Ý CHUNG :
Tham vấn kiêng kị lời khuyên
Không đưa kinh nghiệm cá nhân vì nó mang dấu ấn chủ quan
Phải hỏi làm sao để TC cảm thấy được đồng cảm