- Các yêu cầu chung trong thiết kế và xây dựng thiết bị kỹ thuật, xây dựng không gian lao động và bố trí các nhân tố cơ bản cũng như các nhân tố phụ ở chỗ làm việc là: + Đảm bảo mọi để c
Trang 1ĐỀ ÔN TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
1 Khái niệm tâm lý học lao động:
- Tâm lý học lao động là một môn tâm lý học chuyên ngành nghiên cứu các đặc điểm tâm lý trong các loại hoạt động lao động nhằm hợp lý hóa quá trình lao động, cải tiến dạy nghề và xây dựng các thể chế quản lý lao động có hiệu quả
- Tâm lý học lao động là một hình thức cơ bản của sự tác động qua lại có ý thức giữa con người với hiện thực xung quanh Hiệu quả của lao động phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên trong
và bên ngoài Thậm chí, các yếu tố bên ngoài (thiết bị kỹ thuật, sự tổ chức, môi trường vật lý, xã hội ) quy định phần lớn hiệu quả lao động thông qua các yếu tố bên trong (kinh nghiệm, năng lực, tri thức, động cơ, hứng thú, thái độ )
- Như vậy tâm lý học lao động được đặt trên yếu tố trung tâm là con người, cần xuất ohat1 từ việc nhận thức các quy luật điều khiển hành vi của con người trong lao động Theo nghĩa này, tâm
lý học lao động là một khoa học nhằm xây dựng hệ thống tri thức thống nhất và hệ thống hành động của con người trong lao động A.ROGER nhấn mạnh rằng, bằng vai trò khoa học của mình, nhà tâm lý học quan sát, mô tả và tìm cách giải thích hành động của con người trong tư cách họ là những người lao động
- Việc hiểu biết một hiện tượng không thể là một mục đích tự thân Hiểu biết về một hiện tượng là nhằm làm thay đổi nó cho phù hợp với những mục đích nhất định chình vì vậy, tâm lý học lao động sử dung những hiểu biết của về hành động của con người trong lao động cùng với những tri thức của các chuyên ngành khoa học khác nhằm làm thay đổi lao động theo nghĩa hòa thiện nó
- Nói cách khác tâm lý học lao động vừa là khoa học vừa là một công nghệ kỹ thuật Việc phân biệt hai thành phần đó trong hoạt động của nhà tâm lý học lao động là cần thiết nhưng không nên đối lập chúng với nhau: trong khi những hiểu biết về lao động giúp chúng ta làm thay đổi lao động thì việc thay đổi nó sẽ làm tăng nhận thức của chúng ta về lao động Từ góc độ thuần túy tâm
lý học, có thể quan tâm đến việc thiết lập một số cơ chế tâm lý của những hành động lao động Từ góc độ ứng dụng, có thể đưa các tri thức thu được của tâm lý học lao động vào nghiên cứu hoàn thiệt một số tiêu chuẩn đánh giá lao động Các tiêu chuẩn có thể là: sự an toàn, sự thuận tiện, tốc
độ thực hiện, thời gian học tập Để hoàn thiện được các tiêu chuẩn này cần có sự góp phần của một số ngành khoa học và kĩ thuật khác
- Tâm lý học đề cập tới hành động lao động nói chung Do hoạt động của con người được diễn ra trong các lĩnh vực khác nhau nên tâm lý học lao động cũng bao hàm một phạm vị trộng lớn: tâm lý học công nghiệp, tâm lý học giao thông, tâm lý học nông nghiệp, tâm lý học kinh doanh, tâm lý học hành chính
Trang 22
Cấu trúc của hoạt động lao động:
- Hoạt động lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học trong đó có tâm lý học Đối với các nhà tâm lí học, điểm cơ bản trong lao động mà họ quan tâm là tính mục đích, tính tự giác, tính tích cực của con người Hoạt động lao động là sự thống nhất của cái tâm lý và sinh lý Trong khái niệm hoạt động lao động, những hiện tượng tinh thần (động cơ, mục đích, hứng thú ) bao giờ cũng ở trong một thể thông nhất với những biểu hiện bề ngoài của chúng là những vận động thực hiện Vì vậy phải nghiên cứu hoạt động lao động với đầy đủ những hành phần được nêu trong cấu trúc của nó
- Hoạt động lao động là một dạng hoạt động đặc biệt của con người Khi tiến hành lao động, con người sử dung công cụ Phương pháp, cách thức, nghệ thuật sử dụng công cụ được gọi là kỹ thuật lao động Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng nhằm mục đích nhát định do họ tự giác đặt ra
- Mục đích của hoạt động lao động là hình ảnh về kết quả công việc sắp được tiến hành
+ Hình ảnh đó tồn tại trong đầu óc con người trước khi họ thực sự bắt tay vào công việc + Mục đích lao động nảy sinh trong ý thức trên cơ sở những nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và dựa trên kinh nghiệm lao động đã tích lũy được
+ Hoạt động lao động gồm những mục đích xa bao trùm lên những mục đích gần có tính chất
bộ phận Quá trình tiến hành một hoạt động lao động là quá trình đạt từ mục đích bộ phận này sang mục đích bộ phận khác cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng
Sơ đồ giản lược, mô tả một quá trình hoạt động:
- Mục đích có tính chất bao trùm các mục đích bộ phận là động cơ hoạt động Tác dụng: thúc đẩy thực hiện các mục đích bộ phận được kết lại thành một hệ thống Chính vì vậy, khi nói đến một hoạt động bao giờ người ta cũng xét đến động cơ tương ứng với nó
Nhu cầu
Động cơ
Mục đích
Phương tiện
Hoạt động
Hành động
Thao tác
Động tác
Trang 3- Một hoạt động diễn ra trong từng giai đoạn đạt được những mục đích nhất định Quá trình hoạt động để đạt được mục đích bộ phận gọi là hành động Hành động là một yếu tố của hoạt động, là đơn vi của hoạt động Kết quả của hành động là đạt đến một mục đích cụ thể nào đó mà con người ý thức được Tác dụng: dùng để giải quyết một nhiệm vụ sơ cấp cơ bản (nhiệm vụ không thể phân nhỏ hơn được nữa) Muốn biết hoạt động lao động có bao nhiêu hành động thì xác định số nhiệm vụ sơ cấp cơ bản của nó
- Trong hoạt động lao động, thao tác là đơn vị cơ động của hành động Một hành động có thể
có một hoặc nhiều thao tác Để xác định được số lượng những thao tác trong một hành động cần căn cứ vào công cụ và phương iện thực hiện hành động đó Cùng một hành động người ta có thể dùng hệ thống thao tác này hoặc hệ thống thao tác khác Điều đó phụ thuộc vào điều kiện trang bị
kỹ thuật Một hành động có thể tiến hành bằng nhiều thao tác, những thao tác khác nhau dẫn đến một mục đích như nhau
- Nội dung của thao tác phụ thuộc vào đặc điểm cấu trúc của công cụ quy định Tùy thuộc vào hình dáng, kích thước và những đặc trung cơ cấu của công cụ mà xác định tư thế và những vận động (động tác) phù hợp Mỗi thao tác cụ thể có hệ thống những tư thế và vận động riêng Yếu tố hợp thành nhỏ nhất của thao tác là “ vi động tác”
- Một hành động lao động được lặp lại nhiều lần trong quá trình luyện tập và trở nên tự động hóa được gọi là kỹ xảo Sự tự động hóa của kỹ xảo nghĩa là thao tác đã thành thạo Không cần sự tập trung chú ý mà vẫn đảm bảo độ tin cậy, độ chính xác
3
Các loại vận động trong lao động:
- Theo phân loại của A.Damon, H.W.Stoudt và R.A.Mc Farlanh, mô tả vận động của tứ chi
dựa vào các tính chất của các cơ và hướng vận động đối với cơ thể, người ta thấy có số loại vận động cơ bản là:
+ Con người xuống: làm giảm tốc độ giữa hai phần cơ thể
+ Duỗi người ra: làm tăng tốc độ giữa hai phần cơ thể
+ Kéo vào: vận động hướng về phía cơ thể
+ Đẩy ra: vận động hướng ra xa cơ thể
+ Ần tay xuống: quay cánh tay như thế nào để bàn tay úp xuống
+ Nâng tay lên: quay cánh tay như thế nào đó để bàn tay ngửa lên trên
- Sự phân loại trên còn rất chung vì vậy khi phân tích phương thức tiến hành một hoạt động lao động thể chất nào đó, cần phải mô tả các vận động của cơ thể một cách thao tác hơn Về phương diện này, có thề tham khảo phân lại sau:
+ Vận động đứng: là những vận động trong đó tay hoặc chân dịch chuyển từ một vị trí này sang một vị trí khác( chẳng hạn để nhấn vào một nút điều khiển)
+ Các loại vận động liên tục: là những vận động nhờ đó người ta tiến hành điều chỉnh liên tục dựa trên những thay đổi của một số kích thích kết hợp (ví dụ, điều khiển tay lái một chiếc otô) + Các vận động điều khiển (cầm, nắm): bao gồm việc sử dụng và điều khiển một số phần, phương tiện hay cơ chế kiểm tra
Trang 4+ Các vận động lặp lại là những vận động ngắn hạn được lặp lại một cách liên tiếp (ví dụ, quai búa)
+ Các vận động cách quãng là những vận động tương đối tách rời nhau, độc lập nhau trong từng quãng thời gian Những vận động này có thể có củng tính chất (đánh đàn piano, thao tác trên một máy tính, đánh máy chữ) hoặc khác nhau (chẳng hạn, những vận động thực hiện để khởi động cho một chiếc ô tô chạy trong một đêm trời mưa)
+ Vận động tĩnh thực chất là một sự không vận động hơn là một vận động tự thân , bởi vì đó
là sự duy trì của một tư thế riêng trong một khoảng thời gian nhất định
- Mặt khác, các loại vận động khái nhau này có thể kết hợp với nhau và được gọi là những vận động vĩ mô, vd: dịch chuyển bàn chân trên một phanh là một vận động đứng, nhưng nó có thể được đi kèm với một vận động tĩnh (khi phải giữ ở một tư thế nhất định) trong một khoảng thời gian ngắn
- Trong một số mục đích và nghiên cứu các biện pháp lao động,trên cơ sở khái niệm
“therblig” của Lilian Gilbreth và Frank Gilbreth, người ta đồng nhất các vận động cơ bản thành các loại vận động vĩ mô
- Ngoài ra, các loại vận động lao động còn được phân thành những nhóm sau:
+ Những vận động cơ bản: là những vận động tối thiểu cần thiết để đạt được mục đích của hoạt động lao động Về phương diện lý thuyết, những vận động này được thực hiện trong những điều kiện thuận tiện nhất
+ Những vận động hiệu chỉnh: là những vận động làm chính xác những vận động cơ bản cho phù hợp với độ lệch của những điều kiện lao động so với những điều kiện thuận lợi nhất
+ Những vận động bổ sung: những vận động này không thuộc về nhiệm vụ cơ bản nhưng lại cần thiết vì có những yếu tố bổ trợ đối với quá trình lao động chủ yếu
+ Những vận động sửa chữa: những vận động này cũng là những vận động bổ sung, nhưng lại cần thiết cho việc khắc phục những tình huống hỏng hóc Do vậy, chúng được phân thành một nhóm riêng ( vì tính chất quan trọng của chúng)
+ Những vận động thừa: những vận động không cần thiết và thường cản trở những vận động thuộc các nhóm kể trên
+ Những vận động sai: là những vận động không đạt được những mục đích đặt ra
- Người ta còn có thể căn cứ vào những đặc điểm khác nhua của vận động mà chia chúng thành các loại như: vận động đúng và vận động sai, vận động tiết kiệm và vận động không tiết kiệm, vận động nhanh và vận động chậm
4
Số liệu nhân trắc trong hoạt động lao động và chú ý đến phân công vị trí lao động, chú ý đến hướng vận động của cơ thể.
a Đặt vấn đề:
- Hiệu suất và chất lượng lao động, sự an toàn và thuận tiện trong lao động phụ thuộc rất nhiều vài việc bố trí sắp đặt hợp lý chỗ làm việc
- Vấn đề bố trí nơi làm việc đồi hỏi ít nhất ba kia cạnh lớn:
+ Sự thiết kế thiết bị kĩ thuật
Trang 5+ Thiết kế không gian lao động phù hợp với số liệu nhân trắc (các kích thước tĩnh và động của cơ thể con người)
+ Sự bố trí tối ưu các thiết bị cơ bản, thiết bị phụ trợ, các bán thành phẩm và các thành phẩm
- Các yêu cầu chung trong thiết kế và xây dựng thiết bị kỹ thuật, xây dựng không gian lao động và bố trí các nhân tố cơ bản cũng như các nhân tố phụ ở chỗ làm việc là:
+ Đảm bảo mọi để con người làm việc trong một tư thế phù hợp để duy trì được khả năng lao động và tránh được những ảnh hưởng có hại
+ Đảm bảo khả năng thay đổi tư thế trong quá trình làm việc
+ Ấn định không gian làm việc, bố trí các dụng cụ chỉ bảo và các bộ phận điều khiển trong phạm vi các cùng thị giác và vùng hoạt động của tay được xác định bằng các chỉ số đo đạc
+ Bố trí có phân biệt các chỉ báo, các bộ phận điều khiển và các dụng cụ ở bên trong vùng làm việc: bình thường hay tối đa, hay ở phía ngoài những vùng này Việc bố trí này phụ thuộc vào các đặc điểm tri giác, nhân trắc và cơ chế sinh học của con người, đồng thời còn phụ thuộc vào các đặc điểm chức năng của các yếu tố chỉ báo, các bộ phận điều khiển
+ Sự phân bố các dụng cụ, các bộ phận điều khiển cho các chi sẽ phụ thuộc vào các yêu cầu
về tốc độ, chính xác và lực tác động của vận động thực hiện những bộ phận điều khiển yêu cầu độ chính xác và một lực tác động từ 14 – 18 kg có thể phân cho tay, còn những bộ phận điều khiển yêu cầu một lực lớn tới 27 kg thì nên phân cho chân Nếu vượt quá các giá trị này sẽ có hậu quả tiêu cực cho độ chính xác và sức khỏe của công nhân
+ Bố trí các bộ phận điều khiển, các dụng cụ, các vật liệu cần đảm bảo sao cho mỗi vận động
sẽ được kết thúc trong một tư thế thuận lợi cho việc thực hiện một vận động tiếp theo
+ Bố trí các thiết bị kỹ thuật, dụng cụ, phương tiên đo đạc, các vật liệu, tư liệu kỹ thuật ở những nơi cố định, thường xuyên và càng gần người công nhân càng tốt để giảm bớt khoảng cách phải dịch chuyển trong quá trình thực hiện thao tác
+ Tối ưu hóa các mối quan hệ giữa các vị trí làm việc và làm giảm nhẹ việc chuyển các đối tượng lao động từ chỗ này sang chỗ khác
- Các tư thế làm việc:
+ Tư thế làm việc bình thường là tư thế trong đó người công nhân cúi về phía trước nhiều nhất là 10 độ - 15 độ mà không ngửa ra sau hoặc nghiêng sang một bên Nếu như khi ngồi, trương lực của cơ bằng một đơn vị thì khi đứng thẳng, trương lực có tăng lên 1,6 lần, trong trường hợp ngồi cúi: là 4 lần, còn trong trường hợp đứng cúi là 10 lần
+ Tư thế ngồi là tư thế tốt hơn nhiều so với tất cả tư thế khác do những nguyên nhân làm giảm sự mệt mỏi, do đó, công nhân có thể làm việc bằng hai tay, hai chân trong một khoảng thời gian dài hơn; làm tăng tính ổn định và tính cân bằng của cơ thể; tạo điều kiện hành động đồng thời hoặc kế tiếp nhau đối với nhiều bộ phận điều khiển bằng chân Tư thế ngồi nên được áp dụng cho những công việc đòi hỏi một lực tới 5kg, tính chính xác cao, thao tác bằng hai tay và hai chân với nhịp độ chậm và biên độ của vận động tương đối nhỏ
+ Tư thế đứng nên sử dụng trong những công việc đòi hỏi một số lượn khá lớn các vận động
mà biên độ của nó vượt quá một mét trong mặt phẳng chính diện và 30cm trong chiều sâu; kích thước của các bộ điều khiển tương đối lớn, lực áp dụng lớn (10kg – 20kg), không gian bố trí các
Trang 6bộ phận điều khiển và các chỉ báo là rộng, do vậy có khả năng thay đổi tư thế trong quá trình làm việc
+ Tư thế hỗn hợp (đứng và ngồi) có tác dụng giúp công nhân thay đổi tư thế làm việc trong từng khoảng thời gian Tư thế này được áp dụng cho những công việc đòi hỏi tác động một lực khoảng 5 – 10kg cho những công việc mang tính ngăn ngừa và giám sát theo dõi
b Số liệu nhân trắc:
- Các số liệu nhân trắc như là: chiều cao, kích thước của các bộ phận khác nhau trên cơ thể người, kích thước cơ thể người là rất đa dạng
- Những nguyên nhân gây khó khăn cho việc ứng dụng các số liệu nhân trắc khi thiết kế các thiết bị kỹ thuật và không gian lao động là:
+ Những khác biệt khá lớn trong kích thước cơ thể người được quy định bởi: các vùng địa lý, các địa bàn khác nhau (vùng núi, vùng đồng bằng ); giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp,
+ Những khía cạnh định tính và định lượng của các nghiên cứu nhân trác như: số lượng và ngày tháng tiến hành, mẫu đo, các phương pháp được sử dụng
Dẫn đến hai nhận định:
- Thứ nhất, không thể hài lòng chỉ với một số liệu về kích thước trung bình duy nhất Vì vậy,
có ba kích thước cơ bản, mà chúng sẽ cho những số liệu trung bình đến từ nhiều lớp kích thước khác nhau Mỗi vị trí trung bình đó lại gặp gỡ với với một tần số nhất định hoặc thể hiện tỉ lệ nhất định dân số được đo (thường được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm) Sự khác biệt chủ yếu giữa các số liệu nhân trắc khi xem xét mẫu đo ở những vùng địa lý khác nhau nằm ở chính tần số gặp được ở từng trị số trung bình trong phạm vi của mẫu đo
- Thứ hai, khi áp dụng các số liệu nhân trác cơ bản cần chú ý ba nguyên tác cơ bản sau :
+ Khi thiết kế cho những người có kích thước ngoại lệ, tức là khi xác định kích thước tới hạn: chiều cao của phòng, của ra vào của cùng làm việc cần phải được ấn định cho người công nhân cao nhất; còn các kích thước của phần chính diện và chiều sâu vùng làm việc thì phải ấn định cho người công nhân thấp nhất
+ Việc thiết kế cho những kích thước khác nhau nên có thể điều chỉnh được Bất cứ ở đâu nếu
có thể được thì việc thiết kế thiết bị kỹ thuật nên làm thế nào đó để kích cỡ của nó có thể điều chỉnh được cho những người thuộc cả ba kích thước Vd : ghế bàn điều chỉnh cao thấp,
+ Thiết kế cho những kích thước trung bình Khi tính chất của thiết bị không cho phép những kích thước có thể điều chỉnh được, thì chúng sẽ được thiết kế cho những ngưởi có kích thước trung bình bởi kích thước đó sẽ ít phiền toái hơn so với những thiết bị được thiết kế cho những người có cùng kích thước ngoại lệ
c Vùng làm việc:
- Độ tự do trong vận động của các chi trên và chi dưới, những đặc điểm cơ bản của vận động (tốc độ, tính chính xác, cường độ) sẽ quy định các vùng làm việc tối đa và tối ưu
- Trên mặt phẳng nằm ngang, vùng tối đa tính bằng vận động của toàn bộ cánh tay (ngón tay,
cổ tay, cẳng tay) mà không vặn người Vùng bình thường tính bằng vận động của cổ tay và cẳng tay vá cũng là vùng thuận tiện nhất trong hoạt động lao động
Trang 7- Trên mặt phẳng đứng, các vùng làm việc phụ thuộc vào chiều cao của từng công nhân Ba vùng tối đa được trinh bày bằng những vòng cung trong (đối với mỗi tay) Đường kính của cung (của vùng) nhỏ là 88,39 cm; của cung trung bình là 110,49 cm và của cung lớn là 153, 49cm
- Trong khi bố trí nơi làm việc, người ta chỉ lưu ý đến vận động của các chi Các lực mà tứ chi áp dụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tư thế của cơ thể, chiều cao cần thực hiện vận động, hướng và khoảng cách của các vận động, các góc đo, thời gian hành động, giới tính, lứa tuổi, chi cần thực hiện thao tác Người ta nhận thấy, lực tối đa một người có thể đạt được là ở khoảng 25 tuổi ở đàn ông 60 tuổi, lực này giảm đi 15%( so với đàn ông 25 tuổi)
- Độ chính xác của vận động phụ thuộc vào các yếu tố:
+ Các vận động của tay chính xác hơn so với các vận động của chân Trong các thao tác yêu cầu vận động chính xác, tinh tế, nên sử dụng tay, còn chân sẽ dành cho các vận động thô và mục đích tránh cho tay bị quá sức
+ Tay phải thực hiện vận động chính xác hơn tay trái
+ Mặt phẳng làm việc ở tầm khuỷu tay đảm bảo một độ chính xác lớn hơn của tay
+ Độ chính xác sẽ bị giảm đi khi khoảng cách đối với cơ thể tăng lên
+ Những vận động được kiểm tra bằng mắt (thị giác) sẽ chính xác hơn nhiều
d Kích thước của thiết bị công nghiệp:
- Tư thế ngồi: có hai loại kích thước: trên mặt phẳng ngang (chiều rộng của mặt phẳng chính
diện và chiều sâu của vùng làm việc) và trên mặt phẳng đứng
Các vùng làm việc trên mặt phẳng ngang:
+ Trong vùng làm việc tối ưu sẽ được đặt các bộ phận điều khiển và các dụng cụ được sử dụng thường xuyên, còn những dụng cụ ít khi được sử dung đến thì sẽ đặt ở vùng tối đa Sự thuận tiện và chính xác sẽ càng lớn khi việc thực hiện các thao tác và bố trí các bộ phận điều khiển càng gần với thân người, trong mặt phẳng chính diện độ chính xác của các thao tác giảm dần cùng với khoảng cách sang hai bên tính từ trung tâm thân người tuy nhiên, khoảng cách giữa thân người và mặt phẳng làm việc sẽ không nhỏ hơn 41 cm tính từ vị trí nghỉ của khuỷu tay khi khối lượng hay
độ dày của áo bảo hộ là lớn; khi lực và độ chính xác của các cử động quay là lớn; khi thân tựa của ghế cản trở vận động lùi lại của khuỷu tay
+ Để thực hiện các thao tác đòi hỏi độ chính xác cao, cần lắp đặt giá đỡ cho cánh tay và cho
cả cổ tay nếu các thao tác được thực hiện bằng các ngón tay
Các v ùng làm việc trên mặt phẳng đứng
+ Đó là các vùng tối ưu và tối đa của thị giác và của tay Các kích thước của các vùng này phụ thuộc vào các số liệu nhân trắc, chiều cao của ghế và đặc thù của chỗ làm việc
+ Chiều cao của bàn làm việc tương ứng với chiều cao của ghế và phụ thuộc cả vào kích thước cơ thể của công nhân Chẳng hạn:
++ Đối với ghế cao 74.93 cm thì bàn phải cao 103.37cm (đối với một người cao)
++ Đối với một chiếc ghế cao 70.10 cm thì bàn ae4 cao là 96,26 cm ( đối với một người trung bình)
Trang 8+ Đối với những công việc đòi hỏi độ chính xác cao thì chiều cao mặt phẳng làm việc và mắt phải nhỏ hơn 30 cm
+ Lắp đặt các bộ phận điều khiển sang bên cạnh, ở gần ghế và thiết kế buồng theo một kiểu đặt biệt, chẳng hạn như các bức tường nên làm bằng kính (hoặc bằng một vật liệu khác trong suốt
để có thể nhìn ra ngoài)
+ Độ chính xác các thao tác lao động sẽ giảm dần ở khoảng mặt phẳng làm việc phía trên vai
và phía dưới thân người
- Tư thế đứng: đối với tư thế này, kích thước của mặt phẳng làm việc bằng tay lớn hơn, còn
kích thước theo mặt phẳng đứng của vùng thị giác sẽ thay đổi tùy theo tầm của mắt
Vùng làm việc trên mặt phẳng nằm ngang
+ Chiều rộng tối ưu của mặt phẳng chính diện là 75 cm, còn chiều sâu có thể thay đổi tùy theo chiều cao của mặt phẳng lao động
+ Đối với tư thế này, tốt nhất là trành sử dụng các bàn đạp nếu có thể được (ở bàn làm việc hoặc ở các máy công cụ)
+ Trong trường hợp không thể được, thì nên tuân thủ một dố điều kiện sau:
++ Bàn đạp không nên được đặt quá cao bởi vì người công nhân sẽ phải đứng trong một tư thế không thoải mái và sẽ đỡ trọng lượng của toàn cơ thể bằng một chân Điều này sẽ dẫn đến nhanh mệt mỏi Gốc hình thành bởi đoạn đường đi của bàn đạp phải tương ứng với góc bình thường của vận động của cẳng chân
++ Thao tác trên bàn đạp phải được thực thiện xen kẹ giữa những thao tác thực hiện bằng tay Vùng làm việc trên mặt phẳng đứng
Chiều cao của mặt phẳng làm việc bằng tay nhìn chung là khoảng 91-96 cm đối với những thao tác đòi hỏi độ chính xác cao, chiều cao của mặt phẳng phụ thuộc vào các góc co của cánh tay Góc 30 độ sử dụng cho những thao tác có biên độ nhỏ, tinh tế, chính xác và với độ mệt mỏi tối thiểu, góc 45 độ dùng cho kiểu thao tác đóng gói
- Tư thế hỗn hợp:
+ Việc thay đổi từ tư thế ngồi sang tư thế đứng sẽ làm thay đổi cơ bản những số liệu của mặt phẳng làm việc Do việc các kích thước của mặt phẳng này không thể thay đổi được theo tư thế làm việc của công nhân ở từng thời điểm nhất định cho nên đã đặt ra vấn đề lựa chọn các kích thước đó cho một tư thế nhất định trong trường hợp này cần lưu ý đến các kích thước tới hạn + Đối với chiều rộng và chiều sâu của mặt phẳng lao động với tư cách là các kích thước tới hạn, cần phải chộn cho tư thế ngồi là 55 và 50 cm
a Kích thước của không gian lao động bố trí các thiết bị cơ bản và phụ trợ ở nơi làm việc.
- Kích thước không gian làm việc:
+ Xác định kích thước của không gian lao động cân lưu ý các yếu tố: kích thước của các thiết
bị kỹ thuật cơ bản và phụ trợ; kích thước tĩnh của cơ thể người và kích thước chức năng (trong vận động); vùng an toàn (người công nhân tại một vị trí làm việc nhất định không được cản trở đến những công nhân khác hoặc không bị những công nhân khác cản trở khi đang làm việc) Tiết diện cần thiết của các máy công cụ là tùy thuộc vào độ lớn của chúng
Trang 9+ Kích thước của không gian lao động tối ưu đối với mỗi công nhân phải lớn hơn những kích thước đo đạc của cơ thể người, bởi vì người công nhân phải được dành một khoảng không gian để
di chuyển xung quanh máy (giám sát sự vận hành của máy tại những điểm nhất định, bảo dưỡng máy ) không gian để thay đổi tư thế làm việc và một “không gian tâm lý” và “không gian tâm lý” không được làm ảnh hưởng đến độ lớn của một vị trí làm việc nhất định
+ Đối với những hoạt động hành chính: phổ biến nhất là những phòng rộng, trong đó không gian được sử dung là 80% so với những phòng nhỏ (chỉ 50%) Ưu điểm: sự uyển chuyển trong việc di chuyển chổ làm việc; tăng tính linh hoạt; tăng khả năng phân chia một cách hợp lý các các phòng; tăng khả năng hoàn thiện mặt thông tin, giao tiếp do giảm bớt một cách tối thiểu các chu trình
+ Trong khi thiết kế cân lưu ý để không gian lao động tối thiểu phải phù hợp với các số liệu nhân trắc
- Bố trí các yếu tố cơ bản và phụ trợ nơi làm việc:
+ Việc tổ chức và lao động một cách hợp lý đòi hỏi phải giảm bớt những di chuyển không có lợi cho công nhân đang trong quá trình thực hiện các thao tác sản xuất Vì vậy, ở nơi làm việc, ngoài thiết bọ kĩ thuật, cần phải xem xét tất cả những yếu tố cần thiết như: các bộ phận điều khiển, các dụng cũ đo đạc, tính toán, các bán thành phẩm cùng với các vật dụng để đựng các đồ vật nói trên
+ Việc đặt tất cả các yếu tố này vào một nơi nhất định cần phải được làm như thế nào đó để
có thể:
++ Làm dễ dàng cho việc nhận và chuyển các đối tượng lao động
++ Làm giảm cường độ, không gian và thời gian di chuyển
++ Đảm bảo sự liên tục tối ưu của các vận động
5
Các nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra tai nạn trong quá trình lao động:
Khi phân tích nguyên nhân gây ra các sự cố, gây hư hỏng chấn thương cho công nhâ hoặc gây
ra những điều bất hạnh, nhìn chung có thể quy về hai nhân tố: “ con người” ( nguyên nhân chủ quan) và “ máy móc” ( nguyên nhân khách quan)
- Nguyên nhân khách quan: những sự cố xuất hiện do những khiếm khuyết không thấy
được của máy móc, do sự không hoàn thiện của quy trình kỹ thuật, do sự không hoàn thiện của quá trình thông tin, có nghĩa là do những nguyên nhân không phụ thuộc vào bản thân người công nhân như môi trường, nhiệt độ nơi làm việc
Nhưng, nếu xếp những nguyên nhân đó vào loại những nhân tố “ máy móc” thì cũng không hoàn toàn đúng Bởi vì, chính việc chế tạo máy móc, xây dựng các quy trình sản xuất, cũng như bất kỳ đối tượng nào của môi trường vật chất xung quanh người công nhân và việc chăm sóc các thiết bị lắp rắp và sửa chữa đều do con người thực hiện Cho nên, khó có thể nói đến những nguyên nhân thuần túy máy móc trong các trường hợp bất hạnh
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Những sự khác biệt cá nhân: gồm các yếu tố
Trang 10++ Nam và nữ: các nhà tâm lý học hungari tiến hành thống kê sản xuất và nhận thấy rằng: năm 1960, cứ trên 1000 công nhân nam thì xảy ra 71,9 trường hợp bất hạnh còn trên 1000 công nhân nữ thì có 41,9 trường hợp
++ Kinh nghiệm nghề nghiệp và thâm niên công tác theo chuyên môn: năm 1960 có 41,5% trường hợp bất hạng trong sản xuất đã xảy ra ở những công nhân có thâm niên nghề nghiệp dưới 1 năm Năm 1961 cũng ở công nhân đó chỉ xảy ra 37,7% trường hợp bất hạnh
++ Lứa tuổi của công nhân: theo tài liệu của hội đồng an toàn quốc gia Mỷ, thì những người lái ô tô dưới 25 tuổi chịu khả năng gặp trường hợp bất hạnh gấp 2 lần so với người lái ô tô trên 25 tuổi.]
*Giải thích: thông thường theo lứa tuổi, sự trưởng thành nhân cách cũng tăng lên Con người trở nên chín chắn hơn, tinh thần trách nhiệm đối với những kết quả lao động cũng như đối với sức khỏe của bản thân được nâng cao Khi cần phải đối mặt với nguy hiểm, những người lớn tuổi , có kinh nghiệm sống nhiều hơn sẽ hành động bình tĩnh hơn và tự tin hơn
++ Nhân cách của người công nhân: xu hướng nghề nghiệp ( có hứng thú với nghề không), năng lực chuyên môn (trình độ phát triển của các năng lực), những nét tính cách của cá nhân, + Đặc điểm tạm thời:
++ Trang thái bệnh tật: dễ bị nguy hiểm ở mức độ lớn hơn nhiều so với người khỏe mạnh nghiên cứu của Pháp cho thấy, ở những người công nhân uống rượu thường xuyên thì những bất hạnh xảy ra nhiều hơn 35% và thường nặng hơn so với những người không uống rượu
++ Mệt mỏi: khi độ mệt mỏi tăng thì tỉ lệ phần trăm các trường hợp bất hạnh cũng tăng lên,
và tỉ lệ này hạ thấp rõ rệt khi công nhân được nghỉ ngơi
++ Sự ngừng tay của công nhân trong lúc làm việc: người ta phân chia sự ngừng tay trong khi sản xuất làm hai nhóm: a) những ngừng tay có liên quan đến sự phát triển không đầy đủ của những phẩm chất nhân cách nhất định; b) những sự ngừng tay ngẫu nhiên, khó thấy trước Loại này đặc biệt nguy hại
++ Tâm trạng người công nhân, thái độ của họ đối với hoạt động lao động
6
Khái niện tính đơn điệu, cách phòng tránh tính đơn điệu:
- Khái niệm tính đơn điệu:
• Tính đơn điệu của lao động có tác động rõ rệt đến cơ thể người công nhân, làm cho họ bị mệt mỏi trước thời gian
• Cơ chế tác động của tính đơn điệu trong lao động là tác dụng gây ức chế của các kích thích được lặp lại đều đều (quy luật chuyển từ hưng phấn sang ức chế) tác dụng này được thể hiện càng mạnh, thi khu vực vỏ não được kích thích càng bị giới hạn hẹp lại Đó là một quy luật thần kinh cấp cao
có tác động giống nhau ở mọi công nhân cùng làm việc bằng những thao tác đơn điệu, lặp đi lặp lại đều đều
• Ảnh hưởng xấu của tính đơn điệu ở chỗ làm mất hứng thú với công việc, gây nên sự đánh giá quá mức về độ dài của thời gian làm việc; ngày làm việc dường như dài hơn, người công nhân không đợi đến hết ca sản xuất được vì buồn ngủ
• Việc chia nhỏ quá trình lao động chỉ có lợi đến một giới hạn nhất định, giới hạn đó được xác định bằng mức độ có thể cho phép của tính đơn điệu của lao động