1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP môn BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

25 2,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 223,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Bản sắc văn hóa và những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam. Trả lời: Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu đời của đất nước, với các giá trị mang tính bền vững, trường tốn, trừu tượng và tiềm ẩn. Nói đến bản sắc văn hóa của Việt Nam tức là nói đến giá trị gốc cốt lõi hạt nhân trong văn hóa của dân tộc được thể hiện trong cuộc sống của người Việt. Những đặc trưng cơ bản của Bản sắc văn hóa Việt Nam: • Sống quần tụ và có tình nghĩa: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp. Và từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học , nghệ thuật. • Bản sắc không ngẫu nhiên mà hình thành, nó là kết quả tất yếu của con người với môi trường tự nhiên. Bản sắc văn hóa Việt Nam gắn liền với các đặc thù của mình. Xét về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở gọc tận cùng của phía Đông Nam nên thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình. Trong cách ứng sử với môi trường tự nhiên, nghề trồng lúa nước buộc người dân phải sống định cư, canh tác. Do đó, có ý thức tôn trọng và ước mong sống hòa bình với thiên nhiên. Về mặt tình cảm cộng đồng, con người nông nghiệp với lối sống trọng tình, trọng nghĩa, dẫn tới các biểu hiện trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ. Do lối sống định cư lâu dài, gắn bó nên ý thức coi trọng cộng đồng luôn được đề cao. Tuy nhiên, mặt trái của lối sống sinh hoạt là sự tùy tiện trong cuộc sống.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Câu 1: Bản sắc văn hóa và những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trả lời:

- Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc đượchình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu đời của đất nước, với cácgiá trị mang tính bền vững, trường tốn, trừu tượng và tiềm ẩn

- Nói đến bản sắc văn hóa của Việt Nam tức là nói đến giá trị gốc cốt lõi hạtnhân trong văn hóa của dân tộc được thể hiện trong cuộc sống của người Việt

- Những đặc trưng cơ bản của Bản sắc văn hóa Việt Nam:

 Sống quần tụ và có tình nghĩa: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và

đa dạng trên tất cả các khía cạnh Người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có nhữngphong tục đúng đắn, tốt đẹp Và từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạtcộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín ngưỡng, sự khoan dung trong tưtưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyềnđạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học , nghệ thuật

 Bản sắc không ngẫu nhiên mà hình thành, nó là kết quả tất yếu của conngười với môi trường tự nhiên Bản sắc văn hóa Việt Nam gắn liền với các đặc thùcủa mình Xét về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở gọc tận cùng của phía Đông Namnên thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp điển hình Trong cách ứng sử với môitrường tự nhiên, nghề trồng lúa nước buộc người dân phải sống định cư, canh tác

Do đó, có ý thức tôn trọng và ước mong sống hòa bình với thiên nhiên Về mặt tìnhcảm cộng đồng, con người nông nghiệp với lối sống trọng tình, trọng nghĩa, dẫn tớicác biểu hiện trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ Do lối sống định cư lâu dài, gắn

bó nên ý thức coi trọng cộng đồng luôn được đề cao Tuy nhiên, mặt trái của lốisống sinh hoạt là sự tùy tiện trong cuộc sống

 Trong lối ứng sử với môi trường xã hội: người Việt Nam có thái độ dunghợp, tôn trọng tiếp nhận, đối phó với những yếu tố ngoại lai mềm mỏng, hiền hòa

 Văn hóa Việt Nam có nền tảng là văn hóa Đông Nam Á cổ đại nhưng lại bịtác động theo thời gian với sự tiếp xúc sâu sắc với các nền văn hóa lớn trên thếgiới

 Nằm ở ngã ba của nền văn minh Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây (saunày), tính giao lưu của văn hóa Việt Nam thể hiện ở trong ngôn ngữ, văn tự …

Trang 2

Văn hóa Việt Nam luôn có sự tiếp nhận Tuy nhiên tính đặc trưng cơ bản nhất,quan trọng nhất là tính bản địa của nền văn hóa Việt Nam Người Việt Nam luôntiếp thu một cách có chọn lọc và biến đổi đầy sáng tạo để biến cái của người thànhcái của ta.

Câu 2: Những đặc trưng cơ bản của ẩm thực Việt Nam và atViệt Nam trong hoạt động du lịch.

Trả lời:

Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lýpha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trên đấtnước Việt Nam Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực Việt Nam vẫnbao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộngđồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong cộng đồng ngườiViệt

Yếu tố hữu hình bao gồm các món ăn thức uống đã hình thành và phát triển vàđịnh hình với những đặc điểm rất đa dạng và phong phú Trong hệ thống các món

ăn Việt Nam tồn tại bốn loại chính:

- Món ăn thuần Việt, những món ăn này mặc dù trải qua nhiều biến cốthăng trầm của lịch sử, vẫn không thay đổi, mang đậm nét Việt Nam

- Món ăn ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực Trung Quốc: cách thức chế biến

sử dụng nhiều mỡ hoặc dầu thực vật đã ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Quốc, cáchđiều vị đặc trưng (dùng các vị thuốc bắc)

- Món ăn ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực Pháp: cách thức chế biến có sửdụng các loại sốt Các món ăn được sử dụng nhiều loại sốt và nước dùng: sốt chuangọt, sốt chua cay, nước dùng trong

- Món ăn ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực Ấn Độ và các nước Đông Nam Á

do chịu ảnh hưởng của các gia vị có nguồn gốc từ Ấn Độ

Món ăn Việt Nam được chế biến theo nguyên tắc hài hòa âm dương Đặc điểmnày cho rằng người Việt Nam phân biệt thức ăn theo năm mức âm dương, ứng vớingũ hành: Hàn (Thủy), nhiệt (Hỏa), ôn (Mộc), lương (Kim) và bình (Thổ) Để tạo

ra sự hài hòa âm dương đó, có vai trò của nhiều loại gia vị khác nhau: chua, cay,mặn, ngọt và các loại rau gia vị khác

Ngoài ra, atViệt Nam còn có những đặc trưng cơ bản:

1 Hòa đồng đa dạng: Người Việt dễ dàng tiếp thu văn hóa ẩm thực của các dântộc khác, vùng miền khác để từ đó chế biến thành của mình Đây cũng là điểm nổibật của ẩm thực của nước ta từ Bắc chí Nam

Trang 3

2 Ít mỡ: Các món ăn Việt Nam chủ yếu làm từ rau, củ, quả nên ít mỡ, khôngdùng nhiều thịt như các nước phương Tây, cũng không nhiefu dầu mỡ như móncủa người Hoa.

3 Đậm đà hương vị: Khi chế biến thức ăn, người Việt Nam thường dùng nướcmắm để nêm, lại kết hợp với rất nhiều gia vị khác nên món ăn rất đậm đà Mỗimón khác nhau đều có nước chấm tương ứng phù hợp với hương vị

4 Tổng hòa nhiều chất, nhiều vị: Các món ăn Việt Nam thường bao gồm nhiềuloại t5huwjc phẩm như thịt, tôm, cua cùng với các loại rau, đậu, gạo ngoài ra còn

có sự tổng hợp của nhiều vị như chua, cay, mặn, ngọt …

5 Ngon và lành: ẩm thực Việt Nam là sự kết hợp giữa các món, các vị lại đểtạo nên nét đặc trưng riêng Những mát như thịt vịt, ốc thường được chế biến vớicác gia vị ấm nóng như gừng, rau răm… Đó là cách cân bằng âm dương rất thú vị,chỉ có người Việt Nam mới có

6 Dùng đũa: Gắp là một nghệ thuạt, gắp sao cho khéo, cho chặt đừng để rơithức ăn Đôi đũa Việt có mặt trong mọi bữa cơm gia đình, ngay cả khi quay nướng,người Việt cũng ít khi dùng nĩa để xiên thức ăn như người phương Tây

7 Cộng đồng: tính cộng đồng thể hiện rất rõ trong atViệt Nam, bao giwoftrong bữa cơm cũng có bát nước mắm hay bát canh chung, hoặc được múc riêng ra

Ẩm thực Việt Nam trong du lịch:

Văn hóa ẩm thực có những vai trò nhất định và góp phần tạo nên thành côngcho hoạt động xúc tiến, làm tăng hiệu quả của hoạt động này Vai trò đó được thểhiện qua những điểm sau:

- Văn hóa ẩm thực là một yếu tố cấu thành của hoạt động tuyên truyền đểthu hút khách du lịch

Văn hóa ẩm thực được chắt lọc qua các món ăn, đồ uống đặc trưng và cáchthức ăn uống tiêu biểu là một yếu tố cấu thành của hoạt động xúc tiến quảng bá dulịch, cung cấp thông tin, tạo cơ hội cho khách du lịch được trải nghiệm những khíacạnh văn hóa truyền thống và từ đó kích thích nhu cầu đi du lịch của khách

Trang 4

- Văn hóa ẩm thực góp phần đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn cho hoạt độngxúc tiến du lịch.

Bên cạnh nhiều hoạt động trải nghiệm có thể được tổ chức như tham gialàm đồ thủ công mỹ nghệ, tham gia diễn xướng các loại hình văn hóa nghệ thuậttruyền thống, một hoạt động mà khách có nhiều cơ hội trải nghiệm, đó là tham giachế biến và thưởng thức các món ăn truyền thống dân tộc

- Văn hóa ẩm thực truyền thống là một nội dung thông tin quan trọng

Hoạt động xúc tiến du lịch không chỉ là việc cung cấp thông tin đơn thuần

mà cần phải có nhiều nội dung khác nhau để tạo ra một hệ thống các hoạt độngmang tính tổng hợp tác động đến tâm lý, kích thích tính tò mò và kích cầu khách

du lịch tiềm năng

Thông tin tuyên truyền du lịch được khách du lịch quan tâm rất đa dạng, cụthể là khách sạn, điểm du lịch, cảnh quan, các phương tiện vận chuyển, điều kiệngiao thông, và yếu tố ẩm thực (thể hiện qua danh mục các món ăn) Như vậy, thôngtin về vấn đề ăn uống không kém phần quan trọng vì nhiều khách du lịch rất quantâm đến vấn đề này

Các hoạt động khai thác các giá trị văn hóa ẩm thực để xúc tiến quảng bá dulịch của Du lịch Việt Nam hiện nay

- Các hoạt động tuần lễ văn hóa du lịch tại nước ngoài

Hoạt động tuần lễ văn hóa Việt Nam tại nước ngoài được tổ chức thườngxuyên trong thời gian qua Trong nội dung, nhiều hoạt động được triển khai nhưcung cấp các ấn phẩm, biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống, chế biến và giớithiệu các món ăn của Việt Nam

- Các hội chợ triển lãm

Tại các hội chợ triển lãm, ban tổ chức đã giới thiệu các món ăn tiêu biểuthông qua chế biến trực tiếp và tạo cơ hội cho khách du lịch thưởng thức Ở đây, cókhi việc xúc tiến các món ăn chỉ được thực hiện qua các ấn phẩm bằng tranh ảnhhoặc các đoạn video clip

- Các kênh truyền hình quốc tế

Các phim phóng sự hoặc các đoạn phim quảng cáo được ngành du lịch đầu

tư để tổ chức đưa lên các kênh truyền hình quốc tế với nội dung đề cập đến nhiềuthông tin, trong đó hình ảnh về các món ăn của Việt Nam cũng được đăng tải

Trang 5

Câu 3: Bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện trong trang phục và văn hóa mặc với hoạt động du lịch.

Trả lời:

Bắt đầu từ mục đích che chắn bảo vệ cơ thể người trước những bất lợi củathiên nhiên thời tiết và những bất tiện do đồng loại gây ra Trang phục đã từngbước đạt đến độ lưỡng tiến, vừa che chắn vừa làm đẹp cho con người, vừa có giátrị vật thể và phi vật thể trở thành di sản văn hóa

Hầu hết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có những bộ trang phục riêngmang đậm bản sắc truyền thống của dân tộc mình Mỗi dân tộc mang đậm nét một bản sắc văn hóa độc đáo Do đó, trang phục nói chung của từng tộc người nói riêngthật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từtrước đến ngày nay

Thông qua cái nhìn lịch sử kết hợp với đồng đại, ta thấy trang phục người Việt,

từ dạng kiểu đơn sơ, giản dị, đẹp như tâm hồn người Việt cổ tiếp tục phát triển, hàihòa với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới, khỏe khoắn với bao cuộcchiến tranh chống ngoại xâm liên miên Trang phục người Việt là một trong những

gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam

Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta.Với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm; dưới góc độ thẩm mỹ, nó lại là mộttác phẩm Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người Về mặt này,trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao

Cái riêng trong cách mặc của người Việt là cái chất nông nghiệp, mà chất nôngnghiệp thì thể hiện rõ nhất trong chất liệu may mặc Để đối phó hữu hiệu với môitrường tự nhiên, người Việt tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sảnphẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rấtphù hợp với xứ nóng Những chất liệu như là tơ tằm, đay, bông, vải tơ chuối….Mùa lạnh ở Việt Nam, bên cạnh cách mặc đơn giản và rẻ tiền nhất là mặc lồngnhiều áo vào nhau, người ta may độn bông vào áo cho ấm (áo bông, áo mền).Người nông thôn còn dùng loại áo làm bằng lá gồi, gọi là áo tơi mặc đi làm đồngvừa tránh rét,tránh mưa, vừa tránh gió

Theo chủng loại và chức năng, trang phục gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặcphía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức Theo mục đích, có trang phụclao dộng và trang phục lễ hội Theo giới tính, thì có sự phân biệt trang phục nam vàtrang phục nữ Cách thức trang phục của người Việt qua các thời đại bị chi phốibởi hai nhân tố chính, của môi trường tự nhiên hoặc có nguồn gốc từ môi trường tự

Trang 6

nhiên - đó là: khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới và công việc lao động nôngnghiệp trồng lúa nước.

Về mặt màu sắc màu ưa thích truyền thống của người miền Bắc là màu nâu gụ

- màu của đất; màu ưa thích của người Nam Bộ là màu đen - màu của bùn; người

xứ Huế thì ưa màu tím trang nhã Mấy chục năm gần đây, do ảnh hưởng củaphương Tây, màu sắc trang phục đã trở nên hết sức đa dạng Tuy nhiên, trong quanniệm nhân dân thì màu hồng, màu đỏ vẫn là màu của sự may mắn, tốt đẹp, màu

"đại cát"

Bên cạnh hai bộ phận cơ bản là đồ mặc trên và dưới, trang phục ViệtNam còn

có những bộ phận khác không kém điển hình như thắt hông, đồ đội đầu, đồ trangsức

Trang phục Việt nam từ xưa đến nay ngày càng phát triển phong phú, đa dạng

về mặt mẫu mã, màu sắc cũng như hình dạng Từ những chiếc khố của đàn ông haynhững chiếc váy sơ khai của phụ nữ trong thời kỳ Hùng Vương Dần dần, nó pháttriển nên những bộ trong phục mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam như yếm, áo

tứ thân, áo mớ ba mớ bảy, những bộ quấn áo âu hóa … và đặc biệt là chiếc áo dài– trang phục truyền thống của Việt Nam

Ngoài ra, phải kể đến những bộ trang phục mang đậm bản sắc của các dân tộckhác như: Chăm, Tày, Ê Đê, Nùng, Thái… nó cũng góp phần to lớn tạo nên bẳnsắc văn hóa trang phục Việt

Như vậy, qua hàng ngàn năm văn hiến, cùng với sự biến động của lịch sử, đặctrưng trang phục dân tộc qua từng thời kỳ cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên, vượtqua mưu đồ đồng hóa của quân xâm lược Trung Hoa, trang phục Việt nói riêng vànền văn hóa Việt Nam nói chung vẫn giữ được những nét đẹp riêng độc đáo, trong

đó không thể không kể đến những tinh hoa văn hóa kết tinh trên những bộ “quốcphục” mang đậm nét thẩm mỹ và ứng dụng cao

Văn hóa mặc với hoạt động du lịch:

Đối với du lịch, trang phục được coi là tiềm năng thu hút khách du lịch bởi vì

nó làm nên sự độc đáo và tính chất văn hóa của người Việt, đặc biệt là các bộ trangphục của các dân tộc Việt như Chăm, Tày, Thái……

Trang phục với những giá trị thẩm mỹ của nó đã góp phần đáng kể làm tăngthêm sắc thái văn hóa của các dân tộc trên lãnh thổ nước ta

Chiếc áo dài truyền thống của dân tộc ta đã và đang được khai thác để thu hútkhách du lịch bởi vì nó chứa đựng tất cả những tinh hoa văn hóa trong đời sống vàsinh hoạt của người dân Việt Chiếc áo dài có những đặc điểm rất đặc biệt, nómang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành choriêng người đó; không thể có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc áo dài

Trang 7

Người đi may được lấy số đo thật kỹ Khi may xong phải qua một lần mặc thử đểsửa nhỏ nữa mới hoàn thiện Chiếc áo dài với sự thướt tha, quyến rũ, gợi cảmnhưng lại kín đáo Chính vì thế, áo dài tạo nên sự cuốn hút lạ thường đối với dukhách.

Bên cạnh đó, những bộ trang phục dân tộc hay những loại vải dệt và nhuộmthủ công của các dân tộc cũng trở nên quan trọng trong việc thu hút khách du lịchnhư vải thổ cẩm, nó thể hiện được sự tinh tế, khéo léo trong thẩm mỹ của nhữngngười con gái dân tộc

Nhưng ngày nay, do có sự tiếp xúc lẫn nhau dữa các nền văn hóa, trang phụcdần dần biến đổi đa dạng và có thể nó sẽ mất đi những nét riêng vốn dĩ của nó Vìthế, cần có các chính sách bảo tồn và phát triển các bộ trang phục truyền thống.Giữ lại những nét riêng, độc đáo trong trang phục Việt

Câu 4: Bản sắc văn hóa Việt Nam trong ở, đi lại? Những giá trị trong văn hóa

ở được khai thác dưới goác độ du lịch?

Trả lời:

1 Về ở:

Ở là thành tố văn hoá gắn liền với hoạt động sản xuất và sinh hoạt văn hoá tinhthần của các tộc người Các tộc người ở Việt Nam sống trong nhiều loại hình nhàkhác nhau phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình Người Việt đã sớm biết tậndụng các vật liệu có sẵn trong tự nhiên (tre, gỗ, lá) để tạo nên cư trú phù hợp vớimôi trường sông nước và nhiệt đới gió mùa

Việc làm nhà cửa và các công trình kiến trúc thể hiện sự đối phó với môitrường tự nhiên Cuộc sống định cư là đặc điểm nổi bật của cư dân nông nghiệp lúanước Ở những vùng thấp bằng phẳng thường làm nhà trệt, bằng cốt tre hoặc gỗ.gắn với môi trường sông nước thì có những ngôi nhà thuyền, nhà bè, lập nênnhững xóm chài, làng chài ở những vùng núi cao có những ngôi nhà sàn vừa ứngphó với lũ lụt hàng năm, vừa tránh thú dữ

Việc chọn hướng nhà, chọn đất vừa liên quan đến thuật phong thủy vừa là cáchtận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên để ứng phó với nó Hướng nhàthường được chọn là hướng Nam “lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam” Vì ViệtNam ở gần biển, trong khu vực gió mùa trong bốn hướng chỉ có hướng Nam hoặcĐông Nam là tốt nhất Vừa tránh được cái nóng từ phía Tây, cái bão từ phía Đông,

và gió lạnh thổi về vào mùa rét từ phía Bắc, lại tận dụng được gió mát thổi đến vàophía Nam vào mùa nóng

Về mặt kiến trúc theo lối nhà cao cửa rộng, nhà ba gian, hai trái Ngôi nhà còn

là tấm gương phản ánh đặc điểm của truyền thống văn hóa dân tộc Trước hết làmôi trường sông nước phản ánh qua cách làm nhà sàn với mái nghiêng và mái

Trang 8

cong hình thuyền Người Việt Nam có truyền thống thờ cúng tổ tiên và hiếu kháchcho nên ngôi nhà Việt Nam dành ưu tiên gian giwuax cho 2 mục đích: phía trong lànơi đặt bàn thờ, phía ngoài là nơi tiếp khách.

2 Về đi lại:

Để ứng phó với địa bàn cư trú, điều kiện tự nhiên khác nhau mà các tộc ngườitrên lãnh thổ Việt Nam có những phương thức đi lại khác nhau Đối với cư dân ởvùng đồng bằng chiêm trũng, phương tiện đi lại phổ biến là đi bộ, đi bằng thuyền,ghe xuồng Đối với những cư dân cư trú ở vùng núi, vùng rẻo cao, do đặc thù củađịa hình nên người ta đi lại của yếu là đi bộ, tận dụng sức kéo của ngựa, voi

Do địa hình Việt Nam nhiều đồi núi, mặt khác cuộc sống nông nghiệp củangười dân Việt Nam là đi gần – từ nhà ra đồng, từ nhà ra nương … nên giaothông đường bộ kém phát triển Bù lại Việt Nam là vùng sông nước, nơi đây có hệthống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và bờ biển rất dài bởi vậy mà thuận lợi choviệc giao thông đường thủy sách Lĩnh Nam trích quái chép rằng người Việt cổ

“lặn giỏi, bơi tài, thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền” Phương tiện giao thông vàchuyên chở hết sức phong phú: thuyền, ghe, xuồng, bè, tàu phà …

Ngày nay trước những biến đổi sâu sắc về tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hộicủa đất nước, vấn đề ăn, ở, đi lại của các tộc người ở Việt Nam đã và đang có sựcách tân, biến đổi một cách toàn diện và sâu sắc Bên cạnh các phương tiện truyềnthống nhiều phương tiện hiện đại được sử dụng phổ biến

Những giá trị trong văn hóa ở được khai thác dưới goác độ du lịch:

Trong du lịch, Bản sắc văn hóa Việt Nam trong ở và đi lại được khai thác dướihình thức du lịch trải nghiệm, homestay Nó quảng bá cho hình ảnh người dân laođộng Việt Nam, cho du khách thấy và cảm nhận được cuộc sống lao đông, cách ở

và đi lại sinh hoạt hằng ngày của người dân Việt Từ đó tạo nên sự hấp dẫn, lôicuốn khách du lịch với sự trải nghiệm chân thật, giúp cho du khách hiểu thêm vềbsViệt NamViệt Nam

Các loại hình giao thông độc đáo và đặc biệt như cưỡi voi, đi thuyền, bè ….Mang đến cho du khách cảm giác mới lạ, hấp dẫn hay việc ở trên trong những nhàsàn, nhà bè cũng được tận dụng trệt để cho sự phát triển của du lịch Sự mộc mạc,đơn giản nhưng vẫn mang đầy tính nghệ thuật thẩm mỹ trong cách xây dựng cũngnhư trang trí trong những ngôi nhà như vậy cũng là nhân tố quan trọng trong việcthu hút khách du lịch

Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa đạt được hiểu quả cao cũng như chưa được phổbiến các loại hình du lịch có thể phát triển dựa vào Bản sắc văn hóa Việt Namtrong ở và đi lại Vì thế, cần có những chính sách khai thác đi đôi với việc bảo tồncác nơi có lưu lại những đặc trưng riêng như nhà sàn Tây Nguyên, các làng chài

Trang 9

Câu 5: Tín ngưỡng phồn thực trong tục thờ và lễ hội ở Việt Nam? Những vấn

đề đặt ra trong quản lý và khai thác nó trong du lịch?

Trả lời:

Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằngnghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở.Những trí tuệ sắc sảo thì tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ xâydựng nên triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì nhìn thấy ở thực tiễn đómột sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà họ sùng bái nó như thần thánh và xây dựngnên tín ngưỡng phồn thực (phồn: nhiều, thực: nảy nở)

Thờ sinh thực khí

Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là thờ các cơ quansinh sản được đặc tả để nói về ước vọng phồn sinh Người xưa, qua trực giác, tinrằng năng lượng thiêng ở thiên nhiên hay ở con người có khả năng truyền sang vậtnuôi và cây trồng Do vậy tín ngưỡng phồn thực, với nhiều nghi thức thờ cúng,phát sinh và phát triển đa dạng

Hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng đại được tìm thấy trên tượng đá vớiniên đại hàng nghìn năm tr CN ở Văn Điển (Hà Nội), ở những hình khắc trên đátrong thùng lũng Sa-pa, ở nhà mồ Tây Nguyên

Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột (cột đá tự nhiên hoặccột đá được tạc ra, có thể có khắc chữ dựng trước cổng đền miếu, đình chùa) vàcác loại hốc (hốc cây, hốc đá trong các hang động, các kẽ nứt trên đá)

Giã gạo

Từ thời xa xưa, chày và cối - bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệpĐông Nam á - đã là những vật tượngtrưng cho sinh thực khí nam và nữ, còn việcgiã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối Không phải ngẫu nhiên mà trong

vô vàn cách khác nhau được tách vỏ trấu khỏi hạt gạo, người Đông Nam á đã chọncách này; trên các trống đồng khắc rất nhiều những hình nam nữ giã gạo từng đôi.Không gắn việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực, sẽ không thể nào hiểu được tròcướp cầu - một trò chơi Việt Nam rất độc đáo đặc biệt phổ biến ở vùng đất tổ

Trang 10

Phong Châu (Vĩnh Phú) và các khu vực xung quanh: Hai phe tranh nhau một quảcầu màu đỏ (dương), ai cướp được thì mang về thả vào hố (âm) của bên mình Vớicùng ước mong phồn thực, cầu may, cầu hạnh phúc là hàng loạt trò chơi như tungcòn, ném cầu, đánh phết đánh đáo

Cảnh sinh hoạt trên trống đồng

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới mứcchiếc trống đồng - biểu tượng sức mạnh, quyền lực cũng đồng thời biểu tượng toàndiện cho tín ngưỡng phồn thực Cách đánh trống đồng theo lối cầm chày dài màđâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống đồng và còn được bảo lưu ởngười Mường hiện nay là mô phỏng động tác giã gạo - động tác giao phối Trêntâm mặt trống là hình mặt trời với những tia sáng biểu trưng cho sinh thực khínam, và giữa các tia sáng là một hình lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thựckhí nữ Xung quanh mặt trống thường gắn các tượng cóc - con cóc trong ý thức củangười Việt là "cậu ông trời", mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng làmột dạng biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực

Ngay cả những hiện tượng tưởng chừng rất xa xôi như chùa Một Cột (dương)trong cái hồ vuông (âm), tháp Bút (dương) và đài Nghiên (âm) ở cổng đền NgọcSơn (Hà Nội), cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê)soi mình xuống hồ vuông (âm) Thiên Quang Tỉnh trong Văn Miếu vv , cũng đềuliên quan tới tín ngưỡng phồn thực

Cũng không phải ngẫu nhiên mà ở các nơi thờ cúng thường gặp thờ ở bên trái

là cái mõ và bên phải là cái chuông: Sự việc đơn giản này là biểu hiện của cả líluận "Ngũ hành" lẫn tín ngưỡng phồn thực - cái mõ làm bằng gỗ (hành Mộc) đặt ởbên trái (phương Đông) là dương, cái chuông làm bằng đồng (hành Kim) đặt ở bênphải (phương Tây) là âm Tiếng mõ trầm phải hòa với tiếng chuông thanh nếukhông có nam nữ, âm dương hòa hợp sẽ không có cuộc sống vĩnh hằng

Những vấn đề đặt ra trong quản lý và khai thác nó trong du lịch?

Tín ngưỡng phồn thực và các lễ hội của nó ra đời không phải vì mục đích dulịch nhưng lại mang tính du lịch rõ nét Chính vì vậy giữa tín ngưỡng, lễ hội và dulịch có mối quan hệ chặt chẽ tác động chi phối lẫn nhau, trong khi đó xã hội khôngngừng phát triển, chất lượng cuộc sống nâng cao, con người ngày càng muốn tìmhiểu yếu tố tâm linh, trở về cuội nguồn dân tộc vì vậy nhu cầu tín ngưỡng, lễ hộingày càng trở nên thiết yếu Do đó du lịch đã trở thành một cầu nối gắn kết giữacác tín ngưỡng, lễ hội lại với nhau, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người

Vì thế sự tác động của du lịch đến các tín ngưỡng phồn thực được thể hiện rất rõnét:

Nhờ có du lịch mà các giá trị văn hóa trong tín ngưỡng phồn thực được bảo tồn

và phát huy Vì khi xã hội ngày càng phát triển diễn ra sự giao lưu nền văn hóa

Trang 11

Việt hội nhập với các nền văn hóa khác sẽ tạo ra ảnh hưởng tiếp thu tư tưởng mới

mà dần lãng quên đi những lễ hội cổ truyền Những giá trị, yếu tố tâm linh trongtín ngưỡng phồn thực cũng từ đó dần mai một đi Chính vì thế cần đẩy mạnh dulịch tín ngưỡng – lễ hội để đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch

Nhờ có du lịch mà các lễ hội cổ truyền được phục hồi Những lễ hội cổ truyền

về tín ngưỡng phồn thực từ xa xưa thì giá trị tâm linh còn được đến ngày nay rất

mờ nhạt nhưng nhờ có du lịch đã khôi phục, dựng nên lại toàn bộ những yếu tố đóbằng những chính sách, bằng những kinh phí đầu tư cho các tín ngưỡng, lễ hội.Không những thế lễ hội của các tín ngưỡng phồn thực còn đem đến một nguồn lợikinh tế cho địa phương, tạo ra một khối lượng việc làm cho con người nơi đây nhưthông qua các dịch vụ vận chuyển khách, dịch vụ trông giữ xe, bán hàng hóa, đồlưu niệm, các nhà hàng, khách sạn phục vụ cho ăn uống và lưu trú của khách

Lễ hội còn là nền móng cho du lịch phát triển bền vững

Nó là thành tố quan trọng để liên kết các điểm du lịch với nhau, hình thành nêncác tuyến điểm du lịch,giúp cho việc xây dựng các chương trình,các tuor du lịch.Lễhội càng độc đáo, đặc sắc thì tuor du lịch đó càng hấp dẫn Nếu như du lịch đem lạinguồn lợi kinh tế lớn cho địa phương_ nơi có những tín ngưỡng lễ hội thì ngược lạicũng đem đến cho du lịch một nguồn thu lớn và làm cho du lịch ngày càng trở nênphổ biến, rộng rãi hơn

Tuy nhiên song song với thuận lợi mà du lịch đem lại cho lễ hội thì bên cạnh

đó vẫn còn một số vấn đề tồn đọng như:

Khai thác du lịch tới đâu sẽ làm ảnh hưởng, thay đổi đôi khi làm đảo lộn cáchoạt động bình thường của những nơi có tổ chức lễ hội.Du khách với nhiều thànhphần lại là những người có điều kiện và nhu cầu khác nhau, hoạt động của họ cóthể tác động không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn nơi có lễ hội.Nếu không tổchức, điều hành, quản lý lễ hội chu đáo sẽ dẫn đến sự lộn xộn trong quản lý, điềuhành, xã hội…

Xuất hiện các hiện tượng tệ nạn, xã hội như móc túi, tăng giá các sản phẩm bàybán, những sản phẩm như các loại thuốc được bày bán không rõ xuất xứ,các loạisách được in ấn, phát hành một cách đại trà không rõ xuất xứ, nhiều thông tin gâynhiễu về tín ngưỡng, lễ hội ảnh hưởng trực tiếp đến khách du lịch…

Chính vì vậy, cần phải có sự quy hoạch trong du lịch cũng như đấy mạnh côngtác quản lý và khai thác sao cho phù hợp và có hiệu quả

Trang 12

Câu 6: Diễn xướng dân gian? Diễn xướng dân gian trong hoạt động du lịch? (Khai thác và quản lý).

Trả lời:

Nghệ thuật diễn xướng dân gian là một loại hình của văn hóa phi vật thể, giá trịvăn hóa của nó được bảo tồn và lưu truyền trong các hoạt động biểu diễn mangtính tập thể, vì vậy nó mang tính dân gian đặc thù Diễn xướng là sự liên kết, gắn

bó tất cả mọi người tham gia, hình thành nên cộng đồng bền vững với ý thức cùngchung sống Như vậy, diễn xướng mang tính nguyên hợp không phân tách, gồmhai thành tố cơ bản đặc hữu cùng tham gia theo dẫn giải:

- Diễn: Hành động xảy ra

- Xướng: Hát lên, ca lên

Với nội hàm trên, khái niệm diễn xướng có nghĩa sau:

Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa

ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ Diễn xướng dân gian làsinh hoạt văn nghệ của người dân sáng tạo ra trong quá trình lao động, tiếp xúc vớithiên nhiên Bằng lối: nói, kể, ví, vè, hát, hò, trò, múa, ca, vũ, lễ, nhạc, họa họ thểhiện tất cả những tâm trạng trong lúc vui, lúc buồn của cuộc sống sinh hoạt hàngngày Diễn xướng dân gian đã thể hiện rất phong phú và đa dạng cuộc sống củangười dân

Tính độc đáo trong văn hóa dân gian của người Việt được thể hiện ở các loạihình dân ca gắn với các hình thức diễn xướng, các loại hình nghệ thuật biểu diễnnhư dân ca quan họ Bắc Ninh, chèo, tuồng, ca trù, hát xoan, ví dặm ở Nghệ tĩnh,múa rối nước Trong đó thì chèo, ca trù và múa rối nước là những loại hình sânkhấu diễn xướng mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt, đặc biệt là ở vùngđồng bằng Bắc Bộ

Trong kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, múa rối nước là một trongnhững loại hình độc đáo nhất Với sân khấu là mặt nước, diễn viên là các con rối,cộng với hiệu quả của ánh sáng và pháo hoa đã tạo ra những màn biểu diễn hấpdẫn và huyền ảo Nghệ thuật múa rối nước là loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắccủa vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam gắn với nền văn minh lúa nước

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam Loại hình sânkhấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc Chèo mang tính quần chúng và được coi

là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đanghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình Chèo bắt nguồn từ âmnhạc và múa dân gian, Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích,truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trịhiện thực và tư tưởng sâu sắc

Hát ru là hình thức diễn xướng có tính chất bảo thủ nhất so với hò, lý Khotàng hát ru trong các thời điểm khác nhau là vốn liếng và cơ sở quan trọng để từ đó

Ngày đăng: 31/03/2016, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w