Đề tài tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên điều tra sử dụng bảng hỏi, phương pháp điều tra theo phân khu và ô tiêu chuẩn. Đề tài đã điều tra được 2379 cây xanh thuộc 70 loài, 26 họ và 15 bộ. Trong đó, nhóm cây có giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường tập trung chủ yếu ở các khu vực đường trục chính và khuôn viên trung tâm 4 hồ. Tuy nhiên, cảnh quan cây xanh trong trường chưa có một quy hoạch chi tiết nên các khu vực cây trồng có nhiều loài không phù hợp; sự chăm sóc không thường xuyên dẫn đến sự suy giảm sức sống của nhiều loài cây, giảm giá trị thẩm mỹ và công năng sử dụng. Biện pháp lâu dài là phải có một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, với trình độ chuyên môn đảm bảo yêu cầu duy trì và phát triển được mảng xanh trong toàn bộ khuôn viên trường; nâng cao ý thức cộng đồng trong công tác duy trì và bảo vệ hệ thống cây xanh phục vụ lợi ích chung.
Trang 1HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bùi Ngọc Tấn 1* , Nguyễn Anh Đức 1 , Nguyễn Hữu Cường 2
1
Bộ môn Rau hoa quả; 2 Bộ môn Thực vật học, Khoa Nông học
Email*: bntan@hua.edu.vn
Ngày gửi bài: 02.01.2013 Ngày chấp nhận: 22.04.2013
TÓM TẮT
Đề tài tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên điều tra sử dụng bảng hỏi, phương pháp điều tra theo phân khu và ô tiêu chuẩn Đề tài đã điều tra được 2379 cây xanh thuộc 70 loài, 26 họ và 15 bộ Trong đó, nhóm cây
có giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường tập trung chủ yếu ở các khu vực đường trục chính và khuôn viên trung tâm 4 hồ Tuy nhiên, cảnh quan cây xanh trong trường chưa có một quy hoạch chi tiết nên các khu vực cây trồng có nhiều loài không phù hợp; sự chăm sóc không thường xuyên dẫn đến sự suy giảm sức sống của nhiều loài cây, giảm giá trị thẩm mỹ và công năng sử dụng Biện pháp lâu dài là phải có một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, với trình độ chuyên môn đảm bảo yêu cầu duy trì và phát triển được mảng xanh trong toàn bộ khuôn viên trường; nâng cao ý thức cộng đồng trong công tác duy trì và bảo vệ hệ thống cây xanh phục vụ lợi ích chung
Từ khóa: Cây xanh, quản lý, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Status and Direction to Maintain of Green Spaces System
on Hanoi University of Agriculture Campus
ABSTRACT
A survey was conducted to evaluate the current situation of Ha Noi University of Agriculture on-campus green system The study was carried out using questionnaire and the survey and plant inventory were conducted in standardized grids and plots A total of 2.379 trees were identified which belonged to 70 species, 26 families and 15 orders The tree groups of cultural and historical value associated with the university’s development are found in main roads and central campus around the Four Lakes However, there has not been any detailed plan for green landscape in the university so that green spaces include many unsuitable species of plants Moreover, irregular management results in decreasing tree’s vitality, aesthetic value and use efficiency In the long run, professional and highly-qualified management team is required to ensure green development on the whole campus and improve public awareness for the maintenance and protection of green spaces
Keywords: Hanoi University of Agriculture, plant system, urban tree management
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây xanh đóng một vai trò quan trọng trong
môi trường sống của chúng ta Không chỉ có tác
dụng cung cấp oxy, hấp thụ khói bụi ô nhiễm,
cây xanh còn là một phần trong kiến trúc cảnh
quan Theo Gene và Frederik (1996) một hàng
rào cây xanh có khả năng làm giảm 85% chất
chì và một hàng cây rộng 30 m có thể hấp thụ
hầu như toàn bộ bụi và một ha cây xanh có thể lọc từ không khí 50 - 70 tấn bụi/ năm Cây xanh
đô thị có thể làm giảm từ 40% đến 50% cường độ bức xạ mặt trời và hấp thụ 70% đến 75% năng lượng mặt trời Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp, lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng ồn Cây xanh cũng là một
Trang 2trong những yếu tố tạo nên kiến trúc cảnh quan
của một khu vực, theo Hàn Tất Ngan (1999),
cây xanh sử dụng trong việc trang trí cho khuôn
viên rất đa dạng từ mảng rừng, khóm cây, mảng
hoa,… tất cả đều mang những giá trị về thầm
mỹ cao, có ảnh hưởng đến sự cảm nhận của con
người về cảnh quan thiên nhiên
Theo Phạm Hùng Cường (2011), tổ chức
không gian kiến trúc cảnh quan trong trường
đại học phải thể hiện được triết lý đào tạo, thể
hiện được bề dày lịch sử và có không gian mở
giành cho những hoạt động học tập, nghỉ ngơi
và giao lưu Một trong những yếu tố tạo nên các
giá trị này là hệ thống cây xanh trong khuôn
viên trường Các trường đại học của nước ta
hiện nay, có rất ít trường có đủ không gian
giành cho hệ thống cây xanh hay vườn hoa, do
quỹ đất hạn chế, do đó gây ra những ảnh hưởng
bất lợi đến môi trường học tập, sinh hoạt của
sinh viên Khuôn viên cảnh quan trường đại học
Nông nghiệp Hà Nội là một trong những khuôn
viên được đánh giá là đẹp trong các trường đại
học ở nước ta Không chỉ có diện tích rộng, nhiều
không gian trống, không gian mở, mà còn mang
giá trị tinh thần và giá trị văn hóa gắn liền với
lịch sử xây dựng và phát triển của nhà trường
Mặt khác, hệ thống cây xanh kết hợp hồ nước
tạo nên một môi trường trong lành, bên cạnh đó
nâng cao sự hiểu biết của sinh viên trường về
thực vật học
Tuy nhiên, hệ thống cây xanh của trường
chưa có một thiết kế hay quy hoạch tổng thể; sự
nghiên cứu và quản lý về các chủng loại cây
không được thực hiện có khoa học Việc trồng
mới ở các khu vực không có một quy hoạch chi
tiết, gây ra sự nhiễu loạn trong cảnh quan
khuôn viên Công tác giám sát và chỉ đạo việc
chăm sóc, cắt tỉa chưa tốt dẫn đến nhiều cây lâu
năm suy giảm sức sống mạnh, cành mọc lộn xộn
làm xấu cảnh quan; nghiêm trọng hơn là cây
gãy, đổ gây thiệt hại không chỉ về tài sản mà
còn làm mất đi những cây lâu năm vô giá
Mục đích của nghiên cứu này là điều tra,
đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh và thực
trạng quản lý duy trì, chăm sóc để xác định các
yếu tố còn hạn chế và đề xuất các giải pháp
quản lý có hệ thống, giữ gìn và phát triển một khuôn viên cảnh quan bền vững của trường
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Tập trung vào các loại cây bóng mát, cây bụi nằm trong hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường
2.2 Phương pháp điều tra cây xanh theo phân khu
Tiến hành phân chia theo các khu vực để thuận tiện cho việc điều tra Trong các khu vực này, tiếp tục sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn Trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành thống
kê, đánh giá hiện trạng cây xanh trong ô dựa vào phiếu thu thập thông tin Sử dụng máy định vị GPS để xác định vị trí chính xác của các cây được điều tra, đồng thời, tiến hành chụp ảnh hiện trạng cây tại thời điểm điều tra Phân chia khuôn viên làm 5 khu vực (KV) chính: Trục đường chính (KV I), Khu bốn hồ trung tâm (KV II), Khu ký túc xá, Trung tâm văn hóa thể thao và trạm y tế (KV III), Khu Giảng đường Nguyễn Đăng và Khoa Thú y (KV IV), Trục đường gom (KV V)
2.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn có sự tham gia
Tiến hành điều tra trực tiếp cơ quan quản
lý, người phụ trách về công tác quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh trong toàn trường
2.4 Phương pháp định danh khoa học
Xác định tên khoa học theo phương pháp hình thái so sánh với tài liệu của Phạm Hoàng
Hộ (1999) Đối với những loài cây chưa xác định tên chính xác tiến hành thu mẫu thực vật theo Klein và Klein (1979) (dẫn theo Phạm Minh Thịnh, 2009)
2.5 Phương pháp thu thập thông tin và xử
lý số liệu
Số liệu điều tra được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 2013
Trang 33 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn
viên chung của trường
Số lượng bộ, họ của các loài điều tra được
còn thấp, chỉ có 15 bộ với 26 họ thực vật, tuy
nhiên số loài khá lớn, đạt 70 loài với tổng số cây
là 2379 cây Bộ Bồ hòn - Sapindales có số lượng
cây lớn nhất (792 cây), thấp hơn là 2 bộ Sim -
Myrtales (542 cây) và Bộ cau - Arecales (498
cây), ngược lại, thấp nhất là Bộ Ngọc lan -
Magnoliales chỉ có 6 cây (Bảng 1)
Trong số 70 loài chỉ có 10 loài cây có số
lượng phổ biến từ 50 cây trở lên, nhiều nhất
trong số này là bằng lăng với 495 cây chiếm tỷ
lệ là 20,8%, sau đó là sấu và xà cừ đều có tỷ lệ chiếm 11,9% và 11,6%; cau vua đứng thứ 4 với 10,3% Tuy nhiên, trong số các loài này, có 3 loài không thuộc dạng thân gỗ là cau vua (246 cây),
cọ gai (91 cây) và cau ta (65 cây) nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong hiện trạng cây xanh nhà trường Như vậy, tỷ lệ giữa số lượng cây/loài có
sự khác biệt rõ rệt, cho thấy sự không ổn định
về số lượng và sự kém đa dạng về chủng loại Như vậy, để có thể tạo nên sự đa dạng và bền vững cho hệ thống cây xanh tại trường cần phải
bổ sung, trồng thêm các loài cây có số lượng ít nhưng có giá trị thẩm mỹ, công năng cao
Bảng 1 Bảng phân loại theo Bộ, họ và số lượng cây tương ứng
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012
Trang 4Bảng 2 loài cây có số lượng lớn nhất trong khuôn viên trường
2 Sấu Dracontomelom duperreanum Pierre 283 11.9
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012
Phân loại về chiều cao và đường kính đối với
nhóm cây bóng mát là một trong những chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá tình trạng của cây, đồng
thời là tư liệu cho công tác quản lý bảo tồn các loài
cây này (Chế Đình Lý, 1997; Đinh Quang Diệp,
2005) Qua tổng hợp số liệu điều tra, số lượng cây
tập trung nhiều ở mức chiều cao (H) dưới 6m
chiếm tới 50,65% với số lượng là 1205 cây thuộc 51
loài; trong khi đó nhóm cây có chiều cao 6<H ≤ 12m có 762 cây (32,03%) của 26 loài, nhóm cây cao trong khoảng 12<H ≤ 20 m có 25 loài và chiếm tỷ
lệ đạt 13,79%, còn lại nhóm cây cao hơn 20m chỉ chiếm 3,43% với số loài ít nhất là 9 loài (Hình 2) Theo Chế Đình Lý (1997), TT 20/2005-TT-BXD và
QĐ 19/2010 QĐ-UBND TP Hà Nội thì số lượng loài có chiều cao không an toàn chỉ chiếm 3,43%
Hình 1 Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây
615
304
405
161
106
36
0
100
200
300
400
500
600
700
D ≤10 10 < D ≤20 20< D ≤40 40< D ≤60 60< D ≤80 D > 80
Số lượng
Đường kính
Trang 5Hình 2 Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây
Những cây có đường kính từ 40 cm trở lên,
được đánh giá là những cây có giá trị lịch sử cao,
gắn liền với sự phát triển của trường Ở nhóm
này, xà cừ lại là loài chiếm tỷ lệ lớn nhất, sau đó
đến bằng lăng Điều này có được là do lịch sử sử
dụng cây xanh trong khuôn viên trường trước
đây chủ yếu là trồng xà cừ và bằng lăng tập
trung nhiều tại khu vực I và III theo phân khu
điều tra Ngược lại, số lượng sấu và bằng lăng
được sử dụng nhiều hơn trong những năm gần
đây Tuy nhiên, tỷ lệ loài mới được trồng là
thấp, không đa dạng, thể hiện ở số lượng chỉ có
18 loài có D<10cm (Hình 1), do vậy, cần có
những kế hoạch trồng mới tạo sự đa dạng hơn
để có thể đáp ứng các yêu cầu về giá trị khoa
học phục vụ cho học tập của sinh viên và thay
thế dần các cây có xu hướng già cỗi
3.1.1 Hiện trạng cây xanh đường trục
chính
Đường trục chính của trường được xác định
từ cổng trường đến hết Khoa Nông học Đây là
trục được lưu thông chính của trường và được bố
trí hệ thống cây xanh dày đặc Thống kê cho
thấy chỉ có 15 loài, nhưng số lượng cây khá lớn
(323 cây), trong số này chủ yếu là các cây được
trồng lâu năm, phổ biến nhất là bằng lăng
chiếm 43% tiếp sau là xà cừ chiếm 32,8%, các cây còn lại chiếm tỷ lệ rất ít (Hình 3) Tuy nhiên, hệ thống cây trồng lộn xộn, chỗ dày, chỗ thưa, không có sự cân đối về khoảng cách cây và
sự cân bằng về độ cao tán cây Với sự phân bố không đồng đều cả về khoảng cách và sự kết hợp các loài cây, đồng thời không gian sinh trưởng hẹp do vỉa hè hẹp (< 3m), 1 phía bị cản trở bởi
hệ thống điện lưới dẫn đến việc quản lý, chăm sóc khó khăn, chưa đạt tiêu chuẩn theo TCVN 362/2005 của bộ Xây dựng Có đến 162 cây bị hạn chế sinh trưởng và bị cắt hạ không đạt yêu cầu, dẫn đến tình trạng cây sinh trưởng kém (32 cây) và không đạt yêu cầu về thẩm mỹ Đặc biệt, trong hệ thống cây trồng còn bố trí 1 số cây chưa phù hợp nằm trong nhóm cây cầm trồng và hạn chế trồng trong đường đô thị dựa theo Thông tư
số 20/2005/TT - BXD và Nghị định
64/2010/NĐ-CP như nhóm cây ăn quả có 3 loài (Trứng cá, nhãn, thị), 01 loài cây trồng có độc - vông đồng, bên cạnh đó, một số loài không phù hợp trồng ở vỉa hè như tre, cau bụi
3.1.2 Hiện trạng cây xanh khu vực khuôn viên trung tâm 4 hồ
Cảnh quan của trường Đại học Nông nghiệp đáng chú ý nhất và nổi bật nhất là hệ thống
1205
762
328
82
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
Số lượng
Mét Tổng số cây Số lượng loài
Trang 6Hình 3 Hiện trạng sinh trưởng của cây xanh ở các khu vực điều tra
cảnh quan khu vực trung tâm với 4 hồ nước
nhân tạo và hệ thống cây xanh khá đa dạng
phong phú, tạo nên đặc trưng trong toàn bộ
cảnh quan chung của trường
Số lượng loài thực vật tại khu vực này
chiếm tỷ lệ cao nhất so với tất cả các khu vực
còn lại (48 loài), nhóm cây thân gỗ có 38 loài,
nhóm cây thân bụi có 10 loài và 1 thuộc nhóm
tre trúc (Hình 3) Số lượng cây trong loài nhiều
nhất là nhóm cây thuộc họ cau dừa (Areaceae)
Sự phân bố các loài cây theo dạng đường biên,
dạng tuyến có sự đăng đối, thể hiện rõ nhất là
trước của nhà hành chính với các hàng cây tùng
tháp, hàng cau vua, hai hàng xoài và cau vua
chạy thẳng đường nhìn vào nhà hành chính đã
tạo nên không gian uy nghi, trang trọng cho
khu vực trung tâm Tuy nhiên, khu vực giảng
đường C, giảng đường A, cây xanh bố trí còn lộn
xộn, không tạo được không gian phù hợp với các
giảng đường này
Không gian sinh trưởng của cây khá thuận
lợi, chỉ 10% số cây bị hạn chế về không gian sinh
trưởng Tuy nhiên, số lượng cây bị sâu hại lá lớn
(94 cây) và cây có biểu hiện sinh trưởng kém (64
cây) là những biểu hiện cho sự suy giảm sức
sống của cây; biểu hiện ở các loài điều tra được
là bàng, phượng, liễu là rõ rệt nhất Những cây này lại tập trung chủ yếu ở ven tuyến đường giáp với các hồ nước, làm giảm tính thẩm mỹ của các khu vực này Do vậy, cần thiết phải có
sự chăm sóc, cắt tỉa và bổ sung loài cây phù hợp cho không gian tiếp giáp với mặt nước
3.1.3 Hiện trạng cây xanh khu vực ký túc
xá, trạm y tế và trung tâm giáo dục thể chất và thể thao
Đây là khu vực có nhiều sự thay đổi liên tục qua các năm về kiến trúc công trình, các khu nhà ký túc xá được xây dựng mới và cải tạo liên tục gây ra sự thay đổi về không gian và biến động về diện tích của mảng xanh
Khu vực này có 38 loài với số lượng 788 cây
là khu vực có số lượng cây nhiều nhất (Hình 3) Hơn nữa, số loài cây bóng mát chiếm đến 50% nhưng số lượng chỉ bằng 1/3 so với các loài còn lại, chỉ tập trung xung quanh khu nhà thi đấu
và sân vận động Điều này cho thấy sự mất cân đối về mảng xanh ngay trong khu vực này và trong toàn khuôn viên trường Các khu nhà ký túc xá không có hệ thống cây bóng mát xung quanh đóng vai trò che chắn, giảm tiếng ồn; các khu ký túc xá mới xây dựng, cây trồng không
323
548
788
226
492
72
162
45
198
122
44
353
0
100
200
300
400
500
600
700
800
900
số lượng
số loài Tổng số cây cây nổi rễ KGST bị hạn chế cây bị sâu hại TTST Kém cây nghiêng > 10 độ
Trang 7đạt tiêu chuẩn lại không có sự chăm sóc, dẫn
đến nhiều vị trí bị khuyết cây, cây còi cọc; các
khu hoa viên, khu vui chơi không được đầu tư
chăm sóc, cây sinh trưởng kém, cỏ dại xâm lấn
làm mất đi tác dụng trang trí và không gian sử
dụng kém hiệu quả
3.1.4 Hiện trạng cây xanh khuôn viên
giảng đường Nguyễn Đăng Khoa Thú y
Đây là một khu vực có số lượng cây thấp
nhất, nhưng số loài khá đa dạng Theo điều tra
có 22 loài và 194 cây, trong số này chủ yếu là
các cây mới trồng, chỉ có hệ thống cây xà cừ ở
khu vực đường vào Khoa Thú y là được trồng từ
30 năm về trước, số lượng cây thuộc loài này
cũng cao nhất trong khu vực (38 cây) chiếm tỷ lệ
19,6% (Hình 3) Đặc biệt, trong khu vực khuôn
viên phía trong giảng đường trung tâm bố trí hệ
thống cây với quá nhiều cây thuộc 2 loài có chất
độc như đủng đỉnh và trúc đào, không phù hợp
với khuôn viên trường học (TCVN 362-2005)
Tình hình sinh trưởng của các loài biểu
hiện kém chiếm tỷ lệ khá cao, mặc dù được
trồng cách đây 5 năm, nhưng toàn bộ cây sấu
đều còi cọc, bên cạnh đó là cau vua (66,7%), cọ
dầu (60%) thuộc khu đất bãi xung quanh giảng
đường trung tâm Nguyên nhân là do khu vực
trồng cây này nằm trên vùng đất trũng, nền đất
ruộng cũ, không thoát nước và cây trồng lựa
chọn quá nhỏ, lại không được chăm sóc nên dẫn
đến nhiều cây chết Hệ thống cây trồng ở khu
vực này không thể hiện được vai trò trang trí với công trình kiến trúc bề thế như Giảng đường trung tâm Bên cạnh đó, 20% số cây có không gian sinh trưởng bị giới hạn trong đó chủ yếu là sát cột đèn và hố ga Sâu hại bộ tán lá xuất hiện nhiều, đặc biệt là với bằng lăng, đủng đỉnh, hoa sữa, liễu rủ và trúc đào
3.1.5 Hiện trạng cây xanh khu đường gom quanh trường
Hệ thống đường gom quanh trường mới được xây dựng từ năm 2011 đến nay đã đưa vào
sử dụng Trường cũng đã có qui hoạch trồng các loại cây bóng mát để tạo nên hàng rào an ninh cho khu vực trong trường
Tuy nhiên, qua điều tra khảo sát thực tế, chỉ có 9 loài với 492 cây trên tổng số chiều dài hơn 3km quanh trường (Hình 3) Trong đó, bằng lăng có số lượng lớn nhất với 285 cây (57,9%), sấu có 164 cây (33,3%), ngoài ra còn 1 số loài với
số lượng không đáng kể
Cây ở khu vực này chủ yếu là mới trồng được 1 năm nên chúng đều có chiều cao dưới 6 m
và đường kính thân<10 cm Không gian sinh trưởng của các loài cây đều không bị ảnh hưởng, tuy nhiên, do không có sự chăm sóc và quản lý, nên so với số lượng cây ban đầu thì bị mất đi
508 cây các loại Bên cạnh đó, số cây sinh trưởng kém trong khu vực này kém do cỏ dại mọc xâm lấn, không có hệ thống cọc chống và sâu hại bộ
lá (353 cây)
Bảng 3 Đánh giá sự quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh từ phía cơ quan quản lý
Mức độ Nội dung
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Rất quan tâm Quan tâm
Chưa quan tâm
Lập kế hoạch thiết kế cây trồng phù hợp không
Ghi chú: -: Không; X: Có
Nguồn: Điều tra phòng quản trị thiết bị, 2012
Trang 83.1.6 Thực trạng quản lý của Nhà trường
Hiện nay, việc quản lý hệ thống cây xanh có
hai đơn vị riêng rẽ Một là, phòng quản trị thiết bị
tập trung vào đề xuất kế hoạch cắt tỉa hàng năm
Thời gian cắt tỉa thường được tiến hành vào mùa
hè, khi cây đang trong quá trình sinh trưởng
mạnh và chủ yếu là phòng chống mùa bão và gãy
đổ Do vậy, việc quản lý còn lỏng lẻo, dẫn đến công
tác cắt tỉa tiến hành rất sơ sài, làm giảm đi tính
thẩm mỹ của hệ thống cây xanh các khu vực
đường trục chính và khu vực 4 hồ Hai là, việc duy
tu, duy trì lại được giao cho tổ môi trường của
trung tâm dịch vụ trường học Việc quản lý này
không những gây ra sự chồng chéo trong quản lý
mà còn gây lãng phí nguồn kinh phí dành cho các
công tác duy trì hệ thống cây xanh trong trường
như thuê công lao động duy trì và thuê cắt tỉa cây
Cả 2 tổ chức trên đều không có các kế hoạch quản
lý có hệ thống, có tính khoa học và hiệu quả (Bảng
3) Nguyên nhân của các kết quả trên một phần là
do kinh phí hạn chế nhưng phần còn lại là do chưa
có sự quan tâm, sát sao trong việc tạo nên một hệ
thống cây xanh phát huy hết các tác dụng về mặt
công năng và phát triển bền vững của các cấp
phòng ban
3.2 Đề xuất giải pháp quản lý
3.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô
Theo John & cs (2003), việc quản lý cây
xanh trong đô thị cần phải xem xét đến nhiều
yếu tố, trong đó phải đòi hỏi sự mở rộng đến các
ngành, cơ quan quản lý và người trực tiếp được
hưởng lợi để duy trì sức sống của cây trong đô
thị Tại Mỹ, việc giáo dục ý thức cộng đồng với
sự duy trì và phát triển cây xanh trồng trong đô
thị là một trong những yếu tố quan trọng nhất
trong quản lý cây xanh đô thị, để làm được điều
này thì vấn đề là phải cho cộng đồng thấy được
giá trị của hệ thống cây trồng trong đô thị
(Urban Forest Management Plan, 2005) Để
quản lý và duy trì tốt hệ thống cây xanh đường
phố, cây xanh công viên, Chế Đình Lý (1997) đề
cập đến việc lập kế hoạch tổng thể bao gồm kế
hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Trong đó,
kế hoạch ngắn hạn là việc xây dựng các phương
pháp liên quan đến hoạt động quản lý hàng
ngày, các lịch công tác, bảo dưỡng, kiểm tra, báo cáo, ghi nhận và các kế hoạch hành động tình thế đặc biệt (giông, bão)
Đối với trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
hệ thống cây xanh để phát huy được vai trò là nơi sinh hoạt cộng đồng, phục vụ nghỉ ngơi, giải trí và thẩm mỹ (Chế Đình Lý,1997) thì mới chỉ
có 1 khu vực 4 hồ trung tâm Do đó, để có thể duy trì và phát triển các mảng xanh trong khuôn viên trường hiệu quả hơn cần có hệ thống quản lý một cách chặt chẽ hơn
- Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống cây xanh dựa trên qui hoạch tổng thể của trường trong tương lai Duy trì và phát triển hệ thống cây xanh đa dạng về chủng loại, màu sắc, làm
tư liệu cho học tập và nghiên cứu
- Tăng cường giáo dục và ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ và chăm sóc hệ thống cây xanh trong trường Tổ chức các đội hình sinh viên tình nguyện thường xuyên tham gia công tác chăm sóc cây xanh
- Giao nhiệm vụ và quy trình chăm sóc, cắt tỉa, duy tu, bảo dưỡng cho một đơn vị chuyên nghiệp chịu trách nhiệm; giám sát việc thực hiện công tác cắt tỉa, đốn hạ đối với hệ thống cây bóng mát theo đúng nghị định 64 của Chính phủ (2010)
- Hoàn thiện hệ thống quản lý cây xanh bằng phần mềm GIS Hàng năm thu thập số liệu bổ sung cho nguồn dữ liệu để có những biện pháp chăm sóc phù hợp
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể
Đối với hệ thống cây xanh hiện nay trong khu vực của trường đáp ứng các yêu cầu về diện tích cây xanh trên một đơn vị dân số theo qui định của bộ xây dựng ban hành (TCVN 362 - 2005), tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể
để phát huy tối đa giá trị và công năng sử dụng của hệ thống cây xanh trong toàn trường
a Lập danh sách các cây nằm trong nhóm các cây cần bảo tồn và các biện pháp bảo tồn
Các loài có trong sách đỏ Việt Nam, trong
đó, có 1 loài là sưa bắc với 23 cây
Nhóm cây có số lượng ít và hiếm: trúc đùi
gà, bụt mọc, tùng bách tán
Trang 9Các cây trồng có đường kính từ 60 cm trở
lên có 142 cây thuộc 12 loài Đây là những cây
trồng lâu năm, có giá trị về lịch sử cũng như giá
trị văn hóa gắn với trường
Nhưng cây thuộc nhóm này cần được đánh
dấu, chụp ảnh lại hàng năm để theo dõi; cần cắt
tỉa mức tối thiểu để đảm bảo sức sống cho cây,
nhưng cũng cần đảm bảo cây không bị đổ ngã
khi mùa bão; tổ chức phòng trừ sâu bệnh theo
định kỳ 6 tháng/1 lần
b Các biện pháp quản lý và chăm sóc
Việc quản lý và chăm sóc đối với mỗi nhóm
cây trồng là khác nhau, theo Đinh Quang Diệp
(2005), đối với nhóm cây bóng mát, cây thân gỗ
cần tiến hành cắt tỉa định kỳ Tùy thuộc vào
điều kiện sinh trưởng của cây và khả năng đầu
tư mà đưa ra các biện pháp cụ thể
Đối với hệ thống cây xanh trong khuôn viên
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, cần tiến
hành các biện pháp cắt tỉa, duy trì là chủ yếu
Trong đó, tiến hành các biện pháp cắt gọn tán
(439 cây), chống đỡ (510 cây), lấy nhánh khô và
cắt tỉa cành sâu bệnh, cành mọc xuề xòa (533 cây)
là cần thiết Bên cạnh đó là việc trồng lại và thay
thế các cây trồng già cỗi, cây bị chết, bị khuyết ở
tất cả các khu vực trong trường (Bảng 4)
c Sử dụng một số chủng loại cây trồng mới
- Đối với cây xanh trồng trên vỉa hè, lề
đường:
Sử dụng các cây trồng thuộc nhóm thân gỗ
thấp cho các vị trí đường nội bộ, ít có ô tô qua
lại Bổ sung các cây thân gỗ có hoa đẹp, tán gọn,
cây thường xanh, bộ rễ ăn sâu, không nổi cho
các vị trí thay thế ở trên trục đường chính
(Nguyễn Danh, 2010, Phạm Minh Thịnh, 2009) Nên trồng ở đường vào ký túc xá sinh viên, đường bao xung quanh khu giảng đường trung tâm, các đoạn trống trên trục đường chính Bố trí trồng cây với khoảng cách 3 - 5m, kiểu 2 hàng cây đối xứng hai bên đường, có sự xen kẽ giữa cây thường xanh với cây rụng lá theo mùa
và cây hoa đẹp Các loài trồng như viết, vàng anh, long não, lộc vừng, sưa, chò chỉ,…
- Đối với cây xanh trồng trong khuôn viên, khu vườn hoa, các khu vực bãi cỏ:
Sử dụng chủ yếu là các nhóm cây có hoa đẹp, cây bụi thấp kết hợp với cây gỗ cao (Đinh Quang Diệp, 2005, TCVN 362 - 2005) Nhóm cây bụi, cây trồng thảm, lựa chọn các cây có khả năng thích nghi với điều kiện ít chăm sóc, cây lâu năm, chịu cắt tỉa Nhóm cây gỗ cao, sử dụng trồng mới các cây gỗ quý, cây có tán đẹp, hoa đẹp, xen kẽ, trồng vào các vị trí còn trống ở khu vực trung tâm 4 hồ, khu giảng đường trung tâm, khu vực nhà thi đấu Khu vực ký túc xá lựa chọn các cây trồng có tác dụng cản bụi, bản lá lớn, có tác dụng xua đuổi côn trùng Các loài cây
có thể sử dụng cho khu vực này như: Ngũ gia bì, Long não, Muồng hoa đào, Ngọc lan, Móng bò,… Đối với các khu vực II và III, cần bổ sung nhóm cây trồng bụi, cây hoa, lá màu để làm tăng thêm giá trị của cảnh quan Các vị trí có đặt tượng cần bố trí hệ thống các cây này nhiều hơn phù hợp với không gian và được cắt tỉa gọn gàng, bố trí theo bố cục đối xứng (Chế Đình Lý,
1997, Hàn Tất Ngạn, 1999) Một số loài có thể
sử dụng như nguyệt quế, ngọc giá, vạn tuế, huyết dụ, thiên tuế…
Bảng 4 Một số biện pháp chăm sóc đề xuất cho cây xanh ở các khu vực điều tra
Phân khu Số
cây Đốn hạ
Trồng lại
Cũ Mới Cắt thấp
tán Cắt gọn tán Nâng vòm lá
Chống sửa Lấy nhánh khô
Gỡ phụ,
ký Sinh
Nguồn: tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012
Trang 104 KẾT LUẬN
Hệ thống cây xanh trong khuôn viên trường
Đại học Nông nghiệp không chỉ tạo nên một môi
trường trong lành, mà còn có một giá trị lịch sử và
văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường
Hiện nay, có tới 2379 cây xanh thuộc 70 loài đang
được trồng trong khuôn viên chung của trường
Trong đó, chỉ có 10 loài cây có số lượng đạt từ 50
cây trở lên và 303 cây có đường kính lớn trên 40
cm tạo giá trị về thẩm mỹ và lịch sử
Trong 5 khu vực khảo sát, chỉ có khu vực
trung tâm 4 hồ có chủng loài cây đa dạng, số
lượng cây lớn thứ 2 và hầu hết là cây trồng lâu
năm tạo nên cảnh quan đẹp cho khu vực nhà
hành chính Các khu vực còn lại, hệ thống cây
xanh còn lộn xộn, không có quy hoạch, chưa
phát huy được hết giá trị công năng và sức sinh
trưởng chậm
Công tác quản lý và chăm sóc còn lỏng lẻo,
công tác cắt tỉa hàng năm không đảm bảo yêu
cầu kỹ thuật làm nguy hại đến sinh trưởng của
cây Các đơn vị có tham gia quản lý chưa có
những kế hoạch chi tiết cho việc duy trì, chăm
sóc và cải tạo bền vững; mới chỉ tập trung vào
một số công việc mang tính chất thời điểm như
chặt hạ, cắt tỉa một số cây trong mùa mưa bão
Các biện pháp quản lý cần thiết phải được 1
đơn vị chịu trách nhiệm cụ thể, việc lập kế
hoạch duy trì, cải tạo và cắt tỉa hàng năm phải
dựa trên cơ sở hiện trạng cây xanh điều tra
được Hệ thống cây xanh cần được chăm sóc và
trồng mới đặc biệt là ở các khu vực ký túc xá,
khu giảng đường trung tâm
LỜI CẢM ƠN
Nội dung bài báo thuộc đề tài cấp trường
T2012-1-1 của trường Đại học Nông nghiệp Hà
Nội Chúng tôi xin cảm ơn Nhà trường đã tài trợ
kinh phí và tạo điều kiện cho nhóm tác giả hoàn
thành đề tài và bài báo này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Hùng Cường (2011) Tổ chức không gian kiến
trúc cảnh quan các trường đại học, cao đẳng, Tạp
chí Kiến trúc Việt Nam số 05-2011
Nguyễn Danh (2010) Cây xanh đô thị ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 57
Đinh Quang Diệp (2005) Bài giảng Quản lý Cây xanh
đô thị, Ngành Công nghệ Rau hoa quả và cảnh quan, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội
Phạm Hoàng Hộ (1999) Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ Chế Đình Lý (1997) Cây xanh - Phát triển và quản lý trong Môi trường đô thị, NXB Nông nghiệp TPHCM
Hàn Tất Ngạn (1999) Kiến trúc cảnh quan, NXB Xây dựng
Hàn Tất Ngạn (2000) Nghệ thuật vườn công viên, NXB Xây dựng
Phạm Minh Thịnh, Tôn Thất Phát, Mai Văn Phô (2009) Nghiên cứu cây xanh đô thị trong kiến trúc cảnh quan của thành phố Huế, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 46
Tập thể tác giả (2007) Sách đỏ Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia
TCVN 362 - 2005 - “quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế”, Bộ xây dựng, 2005
Thông tư - TT20XD05, Hướng dẫn quản lý cây xanh
đô thị, Bộ xây dựng ban hành ngày 20/12/2005 Nghị định 64/2010/NĐ-CP, Nghị định về quản lý Cây xanh đô thị, Chính phủ ban hành ngày 11/6/2010 Quy định, Quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 14/5/2010
James R.Clark, Nelda P.Matheny, Genni Cross and Victoria Wake, 1997, A Model of Urban Forest Sustainability, Journal of Arboriculture 23(1), Jan
1997
Gene W Grey - Frederik J Deneke, 1996, Urban forestry, Publisher: John Wiley And Sons, Printed
in the United states of America
John F Dwyer, David J Nowak, and Mary Heather Noble and Susan M.Sisinni, 2000, Connecting People With Ecosystems in the 21st Century: An Assessment of Our Nation’s Urban Forests, Gen Tech Rep PNW-GTR-490 Portland, OR: U.S De-partment of Agriculture, Forest Service, Pacific Northwest Research Station 483 p
John F Dwyer, David J Nowak, and Mary Heather Noble (2003) Sustaining Urban Forests, Journal of Arboriculture 29(1): January 2003
Urban Forest Management Plan (2005) Urban Forestry Best Management Practices for Public Works Managers, APWA Press