1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

10 986 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện Trạng Và Hướng Duy Trì Hệ Thống Cây Xanh Trong Khuôn Viên Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Tác giả Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Anh Đức
Trường học Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Môi trường và Cây Xanh
Thể loại Báo cáo đề tài
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 734,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên điều tra sử dụng bảng hỏi, phương pháp điều tra theo phân khu và ô tiêu chuẩn. Đề tài đã điều tra được 2379 cây xanh thuộc 70 loài, 26 họ và 15 bộ. Trong đó, nhóm cây có giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường tập trung chủ yếu ở các khu vực đường trục chính và khuôn viên trung tâm 4 hồ. Tuy nhiên, cảnh quan cây xanh trong trường chưa có một quy hoạch chi tiết nên các khu vực cây trồng có nhiều loài không phù hợp; sự chăm sóc không thường xuyên dẫn đến sự suy giảm sức sống của nhiều loài cây, giảm giá trị thẩm mỹ và công năng sử dụng. Biện pháp lâu dài là phải có một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, với trình độ chuyên môn đảm bảo yêu cầu duy trì và phát triển được mảng xanh trong toàn bộ khuôn viên trường; nâng cao ý thức cộng đồng trong công tác duy trì và bảo vệ hệ thống cây xanh phục vụ lợi ích chung.

Trang 1

HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Bùi Ngọc Tấn 1* , Nguyễn Anh Đức 1 , Nguyễn Hữu Cường 2

1

Bộ môn Rau hoa quả; 2 Bộ môn Thực vật học, Khoa Nông học

Email*: bntan@hua.edu.vn

Ngày gửi bài: 02.01.2013 Ngày chấp nhận: 22.04.2013

TÓM TẮT

Đề tài tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên điều tra sử dụng bảng hỏi, phương pháp điều tra theo phân khu và ô tiêu chuẩn Đề tài đã điều tra được 2379 cây xanh thuộc 70 loài, 26 họ và 15 bộ Trong đó, nhóm cây

có giá trị lịch sử, văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường tập trung chủ yếu ở các khu vực đường trục chính và khuôn viên trung tâm 4 hồ Tuy nhiên, cảnh quan cây xanh trong trường chưa có một quy hoạch chi tiết nên các khu vực cây trồng có nhiều loài không phù hợp; sự chăm sóc không thường xuyên dẫn đến sự suy giảm sức sống của nhiều loài cây, giảm giá trị thẩm mỹ và công năng sử dụng Biện pháp lâu dài là phải có một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, với trình độ chuyên môn đảm bảo yêu cầu duy trì và phát triển được mảng xanh trong toàn bộ khuôn viên trường; nâng cao ý thức cộng đồng trong công tác duy trì và bảo vệ hệ thống cây xanh phục vụ lợi ích chung

Từ khóa: Cây xanh, quản lý, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Status and Direction to Maintain of Green Spaces System

on Hanoi University of Agriculture Campus

ABSTRACT

A survey was conducted to evaluate the current situation of Ha Noi University of Agriculture on-campus green system The study was carried out using questionnaire and the survey and plant inventory were conducted in standardized grids and plots A total of 2.379 trees were identified which belonged to 70 species, 26 families and 15 orders The tree groups of cultural and historical value associated with the university’s development are found in main roads and central campus around the Four Lakes However, there has not been any detailed plan for green landscape in the university so that green spaces include many unsuitable species of plants Moreover, irregular management results in decreasing tree’s vitality, aesthetic value and use efficiency In the long run, professional and highly-qualified management team is required to ensure green development on the whole campus and improve public awareness for the maintenance and protection of green spaces

Keywords: Hanoi University of Agriculture, plant system, urban tree management

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây xanh đóng một vai trò quan trọng trong

môi trường sống của chúng ta Không chỉ có tác

dụng cung cấp oxy, hấp thụ khói bụi ô nhiễm,

cây xanh còn là một phần trong kiến trúc cảnh

quan Theo Gene và Frederik (1996) một hàng

rào cây xanh có khả năng làm giảm 85% chất

chì và một hàng cây rộng 30 m có thể hấp thụ

hầu như toàn bộ bụi và một ha cây xanh có thể lọc từ không khí 50 - 70 tấn bụi/ năm Cây xanh

đô thị có thể làm giảm từ 40% đến 50% cường độ bức xạ mặt trời và hấp thụ 70% đến 75% năng lượng mặt trời Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp, lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng ồn Cây xanh cũng là một

Trang 2

trong những yếu tố tạo nên kiến trúc cảnh quan

của một khu vực, theo Hàn Tất Ngan (1999),

cây xanh sử dụng trong việc trang trí cho khuôn

viên rất đa dạng từ mảng rừng, khóm cây, mảng

hoa,… tất cả đều mang những giá trị về thầm

mỹ cao, có ảnh hưởng đến sự cảm nhận của con

người về cảnh quan thiên nhiên

Theo Phạm Hùng Cường (2011), tổ chức

không gian kiến trúc cảnh quan trong trường

đại học phải thể hiện được triết lý đào tạo, thể

hiện được bề dày lịch sử và có không gian mở

giành cho những hoạt động học tập, nghỉ ngơi

và giao lưu Một trong những yếu tố tạo nên các

giá trị này là hệ thống cây xanh trong khuôn

viên trường Các trường đại học của nước ta

hiện nay, có rất ít trường có đủ không gian

giành cho hệ thống cây xanh hay vườn hoa, do

quỹ đất hạn chế, do đó gây ra những ảnh hưởng

bất lợi đến môi trường học tập, sinh hoạt của

sinh viên Khuôn viên cảnh quan trường đại học

Nông nghiệp Hà Nội là một trong những khuôn

viên được đánh giá là đẹp trong các trường đại

học ở nước ta Không chỉ có diện tích rộng, nhiều

không gian trống, không gian mở, mà còn mang

giá trị tinh thần và giá trị văn hóa gắn liền với

lịch sử xây dựng và phát triển của nhà trường

Mặt khác, hệ thống cây xanh kết hợp hồ nước

tạo nên một môi trường trong lành, bên cạnh đó

nâng cao sự hiểu biết của sinh viên trường về

thực vật học

Tuy nhiên, hệ thống cây xanh của trường

chưa có một thiết kế hay quy hoạch tổng thể; sự

nghiên cứu và quản lý về các chủng loại cây

không được thực hiện có khoa học Việc trồng

mới ở các khu vực không có một quy hoạch chi

tiết, gây ra sự nhiễu loạn trong cảnh quan

khuôn viên Công tác giám sát và chỉ đạo việc

chăm sóc, cắt tỉa chưa tốt dẫn đến nhiều cây lâu

năm suy giảm sức sống mạnh, cành mọc lộn xộn

làm xấu cảnh quan; nghiêm trọng hơn là cây

gãy, đổ gây thiệt hại không chỉ về tài sản mà

còn làm mất đi những cây lâu năm vô giá

Mục đích của nghiên cứu này là điều tra,

đánh giá hiện trạng hệ thống cây xanh và thực

trạng quản lý duy trì, chăm sóc để xác định các

yếu tố còn hạn chế và đề xuất các giải pháp

quản lý có hệ thống, giữ gìn và phát triển một khuôn viên cảnh quan bền vững của trường

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Tập trung vào các loại cây bóng mát, cây bụi nằm trong hệ thống cây xanh khuôn viên chung của trường

2.2 Phương pháp điều tra cây xanh theo phân khu

Tiến hành phân chia theo các khu vực để thuận tiện cho việc điều tra Trong các khu vực này, tiếp tục sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn Trên các ô tiêu chuẩn, tiến hành thống

kê, đánh giá hiện trạng cây xanh trong ô dựa vào phiếu thu thập thông tin Sử dụng máy định vị GPS để xác định vị trí chính xác của các cây được điều tra, đồng thời, tiến hành chụp ảnh hiện trạng cây tại thời điểm điều tra Phân chia khuôn viên làm 5 khu vực (KV) chính: Trục đường chính (KV I), Khu bốn hồ trung tâm (KV II), Khu ký túc xá, Trung tâm văn hóa thể thao và trạm y tế (KV III), Khu Giảng đường Nguyễn Đăng và Khoa Thú y (KV IV), Trục đường gom (KV V)

2.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn có sự tham gia

Tiến hành điều tra trực tiếp cơ quan quản

lý, người phụ trách về công tác quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh trong toàn trường

2.4 Phương pháp định danh khoa học

Xác định tên khoa học theo phương pháp hình thái so sánh với tài liệu của Phạm Hoàng

Hộ (1999) Đối với những loài cây chưa xác định tên chính xác tiến hành thu mẫu thực vật theo Klein và Klein (1979) (dẫn theo Phạm Minh Thịnh, 2009)

2.5 Phương pháp thu thập thông tin và xử

lý số liệu

Số liệu điều tra được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 2013

Trang 3

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng hệ thống cây xanh khuôn

viên chung của trường

Số lượng bộ, họ của các loài điều tra được

còn thấp, chỉ có 15 bộ với 26 họ thực vật, tuy

nhiên số loài khá lớn, đạt 70 loài với tổng số cây

là 2379 cây Bộ Bồ hòn - Sapindales có số lượng

cây lớn nhất (792 cây), thấp hơn là 2 bộ Sim -

Myrtales (542 cây) và Bộ cau - Arecales (498

cây), ngược lại, thấp nhất là Bộ Ngọc lan -

Magnoliales chỉ có 6 cây (Bảng 1)

Trong số 70 loài chỉ có 10 loài cây có số

lượng phổ biến từ 50 cây trở lên, nhiều nhất

trong số này là bằng lăng với 495 cây chiếm tỷ

lệ là 20,8%, sau đó là sấu và xà cừ đều có tỷ lệ chiếm 11,9% và 11,6%; cau vua đứng thứ 4 với 10,3% Tuy nhiên, trong số các loài này, có 3 loài không thuộc dạng thân gỗ là cau vua (246 cây),

cọ gai (91 cây) và cau ta (65 cây) nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong hiện trạng cây xanh nhà trường Như vậy, tỷ lệ giữa số lượng cây/loài có

sự khác biệt rõ rệt, cho thấy sự không ổn định

về số lượng và sự kém đa dạng về chủng loại Như vậy, để có thể tạo nên sự đa dạng và bền vững cho hệ thống cây xanh tại trường cần phải

bổ sung, trồng thêm các loài cây có số lượng ít nhưng có giá trị thẩm mỹ, công năng cao

Bảng 1 Bảng phân loại theo Bộ, họ và số lượng cây tương ứng

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012

Trang 4

Bảng 2 loài cây có số lượng lớn nhất trong khuôn viên trường

2 Sấu Dracontomelom duperreanum Pierre 283 11.9

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012

Phân loại về chiều cao và đường kính đối với

nhóm cây bóng mát là một trong những chỉ tiêu

quan trọng để đánh giá tình trạng của cây, đồng

thời là tư liệu cho công tác quản lý bảo tồn các loài

cây này (Chế Đình Lý, 1997; Đinh Quang Diệp,

2005) Qua tổng hợp số liệu điều tra, số lượng cây

tập trung nhiều ở mức chiều cao (H) dưới 6m

chiếm tới 50,65% với số lượng là 1205 cây thuộc 51

loài; trong khi đó nhóm cây có chiều cao 6<H ≤ 12m có 762 cây (32,03%) của 26 loài, nhóm cây cao trong khoảng 12<H ≤ 20 m có 25 loài và chiếm tỷ

lệ đạt 13,79%, còn lại nhóm cây cao hơn 20m chỉ chiếm 3,43% với số loài ít nhất là 9 loài (Hình 2) Theo Chế Đình Lý (1997), TT 20/2005-TT-BXD và

QĐ 19/2010 QĐ-UBND TP Hà Nội thì số lượng loài có chiều cao không an toàn chỉ chiếm 3,43%

Hình 1 Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây

615

304

405

161

106

36

0

100

200

300

400

500

600

700

D ≤10 10 < D ≤20 20< D ≤40 40< D ≤60 60< D ≤80 D > 80

Số lượng

Đường kính

Trang 5

Hình 2 Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây

Những cây có đường kính từ 40 cm trở lên,

được đánh giá là những cây có giá trị lịch sử cao,

gắn liền với sự phát triển của trường Ở nhóm

này, xà cừ lại là loài chiếm tỷ lệ lớn nhất, sau đó

đến bằng lăng Điều này có được là do lịch sử sử

dụng cây xanh trong khuôn viên trường trước

đây chủ yếu là trồng xà cừ và bằng lăng tập

trung nhiều tại khu vực I và III theo phân khu

điều tra Ngược lại, số lượng sấu và bằng lăng

được sử dụng nhiều hơn trong những năm gần

đây Tuy nhiên, tỷ lệ loài mới được trồng là

thấp, không đa dạng, thể hiện ở số lượng chỉ có

18 loài có D<10cm (Hình 1), do vậy, cần có

những kế hoạch trồng mới tạo sự đa dạng hơn

để có thể đáp ứng các yêu cầu về giá trị khoa

học phục vụ cho học tập của sinh viên và thay

thế dần các cây có xu hướng già cỗi

3.1.1 Hiện trạng cây xanh đường trục

chính

Đường trục chính của trường được xác định

từ cổng trường đến hết Khoa Nông học Đây là

trục được lưu thông chính của trường và được bố

trí hệ thống cây xanh dày đặc Thống kê cho

thấy chỉ có 15 loài, nhưng số lượng cây khá lớn

(323 cây), trong số này chủ yếu là các cây được

trồng lâu năm, phổ biến nhất là bằng lăng

chiếm 43% tiếp sau là xà cừ chiếm 32,8%, các cây còn lại chiếm tỷ lệ rất ít (Hình 3) Tuy nhiên, hệ thống cây trồng lộn xộn, chỗ dày, chỗ thưa, không có sự cân đối về khoảng cách cây và

sự cân bằng về độ cao tán cây Với sự phân bố không đồng đều cả về khoảng cách và sự kết hợp các loài cây, đồng thời không gian sinh trưởng hẹp do vỉa hè hẹp (< 3m), 1 phía bị cản trở bởi

hệ thống điện lưới dẫn đến việc quản lý, chăm sóc khó khăn, chưa đạt tiêu chuẩn theo TCVN 362/2005 của bộ Xây dựng Có đến 162 cây bị hạn chế sinh trưởng và bị cắt hạ không đạt yêu cầu, dẫn đến tình trạng cây sinh trưởng kém (32 cây) và không đạt yêu cầu về thẩm mỹ Đặc biệt, trong hệ thống cây trồng còn bố trí 1 số cây chưa phù hợp nằm trong nhóm cây cầm trồng và hạn chế trồng trong đường đô thị dựa theo Thông tư

số 20/2005/TT - BXD và Nghị định

64/2010/NĐ-CP như nhóm cây ăn quả có 3 loài (Trứng cá, nhãn, thị), 01 loài cây trồng có độc - vông đồng, bên cạnh đó, một số loài không phù hợp trồng ở vỉa hè như tre, cau bụi

3.1.2 Hiện trạng cây xanh khu vực khuôn viên trung tâm 4 hồ

Cảnh quan của trường Đại học Nông nghiệp đáng chú ý nhất và nổi bật nhất là hệ thống

1205

762

328

82

0

200

400

600

800

1000

1200

1400

Số lượng

Mét Tổng số cây Số lượng loài

Trang 6

Hình 3 Hiện trạng sinh trưởng của cây xanh ở các khu vực điều tra

cảnh quan khu vực trung tâm với 4 hồ nước

nhân tạo và hệ thống cây xanh khá đa dạng

phong phú, tạo nên đặc trưng trong toàn bộ

cảnh quan chung của trường

Số lượng loài thực vật tại khu vực này

chiếm tỷ lệ cao nhất so với tất cả các khu vực

còn lại (48 loài), nhóm cây thân gỗ có 38 loài,

nhóm cây thân bụi có 10 loài và 1 thuộc nhóm

tre trúc (Hình 3) Số lượng cây trong loài nhiều

nhất là nhóm cây thuộc họ cau dừa (Areaceae)

Sự phân bố các loài cây theo dạng đường biên,

dạng tuyến có sự đăng đối, thể hiện rõ nhất là

trước của nhà hành chính với các hàng cây tùng

tháp, hàng cau vua, hai hàng xoài và cau vua

chạy thẳng đường nhìn vào nhà hành chính đã

tạo nên không gian uy nghi, trang trọng cho

khu vực trung tâm Tuy nhiên, khu vực giảng

đường C, giảng đường A, cây xanh bố trí còn lộn

xộn, không tạo được không gian phù hợp với các

giảng đường này

Không gian sinh trưởng của cây khá thuận

lợi, chỉ 10% số cây bị hạn chế về không gian sinh

trưởng Tuy nhiên, số lượng cây bị sâu hại lá lớn

(94 cây) và cây có biểu hiện sinh trưởng kém (64

cây) là những biểu hiện cho sự suy giảm sức

sống của cây; biểu hiện ở các loài điều tra được

là bàng, phượng, liễu là rõ rệt nhất Những cây này lại tập trung chủ yếu ở ven tuyến đường giáp với các hồ nước, làm giảm tính thẩm mỹ của các khu vực này Do vậy, cần thiết phải có

sự chăm sóc, cắt tỉa và bổ sung loài cây phù hợp cho không gian tiếp giáp với mặt nước

3.1.3 Hiện trạng cây xanh khu vực ký túc

xá, trạm y tế và trung tâm giáo dục thể chất và thể thao

Đây là khu vực có nhiều sự thay đổi liên tục qua các năm về kiến trúc công trình, các khu nhà ký túc xá được xây dựng mới và cải tạo liên tục gây ra sự thay đổi về không gian và biến động về diện tích của mảng xanh

Khu vực này có 38 loài với số lượng 788 cây

là khu vực có số lượng cây nhiều nhất (Hình 3) Hơn nữa, số loài cây bóng mát chiếm đến 50% nhưng số lượng chỉ bằng 1/3 so với các loài còn lại, chỉ tập trung xung quanh khu nhà thi đấu

và sân vận động Điều này cho thấy sự mất cân đối về mảng xanh ngay trong khu vực này và trong toàn khuôn viên trường Các khu nhà ký túc xá không có hệ thống cây bóng mát xung quanh đóng vai trò che chắn, giảm tiếng ồn; các khu ký túc xá mới xây dựng, cây trồng không

323

548

788

226

492

72

162

45

198

122

44

353

0

100

200

300

400

500

600

700

800

900

số lượng

số loài Tổng số cây cây nổi rễ KGST bị hạn chế cây bị sâu hại TTST Kém cây nghiêng > 10 độ

Trang 7

đạt tiêu chuẩn lại không có sự chăm sóc, dẫn

đến nhiều vị trí bị khuyết cây, cây còi cọc; các

khu hoa viên, khu vui chơi không được đầu tư

chăm sóc, cây sinh trưởng kém, cỏ dại xâm lấn

làm mất đi tác dụng trang trí và không gian sử

dụng kém hiệu quả

3.1.4 Hiện trạng cây xanh khuôn viên

giảng đường Nguyễn Đăng Khoa Thú y

Đây là một khu vực có số lượng cây thấp

nhất, nhưng số loài khá đa dạng Theo điều tra

có 22 loài và 194 cây, trong số này chủ yếu là

các cây mới trồng, chỉ có hệ thống cây xà cừ ở

khu vực đường vào Khoa Thú y là được trồng từ

30 năm về trước, số lượng cây thuộc loài này

cũng cao nhất trong khu vực (38 cây) chiếm tỷ lệ

19,6% (Hình 3) Đặc biệt, trong khu vực khuôn

viên phía trong giảng đường trung tâm bố trí hệ

thống cây với quá nhiều cây thuộc 2 loài có chất

độc như đủng đỉnh và trúc đào, không phù hợp

với khuôn viên trường học (TCVN 362-2005)

Tình hình sinh trưởng của các loài biểu

hiện kém chiếm tỷ lệ khá cao, mặc dù được

trồng cách đây 5 năm, nhưng toàn bộ cây sấu

đều còi cọc, bên cạnh đó là cau vua (66,7%), cọ

dầu (60%) thuộc khu đất bãi xung quanh giảng

đường trung tâm Nguyên nhân là do khu vực

trồng cây này nằm trên vùng đất trũng, nền đất

ruộng cũ, không thoát nước và cây trồng lựa

chọn quá nhỏ, lại không được chăm sóc nên dẫn

đến nhiều cây chết Hệ thống cây trồng ở khu

vực này không thể hiện được vai trò trang trí với công trình kiến trúc bề thế như Giảng đường trung tâm Bên cạnh đó, 20% số cây có không gian sinh trưởng bị giới hạn trong đó chủ yếu là sát cột đèn và hố ga Sâu hại bộ tán lá xuất hiện nhiều, đặc biệt là với bằng lăng, đủng đỉnh, hoa sữa, liễu rủ và trúc đào

3.1.5 Hiện trạng cây xanh khu đường gom quanh trường

Hệ thống đường gom quanh trường mới được xây dựng từ năm 2011 đến nay đã đưa vào

sử dụng Trường cũng đã có qui hoạch trồng các loại cây bóng mát để tạo nên hàng rào an ninh cho khu vực trong trường

Tuy nhiên, qua điều tra khảo sát thực tế, chỉ có 9 loài với 492 cây trên tổng số chiều dài hơn 3km quanh trường (Hình 3) Trong đó, bằng lăng có số lượng lớn nhất với 285 cây (57,9%), sấu có 164 cây (33,3%), ngoài ra còn 1 số loài với

số lượng không đáng kể

Cây ở khu vực này chủ yếu là mới trồng được 1 năm nên chúng đều có chiều cao dưới 6 m

và đường kính thân<10 cm Không gian sinh trưởng của các loài cây đều không bị ảnh hưởng, tuy nhiên, do không có sự chăm sóc và quản lý, nên so với số lượng cây ban đầu thì bị mất đi

508 cây các loại Bên cạnh đó, số cây sinh trưởng kém trong khu vực này kém do cỏ dại mọc xâm lấn, không có hệ thống cọc chống và sâu hại bộ

lá (353 cây)

Bảng 3 Đánh giá sự quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh từ phía cơ quan quản lý

Mức độ Nội dung

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Rất quan tâm Quan tâm

Chưa quan tâm

Lập kế hoạch thiết kế cây trồng phù hợp không

Ghi chú: -: Không; X: Có

Nguồn: Điều tra phòng quản trị thiết bị, 2012

Trang 8

3.1.6 Thực trạng quản lý của Nhà trường

Hiện nay, việc quản lý hệ thống cây xanh có

hai đơn vị riêng rẽ Một là, phòng quản trị thiết bị

tập trung vào đề xuất kế hoạch cắt tỉa hàng năm

Thời gian cắt tỉa thường được tiến hành vào mùa

hè, khi cây đang trong quá trình sinh trưởng

mạnh và chủ yếu là phòng chống mùa bão và gãy

đổ Do vậy, việc quản lý còn lỏng lẻo, dẫn đến công

tác cắt tỉa tiến hành rất sơ sài, làm giảm đi tính

thẩm mỹ của hệ thống cây xanh các khu vực

đường trục chính và khu vực 4 hồ Hai là, việc duy

tu, duy trì lại được giao cho tổ môi trường của

trung tâm dịch vụ trường học Việc quản lý này

không những gây ra sự chồng chéo trong quản lý

mà còn gây lãng phí nguồn kinh phí dành cho các

công tác duy trì hệ thống cây xanh trong trường

như thuê công lao động duy trì và thuê cắt tỉa cây

Cả 2 tổ chức trên đều không có các kế hoạch quản

lý có hệ thống, có tính khoa học và hiệu quả (Bảng

3) Nguyên nhân của các kết quả trên một phần là

do kinh phí hạn chế nhưng phần còn lại là do chưa

có sự quan tâm, sát sao trong việc tạo nên một hệ

thống cây xanh phát huy hết các tác dụng về mặt

công năng và phát triển bền vững của các cấp

phòng ban

3.2 Đề xuất giải pháp quản lý

3.2.1 Nhóm giải pháp vĩ mô

Theo John & cs (2003), việc quản lý cây

xanh trong đô thị cần phải xem xét đến nhiều

yếu tố, trong đó phải đòi hỏi sự mở rộng đến các

ngành, cơ quan quản lý và người trực tiếp được

hưởng lợi để duy trì sức sống của cây trong đô

thị Tại Mỹ, việc giáo dục ý thức cộng đồng với

sự duy trì và phát triển cây xanh trồng trong đô

thị là một trong những yếu tố quan trọng nhất

trong quản lý cây xanh đô thị, để làm được điều

này thì vấn đề là phải cho cộng đồng thấy được

giá trị của hệ thống cây trồng trong đô thị

(Urban Forest Management Plan, 2005) Để

quản lý và duy trì tốt hệ thống cây xanh đường

phố, cây xanh công viên, Chế Đình Lý (1997) đề

cập đến việc lập kế hoạch tổng thể bao gồm kế

hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Trong đó,

kế hoạch ngắn hạn là việc xây dựng các phương

pháp liên quan đến hoạt động quản lý hàng

ngày, các lịch công tác, bảo dưỡng, kiểm tra, báo cáo, ghi nhận và các kế hoạch hành động tình thế đặc biệt (giông, bão)

Đối với trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,

hệ thống cây xanh để phát huy được vai trò là nơi sinh hoạt cộng đồng, phục vụ nghỉ ngơi, giải trí và thẩm mỹ (Chế Đình Lý,1997) thì mới chỉ

có 1 khu vực 4 hồ trung tâm Do đó, để có thể duy trì và phát triển các mảng xanh trong khuôn viên trường hiệu quả hơn cần có hệ thống quản lý một cách chặt chẽ hơn

- Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống cây xanh dựa trên qui hoạch tổng thể của trường trong tương lai Duy trì và phát triển hệ thống cây xanh đa dạng về chủng loại, màu sắc, làm

tư liệu cho học tập và nghiên cứu

- Tăng cường giáo dục và ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ và chăm sóc hệ thống cây xanh trong trường Tổ chức các đội hình sinh viên tình nguyện thường xuyên tham gia công tác chăm sóc cây xanh

- Giao nhiệm vụ và quy trình chăm sóc, cắt tỉa, duy tu, bảo dưỡng cho một đơn vị chuyên nghiệp chịu trách nhiệm; giám sát việc thực hiện công tác cắt tỉa, đốn hạ đối với hệ thống cây bóng mát theo đúng nghị định 64 của Chính phủ (2010)

- Hoàn thiện hệ thống quản lý cây xanh bằng phần mềm GIS Hàng năm thu thập số liệu bổ sung cho nguồn dữ liệu để có những biện pháp chăm sóc phù hợp

3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể

Đối với hệ thống cây xanh hiện nay trong khu vực của trường đáp ứng các yêu cầu về diện tích cây xanh trên một đơn vị dân số theo qui định của bộ xây dựng ban hành (TCVN 362 - 2005), tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể

để phát huy tối đa giá trị và công năng sử dụng của hệ thống cây xanh trong toàn trường

a Lập danh sách các cây nằm trong nhóm các cây cần bảo tồn và các biện pháp bảo tồn

Các loài có trong sách đỏ Việt Nam, trong

đó, có 1 loài là sưa bắc với 23 cây

Nhóm cây có số lượng ít và hiếm: trúc đùi

gà, bụt mọc, tùng bách tán

Trang 9

Các cây trồng có đường kính từ 60 cm trở

lên có 142 cây thuộc 12 loài Đây là những cây

trồng lâu năm, có giá trị về lịch sử cũng như giá

trị văn hóa gắn với trường

Nhưng cây thuộc nhóm này cần được đánh

dấu, chụp ảnh lại hàng năm để theo dõi; cần cắt

tỉa mức tối thiểu để đảm bảo sức sống cho cây,

nhưng cũng cần đảm bảo cây không bị đổ ngã

khi mùa bão; tổ chức phòng trừ sâu bệnh theo

định kỳ 6 tháng/1 lần

b Các biện pháp quản lý và chăm sóc

Việc quản lý và chăm sóc đối với mỗi nhóm

cây trồng là khác nhau, theo Đinh Quang Diệp

(2005), đối với nhóm cây bóng mát, cây thân gỗ

cần tiến hành cắt tỉa định kỳ Tùy thuộc vào

điều kiện sinh trưởng của cây và khả năng đầu

tư mà đưa ra các biện pháp cụ thể

Đối với hệ thống cây xanh trong khuôn viên

trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, cần tiến

hành các biện pháp cắt tỉa, duy trì là chủ yếu

Trong đó, tiến hành các biện pháp cắt gọn tán

(439 cây), chống đỡ (510 cây), lấy nhánh khô và

cắt tỉa cành sâu bệnh, cành mọc xuề xòa (533 cây)

là cần thiết Bên cạnh đó là việc trồng lại và thay

thế các cây trồng già cỗi, cây bị chết, bị khuyết ở

tất cả các khu vực trong trường (Bảng 4)

c Sử dụng một số chủng loại cây trồng mới

- Đối với cây xanh trồng trên vỉa hè, lề

đường:

Sử dụng các cây trồng thuộc nhóm thân gỗ

thấp cho các vị trí đường nội bộ, ít có ô tô qua

lại Bổ sung các cây thân gỗ có hoa đẹp, tán gọn,

cây thường xanh, bộ rễ ăn sâu, không nổi cho

các vị trí thay thế ở trên trục đường chính

(Nguyễn Danh, 2010, Phạm Minh Thịnh, 2009) Nên trồng ở đường vào ký túc xá sinh viên, đường bao xung quanh khu giảng đường trung tâm, các đoạn trống trên trục đường chính Bố trí trồng cây với khoảng cách 3 - 5m, kiểu 2 hàng cây đối xứng hai bên đường, có sự xen kẽ giữa cây thường xanh với cây rụng lá theo mùa

và cây hoa đẹp Các loài trồng như viết, vàng anh, long não, lộc vừng, sưa, chò chỉ,…

- Đối với cây xanh trồng trong khuôn viên, khu vườn hoa, các khu vực bãi cỏ:

Sử dụng chủ yếu là các nhóm cây có hoa đẹp, cây bụi thấp kết hợp với cây gỗ cao (Đinh Quang Diệp, 2005, TCVN 362 - 2005) Nhóm cây bụi, cây trồng thảm, lựa chọn các cây có khả năng thích nghi với điều kiện ít chăm sóc, cây lâu năm, chịu cắt tỉa Nhóm cây gỗ cao, sử dụng trồng mới các cây gỗ quý, cây có tán đẹp, hoa đẹp, xen kẽ, trồng vào các vị trí còn trống ở khu vực trung tâm 4 hồ, khu giảng đường trung tâm, khu vực nhà thi đấu Khu vực ký túc xá lựa chọn các cây trồng có tác dụng cản bụi, bản lá lớn, có tác dụng xua đuổi côn trùng Các loài cây

có thể sử dụng cho khu vực này như: Ngũ gia bì, Long não, Muồng hoa đào, Ngọc lan, Móng bò,… Đối với các khu vực II và III, cần bổ sung nhóm cây trồng bụi, cây hoa, lá màu để làm tăng thêm giá trị của cảnh quan Các vị trí có đặt tượng cần bố trí hệ thống các cây này nhiều hơn phù hợp với không gian và được cắt tỉa gọn gàng, bố trí theo bố cục đối xứng (Chế Đình Lý,

1997, Hàn Tất Ngạn, 1999) Một số loài có thể

sử dụng như nguyệt quế, ngọc giá, vạn tuế, huyết dụ, thiên tuế…

Bảng 4 Một số biện pháp chăm sóc đề xuất cho cây xanh ở các khu vực điều tra

Phân khu Số

cây Đốn hạ

Trồng lại

Cũ Mới Cắt thấp

tán Cắt gọn tán Nâng vòm lá

Chống sửa Lấy nhánh khô

Gỡ phụ,

ký Sinh

Nguồn: tổng hợp từ kết quả điều tra, 2012

Trang 10

4 KẾT LUẬN

Hệ thống cây xanh trong khuôn viên trường

Đại học Nông nghiệp không chỉ tạo nên một môi

trường trong lành, mà còn có một giá trị lịch sử và

văn hóa gắn liền với sự phát triển của trường

Hiện nay, có tới 2379 cây xanh thuộc 70 loài đang

được trồng trong khuôn viên chung của trường

Trong đó, chỉ có 10 loài cây có số lượng đạt từ 50

cây trở lên và 303 cây có đường kính lớn trên 40

cm tạo giá trị về thẩm mỹ và lịch sử

Trong 5 khu vực khảo sát, chỉ có khu vực

trung tâm 4 hồ có chủng loài cây đa dạng, số

lượng cây lớn thứ 2 và hầu hết là cây trồng lâu

năm tạo nên cảnh quan đẹp cho khu vực nhà

hành chính Các khu vực còn lại, hệ thống cây

xanh còn lộn xộn, không có quy hoạch, chưa

phát huy được hết giá trị công năng và sức sinh

trưởng chậm

Công tác quản lý và chăm sóc còn lỏng lẻo,

công tác cắt tỉa hàng năm không đảm bảo yêu

cầu kỹ thuật làm nguy hại đến sinh trưởng của

cây Các đơn vị có tham gia quản lý chưa có

những kế hoạch chi tiết cho việc duy trì, chăm

sóc và cải tạo bền vững; mới chỉ tập trung vào

một số công việc mang tính chất thời điểm như

chặt hạ, cắt tỉa một số cây trong mùa mưa bão

Các biện pháp quản lý cần thiết phải được 1

đơn vị chịu trách nhiệm cụ thể, việc lập kế

hoạch duy trì, cải tạo và cắt tỉa hàng năm phải

dựa trên cơ sở hiện trạng cây xanh điều tra

được Hệ thống cây xanh cần được chăm sóc và

trồng mới đặc biệt là ở các khu vực ký túc xá,

khu giảng đường trung tâm

LỜI CẢM ƠN

Nội dung bài báo thuộc đề tài cấp trường

T2012-1-1 của trường Đại học Nông nghiệp Hà

Nội Chúng tôi xin cảm ơn Nhà trường đã tài trợ

kinh phí và tạo điều kiện cho nhóm tác giả hoàn

thành đề tài và bài báo này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phạm Hùng Cường (2011) Tổ chức không gian kiến

trúc cảnh quan các trường đại học, cao đẳng, Tạp

chí Kiến trúc Việt Nam số 05-2011

Nguyễn Danh (2010) Cây xanh đô thị ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 57

Đinh Quang Diệp (2005) Bài giảng Quản lý Cây xanh

đô thị, Ngành Công nghệ Rau hoa quả và cảnh quan, Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội

Phạm Hoàng Hộ (1999) Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ Chế Đình Lý (1997) Cây xanh - Phát triển và quản lý trong Môi trường đô thị, NXB Nông nghiệp TPHCM

Hàn Tất Ngạn (1999) Kiến trúc cảnh quan, NXB Xây dựng

Hàn Tất Ngạn (2000) Nghệ thuật vườn công viên, NXB Xây dựng

Phạm Minh Thịnh, Tôn Thất Phát, Mai Văn Phô (2009) Nghiên cứu cây xanh đô thị trong kiến trúc cảnh quan của thành phố Huế, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 46

Tập thể tác giả (2007) Sách đỏ Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia

TCVN 362 - 2005 - “quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - Tiêu chuẩn thiết kế”, Bộ xây dựng, 2005

Thông tư - TT20XD05, Hướng dẫn quản lý cây xanh

đô thị, Bộ xây dựng ban hành ngày 20/12/2005 Nghị định 64/2010/NĐ-CP, Nghị định về quản lý Cây xanh đô thị, Chính phủ ban hành ngày 11/6/2010 Quy định, Quản lý hệ thống cây xanh đô thị, công viên, vườn hoa, vườn thú trên địa bàn thành phố Hà Nội,

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành ngày 14/5/2010

James R.Clark, Nelda P.Matheny, Genni Cross and Victoria Wake, 1997, A Model of Urban Forest Sustainability, Journal of Arboriculture 23(1), Jan

1997

Gene W Grey - Frederik J Deneke, 1996, Urban forestry, Publisher: John Wiley And Sons, Printed

in the United states of America

John F Dwyer, David J Nowak, and Mary Heather Noble and Susan M.Sisinni, 2000, Connecting People With Ecosystems in the 21st Century: An Assessment of Our Nation’s Urban Forests, Gen Tech Rep PNW-GTR-490 Portland, OR: U.S De-partment of Agriculture, Forest Service, Pacific Northwest Research Station 483 p

John F Dwyer, David J Nowak, and Mary Heather Noble (2003) Sustaining Urban Forests, Journal of Arboriculture 29(1): January 2003

Urban Forest Management Plan (2005) Urban Forestry Best Management Practices for Public Works Managers, APWA Press

Ngày đăng: 28/08/2013, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Bảng phân loại theo Bộ, họ và số lượng cây tương ứng - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bảng 1. Bảng phân loại theo Bộ, họ và số lượng cây tương ứng (Trang 3)
Bảng 2. loài cây có số lượng lớn nhất trong khuôn viên trường - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bảng 2. loài cây có số lượng lớn nhất trong khuôn viên trường (Trang 4)
Hình 1. Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Hình 1. Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây (Trang 4)
Hình 2. Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Hình 2. Số lượng cây và loài phân bố theo các cấp độ cao cây (Trang 5)
Hình 3. Hiện trạng sinh trưởng của cây xanh ở các khu vực điều tra - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Hình 3. Hiện trạng sinh trưởng của cây xanh ở các khu vực điều tra (Trang 6)
Bảng 3. Đánh giá sự quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh từ phía cơ quan quản lý - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bảng 3. Đánh giá sự quản lý và chăm sóc hệ thống cây xanh từ phía cơ quan quản lý (Trang 7)
Bảng 4. Một số biện pháp chăm sóc đề xuất cho cây xanh ở các khu vực điều tra - HIỆN TRẠNG VÀ HƯỚNG DUY TRÌ HỆ THỐNG CÂY XANH TRONG KHUÔN VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bảng 4. Một số biện pháp chăm sóc đề xuất cho cây xanh ở các khu vực điều tra (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w