1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh

9 460 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Phạm Kim Đăng, Đặng Vũ Bình, Phạm Hồng Ngân, Marie-Louise SCIPPO, Caroline DOUNY, Guy MAGHUIN-ROGISTER, Guy DEGAND
Trường học Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 197,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

The recent rapid growth of the shrimp production in Vietnam has linked with negative impacts inducing environmental, socio-economic and food safety concerns. The problem has been compounded by disease outbreaks due to viral and bacterial pathogens. Use of drugs, particularly antibiotics in the shrimp rearing systems for control of diseases has become a major concern. In this context a study was undertaken to understand the pattern of antibiotics usage in Quang Ninh, a major shrimp farming province in the North. Thirty shrimp farms comprising the three types of farming systems, viz. extensive, semi-intensive and intensive (10 farms for each type), were investigated. Results revealed that at least 12 veterinary drugs containing 8 different antibiotics (ampicillin, streptomycin, oxytetracyclin, norfloxacin, enrofloxacin, oxolinic acid, rifamicin and phyto-antibiotic) were used by the farmers. Out of the 30 farms surveyed, 25 farms used veterinary drugs containing one or more of the 8 antibiotics as listed above. The most widely used antibiotics were norfloxacin, enrofloxacin, oxolinic acid (quinolon group). The drugs were sold by primary agents (agent I) and secondary agents (agent II). Most of the products were sold by the primary agents from Chinese companies (62.5%), the rest being other products produced by joint-ventures in Vietnam. The drugs were sold through two channels, either directly to farmers or through secondary agents

Trang 1

hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm

trên địa bàn tỉnh quảng ninh

The status quo of shrimp production and use of antibiotics in shrimp farming

in Quang Ninh province Phạm Kim Đăng1

, Đặng Vũ Bình1

, Phạm Hồng Ngân2

, Marie- Louise SCIPPO3

Caroline DOUNY3

, Guy MAGHUIN-ROGISTER3

, Guy DEGAND3

SUMMARY The recent rapid growth of the shrimp production in Vietnam has linked with negative impacts inducing environmental, socio-economic and food safety concerns The problem has been compounded by disease outbreaks due to viral and bacterial pathogens Use of drugs, particularly antibiotics in the shrimp rearing systems for control of diseases has become a major concern In this context a study was undertaken to understand the pattern

of antibiotics usage in Quang Ninh, a major shrimp farming province in the North Thirty shrimp farms comprising the three types of farming systems, viz extensive, semi-intensive and intensive (10 farms for each type), were investigated Results revealed that at least 12 veterinary drugs containing 8 different antibiotics (ampicillin, streptomycin, oxytetracyclin, norfloxacin, enrofloxacin, oxolinic acid, rifamicin and phyto-antibiotic) were used by the farmers Out of the 30 farms surveyed, 25 farms used veterinary drugs containing one or more of the 8 antibiotics as listed above The most widely used antibiotics were norfloxacin, enrofloxacin, oxolinic acid (quinolon group) The drugs were sold by primary agents (agent I) and secondary agents (agent II) Most of the products were sold by the primary agents from Chinese companies (62.5%), the rest being other products produced

by joint-ventures in Vietnam The drugs were sold through two channels, either directly to farmers or through secondary agents

Key words: Antibiotics, Shrimp production, Aquaculture, Quang Ninh province

1 ĐặT VấN Đề

Những năm gần đây ngành thủy sản đ và

đang đóng góp vai trò quan trọng vào nền kinh

tế nước ta Cùng với sự nỗ lực của Chính phủ,

Bộ Thủy sản và các Bộ, ngành liên quan,

ngành thủy sản đ vượt qua rào cản an toàn

thực phẩm, an toàn dịch bệnh khi xuất khẩu

sản phẩm thủy sản tại các thị trường khó tính

trên thế giới như EU, Mỹ, Canada, Nhật Bản

góp phần quan trọng đưa hàng thủy sản Việt

Nam thâm nhập vào thị trường của 106 nước

khác nhau Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản trung bình hàng năm giai đoạn 2001-2006 tăng trên 10%, năm 2006 đạt 3.357 triệu USD, trong đó tôm và các sản phẩm từ tôm chiếm 42,67% (Bộ Thủy sản, 2007) Tuy nhiên, do hoạt động kiểm soát dư lượng hóa chất, kháng sinh có hại đến sức khoẻ người tiêu dùng chưa triệt để tại tất cả các công đoạn từ nuôi trồng,

đánh bắt, thu mua vận chuyển nguyên liệu,

đến chế biến, nên số lô hàng hải sản bị thị trường nhập khẩu phát hiện kháng sinh vẫn còn cao (theo thống kê của Bộ Thủy sản năm

1 Khoa Chăn nuôi- Thuỷ sản, Đại học Nông nghiệp I

2 Khoa Thú y, Đại học Nông nghiệp I

Trang 2

2004, EU: 22 lô, Mỹ: 13 lô, Canađa: 27 lô)

(NAFIQAVED, 2005) Gần đây nhất năm

2006, tại Nhật Bản một số lô hàng hải sản của

Việt Nam đ bị phát hiện nhiễm

Chloramphenicol - một loại kháng sinh bị cấm

và Nhật Bản đ áp dụng lệnh kiểm tra 100%

các lô hàng hải sản nhập khẩu từ Việt Nam

Tình trạng trên không chỉ gây thiệt hại lớn về

kinh tế cho doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng

nghiêm trọng đến uy tín, chất lượng thủy sản

Việt Nam trên thị trường thế giới (Bộ Thủy

sản, 2006)

Trong các tỉnh thuộc Bắc bộ, các tỉnh ven

biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định

và Thái Bình là những tỉnh nuôi trồng thủy sản

tập trung và phát triển mạnh Trong đó, Quảng

Ninh là địa phương có diện tích nuôi trồng

phát triển nhanh nhất những năm gần đây Từ

năm 2000, toàn tỉnh chỉ có 13200 ha, đến

2002 đ có 15200 ha và năm 2004 có tổng số

17500 ha (Sở Thủy sản Quảng Ninh, 2006)

Để phát triển và tăng trưởng bền vững, bên

cạnh các thị trường xuất khẩu quan trọng,

ngành thủy sản đ chú ý đến tiềm năng của thị

trường nội địa, trong đó sản phẩm tôm nuôi ở

Quảng Ninh đ được phân phối hầu hết địa

bàn các tỉnh phía Bắc đặc biệt là Hà Nội, Hải

Phòng Tuy nhiên vấn đề kiểm soát dư lượng

các mặt hàng nội địa chưa được quan tâm

đúng mức làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm giúp cho việc đánh giá thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi tôm ở Quảng Ninh nói riêng, và giúp cho việc triển khai ứng dụng các phương pháp kiểm soát tình trạng tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản

2 PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian điều tra theo dõi

Ba mươi hộ nuôi tôm, 6 đại lý cấp 1 và

10 đại lý cấp 2 bán thuốc, hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản trên ba địa phương

có diện tích nuôi trồng lớn nhất tỉnh Quảng Ninh được chọn làm đại diện là thị x Móng Cái, huyện Yên Hưng và huyện Tiên Yên (Bảng 1) Về mặt địa lý, thị x Móng Cái gần khu vực biên giới Việt-Trung đại diện cho các địa phương có hoạt động thương mại, trao

đổi hàng hoá nói chung thuốc và hoá chất dùng trong thủy sản nói riêng rất sôi động Còn Yên Hưng và Tiên Yên đại diện cho các

địa phương xa biên giới và trung tâm thương mại của tỉnh Quảng Ninh

Bảng 1 Đối tượng điều tra tại các địa phương

Đại diện hộ nuôi tôm Đại diện đại lý phân phối thuốc thú y

Địa phương

Thâm canh (hộ)

Bán thâm canh cải tiến (hộ)

Quảng canh (hộ)

Cấp I (đại lý)

Cấp II (đại lý)

Điều tra hộ và các đại lý được bắt đầu từ

tháng 6 đến tháng 10 năm 2005 Việc theo dõi

hoạt động nuôi trồng, dịch bệnh và kinh doanh

thuốc được tiếp tục đến hết tháng 8 năm 2006

2.2 Phương pháp

Thu thập các thông tin thứ cấp: thông

tin chung về hiện trạng nuôi trồng thủy sản,

thực trạng về kinh doanh, quản lý thuốc thú

y, các thông tin về kết quả nghiên cứu có liên quan tới nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm từ các cơ quan ban ngành liên quan từ tỉnh đến địa phương của tỉnh Quảng Ninh (Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản,

Sở Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Sở Tài nguyên và Môi trường)

Trang 3

Thu thập các thông tin sơ cấp bằng cách

điều tra theo bộ câu hỏi phỏng vấn và thu thập

thông tin từ các hộ nuôi trồng thủy sản, các

đại lý phân phối thuốc thú y thủy sản Đối với

các hộ nuôi trồng thu thập các thông tin chung

về chủ hộ, cơ cấu ao đầm, tình hình dịch bệnh

các mùa gần đây, năng suất, thời vụ, đặc biệt

các loại thuốc hoá chất và kháng sinh đ sử

dụng (lý do, nguồn gốc, cách sử dụng, liệu

trình) Theo dõi dịch bệnh thông qua quan sát

những thay đổi bên ngoài, dấu hiệu lâm sàng

và khẳng định bằng chẩn đoán trong phòng thí

nghiệm chuyên dụng khi cần thiết Đối với các

đại lý thuốc, hoá chất, các thông tin về chủ đại

lý, chủng loại thuốc, loại sản phẩm có kháng

sinh, nguồn gốc xuất xứ và quan sát điều kiện

kinh doanh đ được quan tâm

Số liệu thu được tổng hợp và xử lý thống

kê thông thường trên Microsoft Excel 2000

3 KếT QUả Và THảO LUậN

3.1 Tình hình nuôi tôm trên địa bàn tỉnh

Quảng Ninh

3.1.1 Diện tích nuôi trồng và sản lượng

Theo báo cáo tổng kết của Sở Thủy sản về

tình hình nuôi trồng thủy năm 2005, tỉnh

Quảng Ninh hiện có tổng số 37000 ha diện

tích vùng triều, trong đó khoảng 29000 ha có

khả năng khai thác nuôi trồng thủy sản Năm

2005, toàn tỉnh đ thả nuôi 11.333 ha tôm,

tổng sản lượng đạt 4310 tấn (Bảng 2) Trong

đó, vụ xuân - hè diện tích nuôi tôm là 9.870 ha

(chiếm 87,09% diện tích nuôi tôm cả năm)

Tổng diện tích nuôi theo phương thức thâm

canh và bán thâm canh trên 1.605 ha (trong đó

300 ha tôm sú) Phần diện tích còn lại nuôi

theo phương thức quảng canh và quảng canh

cải tiến với đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú

Tôm chân trắng chỉ chiếm 13,67% (1.350 ha)

và tập trung chủ yếu tại Móng Cái, Đầm Hà,

Vân Đồn, Hoành Bồ, Yên Hưng, Hải Hà, Cẩm

Phả Tổng số giống thả nuôi khoảng 684 triệu

con (trong đó tôm sú khoảng 299 triệu con,

còn lại là tôm chân trắng) Điều đáng quan

tâm là tỉnh chỉ sản xuất được 240 triệu con

giống (chiếm 35,08%), phần còn lại (64,92%)

có nguồn gốc từ Trung Quốc và các tỉnh khác

Vụ thu đông tổng diện tích thả nuôi chỉ đạt 1.463 ha và chủ yếu là tôm chân trắng và tôm

he Nhật Bản

Bảng 2 Diện tích, sản lượng nuôi tôm năm 2005

tại tỉnh Quảng Ninh

TT Địa phương Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)

Nguồn: Sở Thủy sản Quảng Ninh, 2006

Nhìn chung năng suất nuôi tôm còn thấp, nguyên nhân chủ yếu do nuôi theo hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến Năng suất nuôi tôm sú thâm canh bình quân đạt 4-5 tấn/ha/vụ, tôm chân trắng đạt 10-12 tấn/ha/vụ, nuôi bán thâm canh đạt 3-4 tấn/ha/vụ Chỉ một

số doanh nghiệp vừa nuôi tôm vừa kinh doanh cung ứng vật tư trang thiết bị thủy sản, có điều kiện đầu tư ứng dụng công nghệ tiên tiến mới

đạt năng suất cao Điển hình như: Xí nghiệp nuôi tôm Tân An của Công ty xuất khẩu Thủy sản II, Công ty Viễn Đông và Doanh nghiệp thủy sản Gia Phong thuộc thị x Móng Cái đạt 16,5 tấn/ha/vụ Công ty Đầu tư Phát triển sản xuất Hạ Long ứng dụng công nghệ nuôi tôm

sú thâm canh bằng chế phẩm sinh học BIM BIOTEC đạt năng suất 8-10 tấn/ha/vụ

3.1.2 Hiện trạng ao đầm Diện tích nuôi tôm sú ở Quảng Ninh chủ yếu là các ao nhỏ có diện tích từ 500 - 200 m2

nằm trong đê quốc gia còn đối với các đầm có

Trang 4

diện tích lớn từ 5 - 10 ha trở lên chủ yếu ở khu

vực ngoài đê Đối với nuôi tôm trong rừng

ngập mặn rất đa dạng:

Các đầm nhỏ: trong đầm có thể có hoặc

không có cây chịu mặn phân bố, các cống cấp

và thải đều thông ra rừng ngập mặn

Đầm lớn khoanh kín: thường trong đầm

chỉ có cây chịu mặn ngập nước nhưng phân

bố thưa do các chủ đầm chặt phá hàng năm

Các cống cấp và thoát nước đều thông ra

vùng triều Mức nước trong đầm có độ sâu

khác nhau, dao động từ 0,2-1,8 m Đầm

thường xuyên được thay nước theo kỳ con

nước thủy triều

Đầm lớn có đập tràn: dạng này rất ít, do

nước trong đầm được lưu thông theo thủy

triều nên cây ngập mặn trong đầm tồn tại và

phát triển

Tại Quảng Ninh, nuôi tôm trong đầm ngập mặn phổ biến ở Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng và chủ yếu theo hình thức quảng canh Hình thức này tuy năng suất thấp nhưng

ít rủi ro Hàng năm đến vụ nuôi các chủ đầm tháo nước vệ sinh hạn chế dịch hại, sau đó bổ sung giống tôm cỡ 2-4 cm với mật độ 0,1 - 1 con/m2 (tôm sú vụ 1, tôm rảo vụ 2) Nhưng vấn đề đặt ra là các đầm nuôi không có khả năng thay nước trong thời gian kéo dài sẽ làm cho rừng ngập mặn bị suy thoái và ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái nói chung

3.1.3 Mùa vụ nuôi tôm

Do đặc điểm khí hậu và đặc điểm thủy văn của Quảng Ninh cũng như các tỉnh vùng Bắc bộ là nhiệt đới gió mùa và nhật triều nên

ảnh hưởng đến mùa vụ nuôi trồng thủy sản Nuôi tôm ở Quảng Ninh chủ yếu từ tháng 3

đến tháng 11 (Bảng 3)

Bảng 3 Mùa vụ nuôi tôm hàng năm tại Quảng Ninh

Tháng trong năm (tính theo lịch âm) Loài tôm

Chú thích: * Riêng huyện Yên Hưng và Tiên Yên thả giống sớm hơn

CB - chuẩn bị; TG - thả giống; CS - chăm sóc; TH - thu hoạch

Đối với tôm sú, tôm he, tôm he chân trắng

và tôm rảo thường được nuôi 2 vụ trong năm

còn tôm càng xanh, tôm hùm được nuôi 1 vụ

trong năm Thời gian thả giống thường từ

tháng 3 khi có thời tiết ấm áp thích hợp cho

sinh trưởng và phát triển của tôm nhưng giai

đoạn sau (tháng 8, tháng 9) là mùa mưa, độ

mặn giảm thấp, môi trường thường bị ô nhiễm

do nguồn nước của các dòng sông đổ xuống

do đó cần lưu ý kiểm soát dịch bệnh

Riêng đối với các hộ nuôi thâm canh có

đầu tư hệ thống lắng lọc nước, ao được chia

nhỏ thường nuôi 2 vụ/năm Nhưng số hộ nuôi

thâm canh thực tế rất ít, chủ yếu các công ty

đầu tư vừa nuôi vừa cung cấp nguyên liệu cho các hộ khác

3.1.4 Tình hình dịch bệnh

Do giống được nhập từ nhiều nguồn khác nhau như Trung Quốc và từ các tỉnh khác nên thường không được kiểm soát, do vậy dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bệnh đốm trắng (WSBV - White Spot Syndrome Bacculovirus), bệnh còi (MBV - Monodon Bacculovirus), đầu vàng, đóng rong

và mang đen là các bệnh liên tục xảy ra trên

địa bàn trong các vụ nuôi gần đây (Bảng 4)

Trang 5

Bảng 4 Tình hình dịch bệnh tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Địa phương điều tra Số đầm khảo sát (đầm) Tỷ lệ đầm có bệnh (%) Các loại bệnh

3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh và sử

dụng thuốc, hoá chất trong nuôi tôm trên

địa bàn tỉnh Quảng Ninh

3.2.1 Đặc điểm hệ thống phân phối thuốc,

hoá chất trong nuôi trồng thủy sản

Các sản phẩm thuốc, hoá chất và các chế

phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản có

mặt trên thị trường rất đa dạng và phong phú

về chủng loại và mẫu m Có hơn 200 sản

phẩm thuốc, hoá chất và các chế phẩm sinh học nuôi trồng thủy sản của 29 công ty Trong

đó, 61% sản phẩm của các công ty trong nước, hoặc của các công ty nước ngoài được phân phối bởi các công ty Việt Nam và 39% sản phẩm của Trung Quốc có mặt trên thị trường Quảng Ninh Các sản phẩm phục vụ trong nuôi trồng thủy sản tại Quảng Ninh được bán thông qua mạng lưới các đại lý cấp 1 và đại lý cấp 2 (Hình 1)

Hình 1 Mạng lưới phân phối thuốc, hoá chất và các chế phẩm sinh học

trong nuôi trồng thủy sản ở Quảng Ninh Theo thống kê của Sở Thủy sản Quảng

Ninh vào thời điểm điều tra (tháng 7/2005),

trên địa bàn tỉnh có 16 đại lý cấp 1 và 35 đại

lý cấp 2 của nhiều công ty khác nhau Trong

16 đại lý cấp 1 có 62,5 % đại lý của các

công ty Trung Quốc (10 đại lý), các đại lý

này chủ yếu tập trung ở thị x Móng Cái

Sáu đại lý cấp 1 khác phân phối sản phẩm

của các công ty Việt Nam (4 ở Yên Hưng và

2 ở Cẩm Phả)

Các sản phẩm từ các đại lý cấp 1 được

bán theo hai kênh, hoặc bán trực tiếp cho

người nuôi trồng, hoặc gián tiếp qua hệ thống

đại lý cấp 2 Phần lớn các chủ đại lý có kết

hợp nuôi trồng thủy sản Rất nhiều đại lý, đặc

biệt đại lý cấp 2 phân phối các sản phẩm của

nhiều công ty khác nhau Các đại lý thường

không chỉ bán các loại thuốc, hoá chất và các

chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

mà còn bán cả thức ăn thủy sản, thậm chí còn bán các sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp

Nếu đối chiếu qui chế quản lý thuốc và các hoá chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản do Bộ Thủy sản ban hành theo Quyết

định số 03/2002QD-BTS (Bộ Thủy sản, 2002) cho thấy:

Điều kiện về địa điểm và trang thiết bị kinh doanh: tất cả các đại lý cấp 1 và chỉ 11,4

% đại lý cấp 2 đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh thú y thủy sản Có đến 88,6% các đại lý cấp 2 không đáp ứng được cả hai điều kiện trên Đặc biệt phổ biến là thuốc hoá chất trong thủy sản

được để cùng kho, cùng tủ bảo quản, cùng nơi bày bán với thức ăn thủy sản, thậm chí còn chung với thức ăn gia súc gia cầm, thuốc thú

Hệ thống đại lý cấp 1

Hệ thống đại lý cấp 2 Sản phẩm Trung Quốc

Sản phẩm các công ty Việt Nam

Các công ty liên doanh

Người nuôi

Trang 6

y, thuốc bảo vệ thực vật của ngành nông

nghiệp Ngoài ra, một số đại lý không có điều

kiện bảo quản, nơi bày bán không được khô

ráo, gần khu vực công cộng nhiều bụi không

đảm bảo vệ sinh môi truờng

Điều kiện về chủ kinh doanh (người bán):

75% chủ kinh doanh đại lý cấp 1 và 100% đại

lý cấp 2 không có bằng cấp chuyên môn về

thú y hay thủy sản theo qui định

Một thực tế khác là rất nhiều chủ đại lý

cấp hai và một số đại lý cấp 1 không nắm

được danh mục các loại thuốc hoá chất cấm và

hạn chế sử dụng trong thủy sản theo quy định

của Bộ Thủy sản Hoá chất dùng trong thủy

sản có rất nhiều sản phẩm xuất xứ từ Trung

Quốc với nhn mác bằng tiếng Trung, thành

phần không rõ ràng nên cũng là khó khăn đối

với cơ quan quản lý thuốc, hơn nữa giá các sản

phẩm này lại rẻ nên vẫn được người nuôi sử

dụng Thậm chí một số sản phẩm không có

nhn mác được vào Việt Nam theo con đường

tiểu ngạch nên rất khó kiểm soát

3.2.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong

nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trong 30 hộ điều tra tại Quảng Ninh có

25 hộ (83,3%) sử dụng từ 1 đến nhiều loại

kháng sinh trong nuôi tôm Có ít nhất 12 loại

sản phẩm có tên thương mại khác nhau của 8

loại kháng sinh sau: ampicillin, streptomycin,

oxytetracyclin, norfloxacin, enrofloxacin, axít

oxolinic, rifamicin và kháng sinh thực vật

(Hình 2) Cụ thể: Sinh tố tỏi (kháng sinh thực

vật) được sử dụng nhiều nhất (43,3%), tiếp đến

tương ứng là oxytetracyclin (23,3%), axít

oxolinic 30% for shrimp (16,7%), ampicillin

(13,3%), streptomycin (13,3%), anti White

(norfloxacin, 13,3%), ENRO-Strep for shrimp

(enrofloxacin, streptomycin, 10,0%), N300

(norfloxacin, 10,0%), rifamycin (6,7%),

noracin (norfloxacin, 6,7%), anti-vibrio

(norfloxacin, 6,7%), ULTRA_SEPTIC_01

(axít oxolinic, 3,3%) Phần lớn những kháng

sinh này được sử dụng với mục đích phòng và

trị một số bệnh Kháng sinh được trộn với thức

ăn và cho ăn từ 1 đến 7 ngày cho một đợt

phòng và điều trị bệnh Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu trước đây cho rằng có

ít nhất 46 kháng sinh được sử dụng trong nuôi tôm ở Việt Nam, ba nhóm kháng sinh được dùng phổ biến trong nuôi tôm ở nước ta là quinolones, β-lactam và tetracyclin (Phạm Văn Tình, 2003)

Tuy không phát hiện thuốc ngoài danh mục được sử dụng tại các trại tôm và các đại

lý trên thị trường nhưng theo người nuôi và

đặc biệt theo các nhân viên thị trường của các công ty thì khi cần vẫn có thể mua được trên thị trường chợ đen Đây là vấn đề mà các nhà quản lý cần đặc biệt lưu tâm, cần phải phối hợp vào cuộc quyết liệt cùng với các ban ngành khác mới có thể chấm dứt đuợc tình trạng này

Quinolone là nhóm kháng sinh tổng hợp, phổ hoạt động rộng, có khả năng khuyếch tán tốt trong mô bào, được sử dụng rộng ri và hiệu quả cao trong nhân y Để hạn chế sự hiện tượng nhờn thuốc của các chủng vi sinh vật từ

động vật truyền sang các vi khuẩn gây bệnh cho người, Mỹ và Bắc Mỹ đ cấm sử dụng quinolone trong phòng và trị bệnh cho động vật Chính vì thế, Bộ Thủy sản đ khuyến cáo hạn chế sử dụng và cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Bắc Mỹ (Bộ Thủy sản, 2005) nhưng kết quả thực tế cho thấy số sản phẩm chứa nhóm quinolone vẫn rất phổ biến (7 trong 12 sản phẩm được sử dụng)

Đối với các nhóm còn lại như β-lactam, aminosid, tetracyclin và nhóm rifamycin được phép sử dụng nhưng đều có qui định mức giới hạn dư lượng tối đa trong tôm và các sản phẩm của tôm Nhưng hầu hết người nuôi không quan tâm đến thời gian sử dụng và thời gian dừng sử dụng thuốc trước khi thu hoạch mà chỉ quan tâm đến hiệu quả đối với dịch bệnh

Đặc biệt, khi tiên lượng không tốt người nuôi thường thu hoạch sớm, bán ra thị trường để giảm thiệt hại kinh tế cho chủ hộ Đây là những vấn đề đáng quan tâm cần được cảnh báo đối với sức khoẻ cộng đồng về tồn dư kháng sinh trong sản phẩm thủy sản

Trang 7

23,3 16,7 13,3 13,3 13,3

3,3 0

5

10

15

20

25

30

35

40

45

( Sinh t ố t ỏi) ( Oxyt et r acyclin)( Oxolinic 30%

f or shr imp) ( Ampicyclin) ( St r ept omycin) ( Ant i Whit e) ( ENRO- St r ep

f or shr imp) ( N300) ( Rif amicin) ( Nor acin) Ant i- vibr io ( Ult ra_Sept ic_01)

Hình 2 Các loại kháng sinh được sử dụng trong nuôi tôm ở Quảng Ninh

Hơn nữa việc sử dụng kháng sinh trong

nuôi tôm có thể làm cho lớp bùn đáy lắng đọng

chứa kháng sinh và có tác dụng lâu dài đến môi

trường thủy sản (Holmstrom và cộng sự, 2003)

Việc sử dụng kháng sinh lan tràn trong nuôi

tôm ở Việt Nam đ làm tăng dư lượng của

trimethoprim, sulfamethoxazole, norfloxacin và

axít oxolinic trong nước, bùn của các ao cũng

như môi trường lân cận Hậu quả trước hết là sự

xuất hiện hiện tượng nhờn thuốc trong các cơ

sở sản xuất tôm nước ta (Le,2004)

Mặc dù đ có nhiều văn bản pháp lý về

quản lý thuốc nhưng vẫn có nhiều bất cập và

chồng chéo trong sự phối hợp của các ban

ngành Hơn nữa, ý thức người sản xuất, cung

cấp thuốc chỉ chú ý đến lợi nhuận, xử phạt

hành chính còn thấp và thiếu quyết liệt, kèm

theo việc người nuôi tôm vẫn thiếu hiểu biết, ý

thức không tốt đến tác hại lâu dài trước hết

cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản của

chính họ là điều kiện cho việc lạm dụng và sử

dụng thuốc ngoài danh mục nói chung và

kháng sinh nói riêng

4 KếT LUậN

Quảng Ninh hiện có tổng số 37000 ha

vùng triều, trong đó khoảng 29000 ha có khả

năng khai thác nuôi trồng thủy sản Năm

2005, 11.333 ha được sử dụng nuôi tôm, tổng sản lượng đạt 4310 tấn Chủ yếu nuôi theo phương thức quảng canh, quảng canh cải tiến

và đa số nuôi 1 vụ từ tháng 3 đến tháng 11 nên năng suất còn thấp

Hiện nay tỉnh chỉ đáp ứng được 35,08% nhu cầu giống, phần còn lại (64,92%) có nguồn gốc từ các tỉnh khác và Trung Quốc Các bệnh đốm trắng, bệnh còi, đầu vàng, đóng rong và mang đen vẫn thường xuyên xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Các sản phẩm thuốc nói chung và kháng sinh nói riêng sử dụng trong nuôi trồng thủy sản trên thị trường rất đa dạng, phong phú về chủng loại và nhn mác Vẫn tồn tại các sản phẩm không đúng qui cách nhn mác, thậm chí ngoài danh mục trôi nổi trên thị trường Các loại thuốc có chứa kháng sinh được phân phối trực tiếp, hoặc gián tiếp cho người nuôi trồng qua hệ thống đại lý cấp 2 từ các đại lý cấp 1 Số đại lý kinh doanh chưa đạt yêu cầu

về điều kiện kinh doanh chiếm tỷ lệ rất cao (75-100% đại lý cấp 1, 2 không có bằng cấp chuyên môn về thú y hay thủy sản; 88,6% đại

lý cấp 2 không đáp ứng được qui định về địa

điểm và điều kiện kinh doanh)

Sự thiếu hiểu biết của người nuôi, ý thức chấp hành của người kinh doanh thuốc và sự

Thành

phần

Tên

thương

mại

Trang 8

quản lý chồng chéo tạo điều kiện cho việc lạm

dụng sử dụng thuốc nói chung và kháng sinh

nói riêng Có 83,3% hộ sử dụng từ 1 đến nhiều

loại kháng sinh trong nuôi tôm ít nhất 12 loại

sản phẩm chứa kháng sinh thuộc các nhóm

quinolone (norfloxacin, enrofloxacin, axít

oxolinic), β-lactam (ampicillin), aminosid

(streptomycin), tetracyclin (oxytetracyclin) và

nhóm rifamycin (rifamycin) và kháng sinh

thực vật (sinh tố tỏi) được sử dụng trong nuôi

tôm tại Quảng Ninh Riêng nhóm quinolone

tuy đ được khuyến cáo hạn chế và cấm sử

dụng trong sản xuất nhưng số sản phẩm chứa

nhóm quinolone vẫn rất phổ biến (7/12 sản

phẩm) Chính vì thế số hộ sử dụng các sản

phẩm chứa quinolone chiếm một tỷ lệ rất cao

Khi sử dụng hầu hết người nuôi không

quan tâm đến thời gian ngừng dùng thuốc

trước khi thu hoạch Đặc biệt, khi tiến triển

bệnh xấu người nuôi có thể thu hoạch sớm,

bán ra thị trường để giảm thiệt hại kinh tế cho

chủ hộ Đây là cảnh báo đáng quan tâm trong

sự nỗ lực bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

TàI LIệU THAM KHảO

Bộ Thủy sản (2002) Quyết định số

03/2002QD-BTS Qui chế quản lý thuốc

thú y và các hoá chất sử dụng trong

nuôi trồng thủy sản

Bộ Thủy sản (2005) Phụ lục I và II, Ban hành

kèm theo Quyết định số

07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005 và

Quyết định số 26/2005/QĐ-BTS ngày

18/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản

về việc ban hành danh mục hóa chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản

Bộ Thủy sản (2006) Công điện của Bộ trưởng

Bộ Thủy sản số: 01/BTS-VP, ngày 12 tháng 9 năm 2006

Bộ Thủy sản (2007) Thông tin kinh tế- Khoa học và Công nghệ Thủy sản - Thống kê

http://www.fistenet.gov.vn/xuat_nhapkh

Holmstrom, K., Graslund, S., Wahlstrom, A., Poungshompoo, S., Bengtsson, B.E., Kautsky, N (2003) Antibiotic use in shrimp farming and implications for environmental impacts and human health International J Food Scien Technol, 38, 255-266

Le, T.X., Munekage, Y (2004) Residues of selected antibiotic in water and mud from shrimp ponds in mangrove areas

in Vietnam Inpress in Marine Pollution Bulletin

NAFIQAVED (Cục quản lý chất lượng - An toàn vệ sinh và thú y Thủy sản) (2005) Tổng kết hoạt động kiểm soát dư lượng Phạm Văn Tình (2003) Hiện trạng sử dụng kháng sinh, hoá chất và chế phẩm sinh học trong nuôi tôm ở Việt Nam Khuyến ngư Việt Nam, số 4, 14-16

Sở Thủy sản Quảng Ninh (2006) Báo cáo tổng kết tình hình nuôi trồng thủy sản

Ngày đăng: 29/08/2013, 08:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đối tượng điều tra tại các địa phương - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Bảng 1. Đối tượng điều tra tại các địa phương (Trang 2)
Bảng 2. Diện tích, sản l−ợng nuôi tôm năm 2005 - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Bảng 2. Diện tích, sản l−ợng nuôi tôm năm 2005 (Trang 3)
Bảng 3. Mùa vụ nuôi tôm hàng năm tại Quảng Ninh - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Bảng 3. Mùa vụ nuôi tôm hàng năm tại Quảng Ninh (Trang 4)
Bảng 4. Tình hình dịch bệnh tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Bảng 4. Tình hình dịch bệnh tôm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 5)
Hình 1. Mạng l−ới phân phối thuốc, hoá chất và các chế phẩm sinh học - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Hình 1. Mạng l−ới phân phối thuốc, hoá chất và các chế phẩm sinh học (Trang 5)
Hình 2. Các loại kháng sinh đ−ợc sử dụng trong nuôi tôm ở Quảng Ninh - hiện trạng nuôi và sử dụng kháng sinh cho tôm trên địa bàn tỉnh quảng ninh
Hình 2. Các loại kháng sinh đ−ợc sử dụng trong nuôi tôm ở Quảng Ninh (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w