1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm bón vãi (PVNC) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cói vụ xuân 2013 trong điều kiện trồng trong chậu tại trường đại học nông nghiệp hà nội

96 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘIKHOA NÔNG HỌC ---***--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: “Nghiên cứu cảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm bón vãi PVNC đến sinh trưởng, năng suất và c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA NÔNG HỌC -*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

“Nghiên cứu cảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm bón vãi (PVNC) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cói vụ Xuân 2013 trong điều kiện trồng trong chậu

tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội”

Người hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN TẤT CẢNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, trong thời gian vừa qua ngoài

sự nỗ lực cố gắng của bản thân em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía gia đình, nhà trường và các thầy cô giáo.

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh người trực tiếp hướng dẫn em, các thầy cô giáo trong khoa Nông học, bộ môn canh tác trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ cho

em hoàn thành đề tài này.

Hà Nội ngày 28 tháng 7 năm 2013

Sinh viên

Lê Công Thọ

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC ĐỒ THỊ v

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Nguồn gốc và phân loại 3

2.1.1 Nguồn gốc 3

2.1.2 Phân loại 3

2.2 Đặc điểm thực vật học của cây cói 4

2.2.1 Rễ Cói 4

2.2.2 Thân 4

2.2.3 Lá 4

2.2.4 Hoa 4

2.2.5 Quả và hạt 5

2.3 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cói 5

2.3.1 Giai đoạn vươn dài của thân ngầm 5

2.3.2 Giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh 6

2.3.3 Giai đoạn vươn cao 7

2.3.4 Thời kỳ ra hoa và chín 7

2.4 Yêu cầu sinh thái của cây cói 8

2.4.1 Nhiệt độ 8

2.4.2 Ánh sáng 8

2.4.3 Độ ẩm 8

2.4.4 Đất 8

Trang 4

2.4.5 Nước 8

2.4.6 Dinh dưỡng 9

2.4.7 Cơ sở xây dựng chế độ bón phân cho cây cói 10

2.5 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới và Việt Nam 11

2.5.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới 11

2.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cói ở Việt Nam 11

2.6 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam 13

2.6.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón trên thế giới 13

2.6.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón ở Việt Nam 14

2.7 Phân bón với cây cói Việt Nam 15

PHẦN 3: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .18 3.1 Vật liệu nghiên cứu 18

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 18

3.3 Nội dung nghiên cứu 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 18

3.4.2 Quy trình thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 19

3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 19

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20

PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón khác nhau ñến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cói bông trắng 21

4.1.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón khác nhau ñến sự tăng trưởng số tiêm cói bông trắng 21

4.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến màu sắc thân và khả năng chống đổ của cây cói 27

4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến chiều cao cây cói bông trắng 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến đường kính gốc của cói 22 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến đường kính ngọn của cói 25 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến màu sắc thân và khả năng chống đổ của cây cói 28 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến động thái tăng trưởng số mầm cói 28 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến động thái tăng trưởng số tiêm cói 32 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến số tiêm hữu hiệu cây cói 34 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến chiều cao cây cói bông trắng 36 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến năng suất cây cói 38 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến tỷ lệ các loại cói.38

Trang 6

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 1 23

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 2 23

Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 1 26

Đồ thị 4.4 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 2 26

Đồ thị 4.5 Động thái tăng trưởng số mầm cói ở các công thức bón phân viên nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 1 30

Đồ thị 4.6 Động thái tăng trưởng số mầm cói ở các công thức bón phân viên nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 2 30

Đồ thị 4.7 Động thái tăng trưởng số mầm tiêm ở các công thức bón phân viên nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 1 33

Đồ thị 4.8.Động thái tăng trưởng chiều cao thí nghiệm 1 37

Đồ thị 4.9.Động thái tăng trưởng chiều cao thí nghiệm 2 37

Đồ thị 4.10 Đồ thị năng suất cói thí nghiệm 1 39

Đồ thị 4.11 Đồ thị năng suất cói thí nghiệm 2 39

Trang 7

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây cói có tên khoa học là Cyperus malaccensis, thuộc họ cói Cyperaceae.

Cói là cây thân thảo nhiều năm, bao gồm cả cói trồng và cói mọc dại Cói trồng

có hai loài chính: (1) Cói bông trắng (cyperus tojet touris), thân tương đối tròn,

dáng mọc hơi nghiêng, hoa trắng, cao từ 1,5-2,0m, sợi chắc, trắng và bền, năng suất cao từ 54-95 tạ/ha, thời gian sinh trưởng từ 100-120 ngày Đây là loài có phẩm chất tốt, thích hợp cho xuất khẩu, cói bông trắng có dạng đứng và dạng xiên, trong sản xuất cói bông trắng dạng xiên chiếm tỷ lệ trên 55%, dạng đứng

chiếm dưới 45%; (2) Cói bông nâu (Cyperus Corymbosus Roxb), thân to, hơi

vàng, hoa nâu, dáng mọc đứng, cứng cây, đẻ yếu, sợi chắc song không trắng, cây cao khoảng 1,4-1,8 m phẩm chất tốt nhưng không được người dùng ưa chuộng Cây cói có nhiều công dụng như thân dùng dệt chiếu, thảm, làm các mặt hàng thủ công như làn, dép, mũ, võng, thừng loại cói ngắn, xấu dùng lợp nhà, cói phế phẩm xay thành bột giấy làm bìa cứng Sản phẩm cói không những tiêu thụ nội địa mà còn có giá trị xuất khẩu cao.Tuy nhiên, những năm gần đây thì năng suất cói bị giảm do sâu bệnh, dịch hại và cách bón phân chưa đúng kỹ thuật.Đặc điểm tưới nước cho cây cói là “tưới tràn, tháo kiệt” nên phần lớn phân bón và thuốc trừ dịch hại bị rửa trôi bề mặt và thấm sâu gây ô nhiễm môi trường đất nước ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Để ngày càng cải thiện đời sống của người trồng cói, việc nghiên cứu giảm chi phí đầu vào trong thâm canh cói như tiết kiệm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần xoá đói giảm nghèo bền vững là rất cần thiết.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã và đang sản xuất phân viên nén nhả chậm là tác phẩm phát triển của phân viên nén bón sau Bón phân này có nhiều ưu điểm như: Tiết kiệm lượng phân bón, giảm công lao động, tăng năng

Trang 8

suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế cỏ dại và đặc biệt là hạn chế ô nhiễm môi trường do phân bón được dúi sâu trong đất ít bị bay hơi, rửa trôi.

Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm bón vãi (PVNC) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng cói vụ Xuân 2013 trong điều kiện trồng trong chậu tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định lượng PVNC thích hợp bón vãi cho cói để đạt năng suất cao, chất lượng tốt khi trồng trong chậu, vại tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và phân loại

2.1.1 Nguồn gốc

Theo Nguyễn Tất Cảnh [5]: Cói có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, nhưng aTrung Quốc, phía Nam tới Châu Úc và Indonesia Cói cũng được nhập vào trồng ở Braxin để làm nguyên liệu đan lát

Theo sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn, cách đây trên 5 thế kỷ, nhân dân ta đã biết trồng cói và dệt chiếu Nghề dệt chiếu có từ thời vua Lê Thánh Tông (1460-1467) do Phạm Đôn Lễ đưa về từ Quảng Tây (Trung Quốc).

Tên khoa học: Cyperus malaccensis Lam

Cói là thực vật một lá mầm (monocotyledones) gồm cả cây trồng và cây

mọc hoang dại thuộc chi cói (CyperusP), họ cói (Cyperaceae) trong bộ cói

(Cyperales) Họ cói có khoảng 95 chi với 3800 loài, phân bố rộng rãi khắp nơi, đặc biệt là ở vùng ôn đới nà hàn đới Nước ta hiện biết 28 chi và trên 300 loài (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996; Hoàng Thị Sản, 2003) Cây cói đang trồng phổ biến là loài cói bông trắng (Cypeus tojet jomis) và cói bông nâu (C.

Trang 10

Corymbosus) Nhưng hiện nay chỉ có giống cói bông trắng vì năng suất, chất lượng tốt hơn.

2.2 Đặc điểm thực vật học của cây cói

2.2.1 Rễ Cói: Rễ Cói có 3 loại: rễ ăn sâu có tác dụng hút chất khoáng ở dưới

sâu, rễ ăn ngang hút chất dinh dưỡng ở tầng mặt đất, rễ ăn nổi hút chất dinh dưỡng hoà tan trong nước.

Rễ cói mọc từ các đốt của thân ngầm, rễ non lúc đầu màu trắng, già chuyển sang màu nâu hồng, khi chết màu đen Rễ sống được 3 tháng, rễ con và

rễ nhánh thường chết trước rễ cái Rễ có xu hướng ăn lên mặt đất nên tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt từ 5 - 15 cm (80% số rễ), một số có thể ăn sâu trong lòng đất tới gần 100 cm (khoảng 5%)

2.2.2 Thân: Thân cói được chia làm 2 phần: phần nằm dưới đất (thân ngầm) và

phần trên mặt đất (thân khí sinh) là đối tượng thu hoạch

Thân khí sinh không phân đốt, mọc thành cụm, tiết diện ngang hình tam giác hay hơi tròn Thân ngầm cứng, mập, bò lan trong đất, thường gọi là củ; thân ngầm có mùi thơm, vị cay, hơi đắng, vỏ bên ngoài đen, thịt bên trong màu trắng; thân khí sinh mọc từ thân ngầm, thường gồm 5 - 6 thân, mọc đứng, cứng, 3 cạnh lõm, màu xanh bóng, cao trung bình 1,5 m, có cây đạt 1,7 - 2,0 m, đường kính

12 – 15 mm, thường chỉ mang lá ở gốc.

2.2.3 Lá: Lá cói hình thành cùng với sự hình thành của lóng Lá cói phát triển

từ dưới lên: lá vẩy hình thành sớm rồi đến lá bẹ, cuối cùng là lá mác Lá mọc thành 3 dãy, hẹp hình đường, dạng lá cỏ, ít có lưỡi mác hay hình bầu dục, dài bằng nửa thân, rộng khoảng 5 - 10 mm và có bẹ dài Lá vẩy và lá bẹ ở dưới nhỏ, những lá ở trên to, lá mác thì trái lại, những lá ở dưới to và những lá ở trên nhỏ.

Lá bẹ hay vẩy, bao phủ thân ngầm và gốc thân khí sinh, đồng thời còn làm nhiệm vụ quang hợp, lá mác có nhiệm vụ quang hợp và bảo vệ hoa.

2.2.4 Hoa: Cụm hoa mọc ở đỉnh, thường hình xim kép, rộng hơn dài, với đường

kính 15 cm, màu xanh vàng, có mùi thơm, với 3 - 10 nhánh dài 3 - 10 cm; mang

Trang 11

4 - 10 bông nhỏ Gốc cụm hoa có 3 - 4 lá bắc, rộng 8 - 15 mm, dài 30 cm, hơn chiều dài cụm hoa Các bông nhỏ hơi bị ép, dài 15 - 22 mm, mang 16 - 20 hoa Các mày hoa chất giấy, hình trứng đến hình bầu dục, xếp thành 2 dãy, trong đó 2 mày lớn ở gốc là mày trống (không mang hoa); hoa lưỡng tính; những hoa trên cùng của bông là hoa đực hay bất thụ; nhị đực 1 - 3, vòi nằm trên bầu, đầu chia

2 - 3 núm.

2.2.5 Quả và hạt: Quả bế màu nâu đen, không cuống hay có cuống ngắn, hình

thấu kính 3 cạnh (2 mm x 0,5 mm), đầu mang 3 vòi nhụy tồn tại Phân loại giữa các chi thuộc họ cói chủ yếu là hoa Hạt có nội nhũ bột bao quanh phôi.

2.3 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cói

Cây cói có thể sinh trưởng và phát triển suôt 12 tháng, tuy nhiên sự phát triển nhanh hay chậm ở các thời kỳ trong năm là khác nhau Một chu kỳ sinh trưởng của cây cói từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch rất ngắn (3 - 4 tháng) nhưng chu kỳ khai thác có thể kéo dài 5 - 7 năm tuỳ theo kỹ thuật canh tác Vì thế có thể chia chu kỳ phát triển của cói từ khi nảy mầm đến khi thu hoạch thành các thời kỳ sau:

2.3.1 Giai đoạn vươn dài của thân ngầm

Các yếu tố mật độ, đất đai, mực nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát sinh phát triển của thân ngầm Nếu đất màu mỡ, mật độ thưa, mực nước nông thì thân ngầm dài có khi tới 20 cm Ngược lại nếu mật độ dày, mực nước cao thì thân ngầm chỉ khoảng 1 – 2 cm.

Thân ngầm sinh trưởng thích hợp nhất ở độ sâu 3 – 5 cm, ở độ sâu 15 cm thân ngầm sinh trưởng rất kém, chậm và gầy, có xu hướng vươn dài lên trên mặt đất.

Nồng độ muối khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của mầm Nồng độ muối 0,50 – 0,80% các mầm 1 và 2 bị ức chế dẫn đến huỷ diệt Ở nồng

độ 1,5 – 2,0% mầm 1 và mầm 2 bị chết sau 1 tuần còn mầm 3 và mầm 4 sau 3 tháng cũng bị chết.

Trang 12

Trong sản xuất yêu cầu thân ngầm to để tích luỹ chất dinh dưỡng được nhiều về sau sẽ cho cói dài và dẻo, chất lượng tốt Còn độ vươn dài của lóng cần ngắn, càng ngắn sẽ cho nhiều tia mọc lên, thân khí sinh sẽ bé và dài Muốn vậy khi cấy mống cần phải đảm bảo độ sâu hợp lý từ 3 – 4 cm, mực nước từ 2 – 5

cm, đất có độ phì cao và khi nhổ mống cói cần bảo vệ mầm 1 và 2.

2.3.2 Giai đoạn đâm tiêm và quy luật đẻ nhánh

Thời kỳ đâm tiêm của cói chiếm một thời gian dài trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

Từ mầm 1 ở thân ngầm sẽ mọc ra 2 tiêm, hai mầm mọc ra từ một thân ngầm sẽ tạo thành hai ngọn, khi các mầm đó nhô lên khỏi mặt đất các lá mác vẫn chưa xoè ra được gọi là sự đâm tiêm Cói đâm tiêm liên tục suốt 12 tháng trong năm, nhưng cũng có đợt cói đâm tiêm rộ, thường từ 23 - 25 ngày có một đợt đâm tiêm Trong điều kiện thời tiết thuận lợi (cói mùa) cứ 8 - 12 ngày lại có một đợt đâm tiêm Nhưng số lượng tiêm ra nhiều ít, tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nhiệt độ thích hợp cho sự đâm tiêm là 22 -

280C, khi nhiệt độ nhỏ hơn 120C tiêm hầu như không phát triển Những lứa tiêm

ra vào tháng giêng, tháng hai chiều cao cũng chỉ phát triển tới 60 – 70 cm thì lụi (loại này chỉ dung làm bổi) và dễ bị nấm vàng (phytoptora) Nhưng có ý nghĩa rất quan trọng cho các lứa tiêm tiếp theo, vì từ các thân ngầm của các tiêm này

sẽ nảy mầm đâm tiêm hữu hiệu cho lần đâm tiêm sau Lứa tiêm hữu hiệu thường tập trung vào các đợt cuối tháng ba đầu tháng tư (cói chiêm) và vào tháng 7, tháng 8 (cói mùa) Lứa tiêm tháng 11 và tháng 12 nếu đất đai màu mỡ chăm sóc tốt sang tháng hai có thể thu được Độ pH thích hợp để cho cói đâm tiêm khoẻ là 6,0 - 7,0 độ mặn 0,15% (Cl-) mực nước càng sâu thì sự đâm tiêm càng bị hạn chế, càng chậm Nếu ruộng luôn đủ ẩm thì sự đâm tiêm càng cao Cói phát triển tốt nhất là cói ráo chân hoặc là 4 ngày ráo chân 1 ngày mực nước 5 cm Cói sẽ hoàn thành đâm tiêm sớm, số tiêm nhiều hơn Cấy mống càng sâu ngày đâm

Trang 13

tiêm xong càng lâu, bón phân NPK theo tỷ lệ thích hợp thì cói đâm tiêm nhanh

và khoẻ.

Vụ cói chiêm tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng ba đầu tháng tư là lúc nhiệt độ tăng dần và bắt đầu có mưa tiết xuân phân (21/3) nên cần bón phân trước thời kỳ đâm tiêm mới có thể đạt tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao Đối với vụ mùa, tiêm hữu hiệu cao và ra rộ vào cuối tháng bảy đầu tháng tám do vậy cần bón phân trước tiết lập thu (7/8) mới có thể đảm bảo tỷ lệ tiêm hữu hiệu cao.

2.3.3 Giai đoạn vươn cao

Giai đoạn này bắt đầu khi lá mác vượt quá 10 cm khỏi lá bẹ Đây là thời

kỳ phát huy tác dụng tổng hợp của các yếu tố: Phân bón, nước, nhiệt độ và ánh sáng đối với cây cói.

Trong năm, cói vươn cao mạnh nhất vào 2 thời kỳ: Thời kỳ đầu vào khoảng trung tuần tháng tư, có mưa, nhiệt độ và độ ẩm tăng dần Thời kỳ thứ hai vào khoảng hạ tuần tháng tám Trong khoảng thời gian 10 ngày từ 10 - 20 tháng

tư cây cói tăng trưởng nhanh, vươn tới 40 cm sau đó cói vẫn tiếp tục vươn cao nhưng giảm dần Nếu nhiệt độ tăng dần kèm theo có mưa dông tốc độ cói vươn cao càng nhanh, bình quân ngày đạt tới 6 cm.

2.3.4 Thời kỳ ra hoa và chín

Cói ra hoa trong điều kiện ngày ngắn, hoa xuất hiện ở đầu thân khí sinh ở

kẽ mác Trong một năm cói có hai đợt ra hoa rộ, đợt đầu cói ra hoa rộ từ tháng 5 đến trung tuần tháng 6 thì lụi dần (trong vụ chiêm) Tuy nhiên khi gặp gió mùa đông bắc muộn cói chiêm ra hoa sớm Vụ cói mùa, đến tháng 8 cói ra hoa rộ đến trung tuần tháng 9 thì bắt đầu lụi Khi hoa cói từ màu trắng chuyển sang màu ngà là cói bắt đầu chín, lúc đó thân cói từ màu xanh chuyển qua màu vàng óng, sợi cói chạm vào nhau phát ra tiếng động khẽ (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng

sự, 1996).

Trang 14

2.4 Yêu cầu sinh thái của cây cói.

2.4.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ rất quan trọng đối với sinh trưởng phát triển của cói, đặc biệt ở thời kỳ vươn cao Nhiệt độ thích hợp cho cói sinh trưởng là 22 - 280c, ở nhiệt độ thấp cói chậm phát triển Khi nhiệt độ thấp hơn 120c cói ngừng sinh trưởng, nếu cao hơn 350c ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cói đặc biệt là vào giai đoạn cuối Ở mức nhiệt độ cao cói nhanh xuống bộ (héo dần từ ngọn xuống dưới).

2.4.2 Ánh sáng

Cói cần nhiều ánh sáng ở thời kỳ đẻ nhánh, sau khi đâm tiêm và lá mác đã xòe Ánh sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vươn dài của cói, trong sản xuất cói trồng ở nơi có bóng râm làm cây vươn dài, yếu cây, dễ đổ, phẩm chất cói xấu Trồng quá dày, ánh sáng thiếu cây cói dài, nhỏ cây, dễ đổ.

2.4.3 Độ ẩm

Độ ẩm không khí thích hợp cho sinh trưởng trên dưới 85%, giữ đất vừa đủ

ẩm, mực nước trong ruộng 4 - 5cm, tốt nhất là cứ 1 ngày tưới tràn sau đó rút nước để khô chân 4 ngày.

2.4.4 Đất

Cói có thể trồng thích nghi trên nhiều loại đất: đất mặn, đất ngọt, đất lợ, chân cao, chân trũng, bãi bồi ven sông, ven biển Song thích hợp nhất là trồng trên loại đất thịt phù sa màu mỡ ven biển hoặc là ven sông nước lợ độ sâu tầng đất 40 - 50cm trở lên, độ chua pH 6,0 - 7,0, độ mặn 0,1 - 0,2% và thoát nước tốt.

2.4.5 Nước

Nước cũng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển của cây cói Trong cây cói nước chiếm từ 80 - 88%, do vậy nước là nhu cầu quan trọng để cói sinh trưởng, phát triển Thiếu nước cói mọc kém, năng suất thấp, ngược lại úng nước ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất cói Trong thời kỳ đâm tiêm (sau trồng hoặc sau khi thu hoạch) yêu cầu mực nước trong ruộng thấp (4 - 5cm), tốt nhất là giữ ruộng cói ẩm Mực nước cao

Trang 15

hoặc úng làm cho cói đâm tiêm kém hoặc có thể làm thối mống Thời kì vươn cao yêu cầu mực nước 5 - 7cm, nếu mực nước cao quá thì cói to cây, đen gốc, sợi kém bền làm cho phẩm chất kém Tốt nhất là tưới tràn, tháo kiệt thường xuyên sao cho lượng nước trong ruộng cói luôn thay đổi Thời kỳ chín nếu khô hạn cói chóng xuống bộ, cần giữ ẩm (Nguyễn Văn Đô, 2009).

Nước ngọt giúp cây cói mọc nhanh, bốc mạnh, nhưng nước ngọt làm cho cói to cây, xốp ruột Trồng cói đồng thường to hơn cói bãi một phần do điều kiện chăm sóc thuận lợi hơn song chủ yếu là do nồng độ muối trong nước đã giảm xuống.

2.4.6 Dinh dưỡng

Theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh thì cây cói có nhu cầu rất cao về dinh dưỡng, nó có nhu cầu cao về tất cả các nguyên tố dinh dưỡng cả đa lượng cũng như trung lượng và vi lượng Trong đó 3 yếu tố dinh dưỡng cây cần nhất là NPK.

Vai trò của đạm, lân, kali đến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng cói.

* Vai trò của đạm (N):

- Đạm là thành phần của diệp lục, nơi thực hiện các phản ứng quang hợp.

- Đạm kích thích sự phát triển của bộ rễ, giúp cây trồng huy động mạnh

mẽ các chất khoáng trong đất.

- Đạm là thành phần của các enzim, chất xúc tác sinh học, khiến cho quá trình sống trong cây cói có thể thực hiện được ở điều kiện áp suất và nhiệt độ bình thường.

- Cây hút nhiều đạm thì cũng hút nhiều các nguyên tố khác Được bón đủ đạm cây cói có màu xanh sáng, sinh trưởng khỏe mạnh, đâm nhiều tiêm, tăng khả năng chống chịu sâu hại.

- Đạm là yếu tố quyết định đến chiều cao của cây cói Nếu không có đạm

tỷ lệ cói dài rất thấp.

Trang 16

Như vậy đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây cói, là yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng cói.

* Vai trò của lân (P)

- Cây cói rất cần lân trong thời kỳ sinh trưởng đầu (phát triển rễ), giúp cây chống đỡ được với điều kiện bất thuận (hạn và rét) Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm Cói được bón cân đối đạm-lân sẽ phát triển tốt, khỏe mạnh (ít sâu bệnh), phẩm chất tốt Trong quy trình bón, phân lân thường được bón lót.

* Vai trò của kali (K)

- Kali làm tăng sức trương, tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào nên tăng sức chống hạn và chống rét cho cây.

- Kali có tác dụng làm cho cây cói cứng cây, đỡ bị đổ ngã, chất lượng cói được đảm bảo.

2.4.7 Cơ sở xây dựng chế độ bón phân cho cây cói

Bón phân cho cây cói có vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng cói, bón phân cho cói cần phải đúng liều lượng, đúng cách, đúng thời điểm thì cói mới đảm bảo về năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả kinh tế cao

Tuỳ theo từng loại cói mới trồng hay cói cũ, tùy từng vụ, từng loại đất, từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau mà có liều lượng và cách bón phân khác nhau Nhưng nói chung bón phân cho cói thường chia làm các đợt sau:

+ Bón lót có ảnh hưởng lâu dài đến sinh trưởng cây cói trong những năm sau Bón lót thường được bón với số lượng lớn tuỳ theo khả năng đầu tư của nông hộ và điều kiện đất đai

+ Bón thúc chia làm 3 thời kỳ: bón thúc đâm tiêm, bón thúc đẻ nhánh, bón thúc vươn cao trước khi thu hoạch

Cây cói ra 3-5 đợt mầm trong quá trình sinh trưởng và phát triển của một chu kỳ (vụ chiêm xuân 4-5 ñợt, vụ mùa 3-4 đợt) trong thời gian này phân là yếu

Trang 17

tố quyết định nhất đến năng suất, cần xác định đúng thời gian bón Nếu bón quá sớm hay quá muộn các đợt mầm này sẽ bị ảnh hưởng.

2.5 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới và Việt Nam

2.5.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cói trên thế giới

Hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên hiện nay chủ yếu do các nước đang phát triển cung cấp Đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là những sản phẩm tương tự của Trung Quốc và Indonesia Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc so với Việt Nam là mẫu mã đa dạng và đẹp hơn Trung Quốc sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế rẻ và nhiều gồm cây liễu và xidan Xidan là nguyên liệu thay thế cói rất tốt trong nhóm hàng thảm đệm Liễu dùng làm rổ, khay, hộp đựng, làn, túi có màu sắc phong phú, dễ giữ hình dạng chính xác, giá rẻ và liên tục cải tiến kỹ thuật Ở Indonesia nguyên liệu thay thế cho cói chủ yếu là mây và lá cọ So với các nước khác, mây Indonesia nhiều loại hơn, chất lượng cao, tính năng tốt và giá rẻ, Indonesia cũng có nhiều loại gỗ tốt.

Do vậy, Indonesia có ưu thế về bàn ghế và đồ nội thất là nhóm sản phẩm có nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới.

Những thị trường lớn nhất tiêu thụ hàng thủ công mỹ nghệ bằng cói và nguyên liệu tự nhiên là Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản Điều thú vị là thị trường EU tăng trưởng khá nhanh, tăng hàng năm 14% trong khi tốc

độ tăng trưởng toàn thế giới chỉ có 4%, của Mỹ chỉ có 8%.

Mặc dù thị trường hàng thủ công mỹ nghệ sôi động ở trên thế giới và ngày nay các nước phát triển chuộng các mặt hàng làm bằng nguyên liệu từ thiên nhiên trong đó có cói, nhưng những nghiên cứu về cói và các biện pháp kỹ thuật sản xuất, thâm canh cói còn khá ít ỏi ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật và đặc điểm sinh thái của một số vùng trồng cói.

2.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cói ở Việt Nam

Cây cói là một cây công nghiệp quan trọng, phục vụ cho nhu cầu đời sống của nhân dân ta và cho xuất khẩu Nhiều đồ dùng trong nước gần gũi với người

Trang 18

Việt Nam ta như chiếu, mũ, thảm, làn, bao bì được làm bằng cói Từ năm 1928 thực dân Pháp đã khai thác cói ở nước ta và xuất khẩu sang Hồng Kông mỗi năm trên 1.500 tấn [36] Năm 1955 chúng ta bắt đầu xuất cảng các mặt hàng làm bằng cói sang các nước xã hội chủ nghĩa Từ năm 1959 sản phẩm làm bằng cói của ta còn có mặt trên các thị trường Pháp, Anh, Chinê, Irắc, Nhật, Italia, Singapore điều kiện khí hậu và đất đai nước ta rất thuận lợi cho việc trồng cói, cói phát triển được trong nhiều loại đất có thành phần cơ giới khác nhau (thịt nặng, thịt pha, cát pha hoặc hơi lầy ) nhưng tốt nhất là ở đất thịt, tầng đất sâu, nhiều màu Độ pH thích hợp 6-7,5; độ mặn thích hợp 0,15- 0,2% Cl cây mọc khoẻ, đanh cây, dai sợi phẩm chất tốt, do đó có thể trồng cói trên những vạt đất quai đê lấn biển Từ Bắc đến Nam, ở những vùng ven biển, cửa sông đã hình thành những vùng chuyên canh cói (Hải Phòng, Thanh Hoá, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang ) nhờ những tiến bộ kỹ thuật của ngành trồng trọt, mỗi năm thu hoạch 2 vụ Vụ chiêm xuân thu hoạch vào tháng 5, 6, vụ mùa thu hoạch vào tháng 10, 11, có những nơi chăm sóc tốt có thể thu hoạch tới

Mỗi năm có 2 vụ thu hoạch cói Vụ mùa vào tháng 9-10 dương lịch; vụ xuân vào tháng 5-6 Trong vụ xuân cói tốt nên thu được khoảng 10tấn cói khô/ha; vụ mùa cói phát triển kém hơn nên chỉ thu khoảng 8 tấn cói khô/ha Năm đầu sau khi trồng cây cói còn thưa, chưa ổn định nên năng suất chỉ đạt 7-8 tấn/ha/vụ Sang năm thứ 2 và thứ 3 ruộng cói mới thành thục và cho thu hoạch

ổn định, khoảng 10-12 tấn/ha/vụ, cao có thể tới 20 tấn/ha/năm.

Trang 19

2.6 Tình hình sử dụng phân bón trên thế giới và Việt Nam.

2.6.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón trên thế giới

Phân bón là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng

để nuôi sống nhân loại trên thế giới Tuy nhiên nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón và ngoại tệ có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước

có sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chính cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định Trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau , điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung.

Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật Bản lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 - Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt

là Campuchia Có thể đó là thị trường xuất khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả.

Trang 20

2.6.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón ở Việt Nam

Là một nước nông nghiệp nên nhu cầu sử dụng phân bón của Việt Nam rất lớn Hiện nay chủng loại phân bón do các nhà máy, các cơ sở trong nước sản xuất, cũng như nhập khẩu từ nước ngoài rất đa dạng, theo thống kê từ Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng ở Việt Nam

do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hiện nay có khoảng

4.000 loại Trong đó có khoảng gần 2.000 loại phân khoáng NPK và NPK

có bổ sung trung, vi lượng; 350 loại phân hữu cơ khoáng; 200 loại phân hữu cơ sinh học; 800 loại phân hữu cơ vi sinh; 50 loại phân vi sinh; 1.400 loại phân bón lá; 50 loại phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng; 20 chế phẩm cải tạo đất

Đến nay trong cả nước có khoảng 500 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón các loại (trong ñó số doanh nghiệp sản xuất phân vô cơ khoảng 100 doanh nghiệp và khoảng 400 doanh nghiệp sản xuất các loại khác) Vùng Đông Nam Bộ khoảng 260 doanh nghiệp (chiếm 51%), đồng Bằng sông Hồng gần 100 doanh nghiệp (chiếm 20%), đồng bằng sông Cửu Long khoảng 50 doanh nghiệp (chiếm gần 10%) còn lại là các vùng khác chiếm khoảng 20%

Trong những năm gần đây Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây, một mặt do vốn đầu tư ngày càng cao, mặt khác do người dân tiếp thu và áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Việt Nam hiện đang là quốc gia sử dụng phân bón đứng thứ 15 trong nhóm các nước thâm canh phân bón cao nhất thế giới.

Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn Ví dụ năm 1974/1976 bình quân lượng

Trang 21

phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có 43,3 kg/ha Năm

1993-1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng, lượng phân hoá học do nông dân sử dụng đã tăng lên, đến năm 2000 là 263 kg/ha đất canh tác

Số lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi Cây cối cũng như con người phải ñược nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được Vì vậy phân chuyên dùng ra đời

là để giúp người trồng cây sử dụng phân bón được tiện lợi hơn

Trong những năm gần đây mỗi năm nước ta sử dụng từ 1,4-1,6 triệu tấn đạm, 600-700 tấn kali, 1,4-1,6 triệu tấn lân ngoài ra còn có các loại phân bón khác điều kiện khí hậu ở nước ta còn gặp nhiều bất lợi, mặt khác kỹ thuật bón phân của người dân chưa cao nên mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali Tuy nhiên hiệu quả của việc bón phân đối với cây trồng tương đối cao, vì vậy người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong tương lai, nước ta vẫn là nước sử dụng một lượng phân bón rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, mặc dù vẫn phải nhập khẩu phân bón với lượng lớn

2.7 Phân bón với cây cói Việt Nam

Cói là cây trồng ven biển (nước lợ), từ việc trồng quảng canh cho thu hoạch 1 vụ/năm, nay tiến hành trồng trọt thâm canh, thu hoạch 2 vụ/năm thậm chí một số hộ gia đình thu hoạch 3 vụ/năm, mặt khác cói được thâm canh theo phương pháp “tưới tràn, tháo kiệt” nghĩa là bón phân xong thì lại rửa đi, do vậy đầu tư phân bón cho ruộng cói ngày một tăng Theo kết quả điều tra của Ninh Thị Phíp (2006) cho thấy vùng Kim Sơn – Ninh Bình người dân thường bón cho cói bông trắng từ 486-540kg urê/ha Trong khi đó khoảng 20-30 năm trước trồng cói không có đầu tư phân đạm Bón phân đạm nhiều làm cho cói nhanh chết sau

Trang 22

cắt, chu kỳ trồng cói rút ngắn (trước kia sau trồng từ 8-10 năm mới đảo cói 1 lần thì nay chỉ 3-5 năm đã phải tiến hành đảo cói), cói không chắc, kém dai hơn, dòn hơn Những năm tiếp theo càng bón nhiều phân hơn, hiệu quả sử dụng phân của cói càng thấp Bón nhiều phân đạm, ngoài hiệu quả sử dụng đạm thấp còn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh như phú dưỡng nguồn nước, tăng hàm lượng nitrat trong nước ngầm, ô nhiễm không khí qua đó ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân nhất là ở các vùng trồng cói thường thiếu nước ngọt vào mùa khô

Cói là cây phàm ăn, cần nhiều phân Muốn ñạt năng suất cao, nhất thiết phải bón nhiều phân cho cói Kinh nghiệm từ xưa của nông dân các vùng trồng cói Ninh Bình ñều rất chú trọng đến bón phân cho cói

Các loại phân đạm, lân, kali có tác dụng rất lớn trong sản xuất cói Bón phân chuồng kết hợp với phân hoá học làm tăng năng suất và phẩm chất cói Bón đủ đạm làm cói đâm tiêm nhanh, nhiều, chóng kín ruộng, sinh trưởng mạnh, thân cao to, lâu xuống bộ (ra hoa và lụi), năng suất tăng rõ rệt Nhiều đạm quá cói thường mọc lướt, cây to xốp, nhiều nước, sợi không bền Bón lân cho cói có tác dụng làm tăng phẩm chất rất rõ (nhỏ cây, bền sợi, tỷ lệ cói chẻ tăng), lân còn làm cho cói chín sớm và trong một mức độ nhất định lân cũng

có tác dụng tăng năng suất Các loại phân hoá học bón phối hợp với nhau như đạm kết hợp với lân, hoặc đạm, lân, kali kết hợp đều làm tăng cả năng suất và phẩm chất cói

Từ năm 2002 tới nay, do nhu cầu nguyên liệu cói ngày một cao, giá cói liên tục tăng mạnh nên người dân bắt đầu đầu tư về phân bón để tăng năng suất, thay vì để cây cói phát triển tự nhiên như trước kia Tuy nhiên, do chưa có loại phân bón chuyên dụng cho cói, người dân chỉ làm theo kinh nghiệm với mức đầu tư chưa hợp lý (dùng nhiều phân hoá học và không cân ñối) và

áp dụng phương pháp bón phân truyền thống (bón vãi bề mặt) nên hiệu quả sử dụng phân bón không cao, sâu bệnh phát triển mạnh, chu kỳ khai thác bị giảm đáng kể, dẫn đến năng suất và chất lượng cói ngày càng giảm và hiệu quả

Trang 23

kinh tế thấp (đầu tư phân bón không hiệu quả và tốn nhiều chi phí cho thuốc trừ sâu bệnh), ô nhiễm môi trường đất và nước ở nhiều nơi đã đến mức báo động Năng suất cói tăng giảm thất thường (năm 2000 năng suất cói đạt 66 tạ/ha, năm 2006 tăng lên 73,2 tạ/ha và năm 2008 giảm xuống còn là 72,4 tạ/ha/năm)

Tuỳ theo thời vụ mà người dân áp dụng các mức bón và số lần bón phân khác nhau Phương pháp bón phân hoá học hiện đang được áp dụng là phương pháp bón vãi truyền thống Với phương pháp này, việc bón phân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời tiết, chế độ tưới tiêu Thông thường người dân thường bón phân vào thời điểm trước cơn mưa đối với cói không chủ động được nước tưới hoặc bón vào buổi chiều mát đối với những ruộng cói đủ

ẩm Gần 40% hộ dân bón phân đạm với lượng bón khoảng 40kg/sào (500m2)

và khoảng 30% hộ dân sử dụng phân NPK với lượng bón tới 50kg/sào, thậm chí 70kg/sào cho cả vụ xuân và vụ mùa Do đặc trưng của kỹ thuật tưới cho cói là “ tưới tràn, tháo kiệt”, nên biện pháp bón phân vãi dẫn đến hiện tượng rửa trôi và bốc hơi Hơn nữa, do trồng cói liên tục trong nhiều năm, ruộng cói chỉ được làm ñất 1 lần khi trồng mới, bộ rễ cói phát triển mạnh, các lớp mầm cói mọc liên tục và có xu hướng cao dần lên đã làm cho lớp đất mặt bị chai cứng, khả năng giữ phân của đất giảm dần theo thời gian canh tác Do vậy việc xây dựng chế độ bón phân cho cói hợp lý nhằm tăng năng suất, chất lượng và tăng giá trị kinh tế trong sản xuất cói là yêu cầu cần thiết hiện nay

Trang 24

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Cây cói (tên khoa học là Cyperus sp)

- Phân bón: phân viên nén, supe lân, kaliclorua, phụ gia khác.

- Các dụng cụ thí nghiệm: chậu xô, thước đo,…

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu : Tháng 1/2013 – tháng 7/2013

- Địa điểm nghiên cứu : Nhà lưới của bộ môn bệnh cây, khoa nông học, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội.

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén nhả chậm đến sinh trưởng,

phát triển, năng suất và chất lượng cói trong vụ xuân năm 2013 trồng trong chậu tại trường ĐHNN Hà Nội.

3.4 Phương pháp nghiên cứu

+ CT2: 450 kg phân viên nhả chậm/ha.

+ CT3: 550 kg phân viên nhả chậm/ha.

+ CT4: 600 kg phân viên nhả chậm/ha.

2) Thí nghiệm 2 được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với:

- 3 lần nhắc lại: NL1, NL2, NL3

- 4 công thức bón phân:

Trang 25

+ CT1: Đối chứng (Bón theo quy trình bón phân cho cói của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Thanh Hóa).

+ CT2: 450 kg phân viên nhả chậm/ha.

+ CT3: 550 kg phân viên nhả chậm/ha.

+ CT4: 600 kg phân viên nhả chậm/ha

=> Thí nghiệm được tiến hành trong nhà lưới với 2 thí nghiệm, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 4 chậu, sử dụng chậu có chiều cao 25cm, đường kính 20cm, đường kính miệng xô 26cm, diện tích bề mặt là 530,66cm2.

Tổng số chậu thí nghiệm: 3x4x4 x2=96 (chậu).

+ Lần 1: Bón 50% vào khoảng 20 ngày sau trồng.

+ Lần 2: Bón 50% còn lại trước thu hoạch 30 ngày.

Thí nghiệm 2:

+ Lần 1: Bón 70% vào 20 ngày sau trồng.

+ Lần 2: Bón 30% còn lại vào trước lúc thu hoạch 30 ngày.

3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi

* Chỉ tiêu về sinh trưởng

- Chiều cao cây: 10 ngày theo dõi 1 lần, theo dõi trong vòng 3 tháng và lúc

thu hoạch Chiều cao được đo từ gốc sát mặt đất đến vuốt lá cao nhất của cây.

- Số tiêm cói:

Trang 26

+ Tổng số têm: Đếm tất cả các mầm cói (tiêm chưa có lá thật) và tiêm đã trưởng thành (đã có lá thật và lá bắc).

+ Số tiêm hữu hiệu: Đếm các tiêm đã trưởng thành, sinh trưởng tốt, không bị sâu bệnh.

+ Số mầm cói: đếm tất cả các mầm cói (tiêm mới nhú lên chưa có lá thật).

- Các lần theo dõi cách nhau 10 ngày.

* Các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng cói

- Năng suất tươi: thu riêng từng ô sau đó phân loại cói: cói loại 1 có độ dài

≥1,7m; 1,4m ≤ cói loại 2 < 1,7m; cói loại 3 < 1,4m; sau đó đem cân trọng lượng của từng loại và cân trọng lượng của toàn ô.

- Năng suất khô: cói tương được đem chẻ và phơi tại ruộng 3 ngày sau đó đem

Trang 27

4.1.1.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón khác nhau ñến số mầm cói

Mầm là đoạn giữa thân ngầm và thân khí sinh có 3, 4 đốt ngắn, mỗi đốt có

1 mầm, 2 mầm phía dưới ở trạng thái sinh trưởng sẽ phát triển bằng thân ngầm, 2 đốt phía trên ở trạng thái

ngủ đến mùa sinh trưởng, từ

chiều cao của tiêm cói cho thu

hoạch sau này do vậy nắm

được các đợt mầm của cói là

điều kiện quan trọng làm cơ sở cho việc chăm bón, tạo năng suất cói khi thu hoạch

Mầm cói Từng lứa mầm khác nhau sẽ cho những loạt cây đồng đều nhau về kích thước Vì thế động thái ra mầm, khả năng đâm tiêm của cói ở các thời điểm

có ý nghĩa quan trọng tới năng suất và chất lượng cói

Lượng tiêm hữu hiệu càng nhiều thì tiềm năng năng suất càng cao và quyết định chất lượng cói từ đó ảnh hưởng đến giá bán của sản phẩm Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến mức độ ra mầm của cói chính là thước đó

để đánh giá năng suất cuối cùng của cói Theo dõi số lượng mầm cói trong quá trình sinh trưởng thu được kết quả ở bảng 4.1

Trang 28

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói.

Đơn vị:mm

Thí

Nhiệm

Ngày theo dõi

Trang 29

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 1.

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 2.

Trang 30

Qua bảng 4.4 và hai đồ thị trên cho thấy, với các công thức phân bón viên nén khác nhau thì ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát triển đường kính gốc Ở các công thức bón khác nhau thì ta nhận thấy đường kính gốc đều tăng mạnh trong giai đọan từ 12/4 – 26/4 như ở thí nghiệm 1, công thức 2 đường kính gốc tăng từ 2,33mm ngày 12/4 lên 3,61mm ngày 26/4 Giai đoạn này tăng mạnh chính là thời điểm sau bón phân viên nén 7 ngày khi phân viên nén phát huy tác dụng mạnh nhất.Từ ngày 26/4 trở đi thì đường kính gốc tăng chậm, có 1 vài thời điểm còn giảm

So sánh tốc độ tăng trưởng đường kính gốc giữa các công thức bón khác nhau cũng nhận thấy sự khác nhau Các giai đoạn tăng trưởng nhanh chậm khác nhau giữa các công thức Đường kính gốc ở các công thức bón phân viên nén đường kính tăng lên khá đều Còn ở công thức bón bằng công thức và phương pháp truyền thống thì đường kính tăng lên không đều, có những thời điểm đường kính tăng mạnh nhưng có những thời điểm gần như không tăng Công thức 4 cho kết quả đường kính gốc là cao nhất 6,21mm ở thí nghiệm 1 và 6,51mm ở thí nghiệm 2.

Tương tự với đường kính ngọn cũng được theo dõi và ghi lại dưới bảng 4.5 và đồ thị sau:

Trang 31

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính ngọn của cói.

Đơn vị:mm

Thí

Nhiệm

Ngày theo dõi

Trang 32

Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 1.

Đồ thị 4.4 Ảnh hưởng của các công thức bón phân viên nén khác nhau đến

đường kính gốc của cói ở thí nghiệm 2.

Trang 33

Dựa vào bảng và đồ thị trên ta thấy, các công thức 3 bón phân viên nén cho đường kính ngọn cao nhất và tăng đều qua các thời kỳ theo dõi Ngày 7/6 đường kính ngọn của công thức 3 là 3,29mm ở thí nghiệm 1 và 3,31mm ở thí nghiệm 2.Về tốc độ tăng trưởng đường kính ngọn thì ở các công thức bón phân viên nén đường kính tăng khá đều qua các thời kỳ Còn ở công thức 1 bón theo công thức truyền thống thì đường kính ngọn tăng lên không đều, có những thời điểm tốc độ tăng trưởng đường kính ngọn tăng lên rất nhanh nhưng cũng có những thời điểm đường kính ngọn gần như không tăng Điều này có thể được giải thích là bón phân viên nén dinh dưỡng được cung cấp từ từ cho cây do đó cây hút dinh dưỡng đều đều Còn bón bằng phân rời do dinh dưỡng hòa tan nhiều ở thời điểm sau bón vì vậy cây hút dinh dưỡng mạnh nên đường kính tăng nhanh, nhưng sau đó lượng dinh dưỡng hòa tan giảm đi nên cây hút được rất ít dinh dưỡng do đó mà đường kính không tăng nhiều.

Từ những kết quả trên ta thấy, ở công thức 4 cho đường kính gốc cao nhất, công thức 3 cho đường kính ngọn cao nhất Song bên cạnh đó đường kính gốc của công thức 3 (chỉ sau công thức 4), công thức 4 đường kính ngọn cũng cao (3,16mm ở thí nghiệm 1 và 3,19mm ở thí nghiệm 2 tại thời điểm theo dõi ngày 7/6).

Do đó các công thức 3 và 4 cói phát triển đồng đều giữa thân và ngọn, đồng thời phát triển mạnh Đây là cơ sở để cây cói có chất lượng cao về sau.

4.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến màu sắc thân và khả năng chống đổ của cây cói.

Khả năng chống chịu trước ngoại cảnh xấu đến quá trình sinh trưởng, phát triển diễn ra bình thường là đặc điểm rất quan trọng đối với mỗi loại cây trồng Đối với cây cói khả năng chống đổ có vai trò rất quan trọng trong việc kiến tạo nên năng suất cuối cùng Khi cói bị đổ, một lượng lớn thân cói không tiếp xúc được với ánh sáng và chết dần tạo thành bổi Gốc cói đổ lâu không thu hoạch sẽ bị cong gây khó khăn trong quá trình chế biến cói, thân cói dễ bị đứt khi chẻ

Trang 34

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến màu sắc thân

và khả năng chống đổ của cây cói.

đổ trung bình và cho màu xanh vàng đến xanh nhạt.

Do thời điểm này là vào vụ mùa nên bị ảnh hưởng bởi những cơn bão dẫn đến mưa to, do vậy mà các công thức đều có số lượng cói bị đổ tương đối cao Ngoài ra, với công thức 3 và 4 thì với mức phân bón cao nên cây sinh trưởng phát triển nhanh dẫn tới thân màu xanh đậm và sớm bị đổ hơn

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến động thái tăng

Trang 36

Đồ thị 4.5 Động thái tăng trưởng số mầm cói ở các công thức bón phân viên

nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 1

Đồ thị 4.6 Động thái tăng trưởng số mầm cói ở các công thức bón phân viên

nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 2

Trang 37

Qua đồ thị cho thấy cói mọc mầm mạnh nhất vào lúc 5TST đến 8TST Trong thời gian tiếp theo cói van ra mầm nhưng số mầm tăng ít hơn Do vậy thời điểm bón phân thích hợp là từ 5 TST đến 8TST Vào giai đoạn mọc mầm tập trung nhất thì CT4 ở cả hai thí nghiệm đều có số mầm tăng mạnh nhất, tuy nhiên CT4 ở thí nghiệm 1 tăng mạnh hơn ( 217.47mầm/m2 so với 176.28mầm/m2) Nguyên nhân là do đối với cói tuổi 1 thì ban đầu ta nên bón ít phân để kích thích cói mọc mầm, không nên bón nhiều vào 1 thời điểm Vì vậy công thức 4 ( 600kg/ha với phương pháp bón 50% sau 20 ngày trồng vao 50% trước thu hoach 30 ngày) được chọn.

Trang 38

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến động thái tăng

trưởng số tiêm cói

Thí

Nhiệm

Ngày theo dõi

Trang 39

Đồ thị 4.7 Động thái tăng trưởng số mầm tiêm ở các công thức bón phân

viên nén nhả chậm khác nhau trong thí nghiệm 1.

Trong suốt thời kỳ sinh trưởng số tiêm cói luôn tăng từ lúc cấy đến lúc thu hoạch CT4 ở thí nghiệm 1 có số tiêm cao nhất đạt 1460 tiêm/m2 CT1 ở cả 2 thí nghiệm có số tiêm cao hơn so với CT2 nhưng nhỏ hơn CT3 ( 550kg/m2) và CT4 (600kg/m2).

Ta thấy các công thức bón phân viên nén nhả chậm thì cói đẻ khỏe hơn và mọc tập trung hơn so với công thức đối chứng, nguyên nhân được giải thích là

do phân viên nén được giải phóng từ từ, các mầm ra sau vẫn có đủ dinh dưỡng,

ít bị cạnh tranh giữa các cá thể trong cùng một khóm, không như bón phân rời, các mầm ra trước có nhiều ưu thế hút chất dinh dưỡng làm cho các mầm sau không hút được chất dinh dưỡng và bị lụi dần đi.

Trang 40

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của lượng phân viên nén nhả chậm đến số tiêm hữu

hiệu cây cói.

Tổng số tiêm

Tiêm hữu hiệu(a)

Tiêm vô hiệu(b)

Tỷ lệ (a/b) TN1

ha trong vụ xuân) Do đó các biện pháp canh tác trong đó có biện pháp bón phân cần được nghiên cứu nhằm hạn chế số tiêm vô hiệu.

4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến chiều cao cây cói bông trắng.

Ngày đăng: 28/12/2019, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w