Đứng trước yêu cầu đó ngân hàng đã cho ra nhiều dịch vụ mới : dịch vụ ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, hoặc nhận dạng giọng nói; dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, khách hà
Trang 1Đánh giá thực trạng cung ứng dịch vụ E-banking
tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
Mục Lục:
Lời mở đầu
Chương 1 : Tổng quan về quy trình cung cấp dịch vụ e-banking
I Khái quát về dịch vụ e-banking
1 Định nghĩa
2 Nội dung đặc điểm của e-banking
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của e-banking
3.1 Môi trường pháp lí
3.2 Cơ sở hạ tầng
3.3 Đội ngũ nhân lực của công ty
4 Ưu nhược điểm của dịch vụ e-banking
I Quá trình hình thành và phát triển của SHB
1 Giới thiệu chung
Trang 2II Thực trạng quy trình cung cấp dịch vụ e-banking tại SHB
1 Quy trình cung cấp dịch vụ e banking tại SHB
Trang 4Chương 1 : Tổng quan về quy trình cung cấp dịch vụ e-banking
I Khái quát về dịch vụ e-banking
1 Định nghĩa
Dịch vụ thương mại điện tử đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây và trở thành đề tài nóng trong bất cứ hội thảo nào về công nghệ thông tin Thương mại điện tử đã trở thành một xu thế tất yếu của quá trình hiện đại hóa công nghiệp hóa Đứng trước yêu cầu này, các tổ chức tài chính phải tìm hiểu và phát triển chiến lược kinh doanh vào thương mại điện tử Ma Weihua, Chủ tịch của Ngân hàng Merchant, Trung Quốc cho biết: "Thương mại điện tử đã đưa lại cho ngành công nghiệp ngân hàng những
vũ khí lợi hại để phá bỏ những hạn chế đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng trướckia và mở rộng dịch vụ mới” Thương mại điện tử tạo nên một hình thức cạnh tranh mới buộc các ngân hàng phải chọn lựa những dịch vụ mà khách hàng cần, quyết định quy mô các chi nhánh ngân hàng trong hệ thống và mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng Đứng trước yêu cầu đó ngân hàng đã cho ra nhiều dịch vụ mới : dịch vụ ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, hoặc nhận dạng giọng nói; dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, khách hàng chỉ cần một máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến ngân hàng Đó chính là hình thức của mộtloại ngân hàng mới, ngân hàng điện tử hay còn gọi là e-banking Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà các dịch vụ được cung cấp qua các phương tiện kỹ thuật điện tử, khách hàng không cần đến trực tiếp tại các chi nhánh của ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và nắm bắt được thông tin tài chính của mình Hiện nay, một số ngườivẫn thường đồng nhất dịch vụ internet banking với dịch vụ ngân hàng điện tử (e-
banking) Trên thực tế, dịch vụ e-banking có nội hàm rộng hơn internet banking rất nhiều.Nếu như internet banking chỉ đơn thuần là việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng thông qua mạng internet, thì dịch vụ e-banking còn bao hàm cả việc cung cấp các dịch vụ thôngqua một số phương tiện khác như: fax, điện thoại, e-mail….Như vậy, internet banking là một bộ phận của e-banking và với những tiện ích của internet so với các phương tiện khác là giá giao dịch tương đối rẻ, tốc độ nhanh và có thể truyền được dữ liệu tới khắp mọi nơi trên thế giới một cách nhanh nhất thì internet banking được coi là linh hồn của e-banking
2 Nội dung đặc điểm của e-banking
Dịch vụ e-banking được chia thành ba cấp độ khác nhau:
Ở cấp độ sơ đẳng nhất, e-banking không khác nhiều so với giao dịch qua điện thoại hay giao dịch với một máy rút tiền tự động Bằng cách sử dụng bàn phím số của
Trang 5điện thoại, khách hàng có thể biết được tình hình tài khoản của mình hoặc có thể thực hiện các giao dịch đơn giản như chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản vãng laicủa cùng một chủ tài khoản
Ở cấp độ thứ hai, internet đóng vai trò tích cực hơn Lúc này mỗi trang chủ của ngân hàng trên internet được xem như một cửa sổ giao dịch Ngoài chức năng kiểm tra tàikhoản, khách hàng còn có thể sử dụng hàng loạt các dịch vụ trực tuyến khác như vay muahàng, mua một hợp đồng bảo hiểm và kể cả đầu tư vào chứng khoán…
Ở cấp độ thứ ba, ngân hàng đóng vai trò rất to lớn, hỗ trợ cho thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp phát triển Mọi giao dịch như chuyển tiền, mở thư tín dụng cho hợp đồng mua bán giữa các nhà xuất nhập khẩu, mở các thư bảo lãnh…đều có thể thực hiện trực tuyến Khách hàng sẽ không phải đến trụ sở của ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch thông qua một chương trình do ngân hàng cài đặt tại văn phòng của khách hàng Chương trình này cho phép truy cập đến máy chủ của ngân hàng 24/24 giờ và cả bảy ngày trong tuần
Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống
và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trênnhững kênh phân phối mới
Tuy nhiên, không có một mô hình ngân hàng điện tử tiêu biểu và duy nhất Sự lựa chọn mô hình phụ thuộc vào chiến lược phát triển của ngân hàng và môi trường hoạt động bao gồm sự sẵn có về thông tin khách hàng, thói quen và hành vi khách hàng, và hệ thống hạ tầng hạ tầng tài chính ngân hàng nói chung
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của e-banking
3.1 Môi trường pháp lí
Môi trường pháp lí là một yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của dịch vụ ebanking Có thể nói, các ngân hàng chỉ có thể áp dụng dịch vụ của mình khi tính pháp lí của nó được thừa nhận và có các cơ quan xác thực Môi trường pháp lí ổn định, phù hợp, chặt chẽ sẽ có các tác động tích cực đến sự phát triển của các loại hình dịch vụ này Cụ thể là phải có một hành lang pháp lí hợp lí, ổn định, chặt chẽ thì khách hàng mới có thể yên tâm giao dịch, đồng thời sẽ phòng ngừa được những tranh chấp không đáng có cũng như sự thiếu an toàn khi sử dụng dịch vụ e-banking Chính vì vậy, các quốc gia cần thiết
Trang 6lập nên một môi trường pháp lí ngày càng hoàn thiện hơn, ổn định hơn để đảm bảo thông suốt các hoạt động của ngân hàng điện tử.
3.2 Cơ sở hạ tầng
Đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của dịch vụ
e-banking Các ngân hàng chỉ có thể phát triển dịch vụ e-banking một cách có hiệu quả khi
có một cơ sở công nghệ thông tin đủ năng lực Một cơ sở công nghệ thông tin được coi là
đủ năng lực khi nó đáp ứng được hai yêu cầu sau: thứ nhất là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ, thứ hai là tính kinh tế Trước sự cạnh tranh như vũ bão hiện nay, việc áp dụngcác công nghệ tiên tiến là một yêu cầu bức thiết Nếu sử dụng công nghệ quá cũ tức là các ngân hàng đã tự loại mình ra khỏi cuộc chơi Tuy nhiên, bên cạnh công nghệ tiên tiến, các ngân hàng cũng cần chú ý đến tính kinh tế của loại công nghệ đó Nói tóm lại, các ngân hàng cần căn cứ vào lượng vốn mà mình có để lựa chọn một loại công nghệ phùhợp đảm bảo công nghệ khá tiên tiến cũng như chi phí hợp lí để có thể đáp ứng được
3.3 Đội ngũ nhân lực của công ty
Ở bất cứ trường hợp nào, con người cũng luôn đóng vai trò quan trọng Bên cạnh việc giảm được một lượng đáng kể nhân lực trong công ty, thì việc phát triển dịch vụ e-banking lại đòi hỏi hệ thống nhân lực cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để
có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả, có thói quen làm việc bằngcác phương tiện điện tử Ngân hàng cũng cần có một đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin đủ mạnh để có thể tiếp tục nghiên cứu và phát triển hệ thống điện tử của ngân hàng Hơn nữa, các chuyên gia cần thiết lập nên hệ thống e-banking dễ sử dụng, thân thiên với người dùng Bên cạnh đó, khi mà dịch vụ này còn khá mới mẻ thì sự e ngại của khách hàng là điều tất yếu, vì vậy, đội ngũ nhân viên cần thân thiện, có trình độ và khả năng thuyết phục để có thể loại bỏ được sự e ngại của khách hàng và lôi kéo khách hàng
a Đối với ngân hàng
Trang 7 Tiết kiệm chi phí : e-banking giúp các ngân hàng tiết kiệm nhiều chi phí, do phải thuê nhân viên và đầu tư cho mặt bằng, cũng như trang thiết bị Nhờ áp dụng công nghệ cao mà các ngân hàng đã giảm được một lượng đáng kể các nhân viên đặc biệt là các nhân viên làm việc không hiệu quả Đồng thời khách hàng và ngân hàng chỉ cần giao dịch với nhau qua mạng Internet,mobile… thay vì phải đi đến ngân hàng và xếp hàng dài như trước kia Đó là yếu tố giúp giảm chi phí cho đầu tư vào mặt bằng và các trang thiết
bị khác như ghế ngồi, quạt, điều hòa, đèn, điện…Các yếu tố này có tác động không nhỏ với việc tăng lợi nhuận cho công ty
Tiết kiệm thời gian: Một nhân viên có thể thực hiện hàng ngàn giao dịch chuyển khoản trong e-banking trong một ngày, trong khi làm theo cách truyền thống thì chỉ thực hiện vài trăm cuộc giao dịch Bên cạnh đó, thông qua các dịch vụ của ebanking, các lệnh
về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh, thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao dịch, trao đổi tiền-hàng, qua đó, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tiền tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểu ngân hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc
độ nhanh, chính xác so với e-banking
Tăng sự cạnh tranh: Giao dịch điện tử là nhu cầu không thể thiếu đối với ngành ngân hàng Nó khẳng định khả năng về công nghệ và vị trí của ngân hàng trong mắt khách hàng Đặc biệt, e-banking có thể cung cấp dịch vụ chéo Theo đó, các ngân hàng
có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về các dịch vụ liên quan: ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán Chính sự tiện ích có được từ côngnghệ ứng dụng, từ phần mềm, từ nhà cung cấp dịch vụ mạng, đã thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ, giao dịch với ngân hàng, trở thành khách hàng truyền thống của ngân hàng Việc thực hiện các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện tử cho phép các ngân hàng thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường, điều chỉnh kịp thời phí, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến của tình hình thị trường; hạn chế rủi ro do biến động về giá cả của thị trường gây ra, mang lại lợi ích cho ngân hàng và khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ của ngân hàng điện tử Đây là những lợi ích vượt trội so với ngân hàng truyền thống
Ngoài ra, bằng việc sử dụng các dịch vụ của e-banking, các tổ chức tín dụng có thểtiếp cận nhanh với các phương pháp quản lý hiện đại Sự kết hợp hài hoà trong quá trình phát triển các hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống và một số dịch vụ ngân hàng điện tử, sẽ cho phép các tổ chức tín dụng đa dạng hoá sản phẩm, tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả hoạt động Đặc biệt e-banking giúp các ngân hàng ngân hàng có thể thực hiện được chiến lược toàn cầu hóa mà không cần mở thêm chi nhánh
b Đối với khách hàng
Trang 8Cũng tương tự như đối với ngân hàng, e-banking đem lại rất nhiều lợi ích cho khách hàng như:
Tiết kiệm thời gian và chi phí: hệ thống này giúp khách hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc Chỉ cần đã đăng ký dịch vụ e-banking, thay vì đi đến tận nơi xếp hàng và chờ đợi, khách hàng chỉ cần ngồi tại chỗ, thực hiện một số thao tác là có thể giao dịch được với ngân hàng và ngân hàng sẽ thực hiện yêu cầu của khách hàng chỉ trong ít phút Không những khách hàng tiết kiệm được nhiều chi phí đi lại mà những lo lắng về kẹt xe, giấy tờ phức tạp không còn là mối bận tâm của khách hàng nữa Thời giantiết kiệm được họ có thể đầu tư nhiều hơn vào công việc kinh doanh của mình Hơn nữa, chi phí cho giao dịch của dịch vụ e-banking cũng thấp hơn các dịch vụ khác nhiều Ta có thể theo dõi kết quả khảo sát sau:
Bảng 1: Phí giao dịch các dịch vụ của e-banking so với các phương pháp truyền thống
Nguồn: Kết quả khảo sát của hãng nghiên cứu Booz, Allen & Hamilton(2000)
Linh động: Có thể giao dịch mọi lúc mọi nơi và doanh nghiệp có thể ra lệnh mà không cần phải có mặt đồng thời kế toán và chủ tài khoản tại công ty Không những thế, e-banking đã thực sự trở thành phương tiện hỗ trợ đắc lực giúp các khách hàng có thể chủđộng kiểm tra tình hình tài chính của mình Lãnh đạo đơn vị có thể ký duyệt các chứng từgiao dịch mọi lúc mọi nơi, và còn có thể giám sát ngay tức thì số dư tài khoản, giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình
An toàn và bảo mật: Thêm một yếu tố nữa đảm bảo sự yên tâm cho khách hàng là
dữ liệu có tính an toàn cao vì được mã hóa trước khi gửi - nhận nhờ công nghệ xác thực bằng chứng thực số
Hơn nữa, khách hàng cũng có cơ hội làm quen miễn phí với thương mại điện tử thông qua một hình thức thanh toán hiện đại để từng bước hội nhập kinh tế quốc tế
c Đối với xã hội
E-banking góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịchcủa đất nước, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với khu vực và thế giới
Đặc biệt góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại điện tử phát triển
Nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng trong nước: e-banking giúp cho các ngân hàng tiếp cận được khách hàng tốt hơn, tiết kiệm được chi phí giao dịch, chi phíphát triển mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch, chi phí quản lý Đây là lợi thế rất lớn giúp các ngân hàng trong nước tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng thế giới trongthời kỳ hội nhập
Trang 9 Nâng cao nhận thức của người dân trong việc ứng dụng các công nghệ hiện đại từng bước đưa đất nước phát triển theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4.2 Nhược điểm
Tất cả những lợi ích này của e-banking đã và đang khiến các ngân hàng không thể làm ngơ trước thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay Tuy nhiên, bên cạnhnhững ưu điểm trên, có không ít bất lợi của e-banking mà các ngân hàng và khách hàng của họ phải quan tâm
a Đối với ngân hàng
Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin: rõ ràng để đầu tư vào các dịch vụ ngân hàng điện tử thì các ngân hàng cần có một lượng vốn khá lớn Đây là điều mà không phải ngân hàng nào cũng có được Vấn đề về hạ tầng công nghệ thông tin hay cụ thể là vốn đầu tư luôn là vấn đề đầu tiên mà các ngân hàng muốn phát triển dịch vụ này phải nghĩ tới
Vấn đề về nhân lực: mặc dù việc sử dụng dịch vụ e-banking giúp ngân hànggiảm một lượng đáng kể nhân lực song các ngân hàng lại phải đầu tư nhiều hơn đến chất lượng của nguồn nhân lực của mình Để có một đội ngũ nhân viên có trình độ, có khả năng ứng dụng các loại công nghệ cao thì các ngân hàng phải cử các nhân viên đi học, nâng cao thêm trình độ đồng thời phải tuyển những nhân viên có trình độ cao, phải sử dụng các chuyên gia về kỹ thuật Điều này tất yếu dẫn đến chi phí cho những nhân viên này không hề nhỏ
Vấn đề bảo mật thông tin: bảo mật thông tin luôn là sự e ngại của khách hàng khi sử dụng dịch vụ e-banking Để có thể lấy được lòng tin của khách hàng,các ngân hàng không còn cách nào khác là phải nâng cao khả năng bảo mật được thông tin của khách hàng Tuy nhiên điều này không hề dễ Ở trên thế giới hiện nay vấn đề bảo mật cũng đang vẫn còn là một vấn đề đáng lo ngại
Không có chiến lược rõ ràng cụ thể thì không mang lại hiệu quả mà còn gâylãng phí : ai cũng biết rằng dịch vụ e-banking mang lại rất nhiều lợi ích và có cơ hội cạnh tranh và phát triển rất lớn trong tương lai Song nếu các ngân hàng có vốn, đầu tư nhiều vào nhân lực mà không có một chiến lược rõ ràng, cụ thể, chặt chẽ thì có thể vẫn không đạt được hiệu quả cao mà lại càng gây lãng phí
b Đối với khách hàng:
Vấn đề bảo mật: đây luôn là lo ngại hàng đầu của khách hàng khi sử dụng dịch vụ e-banking Rủi ro trong hoạt động dịch vụ này là không nhỏ, khách hàng
có thể bị mất mật khẩu truy nhập tài khoản từ lúc nào mà mình chẳng hay biết do
bị “Hacker” ăn cắp bằng công nghệ cao Từ đó tiền trong tài khoản của khách hàng bị mất mà không biết tại bản thân mình nhầm lẫn hay tại ngân hàng Đặc biệt
Trang 10là ở những nước đang phát triển, do công nghệ chủ yếu là “nhập khẩu” nên sự chủ động nắm bắt công nghệ không cao, việc phát hiện và bịt các “lỗ hổng” của phần mềm mua từ nước ngoài chưa thể thực hiện được một cách đầy đủ, khả năng lớn làphải mời chuyên gia, tốn kém và mất thời gian Vius, sâu máy tính, phần mềm gián điệp là những nguy cơ thường trực tấn công hệ thống qua việc giả mạo, đánh cắp dữ liệu khách hàng, tội phạm máy tính sử dụng tấn công kiểu “từ chối dịch vụ” (DDoS) làm tê liệt website là rất có thể xảy ra Giao dịch bằng e-banking thì khách hàng sẽ phải lo ngại nhiều rủi ro hơn so với giao dịch chứng từ truyền thống
Đầu tư về công nghệ: để tham gia được vào e-banking, khách hàng cần phải có máy vi tính hay các phương tiện điện tử khác và phải mua dịch vụ từ công
ty dịch vụ, đây là khoản chi phí đầu tư ban đầu không nhỏ
Thiếu thông tin “nóng”: Nhiều khách hàng vẫn muốn trực tiếp giao dịch vớicán bộ ngân hàng để có thể diễn giải dễ dàng hơn Qua E-Banking khách hàng nhận được thông tin không thể đầy đủ như qua một cán bộ chuyên trách của ngân hàng Khách hàng sẽ mất đi cơ hội trao đổi thông tin với bạn hàng, nắm bắt tình hình mới, “nóng” tại nơi giao dịch của ngân hàng
II Quy trình cung cấp các dịch vụ e-banking
Ngân hàng điện tử (e-banking) bao gồm nhiều dịch vụ như : Internet banking, Home banking, Mobile banking, Phone banking Mỗi dịch vụ lại có một quy trình cung cấp khác nhau Dưới đây là quy trình cung cấp của từng loại dịch vụ
1 Internet Banking
Dịch vụ Internet Banking là dịch vụ cho phép khách hàng có thể thực hiện truy vấn thông tin trên tài khoản của mình, theo dõi các giao dịch tài khoản và in sổ phụ kế toán của mình bằng cách truy cập vào địa chỉ website của Ngân hàng tại bất cứ điểm truy cập Internet nào và vào bất cứ thời điểm nào
Quy trình cung cấp dịch vụ internet banking:
Bước 1: Tiếp cận dịch vụ internet banking:
Nhân viên ngân hàng giới thiệu dịch vụ đến khách hàng hoặc khách hàng tự tiếp cận dịch vụ thông qua các kênh thông tin khác
Khách hàng đăng ký tài khoản sử dụng dịch vụ internet banking bằng cách gửi bản đăng ký đến ngân hàng bằng nhiều hình thức: Nộp bản đăng ký trực tiếp tại các điểm giao dịch của ngân hàng, thông qua email,fax
Trang 11 Ngân hàng cung cấp cho khách hàng tên truy cập và mật khẩu ban đầu.
Bước 2: Thiết lập kết nối:
Khách hàng sử dụng máy tính có kết nối mạng internet để truy cập vào trang web cung cấp dịch vụ internet banking của ngân hàng
Khách hàng sử dụng tên truy nhập được cung cấp để đăng nhập vào hệ thông của ngân hàng
Bước 3: Thực hiện yêu cầu dịch vụ
Khách hàng sử dụng giao diện người dùng được ngân hàng cung cấp đểthực hiện các giao dịch mong muốn
Bước 4: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin:
Ngân hàng tiến hành việc xác minh giao dịch và kiểm tra thông tin thông qua chữ kí điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử, …
Bước 5: Thoát khỏi hệ thống:
Khách hàng thoát khỏi hệ thống sau khi kết thúc các giao dịch
Các thông tin, nhật ký giao dịch được lưu trữ phục vụ cho các truy vấn sau này của khách hàng
2 Home Banking:
Home-banking là kênh phân phối dịch vụ của ngân hàng điện tử, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản với ngân hàng (nơi khách hàng mở tài khoản) tại nhà, tại văn phòng công ty mà không cần đến ngân hàng Khác với dịch vụinternet banking, dịch vụ home banking yêu cầu khách hàng phải đăng ký các máy tính
sử dụng dịch vụ với ngân hàng Khách hàng chỉ sử dụng được dịch vụ home banking tại các máy đã đăng ký
Mặc dù có một số điểm khác biệt, nhưng nhìn chung, chu trình sử dụng dịch vụ Home banking gồm các bước cơ bản sau đây:
Bước 1: Tiếp cận dịch vụ Home banking
Nhân viên đơn vị giới thiệu dịch vụ đến khách hàng hoặc khách hàng tự tiếp cận dịch vụ thông qua các kênh thông tin khác
Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ với ngân hàng: đăng ký địa chỉ các máy tính sử dụng dịch vụ (địa chỉ MAC) Ngân hàng cung cấp tên truy nhập và mật khẩu cho khách hàng, chấp nhận các kết nối đến từ các máy tính đã đăng ký của khách hàng
Bước 2: Thiết lập kết nối:
Khách hàng sử dụng máy tính đã đăng ký với ngân hàng truy cập vào trang web cung cấp dịch vụ của ngân hàng thông qua mạng internet
Trang 12 Khách hàng sử dụng tên đăng nhập được cung cấp để đăng nhập vào hệ thống mạng của ngân hàng
Bước 3: Thực hiện yêu cầu dịch vụ:
Khách hàng sử dụng giao diện người dùng trên trang web của ngân hàng để yêu cầu thực hiện các giao dịch
Bước 4: Xác nhận giao dịch, kiểm tra thông tin:
Ngân hàng yêu cầu xác nhận giao dịch và kiểm tra thông tin của khách hàng thông qua chữ kí điện tử, xác nhận điện tử, chứng từ điện tử, …
Đối với khách hàng là công ty, cơ quan, tổ chức thì việc xác thực được thực hiện phức tạp hơn, đảm bảo an toàn hơn Mỗi cơ quan, công ty, tổ chức được cung cấp 2 tài khoản người dùng được phân cấp và có 2 chữ
ký điện tử tương ứng Một giao dịch được thực hiện khi có đủ chữ ký của 2 tài khoản này
Bước 5: Thoát khỏi hệ thông:
Khách hàng thực hiện thao tác thoát khỏi hệ thống sau khi đã thực hiện xong các giao dịch và kiểm tra thông tin giao dịch
Các thông tin, nhật ký giao dịch được lưu trữ phục vụ cho các truy vấn sau này của khách hàng
3 Mobile Banking
Mobile banking là dịch vụ ngân hàng thông qua di động nhằm cung cấp cho khách hàng khả năng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thông qua di động mọi lúc mọi nơi Quy trình cung cấp dịch vụ mobile banking tổng thể gồm 3 bước chính:
Đăng kí sử dụng dịch vụ mobile banking do các ngân hàng cung cấp
Tải thực đơn điều khiển và thiết lập cấu hình để sử dụng dịch vụ
Sử dụng các dịch vụ thông qua mobile banking Người dùng có thể sử dụng 1 trong 2 phương thức sau để thực hiện các giao dịch thông qua dịch vụ mobile banking:
a Phương thức 1: SMS banking
SMS banking là 1 dịch vụ nằm trong mobile banking nhằm cung cấp các cách thứcgiao dịch, truy vấn tài khoản thông qua các tin nhắn dạng SMS – Short message service Trong phương thức này, khách hàng không cần phải tiến hành cài đặt di động mà vẫn có thể sử dụng dịch vụ SMS banking Để sử dụng dịch vụ, khách hàng thực hiện các thao tác sau:
Bước 1: Đăng ký tài khoản sử dụng dịch vụ
Trang 13 Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ SMS banking với ngân hàng.
Ngân hàng tiến hành kích hoạt dịch vụ SMS banking trên tài khoản củakhách hàng đã đăng ký
Bước 2: Thực hiện giao dịch:
Khách hàng soạn tin nhắn theo cú pháp [Mã dịch vụ]<dấu cách>[Mã giao dịch]<dấu cách>[Số tài khoản] Từng ngân hàng sẽ có những mã dịch vụ và mã giáo dịch khác nhau Danh sách các mã giao dịch được các ngân hàng cung cấp khi khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ SMS banking Gửi tin nhắn đến một đầu số quy định của ngân hàng
Gửi tin nhắn đến một đầu số quy định của ngân hàng
Khi có tin nhắn yêu cầu xác nhận thông tin giao dịch, khách hàng soạntin nhắn theo mẫu yêu cầu và gửi để xác nhận thông tin giao dịch
Sau khi khách hàng xác nhận lại thông tin giao dịch, ngân hàng tiến hành thực hiện các giao dịch đã được yêu cầu
b Phương thức 2: WAP – Wireless Application Protocol
Dịch vụ WAP cho phép người dùng kết nối mạng internet từ mobile để sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp Để sử dụng được các dịch vụ thông qua WAP, mobile cần phải được thiết lập cấu hình phù hợp Quy trình cung cấp dịch vụ:
Bước 1: Đăng ký sử dụng dịch vụ:
Khách hàng tiến hành đăng ký sử dụng dịch vụ mobile banking thông qua WAP với ngân hàng
Ngân hàng cung cấp tên tài khoản và mật khẩu cho khách hàng
Bước 2: Thiết lập cấu hình di động để sử dụng dịch vụ WAP:
Khách hàng tiến hành cấu hình di động để sử dụng dịch vụ WAP Chú
ý là chỉ dùng được với các máy di động có hỗ trợ WAP
Settings name: do người dùng thiết lập
Homepage: trang chủ wap của ngân hàng
Connection Type: Continuous
Session mode: Temporary
Connection security: On
Trang 14 Data bearer: GSM data
IP address: automatic
Authentication type: Secure
User name: do nhà cung cấp dịch vụ di động cấp
Password: do nhà cung cấp dịch vụ di động cấp
Bước 3: Kết nối vào mạng
Khách hàng sử dụng di động đã được cấu hình truy cập vào trang chủ wap của ngân hàng
Sử dụng tên tài khoản được cung cấp để đăng nhập vào hệ thống
Bước 4: Thực hiện giao dịch
Khách hàng sử dụng các tiện ích được ngân hàng cung cấp trên trang chủ wap của ngân hàng để tiến hành các giao dịch, truy vấn tài khoản
4 Phone Banking
Phone banking là dịch vụ ngân hàng thông qua mạng điện thoại nhằm cung cấp cho khách hàng khả năng sử dụng các tiện ích của ngân hàng mà không cần đến tận nơi giao dịch, có thể thực hiện giao dịch mọi lúc mọi nơi, 24/24h Hệ thống phone banking
là một tổng đài điện tử có khác năng trả lời tự động, hướng dẫn tự động giúp khách hàngthực hiện các giao dịch một cách dễ dàng
Quy trình cung cấp dịch vụ:
Bước 1: Đăng ký sử dụng dịch vụ:
Khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ tại các trạm giao dịch của các ngân hàng hoặc gửi bản đăng ký thông qua email
Ngân hàng cung cấp cho khách hàng mã số truy cập và mật khẩu
Bước 2: Kết nối vào hệ thống:
Khách hàng gọi điện đến tổng đài điện tử của dịch vụ
Sử dụng mã số truy cập được cung cấp để đăng nhập vào hệ thống và nghe hướng dẫn
Bước 3: Thực hiện giao dịch:
Khách hàng sử dụng các phím bấm của bàn phím điện thoại để lựa chọn các kênh giao dịch được cung cấp theo hướng dẫn của tổng đài điện tử
5 Call centre
Trang 15Đây là cột số điện thoại cố định mà khách hàng sử dụng dịch vụ Call centre nếu muốn được cung cấp thông tin chung và thông tin cá nhân đều có thế gọi đến Sẽ có nhânviên của ngân hàng trả lời trực tiếp Call centre có thể linh hoạt cung cấp mọi thông tin
mà khách hàng cần, nhưng nhược đỉêm của nó là cần phải có nhân viên trực điện thoại 24/24
Các loại thẻ khác như: thẻ du lịch, thẻ giải trí, thẻ dành cho khách hàng bán lẻ
Các chức năng chính của thẻ thanh toán như: dùng đế thực hiện các giao dịch tự động như kiểm tra tài khoản, rút tiền hoặc chuyến khoản, thanh toán hóa đơn, mua thẻ điện thoại từ máy rút tiền tự động (ATM) Hiện nay, hầu hết các ngân hãng đều phát hành thẻ thanh toán
7 Máy rút tiền tự động ATM:
Trong tiếng Anh, ATM nghĩa là Automatic Teller Machine, là một thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với khách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ATM (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích, và giúp khách hàng kiếm tra tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ
Ngoài những chức năng cơ bản trên, hiện nay máy ATM đã bổ sung thêm nhiều dịch vụ mới như: nộp tiền mặt, bỏ ngân phiếu vào tài khoản, thanh toán tiền điện thoại, nước, điện, mua thẻ cào điện thoại di động, bán vé hay các giao dịch điện tử trực tiếp khác cho các máy rút tiền tự động
Máy ATM đã đem lại sự thuận tiện cho cả ngân hàng và khách hàng Mặc dù đế lắp đặt một máy ATM tốn rất nhiều chi phí nhưng nó giúp ngân hàng thực hiện được nhiều giao dịch hơn, phục vụ khách hàng mọi lúc mọi nơi, tiết kiệm được chi phí giao dịch hơn so với phục vụ khách hàng trực tiếp tại quầy giao dịch, về phía kháh hàng, có
Trang 16thế tiết kiệm thời gian, thuận lợi về địa điếm giao dịch, thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn Vì vậy số lượng máy ATM càng ngày càng tăng nanh
8 Máy thanh toán tại các điếm bán hàng ( POS):
POS (Point of Sale) là các máy chấp nhận thanh toán thẻ Hiện nay trên khắp thế giới thẻ ATM cũng không phải chỉ đế giao dịch trên các máy ATM thuần tuý, nó còn được giao dịch tại rất nhiều các thiết bị POS mà ngân hàng phát hành triến khai tại các điếm chấp nhận thanh toán nó thông qua hợp đồng chấp nhận thẻ đó Các điếm chấp nhận thành toán này có thế đặt tại khách sạn, nhà hàng, siêu thị, cửa hàng xăng dầu, sân bay
Việc thực hiện các giao dịch này tại fđiếm chấp nhận tanh toán phải có 2 điều kiện:
Thứ nhất, điếm chấp nhận này đã có hợp đồng chấpnhận thanh toán thẻ với ngân hàng phát hành hoặc đại lý thanh toán của ngân hàng phát hành, và được ngân hàng trang
bị loại máy thanh toán phù hợp
Thứ hai, khách hàng khi thực hiện giao dịch phải nhập mã số cá nhân của mình (PIN)
9. Dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác ( Interactive TV):
Dịch vụ này thường được cung cấp trên cơ sở hệ thống truyền hình cáp ( cable TV) ngân hàng sẽ tận dùng đường truyền hình cáp để thích hợp đường truyền cung cấp các dịch vụ ngân hàng Khách hàng sử dụng màn hình TV thông thường để truy cập vào dịch vụ ngân hàng thông qua việc nhập số định dạng cá nhân hoặc mật khẩu Để truy cập vào các mật khẩu khác nhau trên màn hình, khách hàng sẽ sử dụng bộ điều khiển từ xa thông thường hoặc được thiết kế riêng cho việc sử dụng dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác Đây là hình thức dịch vụ tiện lợi cho khách hàng vì hầu như gia đình nào cũng có vô tuyến Tuy nhiên, do tính chất bảo mật và riêng tư cho của các của các giao dịch ngân hàng nên dịch vụ này ít được khách hàng chấp nhận
Chương 2 : Thực trạng quy trình cung cấp dịch vụ e-banking
tại ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội
I Quá trình hình thành và phát triển của SHB
1 Giới thiệu chung
Trang 171.2 Sản phẩm dịch vụ chính
Huy động vốn ngắn trung và dài hạn ( nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng theo các hình thức gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi
Sử dụng vốn: tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư, nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong
và ngoài nước, bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và vàng
Cho vay ngắn trung và dài hạn, chiết khấu thương phiếu, công trái và giấy tờ có giá
Đầu tư vào chứng khoán và các tổ chức kinh tế, làm dịch vụ thanh toán giữa khách hàng, lưu kí, tư vấn tài chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành
Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc
Cung cấp các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản, cho thuê tài chính
Ban kiểm soát
Ban chiến lược
Ban thẩm định
P KH Cá Nhân
P KH Vip
Trang 18Nhận xét : nhìn chung, sơ đồ tổ chức của SHB khá rõ ràng cụ thể SHB đã phân chia các phòng ban một cách cụ thể chi tiết để dễ dàng phân công công việc và trách nhiệm Đồng thời các phòng ban cũng có mỗi liên hệ ràng buộc với nhau khi cần thiết để
có thể phối hợp thực hiện công việc
b.Công ty con:
Công ty TNHH 1 thành viên quản lý nợ và khai thác tài sản (SHAMC)
Công ty Cổ phần chứng khoán SHB (SHBS)
Ngân hàng TNHH MTV SHB Lào
Trang 19 Ngân hàng TNHH MTV SHB Campuchia
1.4 Nhân lực
Tính đến ngày 31/12/2016 tổng số nhân viên nghiệp vụ của Ngân hàng SHB là
6351 người
Bảng 2: Nguồn báo cáo thường niên 2016-SHB
Theo cấp quản lí Theo trình độnhân viên
Bảng 3: Mức lương của nhân viên SHB( nguồn báo cáo thường niên 2016-SHB)
Năm 2014 6.763.826 đồng/thángNăm 2015 7.569.201 đồng/ thángNăm 2016 8.956.200 đồng/ thángBên cạnh đó, SHB còn rất chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển nhân viên Chính sách đào tạo của SHB có mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viên thành thạo
về nghề nghiệp, chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh, chuyên nghiệp trong phong cách làm việc và nhiệt tình phục vụ khách hàng Không những thế, SHB còn có chế độ khen thưởng, chế độ bảo hiểm và phụ cấp xã hội, phúc lợi phù hợp thỏa đáng có tác động tích cực đến hiệu quả làm việc của nhân viên
Trang 20chiếm 3%, vốn điều lệ chiếm 2,7%, lợi nhuận chiếm 7,7% của toàn ngành ngân hàng Các chỉ số này đều tăng so với các năm trước đó
Điều này được thể hiện rõ qua các chỉ số tài chính dưới bảng đây
Bảng 4: Nguồn báo cáo thường niên năm 2016 - SHB