1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ

87 310 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Kiểm Tra Đánh Giá Môn Lịch Sử
Tác giả Chủ biên: TS. Nguyễn Xuân Trường, PGS. TS Trịnh Đình Tùng, ThS. Nguyễn Mạnh Hưởng
Trường học Học Viện Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Trung học
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 12,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi tổ chức cho học sinh học tập trên lớp, giáo viên sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyểnchuyển, linh hoạt và sinh động

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN LỊCH SỬ

Trang 2

Trang Chương 1 Tổng quan về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT

với sự hỗ trợ của CNTT

1.Một số khái niệm cơ bản về CNTT và việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương

pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo hiện nay

2 Những đặc trưng của việc dạy – học lịch sử và con đường hình thành kiến thức

lịch sử cho học sinh ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT

3 Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp, nâng cao

chất lượng DHLS ở trường THPT.

4 Khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử ở trường THPT

5 Một số nguyên tắc trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và

kiểm tra đánh giá nôn lịch sử

3 3

7

15 21 Chương2 Hướng dẫn thao tác sử dụng một số công cụ, phần mềm trong dạy học

lịch sử ở trường phổ thông …

I Sử dụng Internet trong dạy học lịch sử ở trường THPT

II Sử dụng phần mềm PowerPoint trong thiết kế giáo án và tiến hành bài giảng

điện tử môn Lịch sử ở trường THPT

III Hướng dẫn các thao tác cơ bản khi ứng dụng phần mềm VIOLET trong

dạy học và kiểm tra đánh giá môn lịch sử ở trường THPT

IV Sử dụng phần mềm Herovideo hỗ trợ cắt và chụp phim tư liệu

Chương 3 Một vài kinh nghiệm ứng dụng những thành tựu của công nghệ thong

tin trong dạy học và trong kiểm tra đánh giá môn lịch sử ở trường THPT

I Sử dụng CNTT để khai thác kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử 12 (*) II Các

biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THPT với sự hỗ trợ của

công nghệ thông tin (*)

III Giới thiệu một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá lịch sử ở trường

THPT có sự hỗ trợ của CNTT

25 25

53 56

58

65

Chương 4.Giới thiệu một số giáo án và một số câu hỏi và đề kiểm tra đánh giá

I Giới thiệu một số giáo án

II Giới thiệu một số giáo án

75

75 81

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(

(

Trang 3

VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1 Một số khái niệm cơ bản về CNTT và việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo hiện nay

Ngày nay, CNTT và truyền thông đang là một ngành công nghiệp phát triểnnhư vũ bão, đưa thế giới chuyển từ kỉ nguyên công nghiệp sang kỉ nguyên thông

tin - kinh tế tri thức, nhưng khái niệm về “Công nghệ thông tin” và những thuật

ngữ liên quan đến nó vẫn chưa được nhiều người trong Ngành giáo dục thốngnhất Vì vậy, để ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượngdạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, chúng ta cần đưa ra và thống nhấtcác thuật ngữ, khái niệm cơ bản dưới đây:

* Công nghệ thông tin:

Thuật ngữ “Công nghệ thông tin” được các nước trên thế giới bắt đầu sử

dụng từ khoảng giữa thập niên 90 của thế kỉ XX, viết đầy đủ theo tiếng Anh và viết

tắt là Information Technology – IT Nó được hiểu là “ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin”, là “ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin”

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số49/CP của Chính phủ, kí ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT ở Việt Nam trong

những năm 90 như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

và xã hội”.

* Công nghệ thông tin và truyền thông:

Thuật ngữ này được thế giới bắt đầu sử dụng từ năm 2000(*), viết đầy đủ theotiếng Anh và viết tắt là Information and Communication Technology – ICT Nóđược hiểu là tập hợp các cách thức, kĩ thuật, công cụ,… và các phương pháp có thể

áp dụng để nhập, lưu giữ, truy cập và truyền thông tin cho nhau một cách có hiệuquả với sự trợ giúp của máy vi tính và các phương tiện truyền thông

Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và Internet,… trong giáodục hiện nay là góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy - học đa dạng, phong phú, giúpmọi người có thể học mọi lúc (every when), học mọi nơi (every where), học với mọingười (every one), Bởi vì, trong nền giáo dục mới, người học không chỉ đòi hỏiphải biết thêm nhiều tri thức, mà còn phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tự mình

( *) Có tài liệu gọi là Công nghệ thông tin và thông lưu (Information and Communication Technology – ICT).

3

Trang 4

tạo ra tri thức mới Ở trường phổ thông, giáo viên vừa phải làm tốt vai trò là ngườihướng dẫn học sinh quá trình tìm kiếm tri thức, vừa gợi mở cho các em con đườngphát hiện tri thức, trau dồi khả năng độc lập và tư duy sáng tạo của mình

* Internet và Website:

Nguồn gốc đầu tiên của Internet xuất phát từ hệ thống máy tính của Bộ quốcphòng Mĩ, gọi là mạng ARPAnet Đây là một hệ thống gồm các mạng máy tínhđược liên kết với nhau trên những phạm vi khác nhau (ở phạm vi hẹp là giữa cácvùng trong một lãnh thổ, rộng hơn là giữa các khu vực, châu lục và toàn cầu), tạođiều kiện thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyềncác tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin Mạng Internet ban đầu được thiết

kế nhằm cung cấp thông tin cho giới khoa học, nên công nghệ của nó cho phép mọi

hệ thống liên kết thông qua một cổng điện tử Bất kì tổ chức hay cá nhân nào muốnđều có thể tự lập ra các Website để cung cấp các thông tin của mình, hoặc sử dụngđịa chỉ Email để liên lạc, lấy thông tin Chỉ sau hơn 10 năm phát triển, Internet trở

thành “kho thư viện điện tử” lớn nhất trong lịch sử loài người từ trước đến nay

Website là phương tiện chính để cung cấp thông tin trên mạng Internet và là

tổ hợp của các loại tài liệu (văn bản, âm thanh, phim ảnh,…) được đại diện bởi mộtđịa chỉ Người sử dụng máy tính có kết nối mạng truyền thông trên toàn cầu đều cóthể đọc, tìm kiếm và lưu giữ được các loại tài liệu đó thông qua địa chỉ này Mỗitrang tài liệu trong Website được gọi là một trang Web (Web - pape) Mỗi Web -pape lại có thể gồm nhiều thông tin khác nhau dưới dạng văn bản, hình ảnh, âmthanh và các địa chỉ kết nối mới (hyper-link) biểu hiện dưới hình bàn tay (khi người

sử dụng di chuyển con chuột trên màn hình) Nhờ có các địa chỉ kết nối này, giáoviên có thể dễ dàng truy cập đến các Web khác để khai thác, tìm kiếm nguồn tài liệu

về văn bản, hình ảnh, âm thanh hỗ trợ cho thiết kế “bài giảng điện tử” của mình

* E - Learning:

E-learning viết đầy đủ theo tiếng Anh là “Electronic Learning”, có nghĩa

“lớp học điện tử, học tập điện tử, học tập qua mạng” Tuy nhiên, vì là một thuật

ngữ mới, nên nó đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người, mỗi ngườihiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau

Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để “mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin”.

Hiểu theo quan điểm hiện đại, E-learning là “sự phân phát các nội dung học tập có sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các Website, đĩa CD

Trang 5

– Rom, băng video, audio,… thông qua một máy tính hay tivi, người dạy và người học đều có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: E-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video,….

Từ những quan niệm trên ta thấy, dù hiểu theo cách nào thì E – Learning đều

mang ba đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, việc học tập bằng E – Learning đều phải dựa

trên CNTT và truyền thông, cụ thể là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô

phỏng, công nghệ tính toán,… Thứ hai, E – Learning hỗ trợ và bổ sung rất tốt cho

các phương pháp học tập truyền thống vì nó mang tính tương tác cao, dựa trên côngnghệ Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng

như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người Thứ

ba, E – Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức, đang thu hút

sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạtđộng trong lĩnh vực E – Learning ra đời

E – Learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới, mạnhnhất ở khu vực Bắc Mỹ, kế đến là châu Âu, còn ở châu Á (bao gồm cả Việt Nam) thìviệc ứng dụng công nghệ này ít hơn, mới chỉ ở giai đoạn đầu

* Giáo án điện tử và Bài giảng điện tử:

Khi CNTT và truyền thông được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực của đời

sống xã hội thì những thuật ngữ ghép đi cùng với từ “điện tử” cũng xuất hiện và

được sử dụng phổ biến, như: thư điện tử (E – mail), sách điện tử (E – book), lớp họcđiện tử (E – Learning), giáo án điện tử (E – Lesson plan), bài giảng điện tử (E –Lecture),… Tuy nhiên, nếu các thuật ngữ ghép như E – mail, E – book,… sớm được

người ta thống nhất cách hiểu, dễ chấp nhận thì việc sử dụng thuật ngữ “giáo án điện tử và “bài giảng điện tử”” lại có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa có sự thống

nhất cao, thậm chí trái ngược nhau(*) Vì vậy, chúng ta cần làm sáng tỏ, thống nhấtthuật ngữ này khi ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp và nâng cao chấtlượng DHLS ở trường phổ thông

Trước hết cần phải hiểu rằng, giáo án là “bản kế hoạch của một tiết lên lớp, trong đó nêu rõ các bước chủ yếu trong công việc của thầy giáo và HS ở trên lớp, đồng thời cũng nêu được một cách vắn tắt nội dung và phương pháp của công việc

( *) Xem các bài viết: Quản lí việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Bắc Giang Tạp chí Giáo dục, số 158, 2007 của Hoàng Văn Bình; Nghiên cứu, xây dựng và khai thác nguồn học liệu điện tử để hỗ trợ việc thiết kế bài giảng điện

tử phần quang học môn Vật lí ở trường THCS Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Ứng dụng CNTT và truyền thông trong đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục” Huế, tháng 11, 2007 của Lê Đình Hoàn; Vài nét về quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam 20 năm qua Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp dạy và học ở các trường sư phạm trong xu thế hội nhập” Hà Nội, tháng 5, 2009 của Ngô Thị Dung,…

5

Trang 6

đó nhằm đạt được mục đích cụ thể và rõ ràng mà thầy giáo xác định trước theo yêu cầu của chương trình học” (**) Định nghĩa trên giúp chúng ta hiểu rằng, giữa “giáo án” và “bài giảng” là hai khái niệm khác nhau, vì “giáo án” là bản kế hoạch của một tiết lên lớp, còn “bài giảng” là việc thực thi bản kế hoạch đó.

Nhưng, xuất phát từ xu hướng đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vào đổi mới

phương pháp dạy học hiện nay, nhiều giáo viên quan niệm “bài nghiên cứu kiến thức mới” soạn thảo trên các phần mềm (thường là phần mềm PowerPoint) là “giáo

án điện tử”, hoặc “bài giảng điện tử” Theo chúng tôi, giáo viên không nên đồng

nhất hai khái niệm này, vì nội hàm khái niệm của chúng khác nhau và nó được lígiải bởi hai lí do:

Thứ nhất, “giáo án điện tử” và “bài giảng điện tử” là hai khâu của quá trình

dạy học ở trường phổ thông, nhưng đều có sự hỗ trợ của máy tính và các công cụ đaphương tiện Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT,giáo viên phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế hoạch hoạt

động dạy học của mình trên các Slide trình chiếu của máy tính, đó là “giáo án điện tử” Khi tổ chức cho học sinh học tập trên lớp, giáo viên sử dụng bản kế hoạch ấy

với toàn bộ hoạt động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyểnchuyển, linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện cùngvới năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài

học – đó là “bài giảng điện tử” Như vậy, “giáo án điện tử” là bản thiết kế kịch bản

của giáo viên đã được chuẩn bị từ trước (ở nhà) cho buổi học sẽ diễn ra trên lớp học,

còn “bài giảng điện tử” là hình thức dạy học trên lớp thông qua “giáo án điện tử”

có sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện, nhưng được giáo viên vận dụng mộtcách linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo cùng các phương pháp truyền thống hiệu quả

Thứ hai, nếu chúng ta đồng nhất khái niệm “giáo án điện tử” với “bài giảng điện tử” sẽ dễ gây ngộ nhận cho nhiều giáo viên khi cho rằng có thể thay thế hoàn toàn “giáo án truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng đen, các loại đồ

dùng trực quan khác và cả vai trò của giáo viên trong khâu tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của học sinh Vì, mọi thứ đã được thiết kế và lưu sẵn trên máy tính,

khi dạy học trên lớp, giáo viên chỉ cần nhấn chuột trình chiếu Slide, rồi “đọc lại”

những nội dung ấy trên màn hình cho học sinh chép (những nội dung đã được giáoviên đánh máy trên các Slide ở nhà) Đây thực sự là một quan niệm sai lầm, không

những không từ bỏ được lối dạy học truyền thống “thầy đọc, trò chép”, mà còn sáng

( **) Phan Ngọc Liên (Chủ biên) Phương pháp dạy học lịch sử Tập 2 Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, tr 115

Trang 7

tạo ra một phương pháp dạy học mới tệ hại hơn là “thầy kích chuột và đọc” để “trò nhìn, trò chép”.

Như vậy, “bài giảng điện tử” (môn lịch sử) là hình thức thiết kế và tiến hành

bài giảng trên lớp học truyền thống có sự hỗ trợ của các phương tiện điện tử (máy vitính kết nối với Projector, các thiết bị điện tử khác,…), giúp giáo viên kết hợp vớicác phương tiện, biện pháp dạy học truyền thống và hiện đại để tổ chức cho học sinhhoạt động nhận thức độc lập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học

2 Những đặc trưng của việc dạy – học lịch sử và con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT.

2.1 Những đặc trưng của việc dạy – học lịch sử ở trường THPT

Lịch sử là quá trình phát triển không ngừng của xã hội loài người từ khi conngười và xã hội hình thành đến nay Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra mộtlần duy nhất(*), gắn với một khoảng thời gian, không gian và nhân vật cụ thể Trong

học tập lịch sử, học sinh không thể “trực tiếp quan sát” được các sự kiện, hiện tượng, các em chỉ có thể “nhận thức được một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại” Giáo viên cũng không thể tiến hành thí nghiệm lịch sử để dựng lại

quá khứ đúng như nó từng tồn tại để cho học sinh quan sát, nhất là những sự kiện,hiện tượng đã xảy ra cách ngày nay hàng triệu năm, thậm chí những sự kiện, nhânvật chỉ cách đây vài chục năm Ví như, khi dạy học về sự kiện anh hùng Tô VĩnhDiện lấy thân mình cứu pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), giáo viên

không thể “dựng” nhân vật ấy “sống lại” để diễn lại hành động dũng cảm của mình

cho giáo viên và học sinh quan sát

Khó khăn của việc dạy – học lịch sử ở trường phổ thông là như vậy, nhưng

nhiệm vụ tiên quyết của bộ môn là phải làm thế nào để giúp học sinh đi từ “biết” đến “hiểu” sâu sắc những chuyện “đã xảy ra” trong xã hội loài người, nay không

còn nữa Càng khó khăn hơn khi thông qua từng tiết học lịch sử, giáo viên phải tổ

chức, hướng dẫn các em tìm hiểu, nghiên cứu cái “đã từng tồn tại” nhưng nay

“không hiện có” (ví dụ về sự kiện Mĩ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố

Hirôsima và Nagasaki của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai trong quákhứ đã từng tồn tại, có thật nhưng nay không hiện có) Công việc này hoàn toànkhác với việc dạy học ở một số môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như Vật lý,

Hóa học, Sinh học,… là giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, nghiên cứu “cái hiện có” và “đang tồn tại” Đây là tính quá khứ, là điểm khác biệt lớn nhất giữa

việc nhận thức các sự kiện, hiện tượng lịch sử với các sự kiện, hiện tượng tự nhiên

( *) LS có thể lặp lại, nhưng đó là “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại”, tức là các sự kiện, hiện

tượng xảy ra sau đó tuy có một vài điểm giống nhau, song nó sẽ mang tính kế thừa và phát triển.

7

Trang 8

Trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, việc nhận thức của họcsinh là một quá trình phức tạp, mang tính đặc thù với ba đặc điểm chủ yếu: tính giántiếp, tính lãnh đạo – được hướng dẫn và tính giáo dục(*) Tính gián tiếp tức là đối

tượng của sự nhận thức và phương thức nhận thức của học sinh chủ yếu thông quakiến thức đã được các khoa học cơ bản phát hiện, khẳng định, chứ không phải tìm racái mới trong nghiên cứu khoa học Ở đây, học sinh sẽ tiếp nhận kiến thức, kinhnghiệm của người khác một cách gián tiếp thông qua các nguồn tài liệu và giáo viên

Tính lãnh đạo (được hướng dẫn) là nói đến việc nhận thức của học sinh diễn ra dưới

sự tổ chức, giảng dạy của người thầy Trong quá trình học tập, học sinh không thể tựmình tìm hiểu, nghiên cứu kiến thức độc lập nếu như không có sự hướng dẫn, điềukhiển, tổ chức của giáo viên Và nếu trong một vài trường hợp nào đó, học sinh tựmình tìm hiểu kiến thức không có sự điều khiển, tổ chức của giáo viên thì kết quảđạt được sẽ không đi đúng hướng, không hoàn thành mục tiêu học tập Vì thế, quátrình dạy học lịch sử ở trường phổ thông chính là quá trình thống nhất biện chứng

giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò Thầy không chỉ “dạy học” (hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức khoa học, có tính giáo dục), mà còn “dạy học trò cách học”, dạy các em biết sử dụng những phương pháp nào trong học tập thì hiệu

quả nhất Dĩ nhiên, dù học sinh là chủ thể của hoạt động học chịu sự chỉ đạo củaviệc dạy (từ người thầy), nhưng cách học của các em luôn mang tính sáng tạo, chủ

động, chứ không bị động trong tiếp nhận kiến thức Tính giáo dục tức là nói đến quá

trình học sinh nhận thức, tiếp thu sự giáo dục từ người thầy để phát triển toàn diện

về đức, trí, thể, mĩ, lao động (theo quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước vềcông tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ qua bộ môn lịch sử)

Về đại thể, để phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong óc mình,trong quá trình học tập, học sinh phải trải qua một quá trình nhận thức tích cực dogiáo viên hướng dẫn, điều khiển và phải tuân theo luận điểm nổi tiếng của Lênin về

con đường biện chứng của sự nhận thức nói chung: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của nhận thức hiện thực khách quan” (*) Nhận thức củahọc sinh trong học tập lịch sử ở trường phổ thông cũng như vậy

Tuy nhiên, như đã khẳng định, vì kiến thức lịch sử mang “tính quá khứ”,

“tính không lặp lại”, nên sự nhận thức của các em không thể bắt đầu từ “trực quan sinh động” sự kiện, hiện tượng giống như các môn khoa học tự nhiên Nói khác đi,

( *) Trịnh Đình Tùng (Chủ biên) – Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, tr 15

( *) Phan Ngọc Liên (Chủ biên) Phương pháp dạy học lịch sử, tập I Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.

Hà Nội, tr 270

Trang 9

học sinh không thể bắt đầu việc học bằng “cảm giác” thông qua các giác quan theo kiểu sờ mó, ngửi, nhìn, nếm,… quá khứ, mà phải “nắm vững các sự kiện lịch sử cụ thể để tạo nên những biểu tượng lịch sử chân thực” Chúng ta có thể hình dung ra sơ

đồ con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh ở trường THPT qua sơ đồsau:

Sơ đồ trên cho thấy, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử là

một quá trình nhận thức “đặc thù” Chính sự nhận thức “đặc thù” ấy nên các em

gặp không ít khó khăn khi ghi nhớ và tìm cách nhớ lâu dài kiến thức Vì sao vậy?

Thực tiễn cho thấy, để ghi nhớ và phản ánh được thế giới khách quan vào bộ

óc của mình một cách tốt nhất, bao giờ quá trình nhận thức của con người cũng đi từ

“gần đến xa”: cái gì xảy ra càng gần với chúng ta thì càng nhớ lâu, càng xa thì càng

nhanh quên Thế nhưng, chương trình lịch sử ở trường phổ thông từ bậc THCS đến

THPT lại được xây dựng theo nguyên tắc “đồng tâm kết hợp với đường thẳng” Theo đó, kiến thức lịch sử mà học sinh học đều phải đi từ “xa đến gần”, tức là cái gì

đã xảy ra xa xưa nhất thì sẽ học trước, cái gì gần nhất thì lại học sau Ví như:

Ở lớp 6 THCS, học sinh bắt đầu học Lịch sử Thế giới từ thời nguyên thủy(cách ngày nay khoảng 4 – 6 triệu năm) đến hết thời cổ đại, rồi quay trở lại học Lịch

sử Việt Nam có thời gian tương ứng từ nguyên thủy đến hết thế kỉ X Ở lớp 7, họcsinh học tiếp phần Lịch sử Thế giới thời trung đại (giữa thế kỉ V đến giữa thế kỉXVI), rồi học tiếp phần Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX) Lên lớp

Hình thành khái niệm

Nêu quy luật, bài học

Vận dụng tri thức vào đời sống

Giai đoạn

nhận thức cảm tính

Giai đoạn nhận thức lí tính

Giai đoạn vận dụng kiến thức vào đời sống

Phải được tiến hành dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức của GV

Trang 10

8, các em học phần Lịch sử Thế giới từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1945, rồi học tiếpphần Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1918 Ở lớp 9, học sinh sẽ họcphần Lịch sử Thế giới từ năm 1945 đến năm 2000 và phần Lịch sử Việt Nam nốitiếp ở lớp 8 – từ năm 1919 đến năm 2000

Tương tự như vậy, khi học lịch sử ở bậc THPT, học sinh bắt đầu quá trình

“học lại” lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến năm 2000, nhưng trên cơ sở cao hơn

và lại tiếp tục học tập đi từ “xa đến gần”

Ở lớp 10 (chương trình chuẩn), các em học khởi đầu phần Lịch sử Thế giới từthời nguyên thủy đến hết thời trung đại – giữa thế kỉ XVI, sau đó chuyển sang họcLịch sử Việt Nam có cùng thời gian tương ứng – từ thời nguyên thủy đến giữa thế kỉXIX, rồi học tiếp phần Lịch sử Thế giứi từ giữa thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XX Đốivới lớp 10 (nâng cao), các em học Lịch sử Thế giới từ thời nguyên thủy đến hết thờitrung đại – giữa thế kỉ XVI, sau đó chuyển sang học phần Lịch sử Việt Nam giốngnhư chương trình chuẩn, song nội dung kiến thức đi vào cụ thể hơn, sâu hơn

Lên lớp 11 (chương trình chuẩn), học sinh học nối tiếp phần Lịch sử Thế giới

từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945, rồi chuyển sang học phần Lịch sử Việt Nam từ giữathế kỉ XIX đến năm 1918 Lớp 11 (nâng cao), các em học phần Lịch sử Thế giới từgiữa thế kỉ XVI đến năm 1945, sau đó học phần Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỉXIX đến năm 1918 với mức độ sâu hơn

Ở lớp 12 (chương trình chuẩn và nâng cao), học sinh đều học phần Lịch sửThế giới trước từ năm 1945 đến năm 2000, sau đó chuyển sang học nối tiếp phầnLịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000 Tuy nhiên, kiến thức lịch sử ở lớp 12chương trình nâng cao sẽ đi chi tiết hơn, tạo điều kiện cho những em yêu thích bộmôn có điều kiện tìm hiểu kĩ về lịch sử

Từ quy luật nhận thức chung về thế giới khách quan và sự nhận thức đặc thùcủa học sinh qua học tập môn lịch sử đã giúp chúng ta hiểu rằng, nếu giáo viên

không được trang bị tốt về phương pháp dạy học, chỉ“dạy chay, học chay”, lại kém

về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thì rất khó khăn trong việc giúp học sinh nhận

thức đúng quá khứ, các em dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử.

Để tích lũy không ngừng kiến thức lịch sử của thế giới khách quan đã đượckhoa học lịch sử thừa nhận, quá trình học tập lịch sử của học sinh còn tiếp tục gặpthêm nhiều khó khăn Ở trường phổ thông, những kiến thưc cơ bản của một số mônhọc có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt quá trình dạy học Ví như, những côngthức toán trong môn Toán học, các thí nghiệm, hiện tượng trong môn Vật lí, nhữngphản ứng trong môn Hóa học, … lặp đi lặp lại nhiều lần, học sinh được củng cố mộtcách tự nhiên Nhưng trong môn lịch sử, những sự kiện, hiện tượng và khái niệm

Trang 11

lịch sử có liên quan đến chúng, nói chung sau khi giảng dạy một lần không còn lặp

lại nữa Chẳng hạn, khi dạy học bài 11 “Tây Âu thời hậu kì trung đại” ở lớp 10

THPT (chương trình chuẩn), các nhân vật B Đi-a-xơ, C Cô-lôm-bô, Va-xcô đơ

Ga-ma, Ph Ma-gien-lan, Đê-các-tơ,… hoặc những khái niệm, thuật ngữ “Phát kiến địa lí”, “Rào đất cướp ruộng”, “Phong trào Văn hóa phục hưng”, “Cải cách tôn giáo”,… học sinh chỉ được tiếp xúc một lần, những bài học sau không nhắc lại nữa.

Điều này gây khó khăn nhất định cho việc ghi nhớ kiến thức của học sinh

Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, ứng dụng CNTT vào đổimới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng là cần thiết Đây làmột trong những biện pháp quan trọng để thực hiện con đường hình thành kiến thức

lịch sử cho học sinh, vì theo nhiều nhà giáo dục thì “90% lượng thông tin từ bên ngoài vào não là thông qua mắt”

2.2 Con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh ở trường THPT

có sự hỗ trợ của CNTT

Từ xa xưa, nhà giáo dục học J Komenxki - người Tiệp Khắc (nay là Cộnghòa Séc) đã nêu lên những nguyên tắc dạy học có tính hệ thống, khoa học Trong sốcác nguyên tắc mà ông đưa ra, tính trực quan được xếp lên hàng đầu Theo ông, sẽkhông có trong trí tuệ con người những cái mà trước đó không có cảm giác, để có trithức vững chắc, nhất định phải dùng phương pháp trực quan

Theo kết quả nghiên cứu của Phòng thí nghiệm đào tạo quốc gia tại Bethel,Maine (Mĩ) thì độ bền kiến thức của người học sau 6 tháng sẽ là 10% (đọc), 20%(nghe), 30% (nhìn), 50% (làm), 70% (thảo luận), đặc biệt nếu được học tập trongmôi trường công nghệ, đa phương tiện thì độ bền của kiến thức của người học sau 6tháng là 90% Các thí nghiệm về giáo dục cũng cho thấy, trong quá trình học tập,học sinh tiếp thu tri thức khoa học qua các giác quan là 1% (nếm), 1,5% (sờ), 3,5%(ngửi), 11% (nghe) và 83% bằng phương tiện trực quan nghe – nhìn

Một kết quả nghiên cứu khác của nhà giáo dục Ấn Độ B Maskey và J.Collum cũng đã chỉ ra sự hạn chế của

việc chỉ sử dụng phương pháp dùng lời

nói Ông liệt kê và đưa ra phương pháp

so sánh về tỉ lệ lưu giữ kiến thức trong trí

nhớ của học sinh còn lại sau 3 giờ và 3

ngày khi giáo viên sử dụng các phương

pháp dạy học: dùng lời nói; sử dụng hình

ảnh; dùng lời nói kết hợp với hình ảnh;

11

Trang 12

dùng lời nói kết hợp với hình ảnh và tổ chức cho học sinh hoạt động; tổ chức chohọc sinh tự phát hiện (hình bên).

Theo số liệu khoa học mà tổ chức UNESCO đã công bố thì học sinh chỉ nhớ15% thông tin khi nghe (nhiều kiến thức lại không cơ bản, chủ yếu), 25% khi nhìn,nhưng nếu được kết hợp giữa nghe – nhìn thì thông tin thu nhận được đạt tới 65%(*)

Ở đây cần hiểu rằng, nhờ sử dụng các phương tiện trực quan, nhất là việc sử dụngmáy vi tính kết hợp với đa phương tiện sẽ giúp học sinh học tập chú ý hơn, tạo đượccảm xúc, tìm tòi, nhận thức và khái quát hóa sự kiện, hiện tượng

Những kết quả nghiên cứu khoa học ở trên chứng tỏ rằng, việc sử dụng cácloại đồ dùng trực quan, phương tiện kĩ thuật, trong đó có ứng dụng những thành tựucủa CNTT vào dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng sẽ

có tác dụng rất lớn Trong dạy học lịch sử, muốn học sinh nắm vững kiến thức, cóthể ghi nhớ sự kiện được lâu hơn, vững chắc hơn thì giáo viên phải có phương phápcung cấp sự kiện để tạo biểu tượng lịch sử Nếu phương pháp cung cấp sự kiện củagiáo viên gắn liền với sử dụng hình ảnh thì các em vừa dễ dàng ghi nhớ sự kiện, vừa

có biểu tượng cụ thể, sinh động và nó cũng gần gũi với khái niệm lịch sử hơn Điều

này đã được dân gian ta đúc kết bằng câu: “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, hoặc “tôi nghe – tôi có thể quên, tôi nhìn – tôi nhớ, tôi làm – tôi hiểu” Ngược lại, nếu việc ghi nhớ sự kiện của học sinh bị mang tính áp

đặt, không có cơ sở khoa học (thầy đọc – trò chép) thì các em sẽ không có biểutượng chân thực trong trí nhớ, không có khái niệm; hoặc khái niệm nếu được hìnhthành trên những biểu tượng nghèo nàn cũng sẽ là những khái niệm trống rỗng,không có nội dung phong phú

Cũng giống như người bộ môn khoa học khác như Vật lí, Hóa học, Sinh học,

… Lịch sử có nhiều khẳ năng để ứng dụng CNTT vào dạy học, giúp học sinh dễdàng nhận thức, tái hiện lại sự kiện, hiện tượng của quá khứ Việc ứng dụng CNTT

để thiết kế và trình chiếu các loại kênh hình lịch sử, rồi tổ chức cho học sinh tìm

hiểu sự kiện được ví như “chiếc cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại, có thể đưa các

em vào con đường nhận thức biện chứng để đạt tới chân lí khách quan Do đượcquan sát những hình ảnh lịch sử thiết kế sinh động, hấp dẫn và phóng to trên mànảnh lớn với sự hỗ trợ của công nghệ Multimelia, kết hợp với phương pháp dùng lờicủa giáo viên, học sinh sẽ tham gia quá trình nhận thức chủ động, tích cực Dưới sựhướng dẫn, tổ chức của giáo viên, cùng một lúc, các em huy động nhiều giác quan

để học tập, do đó việc ghi nhớ sự kiện, địa danh, nhân vật,… tốt hơn, tái hiện lại quá

(*) Phan Ngọc Liên (Chủ biên) Phương pháp dạy học lịch sử, tập II Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.

Hà Nội, tr 75

Trang 13

khứ dễ dàng hơn Không có đồ dùng trực quan, dù giáo viên có dạy hay đến đâu, lờinói dù có sống động, giàu hình ảnh đến mấy cũng khó có thể tạo cho HS biểu tượng

cụ thể, chính xác về quá khứ Thậm chí, nếu giáo viên có sử dụng đồ dùng trực quantheo phương pháp truyền thống (hình ảnh kém rõ ràng, chỉ ở dạng tĩnh, kích thướckênh hình bé hơn,…) thì biểu tượng về quá khứ lịch sử được học sinh thu nhận vẫnkém hơn Khi ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử, chỉ với một vài thao tác đơngiản, cùng một lúc giáo viên sẽ thực hiện được các nhiệm vụ: cung cấp sự kiện, tạobiểu tượng và đặt cơ sở cho hình thành khái niệm

Mặt khác, vận dụng hiệu quả các biện pháp sư phạm ứng dụng CNTT trongdạy học bộ môn cũng giúp học sinh học tập tích cực hơn ở giai đoạn nhận thức lítính và vận dụng những tri thức

lịch sử mới tiếp thu vào đời

sống Để tư duy được lịch sử,

học sinh phải nắm vững sự kiện

và có biểu tượng đúng đắn về

quá khứ Tư duy lịch sử bao

gồm tư duy tái tạo (tưởng

tượng) và tư duy sáng tạo Việc

phát triển tư duy sáng tạo cho

học sinh là nhiệm vụ trọng tâm mà giáo viên luôn hướng tới, nhưng các em muốn tưduy sáng tạo thì phải trên cơ sở của tư duy tái tạo – tưởng tượng Học sinh sẽ khôngthể tiến hành phân tích, so sánh, hệ thống hóa kiến thức, rút ra kết luận khái quát vàvận dụng kiến thức nếu không biết rõ sự

kiện, hiện tượng ấy Nói khác đi, các em sẽ

không thể “hiểu – bình luận” được lịch sử

nếu không dựa trên cơ sở của “biết” sử.

Liên quan đến vấn đề này, từ năm 1956

Bloom – Giáo sư trường Đại học Chicago

(Mĩ) đã đưa ra sáu bậc thang về mức độ

nhận thức của học sinh khi học tập: nhận

biết (knonwledge), hiểu (comprehension), áp

dụng (application), phân tích (analysis), tổng

hợp (synthesis) và đánh giá (evaluation) (*)

Ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử

một cách hiệu quả thông qua trình bày

(*) Phan Ngọc Liên (Chủ biên) Phương pháp dạy học lịch sử, tập II Sđd, tr 315

13

Trang 14

những nội dung có tính trực quan, chính xác, cụ thể, theo trình tự lôgic,… sẽ giúphọc sinh nhận thức được lịch sử theo những quan điểm trên Chẳng hạn, để tổ chức

cho học sinh trả lời được câu hỏi: “Vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương? Sự hùng mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được biểu hiện như thế nào?” (lớp 12 THPT – chương trình

chuẩn), giáo viên trình chiếu cho các em quan sát lược đồ giáo khoa điện tử khắchọa về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnhcủa quân Pháp ở đây,… kết hợp với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề,…Lược đồ được xây dựng với sự hỗ trợ của CNTT, có hiệu ứng sinh động, kèm theohình ảnh và đoạn phim tư liệu miêu tả về cứ điểm, nên HS cảm nhận được các sựkiện lịch sử sâu sắc Phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài như trên sẽ giúpcác em hiểu rằng, trước những đòn tiến công quyết liệt của quân dân ta, Nava đãquyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, chấp nhậngiao chiến với ta Điều này xuất phát từ nhận định: Điện Biên Phủ là một thung lũng

rộng lớn, bao quanh toàn là đồi núi trùng điệp, nhưng lại là “chìa khóa” để bảo vệ

Thượng Lào và chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc Việt Nam Đối với Việt Minh,nơi đây quá xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở nên tiếp tế sẽ khó khăn; lúcnày ta chỉ có thể sử dụng lực lượng khoảng 1 đại đoàn, lại không thể sử dụng pháo

cỡ lớn được, cùng lắm là pháo 75mm; ngoài ra, nếu chẳng may thất bại, Pháp sẽ dễdàng mở một con đường tháo chạy sang Lào,… Từ nhận định này, được sự giúp đỡcủa Mĩ, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm hùng mạnhvới 49 cứ điểm, chia làm 3 phân khu lớn là phân khu Bắc, phân khu Trung tâm vàphân khu Mường Thanh Với số quân tinh nhuệ là 16.200 người, lại được trang bịnhững loại vũ khí hiện đại nhất, nên cả Pháp và Mĩ đều nhận định: Điện Biên Phủ là

một “pháo đài bất khả xâm phạm”.

Trên cơ sở hiểu rõ lí do vì sao Pháp – Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây dựngtập đoàn cứ điểm hùng mạnh và biểu hiện về sự hùng mạnh của nó, học sinh cũng

hình thành được khái niệm, thuật ngữ mới: Cứ điểm Điện Biên Phủ là gì? Như vậy,

việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học lịch sử như ví dụ nêu trên

đã thể hiện mối quan hệ biện chứng về con đường nhận thức của HS đi từ “trực quan sinh động” (nhận thức cảm tính) đến “tư duy trừu tượng” (nhận thức lí tính).

Ở đây, nhờ được quan sát hình ảnh sinh động, được nghe giảng và tư duy lịch sử mànhững khoảng cách về thời gian, không gian của sự kiện dường như đang xích lạigần với khả năng nhận thức của các em hơn Về điểm này, nhiều nhà giáo dục lịch

sử đã nhấn mạnh: “Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà HS thu nhận được càng vững chắc

Trang 15

bấy nhiêu” Đồng thời, việc sử dụng những loại đồ dùng trực quan có liên quan đến

phương tiện kĩ thuật hiện đại không chỉ góp phần tạo biểu tượng lịch sử cụ thể cho

học sinh, miêu tả bề ngoài sự kiện, mà còn “đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện”.

Ngoài ra, ứng dụng CNTT vào hình thành kiến thức cho học sinh trong dạyhọc lịch sử còn làm cho giờ học trở nên sinh động, không bị khô khan, tẻ nhạt, lôicuốn được học sinh tham gia học tập tích cực, chủ động, tạo cho các em động cơ vàkhông khí học tập thoải mái Đây là nền tảng cho việc tiếp thu kiến thức khoa họclịch sử một cách hiệu quả, qua đó giáo dục và phát triển toàn diện học sinh và nângcao chất lượng dạy học bộ môn

3 Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT.

Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, do đặc trưng của bộ môn và “tính đặc thù” trong con đường nhận thức lịch sử của học sinh, nên việc sử dụng đồ dùng trực quan được coi là “nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học” Không phải ngẫu

nhiên mà trong nhiều công trình nghiên cứu và bài viết của các nhà giáo dục lịch sử,người ta đã trích dẫn quan điểm của J A Cômenxki về sự cần thiết phải sử dụng

tính hình ảnh, trực quan trong dạy học: “Lời nói là cái vỏ ngoài, sự thật là cái thật ở trong Lời nói là cái áo khoác ngoài, sự thật là thân thể Nghiên cứu sự thật không thể chỉ dựa vào những cái mà người khác quan sát và chứng minh, mà phải dựa vào những cái mà chính mắt mình nhìn thấy, tai mình nghe được,…” Ứng dụng CNTT

vào đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT cũngkhông nằm ngoài nguyên tắc dạy học ấy

Trước hết, đối với giáo viên: Sử dụng CNTT trong dạy học lịch sử sẽ từng

bước nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng, nghiệp vụ sư phạm sử dụng công nghệ

và phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học Nếu việc soạn giáo án trên văn bản(Word), hoặc thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm PowerPoint thường xuyên sẽgiúp giáo viên nhanh chóng hình thành kĩ năng, kĩ xảo sử dụng công nghệ, nhất làvới những thao tác cơ bản trong phương pháp soạn bài giảng như xây dựng bản đồgiáo khoa điện tử, chèn kênh hình, tạo hiệu ứng chuyển động, âm thanh, tạo đường

liên kết giữa các Slide bài giảng (Hiperlink),… Mặt khác, nhờ có tính năng “lưu văn bản” của máy vi tính (save), nên giáo viên chỉ cần soạn thảo, thiết kế bài giảng một

lần, rồi các năm học sau vẫn tiếp tục sử dụng, điều chỉnh lại cho phù hợp với ýtưởng sư phạm Trường hợp giáo viên chưa làm xong, máy vi tính cũng cho phép

lưu trữ văn bản tạm thời để “khi nào có thời gian thì soạn thảo tiếp” Đây là ưu

15

Trang 16

điểm nổi bật của CNTT, nó hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong khâu chuẩn bị bàisoạn ở nhà mà phương pháp soạn bài giảng thủ công trước đây không có.

Khi bài học lịch sử trên lớp có ứng dụng CNTT nó cũng tiết kiệm được thờigian cho cả giáo viên và học sinh, nhất là với những nội dung có sử dụng nhiều đoạnmiêu tả, tường thuật, hoặc cụ thể hóa sự kiện lịch sử Bình thường, khi sử dụng cácloại phương tiện trực quan truyền thống, giáo viên sẽ tốn thêm một số thời gian nhất

định, mà hiệu quả lại không cao bằng sử dụng CNTT Ví như, khi sử dụng nhữngbức ảnh lịch sử có kích thước nhỏ, giáo viên phải đi xuống lớp hướng dẫn học sinhquan sát, sử dụng lược đồ treo tường giáo viên phải mất công treo, hoặc nếu lập niênbiểu, vẽ sơ đồ, đồ thị lịch sử trên bảng đen thì giáo viên cũng mất khá nhiều thì giờ,trong kho đó độ chuẩn xác và tính thẩm mĩ lại không cao Ngược lại, nếu giáo viênứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng ở nhà từ trước, những công việc này khi dạyhọc trên lớp sẽ giúp chúng ta đỡ vất vả và đơn giản hơn rất nhiều, thời gian được tiếtkiệm tối đa mà tính trực quan, thẩm mĩ lại cao Thực tế dạy học lịch sử ở trường phổthông cho thấy, một tiết học trên lớp cả thầy và trò chỉ có 45 phút, song không phảigiáo viên có đủ 45 phút để tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài mới: giáo viên phải ổnđịnh trật tự lớp đầu giờ mất khoảng 1 – 2 phút, rồi kiểm tra bài cũ mất từ 5 đến 7phúc và lại tổ chức kiểm tra sự nhận thức của HS cuối giờ – củng cố bài học mấtkhoảng 5 phút Như vậy, thời gian giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiếnthức mới trong mỗi tiết học chỉ có khoảng 35 phút, nếu chúng ta ứng dụng CNTTvào dạy học thì sẽ tiết kiệm được một khoảng thời gian đáng kể, tạo điều kiện cho

HS làm việc nhiều hơn Ở đây, giáo viên chỉ cần “nhấn chuột” để trình chiếu và hướng dẫn học sinh khai thác nội dung kiến thức “ẩn” trong mỗi hình ảnh, kênh

hình phối hợp với kênh chữ sẽ được phóng to trên màn hình lớn đủ để HS cả lớp

Trang 17

quan sát Những mũi tên chuyển động khi tường thuật về một trận đánh, hướng tấncông, hoặc việc sơ đồ hóa các mốc thời gian quan trọng, cụ thể hóa cho đối tượngcần miêu tả trên màn hình lớn kèm theo lời trình bày sinh động của giáo viên sẽ cótác động lớn tới tâm lí học sinh, các em cảm thấy học tập hứng thú hơn, hiệu quả ghinhớ kiến thức tốt hơn Với đặc trưng của bộ môn cũng như những ưu điểm nổi bậtcủa CNTT và truyền thông, giáo viên và học sinh có thể ứng dụng công nghệ nàyvào đổi mới phương pháp dạy – học, từng bước nâng cao chất lượng bộ môn ở nhiềuhình thức, các khâu khác nhau trong quá trình dạy học

Đối với học sinh: Khi được học những tiết học lịch sử có sự hỗ trợ của CNTT

sẽ góp phần tạo biểu tượng, bồi dưỡng kiến thức và làm phong phú thêm sự hiểubiết của học sinh về lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc Trong dạy học lịch

sử, để học sinh có thể đi từ nhận thức “cảm tính” đến nhận thức “lí tính”, trước hết

các em phải có được biểu tượng lịch sử - những hình ảnh về sự kiện, hiện tượngđược phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Sử dụngCNTT trong dạy học thật hiệu quả, kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp giáoviên thực hiện tốt công việc này

Ví như, khi dạy học bài 13, mục 2 “Chính sách của tổng thống Mĩ Rudơven”

ở lớp 11 THPT (chương trình chuẩn), giáo viên sử dụng “Bức tranh đương thời mô

tả Chính sách mới”, xây dựng trên phần mềm PowerPoint để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức “ẩn” trong kênh hình Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát,

miêu tả bức hình thông qua một số câu hỏi gợi ý: Bức hình nói lên điều gì? Tại saongười khổng lồ trong bức hình lại tượng trưng cho nhà nước Mĩ? Em có nhận xét gì

về Chính sách mới của Rudơven?

Sau khi học sinh trả lời câu hỏi, các bạn khác bổ sung, giáo viên nhận xét và

chốt lại nội dung kiến thức lịch sử mà bức hình phản ánh: “Cuộc khủng hoảng kinh

tế thế giới 1929 - 1933 đã làm cho các nước tư bản chủ nghĩa đứng bên bờ vựcthẳm, trong đó, Mĩ là nước chịu hậu quả nặng nề nhất Năm 1932, Rudơven lên làmtổng thống trong tình trạng nước Mĩ đã bị khủng hoảng đến đỉnh điểm Chính vì

vậy, ngay sau khi lên nắm quyền, Rudơven đã ban hành “Chính sách mới” nhằm

nhanh chóng đưa nước Mĩ thoát khỏi

Trang 18

nước Mĩ với hàng nghìn sợi dây tượng trưng cho mối liên hệ và sự ràng buộc củaNhà nước đối với các ngành kinh tế lúc bấy giờ Người khổng lồ vươn hai cánh tay

to lớn, thâu tóm toàn bộ nền kinh tế Mĩ cho thấy ảnh hưởng và sức mạnh của nhà

nước đối với nền kinh tế Trước khi thực hiện “Chính sách mới”, nền kinh tế Mĩ luôn đề cao “chủ nghĩa tự do” thái quá trong sản xuất, nhà nước không có quyền hành gì đối với sự phát triển kinh tế Nhưng khi “Chính sách mới” được ban hành,

Nhà nước Mĩ đã can thiệp tích cực vào các ngành kinh tế, sử dụng sức mạnh và biệnpháp của mình để điều tiết toàn bộ các khâu trong tể chế kinh tế, đồng thời kích cầu

để tăng sức mua của người dân Kết quả, “Chính sách mới” đã nhanh chóng đưa

nước Mĩ thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và trở thành bài học kinh nghiệmtrong việc giải quyết khủng hoảng cho các nước tư bản châu Âu”

Một ví dụ khác, khi dạy học bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1964) ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) và bài 21 có cùng nội dung (nâng cao), giáo viên sử dụng hình “Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp” thiết kế trên phần mềm

PowerPoint, trình chiếu trên màn hình lớn để hướng dẫn học sinh khai thác nội dungkiến thức cơ bản, kèm theo câu hỏi gợi mở: Em biết gì về bức ảnh lịch sử này? Bứcảnh do ai chụp? Chụp ai? Hiện bức ảnh gốc đang được trưng bày ở đâu? Quan sátbức ảnh trên em có nhận xét gì về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Hà Nội ôm bom

ba càng đánh xe tăng Pháp?

Học sinh trao đổi, trả lời xong, giáo viên nhận xét và kết luận về nội dung bức

hình: Bức hình cả lớp đang xem trên màn hình là ảnh chụp “Quyết tử quân Hà Nội

ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp” Bức ảnh do bác sĩ quân y Trần Hạnh

chụp ngày 20/12/1946 Người trong ảnh là chiến sĩ Nguyễn Văn Thiềng, còn gọi làTrần Thành, quê ở phố hàng Vôi (Hà Nội) Bức ảnh gốc hiện đang được trưng bàytại Bảo tàng quân sự Việt Nam Bức ảnh phản ánh một hiện thực lịch sử sinh động

về các chiến sĩ trung đoàn Thủ đô quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Hành độngquyết tử của chiến sĩ Trần Thành mãi mãi là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước

và lòng dũng cảm cho các thế hệ thanh niên mai sau học tập”

Như vậy, việc trình chiếu bức tranh trên mành hình lớn để hướng dẫn học sinhquán sát, miêu tả kết hợp với câu hỏi gợi mở sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cựctrong học tập Sau khi học sinh quan sát, suy nghĩ và trả lời, giáo viên kết luận sẽ

hình thành trong đầu các em biểu tượng rõ nét, chân thực về “Chính sách mới” của

tổng thống Rudơven, về hình ảnh chiến sĩ quyết tử quân Trần Thành ôm bom bacàng đánh xe tăng khác Nhờ đó, các em sẽ khắc sâu, nhớ lâu kiến thức về sự kiệnlịch sử này, không nhầm lẫn với các nhân vật và sự kiện lịch sử khác

Trang 19

Ứng dụng CNTT thường xuyên và hiệu quả trong dạy học lịch sử không chỉgiúp học sinh tạo được biểu tượng lịch chân thực sử về quá khứ, mà còn là biệnpháp quan trọng giúp các em hình thành khái niệm, hiểu được bản chất và nhữngmối liên hệ bên trong của sự kiện lịch sử

Ví như, học sinh sẽ khó có thể phân biệt được thế nào là “Khởi nghĩa từng phần”, thế nào là “Tổng khởi nghĩa” khi học về Cao trào kháng Nhật cứu nước và

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945 (sách giáokhoa lịch sử lớp 12 THPT) nếu giáo viên không hướng dẫn học sinh sử dụng bản đồ

và chỉ rõ cho các em thấy tính khu vực, mục đích giành chính quyền mới chỉ đặt ra ởcấp huyện, tỉnh, thành,… của những cuộc khởi nghĩa từng phần; rồi việc đồng loạtkhởi nghĩa diễn ra trên toàn quốc trong thời gian 15 ngày, chính quyền về tay nhândân cả nước, vai trò quyết định thắng lợi chung của khởi nghĩa ở các thành phố lớn(Hà Nội, Huế và Sài Gòn) trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945,

… Đặc biệt, nếu bài dạy có sử dụng bản đồ giáo khoa điện tử thiết kế trên phần mềm

PowerPoint sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, vì học sinh vừa được “trực quan sinh động”, vừa được “tư duy trừu tượng” sự kiện Được quan sát bản đồ trên màn hình

lớn kết hợp với lời giảng của giáo viên, học sinh còn thấy rõ sức mạnh to lớn của ýchí toàn dân, vai trò của Đảng ta khi chớp lấy thời cơ giành chính quyền trước khiquân Đồng minh vào nước ta, mà Tân Trào là khởi điểm thắp lên ngọn lửa đấu tranhgiành chính quyền trong toàn quốc Học sinh cũng sẽ thấm thía hơn về nguyên nhânthắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 khi nhìn lại trên bản đồ một hệ thống cácvùng giải phóng, các khu căn cứ địa – một trong những kết quả cố gắng lớn về sựchuẩn bị chu đáo của Đảng và nhân dân ta cho cuộc Tổng khởi nghĩa

19

Trang 20

Cùng với các phương pháp dùng lời, việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch

sử cũng góp phần quan trọng vào giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cách mạngcho học sinh Chẳng hạn, khi dạy học về sự kiện Mĩ ném bom nguyên tử xuốngthành phố Hirôsima (6/8/1945) và Nagasaki (9/8/1945) của Nhật Bản (sách giáo

khoa lịch sử lớp 11 THPT), giáo viên trình chiếu cho học sinh quan sát bức hìnhchụp được khoảnh khắc lịch sử trên, kết hợp với phương pháp miêu tả, kể chuyện sẽtạo nên ấn tượng mạnh mẽ đối với học sinh Nhìn thấy đám mây hình nấm trên bầutrời Hirôsima sau khi quả bom phát nổ, nghe được số liệu hàng chục vạn người bịchết và bị thương, hàng trăm nghìn ngôi nhà, công trình bị phá hủy,… học sinh sẽcảm nhận được sự rùng rợn chiến tranh, căm ghét và lên án hành động ném bom củachính quyền Mĩ vào thời điểm bấy giờ là không cần thiết Rõ ràng, nếu học sinh chỉđược đọc tài liệu thoáng qua, hoặc chỉ được nghe giáo viên kể bằng phương phápdùng lời sẽ không gây xúc cảm ở các em bằng việc được trực tiếp quan sát hình ảnhtrên màn ảnh lớn, kết hợp lời kể của giáo viên Chính thông qua sự hỗ trợ của CNTTthì mọi tâm tư, tình cảm, thái độ yêu ghét của học sinh sẽ được thể hiện ra bênngoài

Cuối cùng, ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử còn góp phần phát triển khảnăng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, đặc biệt là kĩ năng đọc bản đồ,củng cố thêm những kiến thức về địa lý cho học sinh,… Trên cơ sở đó giúp các emnhớ kỹ, hiểu sâu những kiến thức lịch sử đã học

Trang 21

Ví như, khi dạy học về phong trào Đồng khởi (1959 – 1960) ở lớp 12 THPT,

giáo viên có thể thiết kế “Lược đồ phong trào Đồng khởi ở miền Nam” trên phần

mềm PowerPoint và tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức liên quan Khi quansát lược đồ và thông qua lời trình bày sinh động của giáo viên, các em sẽ thấy đượcphong trào nổi dậy của nhân dân miền Nam từ chỗ lẻ tẻ ở từng địa phương như cuộcnổi dậy ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) vào tháng 2 – 1959, đếnTrà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8 – 1959, đã lan nhanh ra khắp miền Nam thành một

cao trào cách mạng, tiêu biểu là cuộc “Đồng khởi” ở Bến Tre diễn ra ở các huyện Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri, Châu Thành, Bình Đại,… Vì được “trực quan sinh động” những địa điểm diễn ra cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam, học sinh sẽ

khắc sâu kiến thức lịch sử, về mối liên hệ giữa thời gian, không gian với những diễnbiến chính của phong trào

Một cách khái quát, ứng dụng những thành tựu của CNTT vào dạy học lịch sử

ở trường phổ thông sẽ có tác dụng hữu hiệu trong việc đổi mới phương pháp, nângcao chất lượng dạy học bộ môn Công việc này không chỉ giúp giáo viên từng bướcnâng cao trình độ chuyên môn và khả năng sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiệnđại trong dạy học, mà còn tiết kiệm được thời gian trong bài giảng có sử dụng đoạntường thuật, miêu tả,… Sử dụng CNTT trong dạy học bộ môn cũng không làm mất

đi vai trò của giáo viên là người hướng dẫn, điều khiển, tổ chức cho học sinh họctập, ngược lại còn làm cho các em thêm say mê, hứng thú, yêu thích lịch sử hơn

4 Khả năng ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng cóthể được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, hình thức và mức độ khác nhau, tuỳ thuộc từngnội dung, đối tượng và bài học lịch sử cụ thể Chúng ta có thể thấy được khả năngnổi bật của CNTT trong dạy học lịch sử ở những mặt sau:

Thứ nhất, giáo viên khai thác nội dung lịch sử (bài viết, hình ảnh, phim tư

liệu,…) trên mạng Internet có liên quan đến bài học, dùng làm tài liệu tham khảo,làm phong phú và sâu sắc thêm bài học lịch sử trên lớp(*)

Thứ hai, giáo viên cung cấp một số địa chỉ tìm kiếm cho học sinh để các em

tự lên mạng tìm kiếm tư liệu lịch sử liên quan đến bài học trên lớp, phục vụ cho việchọc tập Khi học trên lớp, giáo viên yêu cầu học sinh trình bày nội dung kiến thứcliên quan đến bài học mà các em đã tìm kiếm được trên mạng để chia sẻ với cả lớp.Các em khác lắng nghe, theo dõi và có thể nhận xét, bổ sung

Thứ ba, giáo viên sử dụng các chương trình trong máy tính thông dụng như

Microsoft Word, chương trình xử lý đồ hoạ và video: Windows Movie maker,

( *) Chúng tôi sẽ hướng dẫn cụ thể ở phần sau

21

Trang 22

Herovideo, Paint, PhotoShop,… để cắt phim, dựng phim, xây dựng bản đồ giáokhoa điện tử, các loại kênh hình, thiết kế và chỉnh sửa các ký hiệu trên bản đồ đểphục vụ cho việc dạy học Hiện nay, rất nhiều trường phổ thông chưa có đủ các

phương tiện trực quan, nhất là đồ dùng trực quan quy ước (bản đồ, lược đồ lịch sử

và địa lý,…) Tuy nhiên, chúng ta có thể khắc phục được những khó khăn này, bằng

cách Scan bản đồ, lược đồ trong sách giáo khoa rồi đưa lên máy tính, sử dụng cácchương trình đồ hoạ như Paint, Adobe PhotoShop để chỉnh sửa Trong các chươngtrình đồ hoạ, giáo viên có thể sử dụng các thanh công cụ trên thanh Menu Dawing,

Picture để vẽ và tô màu sắc (theo ý muốn) các ký hiệu trên bản đồ như mũi tấn công

của quân ta, đường rút lui của quân địch, khu giải phóng, lá cờ, bó đuốc khởi nghĩa,

Thứ tư, giáo viên sử dụng một số phần mềm tiện ích đã có sẵn trên thị trường

như Encatar, phần mềm trộn đề thi, các băng đĩa tư liệu, phần mềm dạy học lịch sử,

… để khai thác và sử dụng vào dạy học lịch sử Hiện nay, trên thị trường đã có rấtnhiều sản phẩm phần mềm tiện ích phục vụ dạy học bộ môn, giáo viên có thể mua

và sử dụng, tùy theo nội dung bài học để khai thác, ứng dụng sao cho hiệu quả Ví

như: sách kèm theo đĩa CD “Hướng dẫn sử dụng những hình ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên CD và phần mềm Microsoft PowerPoint trong dạy học lịch sử”,

“Giáo án và tư liệu dạy học điện tử môn Lịch sử lớp 11” của PGS TS Trịnh Đình

Tùng, PGS TS Nguyễn Thị Côi, ThS Nguyễn Mạnh Hưởng,… Hoặc các VCD tư

liệu “Kí ức Điện Biên”, “Sài Gòn quật khởi”, phần mềm Encatar từ 2002 đến 2007,

Thứ năm, giáo viên khai thác và sử dụng phần mềm Power Point để thiết kế

giáo án điện tử giảng dạy trên lớp, tổ chức các hoạt động ngoại khóa bộ môn,… góp

Trang 23

phần đổi mới phương phỏp và nõng cao chất lượng dạy học Đõy chớnh là ưu điểmlớn nhất của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử

Như vậy, chỳng ta cú rất nhiều hỡnh thức, phương phỏp để ứng dụng nhữngthành tựu của khoa học kĩ thuật trong dạy - học lịch sử, và CNTT sẽ cho phộp cả

thầy - trũ cựng tham gia vào “hoạt động hoỏ” quỏ trỡnh này Tuy nhiờn, thực tiễn cho

thấy, nếu việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở nhà trường phổ thụng đang đượcđẩy mạnh với cỏc mụn Hoỏ học, Vật lý, Sinh học, Địa lý,… và thu được kết quả cao,thỡ với bộ mụn Lịch sử, việc ứng dụng này vẫn cũn hạn chế Ngoài một số trườngtrọng điểm ở cỏc thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chớ Minh, Hải Phũng, ĐàNẵng,… nhiều giỏo viờn đó tiếp cận với CNTT, quen dần với việc sử dụng phần

mềm Power Point trong dạy học, thỡ đa phần giỏo viờn (nhất là cỏc giỏo viờn ở vựng xõu, vựng xa) vẫn chưa cú điều kiện tiếp cận

5 MỘT SỐ NGUYấN TẮC TRONG VIỆC ỨNG DỤNG CễNG NGHỆ THễNGTIN TRONG DẠY HỌC VÀ TRONG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MễN LỊCH SỬ Mục tiêu, nội dung, phơng pháp dạy học của bộ môn là 3 khâu quan trọng (ngoài racòn có đánh giá, kiểm tra) của quá trình dạy học, với những hình thức và phơng tiệndạy học phù hợp Trong mối quan hệ này mục tiêu chỉ đạo việc truyền thụ, tiếp nhậnnội dung về thực hiện qua phơng pháp dạy học (và kiểm tra đánh giá) Nội dung vàphơng pháp dạy học lại tác động trở lại mục tiêu, khi thực hiện yêu cầu của mục tiêu,giữa nội dung và phơng pháp dạy học lại có tác động ảnh hởng với nhau Phơng phápdạy học phải xuất phát từ nội dung ; trên cơ sở nội dung đợc xác định, theo sự chỉ

đạo của mục tiêu Nội dung truyền thụ, tiếp nhận kiến thức phải thông qua nhữngcon đờng, biện pháp s phạm thích hợp có hiệu quả Thành công của việc dạy học các

bộ môn, trong đó có lịch sử đợc quyết định không chỉ ở nội dung mà còn ở phơngpháp dạy học và phương tiện dạy học Ngày nay công nghệ thông tin là một trongnhững phương tiên có vai trò quan trong trong đổi mới phương pháp dạy học vàkiểm tra đánh giá Xột về một mặt nào đấy, phơng pháp và phương tiện còn có vaitrò tơng đối quyết định đối với kết quả dạy học Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệthông tin trong dạy học cần quán triệt, thể hiện trong mọi khâu của quá trình dạyhọc

ở đây, chúng tôi cha trình bày về phơng pháp giáo ứng dụng công nghệ thụng tintrong dạy học môn Lịch sử mà chỉ đề cập đến một vài nguyên tắc chủ yếu của việcứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bộ môn Lịch sử Những yêu cầu về sphạm cần thực hiện gồm những điểm sau :

Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ trong dạy học môn lịch sử, không chỉ l phà ph ươngtiện đơn thuần m nó chính l sà ph à ph ử dụng những phương pháp để trong điều kiện có sự

hỗ trợ đắc lực v tà ph ối đa của phương tiện kĩ thuật, góp phần l m cho phà ph ương phápdạy học có hiệu quả hơn

Điều này có nghĩa là phải lấy phương pháp dạy học l m nà ph ền tảng trong việc thực hiệncác ý đồ sư phạm coi công nghệ thông tin l phà ph ương tiện có hiệu quả để thực hiện ý

đồ nhằm thực hiện được các mục tiêu giáo dục về kiến thức, kĩ năng v thái à ph độ, tìnhcảm, t tởng

Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử không cần phải

tiến hành trong toàn bộ chơng trình của môn học qua tất cả các chơng, bài cụ thể

23

Trang 24

Điều quan trọng là cần chọn lựa, xác định nội dung một số bài cụ thể (đúng hơn làcác loại bài của chơng trình) có sở trờng, u thế trong việc ứng dụng công nghệ thôngtin trong dạy học lịch sử.

Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử không chỉ tiến

hành trong bài nội khoá (dù hình thức dạy học này có vai trò quan trọng bậc nhấttrong dạy học lịch sử) mà phải tiến hành các hoạt động ngoại khoá, kết hợp bài họcnội khoá với hoạt động ngoại khoá, đặc biệt là trong các bài dạy học lịch sử địa ph -

ơng, dạng bài tại thực địa, việc tiến hành cùng công tác công ích của xã hội

Thứ t, không làm tăng nội dung học tập dẫn đến quá tải, cần bám sát chuẩn kiến thức

kĩ năng v hà ph ướng thái độ Các nội dung có liên quan đến ứng dụng cụng nghệ thôngtin cần đợc nghiên cứu kĩ, chọn lọc cẩn thận và gia công về cách thức sử dụng, đảmbảo cho học sinh vừa nắm vững kiến thức lịch sử của b i hà ph ọc vừa tăng thêm kĩ năngthực h nh.à ph

Thứ năm, việc ứng dụng cụng nghệ thông tin trong dạy học lịch sử phải xoá bỏ triệt

để phơng pháp “độc thoại”, thầy đọc, trò chép, thầy nói, trò nghe Cách dạy mộtchiều lấy “giáo viên làm trung tâm” sẽ làm cho học sinh bị động trong tiếp thu kiếnthức, mà phải lấy học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức (học tập) Đồng thờiphải thực hiện nguyên lí “lí luận đi đôi với thực hành” Nguyên lí này rất quan trọng

đối với việc ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong dạy học lịch sử vì nó gắn với nhữnghiểu biết về lịch sử và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin (ở đây có sự kết hợp giữakiến thức lịch sử với kĩ năng khác)

Thứ sỏu, trong việc ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong dạy học lịch sử cần

lưu ý khụng biến những giờ học lịch sử thành giờ trỡnh chiếu, trỏnh tỡnh trạng họcsinh chỉ chỳ ý đến những hỡnh ảnh, tư liệu, đoạn phim trong bài giảng, giỏo viờn đó

“ mua vui” cho học sinh mà khụng chỳ ý đến phương phỏp và cỏc thao tỏc sư phạm

của giỏo viờn, trỏnh được những biểu hiện lệ thuộc, lạm dụng kỹ thuật, thậm chớphản tỏc dụng so với những yờu cầu giỏo dục đó đặt ra

CHƯƠNG 2

HƯỚNG DẪN THAO TÁC SỬ DỤNG MỘT SỐ CễNG CỤ,

PHẦN MỀM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

I Sử dụng Internet trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Trờn mạng Internet cú rất nhiều cụng cụ tỡm kiếm, được phục vụ cho nhiềulĩnh vực hoạt động của xó hội, trong đú cú giỏo dục Nếu giỏo viờn và học sinh đượctrang bị tốt kỹ năng cơ bản về tỡm kiếm, khai thỏc, gửi và nhận thụng tin quaInternet thỡ chất lượng của việc dạy – học sẽ khụng ngừng được nõng cao Để tạomột địa chỉ thư điện tử, người dựng cú thể sử dụng dịch vụ của Yahoo Mail hayGmail

Trang 25

1 Hướng dẫn tìm kiếm và khai thác tư liệu lịch sử trên Internet

Với hàng tỉ trang Web về nhiều lĩnh vực khác nhau, ngày nay Internet đã trởthành là nguồn tài nguyên tri thức không thể thiếu của nhân loại Trong dạy học nóichung, dạy học lịch sử nói riêng, Internet là một trong những nguồn tài liệu vô cùngphong phú, đa dạng mà giáo viên và học sinh cần biết cách tìm kiếm thông tin phùhợp và khai thác sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả Tuy nhiên, nên lưu ý rằngnhững thông tin trên mạng Internet cũng rất phức tạp cả về tính khoa học, độ tin cậylẫn quan điểm giai cấp Do đó, khi sử dụng Internet để phục vụ dạy học, giáo viên

và học sinh cần có sự chọn lọc, thẩm định thận trọng Những địa chỉ Web gồm phần

ký hiệu edu; org; gov,… và đuôi vn thường có độ tin cậy tốt hơn

Việc trao đổi, giới thiệu cho nhau các trang web hữu ích giữa các thành viên,đồng nghiệp trong nhóm dạy, học là rất cần thiết vì điều này vừa đảm bảo tiết kiệmthời gian, vừa đáp ứng tốt yêu cầu sử dụng

-Một số trang web mà giáo viên và học sinh dạy, học lịch sử nên biết:

http:// www.google.com.vn (công cụ tìm kiếm tiếng Việt)

http://www.vi.wikipedia.org (công cụ tìm kiếm Bách khoa toàn thư -tiếng Việt)

http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn (Từ điển Bách khoa toàn thư VN)

http://www.cpv.org.vn ( báo điện tử Đảng CSVN)

http://www.mofa.gov.vn (Bộ Ngoại giao Việt Nam)

http://www.nhandan.com.vn (báo Nhân dân)

http://www.vnagency.com.vn (Thông Tấn Xã Việt Nam)

http://www.qdnd.vn (báo Quân đội Nhân dân)

http://www.thanhnien.com.vn (báo Thanh Niên)

http://www.edu.net.vn (Website của Bộ Giáo dục – Đào tạo)

http://www.quehuong.org.vn (Giới thiệu về Văn hoá Việt Nam)

http://www.khoahoc.com.vn (Giới thiệu chung về Khoa học)

http://www.map.com (Tra cứu các loại bản đồ),…

Một số phần mềm khác và các loại CD Rom:

Hiện nay có sản phẩm CD Rom có nội dung lịch sử để tham khảo hoặc trích lưu

và biên tập lại phục vụ dạy học Chẳng hạn như: Bộ CDROM : tài liệu hỗ trợ dạy và

học Lịch sử THCS ( 6,7,8,9) ; Bộ CDROM CD “Hồ Chí Minh toàn tập” của Nxb Chính trị Quốc gia; CD “Đất nước cuộc sống con người Việt Nam” của Bộ Văn hoá Thông tin, Nxb Văn hoá dân tộc; CD“ Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-

1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ” của Nxb Giáo dục và Nxb Bản đồ ; Chiến tranh

thế giới thứ hai của Công ty thiết bị Giáo dục Trung ương I, PreTeaching…

- Phần mềm PreTeaching…

Hiện nay ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy đã được áp dụngmột cách rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy nhiên tại Việt Nam, các

25

Trang 26

phần mềm hiện nay trong lĩnh lượng và chưa đáp ứng được yêu cầu của người sửdụng Trong khi đó các phần mềm của nước ngoài yêu cầu trình độ người sử dụngcao, đòi hỏi các hệ thống đắt tiền, phức tạp và không thích hợp với hệ thống giáodục của Việt Nam nên chưa được áp dụng rộng rãi.

Công ty Cổ phần Công nghệ Dự báo đã nghiên cứu và phát triển phần mềm Hỗ trợđổi mới phương pháp dạy học THPT dành cho các giáo viên/giảng viên nhằm hỗ trợtrong công tác soạn giáo án, chia sẻ tài nguyên giữa các giáo viên/giảng viên với

mục tiêu: “Đơn giản trong sử dụng, hiệu quả trong công việc” Phần mềm Hỗ trợ

dạy học cài đặt đơn giản, giao diện thân thiện với người sử dụng, cho phép người sửdụng tuỳ biến theo yêu cầu Hệ thống được thiết kế linh hoạt, rất thuận tiện chongười sử dụng

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới dạy học là một công cụ hữu ích dành cho các giáoviên/giảng viên trong công tác nghiên cứu, giảng dạy Phần mềm có các tính năng

hỗ trợ người sử dụng như soạn giáo án, tra cứu, tìm kiếm, chia sẻ tài nguyên Cáctính năng này đều đơn giản trong sử dụng, sử dụng giao diện tiếng Việt thân thiệnvới người dùng, giúp người sử dụng có thể dễ dàng nhanh chóng sử dụng được phầnmềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học là một phân hệ con của hệ thốngđào tạo trực tuyến của công ty Predict (Predict Elearning), có thể dễ dàng tích hợpvào hệ thống đào tạo trực tuyến tổng thể, truy xuất và thừa kế dữ liệu từ hệ thốngnày, cũng như dễ dàng tích hợp với nhiều module của các hệ thống đào tạo trựctuyến hiện tại do một số đơn vị sản xuất phần mềm cung cấp

Cấu hình yêu cầu của phần mềm là cấu hình phù hợp với việc phát triển công nghệthông tin của các trường học hiện nay ở Việt Nam, đáp ứng được các yêu cầu phátsinh trong tương lai Màn hình đăng nhập của phần mềm :

Màn hình màn hình giao diện chính của phần mềm :

- Ưu điểm của phần mềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học là một công cụ hiệu quả dành chogiáo viên/giảng viên

Trang 27

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học giúp các giáo viên tạo giáo ánnhanh chóng, hiệu quả.

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học giúp các giáo viên tìm kiếm, tracứu thông tin nhanh chóng, tức thời, có được thông tin hiệu quả

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học cho phép chia sẻ tài nguyên giảngdạy (giáo án, sách, tài liệu…) giữa các giáo viên với nhau một cách dễ dàng, nhanhchóng

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học sử dụng thuần tuý tiếng Việt giúpngười dùng có thể nhanh chóng sử dụng được phần mềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học có thể chạy trên các nền tảng hệđiều hành khác nhau như Windows 2000/XP

Giới thiệu và khai thác thông tin tư liệu lịch sử trên các loại CD Rom

Hiện nay có sản phẩm CD Rom có nội dung lịch sử để tham khảo hoặc trích lưu

và biên tập lại phục vụ dạy học Chẳng hạn như: Bộ CDROM : tài liệu hỗ trợ dạy và

học Lịch sử THCS ( 6,7,8,9) ; Bộ CDROM CD “Hồ Chí Minh toàn tập” của Nxb Chính trị Quốc gia; CD “Đất nước cuộc sống con người Việt Nam” của Bộ Văn hoá Thông tin, Nxb Văn hoá dân tộc; CD“ Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-

1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ” của Nxb Giáo dục và Nxb Bản đồ ; Chiến tranh

thế giới thứ hai của Công ty thiết bị Giáo dục Trung ương I, PreTeaching…

- Giới thiệu về phần mềm PreTeaching…

Hiện nay ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy đã được áp dụngmột cách rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy nhiên tại Việt Nam, cácphần mềm hiện nay trong lĩnh lượng và chưa đáp ứng được yêu cầu của người sửdụng Trong khi đó các phần mềm của nước ngoài yêu cầu trình độ người sử dụngcao, đòi hỏi các hệ thống đắt tiền, phức tạp và không thích hợp với hệ thống giáodục của Việt Nam nên chưa được áp dụng rộng rãi

Công ty Cổ phần Công nghệ Dự báo đã nghiên cứu và phát triển phần mềm Hỗ trợđổi mới phương pháp dạy học THPT dành cho các giáo viên/giảng viên nhằm hỗ trợtrong công tác soạn giáo án, chia sẻ tài nguyên giữa các giáo viên/giảng viên với

mục tiêu: “Đơn giản trong sử dụng, hiệu quả trong công việc” Phần mềm Hỗ trợ

dạy học cài đặt đơn giản, giao diện thân thiện với người sử dụng, cho phép người sửdụng tuỳ biến theo yêu cầu Hệ thống được thiết kế linh hoạt, rất thuận tiện chongười sử dụng

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới dạy học là một công cụ hữu ích dành cho các giáoviên/giảng viên trong công tác nghiên cứu, giảng dạy Phần mềm có các tính năng

hỗ trợ người sử dụng như soạn giáo án, tra cứu, tìm kiếm, chia sẻ tài nguyên Cáctính năng này đều đơn giản trong sử dụng, sử dụng giao diện tiếng Việt thân thiệnvới người dùng, giúp người sử dụng có thể dễ dàng nhanh chóng sử dụng được phầnmềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học là một phân hệ con của hệ thốngđào tạo trực tuyến của công ty Predict (Predict Elearning), có thể dễ dàng tích hợpvào hệ thống đào tạo trực tuyến tổng thể, truy xuất và thừa kế dữ liệu từ hệ thống

27

Trang 28

này, cũng như dễ dàng tích hợp với nhiều module của các hệ thống đào tạo trựctuyến hiện tại do một số đơn vị sản xuất phần mềm cung cấp.

Cấu hình yêu cầu của phần mềm là cấu hình phù hợp với việc phát triển công nghệthông tin của các trường học hiện nay ở Việt Nam, đáp ứng được các yêu cầu phátsinh trong tương lai Màn hình đăng nhập của phần mềm :

Màn hình màn hình giao diện chính của phần mềm :

- Ưu điểm của phần mềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học là một công cụ hiệu quả dành chogiáo viên/giảng viên

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học giúp các giáo viên tạo giáo ánnhanh chóng, hiệu quả

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học giúp các giáo viên tìm kiếm, tracứu thông tin nhanh chóng, tức thời, có được thông tin hiệu quả

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học cho phép chia sẻ tài nguyên giảngdạy (giáo án, sách, tài liệu…) giữa các giáo viên với nhau một cách dễ dàng, nhanhchóng

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học sử dụng thuần tuý tiếng Việt giúpngười dùng có thể nhanh chóng sử dụng được phần mềm

Phần mềm Hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học có thể chạy trên các nền tảng hệđiều hành khác nhau như Windows 2000/XP

1.1 Hướng dẫn tìm kiếm tư liệu lịch sử trên Internet

Nhiều giáo viên và học sinh thường gặp khó khăn khi tìm kiếm các tư liệulịch sử (dưới dạng văn bản, tranh, ảnh, bản

đồ…) có liên quan đến nội dung dạy học

mà không biết rõ địa chỉ trang web cần

tìm Có nhiều cách tìm kiếm thông tin trên

Internet với Google; Wikipedia; Yahoo,…

Trang 29

trong đó trang web http://www.google.com.vn; http://www.vi.wikipedia.org là công

cụ tìm kiếm khá phổ biến, thuận lợi và hữu ích Ở đây, chúng tôi giới thiệu một sốthao tác đơn giản tìm kiếm tư liệu lịch sử trên Internet với

http://www.google.com.vn Các bước tìm kiếm như sau:

* Tìm kiếm tư liệu văn bản:

+/ Kích đúp biểu tượng Internet Explorer trên desktop để mở trangInternet, gõ địa chỉ http://www.google.com.vn vào ô Addresss  Enter.

+/ Giao diện của Google xuất hiện, chúng ta chỉ cần gõ cụm từ chìa khoá cần

tìm kiếm vào ô trống (ví dụ Văn minh Sông Hồng, Võ Nguyên Giáp,…), chọn Web

 Enter Đợi vài giây, từ chìa khoá trên màn hình sẽ được tìm thấy với hàng chụctrang viết liên quan đến chủ đề cần tìm kiếm, mỗi trang sẽ có hàng chục website kếtnối khác

+/ Để lưu lại nội dung bài viết trên trang Web này thì dùng chuột bôi đen nộidung cần lưu  kích chuột phải  copy rồi mở trang word để dán vào (paste) vàohoặc

chọn File  Save as… chọn đường dẫn (Save in) để lưu vào máy tính hay USB

 gõ tên tài liệu vào ô file name (gõ không dấu) Save (hình trên)

* Tìm kiếm tư liệu tranh, ảnh, bản đồ,…

+/ Sau khi vào trang tìm kiếm Google, thay vì chọn Web để tìm các bài viết

thì chọn Hình ảnh để tìm hình ảnh rồi nhập từ chìa khoá cần tìm  Enter Muốn

tìm được nhiều hình ảnh thì ta nên chọn từ chìa khoá là tiếng Anh

29

Trang 30

+/ Trang Web sẽ xuất hiện các hình ảnh liên quan đến từ chìa khoá Tuynhiên, những hình ảnh này chỉ để xem trước và lựa chọn mà không nên lưu trực tiếpngay (vì hình ảnh đang ở chế độ nén cỡ nhỏ nên không đảm bảo chất lượng khi đưavào bài giảng điện tử hay khi in ra giấy cỡ lớn) Giáo viên muốn lưu hình ảnh thật

của nó thì phải kích đúp chuột vào ảnh để “xem hình cỡ đầy đủ” Khi ảnh đã mở

đầy đủ kích cỡ, ta kích phải chuột lên bức ảnh để hiện ra dòng chữ Save Picture As

(cũng có thể kích vào biểu tượng Save ở góc trên, bên trái của màn hình) để lưu vào

máy tính hay USB (Save in), đặt lại tên trong ô File name (nếu cần)  Save

Tóm lại, dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng cầnphải thể hiện sự tiếp cận với những thành tựu của khoa học kĩ thuật, trong đó có ứngdụng công nghệ thông tin Việc giáo viên thường xuyên khai thác thông tin (hìnhảnh, bài viết, các đoạn phim tư liệu, ) trên mạng Internet đưa vào bài giảng củamình sẽ làm cho bài học thêm sinh động, giúp học sinh hiểu sâu sắc quá khứ lịch sử,qua đó giáo dục tư tưởng tình cảm, phát triển các năng lực nhận thức của các em.Song, việc khai thác thông tin trên mạng Internet phải tuân thủ nghiêm ngặt nhữngyêu cầu và phương pháp luận bộ môn, như đảm bảo tính chính xác, tính vừa sức,đứng trên quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục, đào tạo thế

Từ những lý do chủ quan và khách quan(*), thực tiễn việc thiết kế giáo án và

sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay cònmắc phải những hạn chế phổ biến sau:

+/ Nhiều giáo viên chưa chú ý chọn lọc các tính năng thích hợp của phầnmềm PowerPoint để xây dựng giáo án điện tử, thậm chí có biểu hiện lạm dụng kỹ

thuật Chẳng hạn như tạo các hiệu ứng “bay nhảy” kèm theo những âm thanh không

cần thiết và có khi phản tác dụng giáo dục; lựa chọn nhiều background, màu chữ,font chữ cầu kỳ, phức tạp, ít hài hoà, thiếu tính nhất quán và nhất là không thể hiệnđược ý tưởng sư phạm trong cả hình thức lẫn nội dung trình bày,…

( *) Xem lại quan niệm thế nào là giáo án điện tử và bài giảng điện tử ở chương I

Trang 31

+/ Nhiều giáo án điện tử do giáo viên thiết kế chưa đảm bảo tính hệ thống củakết cấu bài giảng để tạo điều kiện cho người dạy sử dụng trên lớp (cách trình bàybảng đen của bài giảng truyền thống thường đảm bảo tốt yêu cầu này) Điều này dễlàm cho nhận thức lịch sử của học sinh rơi vào sự tản mạn, thiếu hệ thống.

+/ Các dạng thông tin trình bày trên các Slide (trang trình chiếu) còn nghèonàn, chủ yếu là văn bản với câu chữ ít cô đọng, chưa thể hiện rõ kiến thức cơ bản,trọng tâm Ngược lại, có giáo viên lại ôm đồm, muốn đưa nhiều dạng thông tinMultimedia để trình chiếu trên cùng một Slide, khiến cho bố cục trình bày rối rắm,làm học sinh dễ bị nhiễu loạn thông tin, khó nhận ra đâu là kiến thức cơ bản, trọngtâm Những kiến thức đọng lại trong học sinh sau giờ học thường không rõ ràng vàthiếu tính bền vững

+/ Nhiều giáo viên chưa khai thác tốt các chức năng liên kết (Hyperlink) đểxây dựng một bài giảng mở, linh hoạt, có tính tương tác nên phần lớn nội dung bàigiảng điện tử sử dụng trên lớp thường được thiết kế và thực hiện theo một trình tựnhất định, chưa phát huy tốt tính linh hoạt, sáng tạo, chủ động của cả người dạy vàngười học

+/ Ngoài ra, nhiều giáo án điện tử khi thiết kế chỉ mới đơn thuần thể hiện mụcđích cung cấp các nguồn thông tin về sự kiện lịch sử, mà chưa quan tâm đúng mứcđến các yêu cầu về kiểm tra đánh giá, giáo dục tư tưởng tình cảm cũng như việc rènluyện, phát triển các kỹ năng tư duy, thực hành cho học sinh,…

2 Một số yêu cầu và tiêu chí đánh giá của bài giảng điện tử môn Lịch sử

Việc giúp giáo viên xác định rõ những yêu cầu và tiêu chí đánh giá đối với bàigiảng điện tử là có ý nghĩa rất lớn nhằm nâng cao hiệu quả bài học có sử dụngCNTT

a Một số yêu cầu trong thiết kế giáo án và sử dụng bài giảng điện tử:

+/ Việc lựa chọn và trình bày các nội dung trên các Slide phải bảo đảm tínhchính xác, ngắn gọn, súc tích, thể hiện được kiến thức cơ bản, trọng tâm nhất củabài

+/ Việc sử dụng khung nền (background) phải thống nhất, có màu sáng kếthợp với một loại font chữ phổ biến, màu sắc hài hoà và cỡ chữ nên từ 20 trở lên

+/ Bảo đảm sự phong phú nhưng vừa đủ của các dạng thông tin, tư liệu lịch sử(tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, các loại biểu bảng, đoạn phim tư liệu, đoạn băngghi âm…) nhưng cũng cần tránh sự đơn điệu, chỉ trình bày dạng văn bản để thay chonội dung ghi bảng của giáo viên

+/ Giáo viên nên chọn một số hiệu ứng đơn giản, thích hợp cho việc thể hiện

nội dung bài giảng trên lớp, cần tránh lạm dụng các hiệu ứng “bay lượn” cầu kỳ,

31

Trang 32

kèm theo âm thanh phức tạp không cần thiết, vì nó chỉ thu hút thị hiếu tò mò của họcsinh, ít tập trung vào bài giảng

+/ Cấu tạo nội dung của các Slide giáo án phải bảo đảm tính hệ thống của kếtcấu bài giảng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong thao tác sử dụng cũngnhư trong việc kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và tổ chức tốt cáchoạt động tương tác giữa giáo viên – học sinh, giữa học sinh – học sinh và giữa họcsinh với màn hình hay bảng đen

+/ Cần lưu ý xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập phong phú, đa dạng xem kẽvới quá trình tổ chức cho học sinh tìm hiểu kiến thức, bảo đảm kiến thức trọng tâm

và có thể sử dụng linh hoạt cho các đối tượng học sinh khác nhau

+/ Cần thiết đưa vào bài giảng những nội dung có tác dụng giáo dục tư tưởngtình cảm cho học sinh (nhất là những hình ảnh, đoạn phim tư liệu lịch sử)

+/ Giáo viên cần sử dụng tốt các chức năng liên kết để tạo nên những khảnăng mở, linh hoạt của bài giảng điện tử trong việc mở rộng kiến thức, liên hệ, sosánh hay thực hiện các dạng bài tập,… dành cho các đối tượng học sinh khácnhau…

b Tiêu chí đánh giá bài giảng điện tử môn Lịch sử:

Về cơ bản, việc đánh giá bài giảng điện tử môn Lịch sử cũng phải dựa trêntiêu chí đánh giá giờ dạy tốt của các bài lên lớp truyền thống Ngoài ra, chúng ta cònphải thực hiện tốt theo các tiêu chí sau:

+/Đảm bảo tính khoa học: Các nội dung trình bày trên các slide phải chính

xác; bảo đảm kiến thức cơ bản, trọng tâm của bài và được thể hiện một cách côđọng, khái quát nhất Các Slide của bài giảng điện tử phải đảm bảo tính hệ thống củakết cấu nội dung bài học trong suốt quá trình lên lớp Sử dụng màu sắc, phông và cỡchữ phải nhất quán trong tất cả các slide của bài giảng đối với những nội dung, đơn

vị kiến thức có cùng cấp độ, cùng mục đích sư phạm Chọn lựa các hiệu ứng và sắpxếp thứ tự trình chiếu hợp lý, đảm bảo thể hiện tốt nội dung kiến thức và ý tưởng sưphạm Biết tạo các nút liên kết linh hoạt, để mở rộng nội dung, liên hệ, hoặc so sánhcác sự kiện lịch sử, thực hiện đa dạng các loại bài tập… mà không phá vỡ tính hệthống, logic của bài học

+/ Đảm bảo tính tư tưởng: Màu sắc, các đối tượng trình bày phải thể hiện

được tính tư tưởng của nội dung lịch sử (ta - địch, chính nghĩa - phi nghĩa,…).Ngoài ra, khi sưu tầm, sử dụng tranh, ảnh, phim, băng ghi âm cần lưu ý quan điểmgiai cấp của các nguồn tư liệu Khi đưa các tư liệu Multimedia vào bài giảng, ngoàimục đích mở rộng kiến thức lịch sử còn phải lưu ý khai thác ý nghĩa giáo dục đạođức, tư tưởng, tình cảm cho học sinh

Trang 33

+/ Đảm bảo tính sư phạm: Việc thiết kế nội dung lịch sử, các dạng câu hỏi,

bài tập trên các Slide phải dựa trên cơ sở sách giáo khoa, vừa sức với đối tượng họcsinh; bảo đảm kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý các phương pháp dạy học với việc trìnhbày bảng đen và sử dụng màn hình trình chiếu để tổ chức tốt các hoạt động tươngtác đa dạng trong giờ lên lớp nhằm phát huy cao độ tính tích cực, chủ động học tậpcủa học sinh Các nội dung của bài giảng được trình bày trên Slide phải rõ ràng, đủlớn, rõ để học sinh cả lớp có thể quan sát tốt

+/ Đảm bảo tính thẩm mỹ: Việc thiết kế giao diện của bài giảng điện tử phải

thân thiện, màu sắc hài hoà, bố cục rõ ràng

3 Hướng dẫn các thao tác cơ bản trong thiết kế giáo án và trình diễn bài giảng điện tử môn Lịch sử trên phần mềm PowerPoint ở trường THPT

3.1 Giới thiệu quy trình thiết kế và cấu tạo của giáo án điện tử môn Lịch

sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

Giáo án điện tử nói chung, môn Lịch sử nói riêng chủ yếu hỗ trợ thực hiệnnhiệm vụ của bài học nghiên cứu kiến thức mới, do đó nó vẫn phải gồm các yếu tố

cơ bản của một giáo án thông thường mà giáo viên từng soạn (có mục tiêu cụ thể,bước chuẩn bị, dự kiến tiến trình dạy học,…) Bên cạnh đó, giáo án điện tử môn

Lịch sử còn có các đặc trưng: phải được “số hóa” (digitalize) và “chương trình hóa” (programmable) để tạo ra khả năng lưu giữ, điều chỉnh và trao đổi thông tin nhanh chóng, thuận lợi giữa giáo viên với học sinh; phải thể hiện được tính “đa phương tiện, đa truyền thông” (multimedia) dưới nhiều dạng thông tin khác nhau

(văn bản, hình ảnh, âm thanh, màu sắc,…) nhằm làm nổi bật tính trực quan, kíchthích đa giác quan của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức; phải thể hiện được

“tính tương tác” (interactive) giữa giáo viên với học sinh để thầy và trò có thể tác

động lên những nội dung đang trình chiếu, làm cho bài giảng trên lớp linh hoạt trongnhững tình huống dạy học cụ thể, qua đó góp phần phát huy tốt tính tích cực của họcsinh và nâng cao hiệu quả bài học Nắm vững đặc trưng của một giáo án thôngthường và giáo án điện tử, việc thiết kế giáo án điện tử bộ môn theo hướng phát huytính tích cực của học sinh cần tuân thủ các quy trình sau:

a Bước 1, chuẩn bị ở nhà: Việc sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên trên

lớp có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào quá trình chuẩn bị - thiết kếgiáo án điện tử ở nhà Ở bước này, giáo viên cần phải thực hiện các công đoạn:

+/ Nghiên cứu sách giáo khoa để xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của bài học vềmặt kiến thức, tư tưởng, thái độ và kĩ năng

+/ Tìm hiểu nội dung bài viết trong sách giáo khoa để xác định kiến thức cơbản của bài học theo sơ đồ Đai-ri, qua đó biết được kiến thức nào học sinh phải biết

33

Trang 34

(chuẩn kiến thức), kiến thức nào học sinh nên biết và có thể biết (kiến thức mởrộng).

+/ Sưu tầm, chọn lọc và xử lí số hóa các nguồn tư liệu (kênh chữ, kênh hình,kênh âm thanh) có liên quan đến kiến thức cơ bản đã được xác định trước đó nhằmphục vụ cho việc thiết kế giáo án điện tử Sau khi đã xử lí số hóa nguồn tư liệu, giáo

viên nên “gói” trong một thư mục và đặt tên theo số bài (ví dụ Bai_5) để dễ tìm

kiếm khi giảng dạy trên lớp, hoặc copy vào USB, hay in ra đĩa CD

b Bước 2, xây dựng cấu trúc giáo án điện tử và viết kịch bản để thực hiện:

Một bài giảng điện tử sử dụng hiệu quả trên lớp phụ thuộc lớn vào ý tưởng sư phạmcủa mỗi giáo viên Trên cơ sở những công đoạn đã thực hiện ở bước 1, bằng kinhnghiệm, trình độ chuyên môn và ý tưởng sáng tạo, giáo viên phải lập dàn ý đề cươngchi tiết, dự kiến bố cục (số lượng Slide trình chiếu cho phù hợp với khối lượng kiếnthức cơ bản), chọn hình thức thể hiện nội dung kiến thức dưới dạng đồ thị, bảng sosánh, hay sơ đồ hóa kiến thức,… Việc xây dựng cấu trúc giáo án điện tử và viếtkịch bản trên giấy sẽ rút ngắn thời gian thiết kế giáo án trên máy vi tính của giáoviên và không bị rối

* Bước 3, thiết kế giáo án điện tử trên máy vi tính theo kịch bản đã xây dựng:

Công đoạn chiếm khá nhiều thời gian của giáo viên, nó vừa thể hiện trình độ kĩ thuậtcông nghệ, vừa mang tính mĩ thuật sư phạm và tương tác cao Một giáo án điện tử

có cấu trúc và kịch bản hay, giàu nguồn tư liệu hình ảnh, nhưng nếu giáo viên kém

về kĩ thuật vi tính, hoặc lạm dụng yếu công nghệ khi thiết kế thì bài giảng điện tử sửdụng trên lớp sẽ không hiệu quả, ít có tác dụng giáo dưỡng cũng như giáo dục Xuất

phát từ đặc trưng bộ môn và từ câu phương châm của dân gian:“tôi nghe – tôi quên, tôi nhìn – tôi nhớ, tôi làm – tôi hiểu”, việc thiết kế giáo án điện tử môn Lịch sử phải

đảm bảo những yêu cầu cơ bản của một giáo án tích cực Đó là phải đảm bảo tínhkhoa học, thẩm mĩ giáo dục, tính hình ảnh trực quan, tính hệ thống - lôgic, tínhtương tác trong hoạt động dạy – học của thầy và trò, phải tạo điều kiện cho giáo viên

sử dụng dễ dàng, linh hoạt và thuận lợi trong việc kết hợp nhuần nhuyễn các phươngpháp dạy học truyền thống hiệu quả khác như kể chuyện, miêu tả, tường thuật, traođổi đàm thoại,… Đảm các yêu cầu, quy trình của việc thiết kế giáo án điện tử mônLịch sử và rút kinh nghiệm từ thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, chúng tôi xinnêu lên ba cách thiết kế sau:

+/ Cách thứ nhất, trên mỗi Slide của giáo án sẽ ghi đầy đủ tên bài học (chữ in

đậm và rõ nét), ở bên trái ghi tên đề mục và tiểu mục (nếu có), bên phải ghi vắn tắtnội dung kiến thức cơ bản, câu hỏi trọng tâm, hoặc chèn kênh hình,… sao cho tươngứng với nội dung kiến thức ở các đề mục, tiểu mục phía bên trái Hình dưới minh

Trang 35

họa cho Slide giáo án điện tử bài 23 “Nước Văn Lang – Âu Lạc” ở lớp 10 (chương trình chuẩn) Việc thiết kế kênh hình “Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước thời Hùng Vương” là cụ thể hóa cho việc dạy học mục 3 của bài “ Cơ cấu tổ chức nhà nước Văn Lang – Âu Lạc”.

+/ Cách thứ hai, trên mỗi Slide, tên của bài học, đề cương bài giảng, hệ thống

kênh hình, những số liệu liên quan sẽ được thiết kế xen kẽ lẫn nhau, được sắp xếptheo trình tự phù hợp với tiến trình dạy học trên lớp của giáo viên Cách thiết kế nàykhá đơn giản, phù hợp với giáo viên có trình độ CNTT ở mức trung bình, nó có thểgiảm bớt thời gian ghi bảng và bảo đảm tương đối tính lôgic, hệ thống của bài giảng.Tuy nhiên, giáo viên nên tạo các liên kết với nhau cho chặt chẽ và hạn chế việc đưakênh chữ lên màn hình, trừ những ý quan trọng và cần thiết Hình dưới minh họa

cho câu hỏi của giáo viên đưa ra để học sinh trao đổi, trả lời: “Em hiểu thế nào là chế độ chuyên chế cổ đại phương Đông?” Học sinh trao đổi, trả lời xong, giáo viên

nhận xét và đưa ra thông tin phản hồi bằng sơ đồ minh họa về các giai cấp trong xãhội phương Đông cổ đại, kèm theo thời giải thích

+/ Cách thứ ba, giáo viên không nhất thiết phải đưa vào các Slide nội dung đề

cương bài giảng, mà chỉ thiết kế một số kênh hình liên quan đến bài học, thay choviệc sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống trước đây Đó có thể là sơ đồ,bản đồ giáo khoa điện tử, tranh ảnh, bảng so sánh,… được sắp xếp theo tiến trình bàigiảng để hỗ trợ giáo viên khi hướng dẫn học sinh sử dụng kênh hình, trình bày bảng

và các hoạt động dạy học khác giống như việc dạy học một bài học truyền thống.Cách thiết kế này cũng khá đơn giản và phổ biến, vì nó không đòi hỏi cao về trình

độ CNTT của giáo viên, đỡ tốn thời gian, ít làm xáo trộn các thao tác dạy học trênlớp của giáo viên so với kiểu truyền thống mà hiệu quả lại cao Hình dưới là ví dụ

được thiết kế khi dạy học bài 6 – “Các quốc gia Ấn và văn hóa truyền thống Ấn

35

Trang 36

Độ”, phần “Văn hóa truyền thống Ấn Độ” ở lớp 10 (chương trình chuẩn) có tác

dụng minh họa và cụ thể hóa kiến thức cho học sinh về biểu tượng của ba vị thầnBrahma, Visnu, Siva dưới ảnh hưởng của đạo Hinđu

Cần lưu ý rằng, dù giáo án điện tử được thiết kế theo cách nào cũng phải tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh theo hướngphát huy tính tích cực, chủ động Hệ thống kênh hình được thiết kế phải đảm bảotính chính xác, ngắn gọn, các Slide của giáo án điện tử cũng cần tích hợp một hệthống câu hỏi, bài tập trọng tâm liên quan đến việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu,tìm hiểu kiến thức cơ bản của bài Giáo viên không nên sử dụng nhiều kiểu font chữ

lạ (tốt nhất là chọn Arial), hay phông nền sặc sỡ trong một bài giảng, vì nó sẽ gâyphản cảm đối với học sinh Chúng ta nên sử dụng hiệu ứng (Effect) đơn giản, thíchhợp với nội dung kiến thức trình bày, không lạm dụng hiệu ứng bay lượn, cầu kìkèm theo những âm thanh không cần thiết Để bài dạy trên lớp trở nên linh hoạt,việc khai thác tốt các chức năng liên kết của phần mềm PowerPoint (liên kết ngaytrong một Slide, trên các Slide khác ở

cùng tập tin, hoặc đến một tập tin,

chương trình khác) là rất quan trọng

* Bước 4, xem lại kịch bản giáo

án điện tử trên máy vi tính và chạy thử:

Khi đã hoàn thành việc thiết kế giáo án

điện tử trên máy vi tính theo kịch bản

phác thảo, giáo viên mở file bài soạn, rà

soát lại nội dung các Slide và trình

chiếu thử từng phần, rồi toàn bộ các

Slide (có đối chiếu với giáo án viết tay) để điều chỉnh về font chữ, kênh hình, hiệuứng,… sao cho hợp lí hơn với mục tiêu, kế hoạch sư phạm mà đề ra

* Bước 5, viết bản tóm tắt và hướng dẫn sử dụng kịch bản giáo án điện tử:

Nhiều giáo viên chủ quan cho rằng, giáo án điện tử do mình thiết kế, xuất phát từ ýtưởng của bản thân nên không nhất thiết phải viết bản tóm tắt và hướng dẫn sử dụng.Quan niệm này không đúng, vì giáo án điện tử sẽ được giáo viên sử dụng nhiều lần

ở các năm học kế tiếp trên cơ sở điều chỉnh cho phù hợp Nếu sau khi thiết kế xong,giáo viên không thực hiện theo bước này, khi lên lớp có thể lúng túng và sẽ rất dễquên ở những lần sử dụng sau (ví như không nhớ kênh hình được liên kết ở đâu).Hơn nữa, để chia sẻ kinh nghiệm cho các đồng nghiệp về sản phẩm giáo án điện tửcủa mình, việc làm này lại càng trở nên cần thiết

Trang 37

Việc thiết kế giáo án và sử dụng bài giảng điện tử muốn đạt kết quả tốt thì cầnthiết phải dựa trên nguyên tắc dạy học bộ môn, biết kết hợp hài hoà với các phương

pháp truyền thống và phù hợp với điều kiện cụ thể ở trường phổ thông Bởi vì, “lịch

sử không phải là một chuỗi các sự kiện mà người viết sử ghi lại, rồi người dạy sử đọc lại và người học sử lại học thuộc lòng” (Phạm Văn Đồng).

3.2 Hướng dẫn các thao tác cơ bản trong thiết kế giáo án và trình diễn bài giảng điện tử môn Lịch sử trên phần mềm PowerPoint

Để thiết kế giáo án điện tử hoặc xây dựng nội dung hỗ trợ hoạt động ngoạikhoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint, giáo viên phải biết khởi động và thoátkhỏi chương trình PowerPoint:

+/ Khởi động chương trình

PowerPoint: Việc khởi động chương trình

này tương tự như các chương trình ứng dụng

khác, nhưng đầu tiên phải khởi động máy vi

tính Sau khi đã mở máy vi tính, chúng ta

khởi động chương trình Power Point bằng

một trong hai cách sau đây (hình bên):

 Cách 1: Nhấn nút Start trên thanh

TaskBar dưới góc trái màn hình, chọn Programs → Microsoft Office →Microsoft Power Point

Nháykép biểutượngPowerPointtrên mànhình(nếu trênmàn hình

đã có sẵn biểu tượng Microsoft Power point)

Khi đã khởi động Power point, để có đủ các thanh công cụ thiết kế cơ bảnvào, ta vào Menu View  Toolbars  chọn các chế độ Standard, Formating,

Drawing, Picture và Task Pane Màn hình Power Point sẽ hiển thị như hình dưới.

Trên màn hình chung ta sẽ thấy các thanh công cụ và các nút điều khiển cơ bản

37

Trang 38

+/ Để thoát khỏi chương trình PointPower Point, giáo viên chỉ cần bấm nút Close (có biểu tượng dấu x) ở góc phải màn hình như các chương trình khác (hình trên).

a Xây dựng bản trình bày Power Point

Khi đã khởi động chương trình và màn hình hiển thị, chúng ta vào “Task panes” chọn chức năng “New pressentation”, khi ấy màn hình sẽ xuất hiện một bảng

cho ta tuỳ chọn các kiểu Slide trình diễn mới

Cách thông dụng ban đầu (đối với người

mới học), ta nên chọn mẫu thiết kế sẵn đã hiển

thị trên màn hình Sau đó, tuỳ theo tính chất

của bài trình bày, giáo viên có thể chọn thêm

kiểu Slide mới cho phù hợp Khi đã chọn được

kiểu Slide, ta chọn luôn font chữ, kích cỡ chữ

rồi đưa con trỏ chuột vào khung “Click to add

tittle” để đánh tiêu đề hoặc nội dung Đánh hết

nội dung trong khung đó, ta tiếp tục đưa con trỏ chuột vào khung bên dưới để đánhnội dung văn bản cần trình bày Khi trình bày nội dung trên các Slide, việc chọn fontchữ, hình ảnh, kích cỡ chữ hay màu chữ, ta sử dụng các công cụ như trong soạnthảo văn bản Word

Ví dụ, giáo viên muốn đánh nội dung “Lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố” và

bảng phân công nhiệm vụ của từng nhóm học sinh khi dạy về Cách mạng tháng Tám

năm 1945 (SGKLS12, THPT), ta gõ nội dung câu hỏi vào Slide (hình dưới)

Trong trường hợp giáo viên đã có sẵn đề cương bài giảng trên Word, có thểchuyển sang Power Point bằng các thao tác copy và paste thông dụng vào các Slide

Trang 39

đang thiết kế Sau khi thực hiện copy và paste xong, chúng ta thực hiện một số thayđổi có tính chất trình diễn hay chọn kiểu hiệu ứng cho phù hợp

b Thêm mới và xoá một Slide.

Sau khi đánh đầy đủ nội dung vào một Slide, giáo viên cần phải thêm một sốSlide mới, tuỳ theo bản thiết kế của bài giảng điện tử Để thêm mới một Slide, giáoviên tiến hành một như sau:

+/ Đưa con trỏ chuột vào một vị trí muốn chèn Slide mới (hoặc chọn Slidecuối cùng để thêm một Slide mới vào cuối các Slide)

+/ Mở Menu Insert rồi chọn New Slide (cũng có thể chọn New Slide trênthanh công cụ, hoặc nhấn Ctrt + M trên bàn phím)

+/ Khi hộp hội thoại xuất hiện sẽ cho phép giáo viên chọn một mẫu Slide mớibên tay phải theo ý mình

Để đỡ mất thời gian, đồng thời muốn có những Slide có cùng mẫu với Slide

có sẵn, chúng ta nên sử dụng copy những Slide trước đó, paste vào vị trí cần thêm,sau đó xoá nội dung cũ và đánh nội dung của trang trình chiếu mới vào

Để loại bỏ một Slide bất kì, giáo viên chỉ cần đánh dấu Slide cần xoá rồi dùngphím Delete hay nhấn Ctrl + X Giáo viên cũng có thể xoá bằng cách bấm chuột trái

lên biểu tượng “Slide sorter view” ở góc trái màn hình, chọn Slide cần xoá, nhấn

phím Delete, rồi Enter

c Lưu bản trình bày bài giảng vào máy tính (Save).

Khi đã nhập nội dung bài giảng vào các Slide, hoặc sau mỗi lần chỉnh sửa,giáo viên nên ghi vào máy để tránh sự cố do mất điện hoặc treo máy, Lần đầu tiênghi bài giảng vào máy, ta thực hiện như sau:

+/ Đưa trỏ chuột vào File trên thanh Menu, chọn save (có thể bấm đồng thờiCtrt và S trên bàn phím, hoặc kích chuột vào nút save trên thanh Menu)

+/ Gõ tên của bản trình chiếu vào ô File name (nên để các file có đuôi là

*.ppt)

39

Trang 40

+/ Nhấn OK để hoàn tất (*).

d Mở một File bài soạn đã có sẵn.

Khi giáo viên đã có sẵn bản trình bày trong chương trình Power Point (có thểtrên ổ cứng của máy vi tính, hoặc lưu trên đĩa CD-Rom, USB, ), chúng ta có thể

mở file bài giảng để trình chiếu hay sửa chữa Công việc này được tiến hành nhưsau:

+/ Mở Menu File, chọn Open (có thể nhấn kết hợp Ctrt + O trên bàn phímhoặc chọn Open ở thanh công cụ)

+/ Tiếp theo, chọn thư mục có chứa File trong hộp “Look in”.

+/ Chọn tên file bài giảng mà ta đã ghi tên trước đó

+/ Chọn Open để mở file (hình trên)

e Chèn các biểu tượng, đoạn phim tư liệu, tranh ảnh lịch sử, bản đồ, văn bản gốc,… đã Scan vào các Slide.

* Chèn hình ảnh, tranh ảnh lịch sử: Trong quá trình DHLS, nhờ sự hỗ trợ của

phần mềm Power Point mà việc chèn những hình ảnh, tranh ảnh hay bản đồ lịch sử,

… trên các Slide trình chiếu sẽ có tác dụng rất lớn đối với bài giảng của giáo viên vàviệc học tập của học sinh Nhưng muốn

làm được điều này, trước tiên chúng ta

phải có tất cả những nguồn tài liệu, tranh

ảnh đó Khi đã có nguồn tài liệu, việc chèn

các hình ảnh được tiến hành như sau:

+/ Chọn Slide cần chèn hình ảnh

(kênh hình lịch sử)

+/ Vào menu Insert, chọn “Picture”.

+/ Trong menu “Picture” có chứa

nhiều menu nhỏ, chúng ta chọn From File (nếu hình ảnh lưu trong File ảnh của máy

vi tính, USB, ); chọn Clip Art (nếu hình ảnh được lưu sẵn trong Clip Art); chọnAuto Shapes (nếu hình có dạng theo mẫu)

+/ Lựa chọn các hình ảnh bằng cách nháy kép hoặc nhấn Insert

+/ Nhấn Close trên bảng hộp thoại Clip Art để hoàn tất

Ví dụ, chúng ta có hình ảnh “Các vùng văn hóa Việt Nam” trong ổ D của máy tính, nếu giáo viên muốn chèn hình ảnh này trên Slide khi dạy về “Truyền thống văn hóa, dân tộc Việt Nam” (hình bên), ta làm như sau:

Chọn một Slide cần chèn hình ảnh

( (*) Những lần sau, khi mở file trình chiếu ra để chỉnh sửa, quá trình ghi vào máy chỉ cần nhấn Ctrt + S

trên bàn phím, hoặc kích chuột vào nút Save trên thanh công cụ

Ngày đăng: 25/09/2013, 16:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trên cho thấy, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử là một quá trình nhận thức “đặc thù” - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Sơ đồ tr ên cho thấy, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử là một quá trình nhận thức “đặc thù” (Trang 9)
Hình ảnh mà lớp ta đang quan sát - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
nh ảnh mà lớp ta đang quan sát (Trang 17)
Bảng phân công nhiệm vụ của từng nhóm học sinh khi dạy về Cách mạng tháng Tám năm 1945 (SGKLS12, THPT), ta gõ nội dung câu hỏi vào Slide (hình dưới) - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Bảng ph ân công nhiệm vụ của từng nhóm học sinh khi dạy về Cách mạng tháng Tám năm 1945 (SGKLS12, THPT), ta gõ nội dung câu hỏi vào Slide (hình dưới) (Trang 38)
Bảng thống kê cho chúng ta thấy, kết quả lĩnh hội kiến thức của HS lớp thực nghiệm cao hơn hẳn hai lớp đối chứng (Lớp 12A5 đối chứng 1 là lớp GV không ứng dụng CNTT trong dạy học; lớp 12A6 đối chứng 2 là lớp GV có ứng dụng CNTT vào dạy học, nhưng chưa thà - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Bảng th ống kê cho chúng ta thấy, kết quả lĩnh hội kiến thức của HS lớp thực nghiệm cao hơn hẳn hai lớp đối chứng (Lớp 12A5 đối chứng 1 là lớp GV không ứng dụng CNTT trong dạy học; lớp 12A6 đối chứng 2 là lớp GV có ứng dụng CNTT vào dạy học, nhưng chưa thà (Trang 69)
Hình thức báo cáo viên đơn thuần trình bày bài nói chuyện thường ít lôi cuốn - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Hình th ức báo cáo viên đơn thuần trình bày bài nói chuyện thường ít lôi cuốn (Trang 70)
Hình sân khấu làm nền minh họa. Ở hình bên, với trò chơi “Lời ca dâng Bác”, giáo viên có thể xây dựng nội dung thi tìm hiểu tên tác giả, nhạc và lời của những bài hát nói về Bác Hồ - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Hình s ân khấu làm nền minh họa. Ở hình bên, với trò chơi “Lời ca dâng Bác”, giáo viên có thể xây dựng nội dung thi tìm hiểu tên tác giả, nhạc và lời của những bài hát nói về Bác Hồ (Trang 71)
Bảng kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy, kết quả lĩnh hội kiến thức của - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Bảng k ết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy, kết quả lĩnh hội kiến thức của (Trang 80)
Hình thức Nội chiến Chiến tranh, giải phóng - CHUYÊN ĐỀ UDCNTT - KT ĐÁNH GIÁ
Hình th ức Nội chiến Chiến tranh, giải phóng (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w