1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tài liệu tâm lý học dạy đại học

68 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể tâm lý học sư phạm tìm cơ chế tâm lý của qúa trình học sinh lĩnh hội nền văn hoá vật chất, tinh thần của xã hội và biến nó thành vốn riêng của mình; tìm mối quan hệ giữa tri thức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

****************

BỘ MÔN TÂM LÝ HỌC

TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC

BIÊN SOẠN:

TS TRẦN VĂN TÍNH

Trang 2

CHƯƠNG 1: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC

Tâm lý học sư phạm là một trong những ngành ứng dụng được phát triển sớm nhất của khoa học tâm lý Đối tượng của tâm lý học sư phạm là những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục đối với trẻ từ mẫu giáo đến học sinh và sinh viên Cụ thể tâm lý học

sư phạm tìm cơ chế tâm lý của qúa trình học sinh lĩnh hội nền văn hoá vật chất, tinh thần của xã hội và biến nó thành vốn riêng của mình; tìm mối quan hệ giữa tri thức tiếp thu được với sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao của học sinh, sinh viên; tìm cơ chế lĩnh hội của từng lứa tuổi khác nhau, tổ chức các hoạt động phù hợp với sự phát triển trí tuệ và sự phát triển tâm lý Việc nghiên cứu những vấn đề này thể hiện mối liên hệ chặt chẽ của ngành tâm lý học lứa tuổi và ngành tâm lý học sư phạm

Tâm lý học sư phạm xuất hiện từ bao giờ? Năm 1889, Đại hội đầu tiên của các nhà tâm lý học trên thế giới đã họp ở Pari, một trong những hướng ứng dụng đầu tiên của khoa học tâm lý là việc vận dụng tri thức tâm lý học vào công tác giảng dạy và giáo dục ở nhà trường

Ví dụ như những kết quả thực nghiệm trong tâm lý học đại cương về quy luật tâm sinh lý của Weber, Faisner, quy luật nhớ của Ebingauz, nghiên cứu cảm giácvận động của Weent Nhưng việc ứng dụng trực tiếp từ kết quả nghiên cứucủa tâm lý học đại cương đã rất hạn chế và mâu thuẫn với kinh nghiệm của giáo viên Ví dụ: Ebingauz nghiên cứu sự ghi nhớ những từ vô nghĩa thì ít giúp ích cho giáo viên là những người cần biết quy luật nhớ những tài liệu có ý nghĩacủa học sinh Nhà giáo dục nổi tiếng người Nga K.D.Usinxki trong tác phẩm “con người là đối tượng của giáo dục” đã có cống hiến lớn cho sự phát triển tư tưởng tâm lý sư phạm Ông cho rằng muốn giáo dục con người thì trước hết phải hiểu biết con người về tất cả mọi mặt, và đã kêu gọi tất cả các nhà giáo

dục: “Các bạn hãy nghiên cứu những quy luật của các hiện tượng tâm lý mà các bạn

muốn điều khiển và các bạn hãy hành động căn cứ trên những quy luật này và những hoàn cảnh mà các bạn muốn vận dụng chúng vào đó”; Nhà tâm lý học người Mỹ W

James, trong tác phẩm “Nói chuyện với các giáo viên về tâm lý học” đã cho rằng: khi biết

được những quy luật tâm sinh lý hay những hình thức và tốc độ phản ứng vận động thì

Trang 3

người giáo viên sẽ hiểu được đời sống tinh thần của trẻ và những quy luật lĩnh hội tài liệu học tập

Do đó, những hiện tượng tâm lý trẻ em và thanh niên diễn ra trong quá trình giảng dạy và giáo dục ở nhà trường cần phải được nghiên cứu riêng và trở thành đối tượng của ngành tâm lý học sư phạm

Trong hội nghị tâm lý học sư phạm đầu tiên ở nước Nga được tổ chức vào đầu thế

kỷ XX, các nhà tâm lý học đã khẳng định rằng chỉ có thể gắn tâm lý học với thực tiễn sư phạm bằng cách nghiên cứu thực nghiệm trong chính quá trình dạy học và giáo dục Do vậy, cần giải quyết đúng đắn vấn đề lý luận và phương pháp luận của tâm lý học sư phạm

và tâm lý học lứa tuổi mà trước hết là nhuồn gốc phát triển tâm lý có quan hệ với lý luận dạy học Việc xác định các nguyên tắc, các con đường, các biện pháp dạy học và giáo dục phụ thuộc vào quan niệm về nguồn gốc phát triển tâm lý trẻ

Các nhà tâm lý học Mácxít cho rằng yếu tố bẩm sinh di truyền là tiền đề của sự phát triển tâm lý, giáo dục có vai trò chủ đạo và hoạt động cá nhân có tính chất quyết định

trực tiếp đến sự phát triển của mỗi cá nhân Trong những điều kiện giáo dục thuận lợi như

nhau thì trẻ nào có được những ưu thế về bẩm sinh di truyền thì sẽ phát triển tốt hơn Ngược lại những trẻ có yếu tố bẩm sinh di truyền tương đối ngang bằng nhau thì trẻ nào được sống trong điều kiện giáo dục thuận lợi hơn sẽ phát triển tốt hơn Sức mạnh của giáo dục là khả năng tăng tốc sự phát triển theo định hướng xã hội đúng đắn, là phát hiện tiềm năng tâm lý làm cho mỗi cá nhân có diều kiện bộc lộ tự do và phát triển tối ưu năng lực

Trang 4

quá trình giáo dục Như vậy, Tâm lý học sư phạm có mục đích cung cấp cho giáo viên những hiểu biết tâm lý học đúng đắn, khoa học về trẻ em và thanh thiếu niên; một cái nhìn sâu sắc về bản chất của sự học; một nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của sự khác biệt

cá thể, tri thức về sự trưởng thành và phát triển của trẻ em, hiểu biết về những vấn đề hành vi của trẻ em, thanh thiếu niên và khả năng ứng xử với chúng Nhờ đó, người làm công tác giảng dạy, giáo dục nắm được những nguyên lý cơ bản để giải quyết những vấn

đề nảy sinh trong quá trình sư phạm và học có thể đánh giá các biện pháp được sử dụng nhằm đạt được mục tiêu đào tạo

1.1 Sự ra đời của Tâm lý học dạy học đại học

1.1.1 Nguyên nhân khách quan

a Sự phát triển của đào tạo đại học trên thế giới và ở Việt Nam

Hệ thống giáo dục đại học của các nước trên thế giới có một lịch sử phát triển khá lâu đời và không ngừng phát triển Số trường đại học và cao đẳng của Nhật Bản (tính đến 1994) là 1.208 với tổng số sinh viên là 3.266.275 Nước Mỹ có trên 3.000 trường đại học; Hàn Quốc có 314 trường đại học và cao đẳng, với 2.196.940 sinh viên và 54.135 giáo chức Thái Lan có 53 trường đại học với 872.630 sinh viên và có 23.121 giáo chức (năm 1995) Các nước thuộc Liên Xô trước đây có khoảng 870 trường đại học, với 5,2 triệu sinh viên và có trên 70.000 phó tién sĩ và 19.000 tiến sĩ khoa học tham gia công tác đào tạo đại học và trên đại học (số liệu của những năm 80); Các nước á Phi, Mỹ La Tinh, Brazin có 6.260.000 sinh viên (những năm 80 )

Giáo dục đại học Việt Nam có một lịch sử phát triển lâu đời “Quốc Tử Giám” được

mở năm 1076 tại Hà Nội có thể được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Đầu thế kỷ XX, kiểu đại học phương Tây du nhập vào nước ta Năm 1902, Đại học Y-Dược được thành lập Một số trường cao đẳng và đại học khác được thành lập từ năm 1906 đến

1939 và được tập hợp lại thành Đại học Đông Dương đặt tại Hà Nội, chung cho cả Việt Nam, Lào, Campuchia Số lượng sinh viên của trường này đạt quy mô cao nhất là 1.200 vào năm 1942 Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954) hình thành ba trung tâm đại học mới tại Việt Bắc, Liên khu IV và Nam Ninh (Trung Quốc) Đấy là cơ

sở đại học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt Sau giải

Trang 5

phóng (1954), các trường đại học di chuyển về Hà Nội Năm 1956 ở Hà Nội có các trường Tổng hợp, Sư phạm, Bách khoa, Y-Dược, Nông nghiệp, Kinh tế- tài chính và nghệ thuật Cho đến năm 1975 ở miền Bắc đã có 30 trường đại học với 8.400 giảng viên và 56.000 sinh viên Cũng trong thời gian đó, ở miền Nam có 4 viện đại học công lập, 3 đại học cộng đồng và 11 đại học tư, có tổng số sinh viên là 166.000 Sau ngày Việt Nam thống nhất (1975), các trường đại học, cao đẳng (hiện nay, do sát nhập một số trường để thành lập các đại học quốc gia nên số trường đại học chỉ còn 199, trong đó có 91 trường công lập và 18 trường dân lập và một số cao đẳng cộng đồng) với khoảng 36.500 giảng viên, trong đó 31% là nữ, 14% có học vị Phó tiến sĩ, Tiến sĩ và gần 930.000 sinh viên, trong đó có khoảng 589.000 sinh viên chính quy

Như vậy, số trường đại học trong nước và trên thế giới tăng rất nhanh, số lượng sinh viên có tới hàng chục triệu và số lượng cán bộ khoa học giảng dạy đại học cũng không ngừng tăng lên và đặc biệt là chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy thay đổi theo chiều hướng tăng nhanh các cán bộ có trình độ học vị, học hàm cao, có năng lực đào tạo đại học

và trên đại học Thực tiễn đó đã lôi cuốn sự chú ý đặc biệt của các nhà tâm lý học, giáo dục học và các nhà phương pháp vào việc nghiên cứu các cơ sở khoa học cho công tác giảng dạy và giáo dục đại học nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao

b Nhu cầu xã hội đối với chuyên gia

Do sự thúc đẩy phát triển xã hội và đặc biệt là ảnh hưởng của cách mạng khoa học kỹ thuật, nhu cầu của xã hội đối với chuyên gia đã có nhiều thay đổi Trong xã hội cũ, tính chất bảo thủ và lạc hậu của nhà trường đại học so với xã hội đã luôn luôn tồn tại Việc giảng dạy của nhà trường đại học cũ là hướng vào quá khứ Tức là, xã hội yêu cầu người chuyên gia tích luỹ càng nhiều tri thức càng tốt bằng tri thức của mình , có quan niệm ai nhớ giỏi là người uyên bác, là nhà bác học Nội dung tri thức, cách sắp xếp , tổ chức và chuyền đạt thông tin do thầy giáo quy định Phương pháp giảng dạy là thầy giải thích tài liệu, củng cố tài liệu, rồi kiểm tra, còn sinh viên tiếp nhận tài liệu, ghi nhớ chúng

Xã hội ngày nay có nhu cầu khác hẳn đối với các chuyên gia, nền sản xuất hiện đại đòi hỏi chuyên gia trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng phải có kỹ năng tư duy sáng tạo, biết đặt ra những nhiệm vụ mới một cách độc lập, có nguyên tắc, năng động, có khả năng thích ứng

Trang 6

với những điều kiên biến đổi không ngừng Do sự bùng nổ về thông tin, khoảng cách vốn

có giữa giảng đường đại học với xã hội càng bị đẩy xa hơn Người sinh viên không thể chỉ chông đợi vào những tri thức mà nhà trường cung cấp cho họ và càng không thể hy vọng vào vốn tri thức ấy như một thứ “cẩm nang” có thể dùng nó trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của mình Bởi vì, chỉ sau một thời gian ngắn, một bộ phận các tri thức lĩnh hội được trong nhà trường sẽ trở nên bất cập, và hiển nhiên là sau khi họ tốt nghiệp đại học, bao nhiêu phát minh mới sẽ ra đời và đòi hỏi họ phải tham gia phát triển chúng một cách hiệu quả Có thể ví von không quá đáng rằng “người mù chữ ngày mai sẽ là người không biết học việc học tập” Điều này cũng có nghĩa “học như thế nào” trở thành một tiêu chí đánh giá người học

c Nhu cầu tự hoàn thiện của sinh viên và người tốt nghiệp đại học

Với những lý do trên, ngày nay quá trình đào tạo ở đại học ngày càng trở lên phức tạp

về nội dung, phương pháp cũng như phương tiện được sử dụng trong quá trình đó Để đáp ứng nhu cầu mới của quá trình đào tạo đại học, sinh viên phải tự hoàn thiện nhân cách của mình, đặc biệt những phẩm chất và năng lực “tự đào tạo” theo hướng “nghiên cứu phát triển” để trở thành chuyên gia giỏi trong xã hội hiện đại Người tốt nghiệp đại học cũng

có nhu cầu tự hoàn thiện như phần trên đã trình bày, nhưng giảng đường đại học phải từng bước chuẩn bị kỹ năng này cho họ Chính tính phức tạp và những đặc điểm mới trong tâm lý sinh viên hiện đại sẽ trở thành một xu thế mới, một đối tượng hấp dẫn của khoa học Tâm lý sư phạm đại học

1.1.2 Nguyên nhân chủ quan

a Tâm lý học là khoa học cơ bản có tính ứng dụng cao

Việc ra đời ngành Tâm lý học sư phạm nói chung, Tâm lý học sư phạm đại học nói riêng còn do chính nguyên nhân chủ quan rất đặc trưng của Tâm lý học: một khoa học luôn luôn hướng vào thực tiễn Tâm lý học hiện đại ngày nay có trên năm mươi ngành Tâm lý học ứng dụng, điều đó cho thấy rõ ý nghĩa của Tâm lý học trong việc giải quyết các vấn đề của thực tiễn xã hội

b Sự vận động của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm dẫn đến sự ra đời một chuyên ngành mới: Tâm lý học sư phạm đại học

Trang 7

Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm một thời gian dài đã chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình vào các vấn đề tâm lý học sinh, mãi đến những năm 60 của thế kỷ

XX, hai ngành tâm lý học này đã ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề giảng dạy

và giáo dục người lớn mà trước hết là sinh viên

Từ các điều kiện nói trên, đã nảy sinh ngành Tâm lý học sư phạm đại học, như một nhánh của Tâm lý học sư phạm trong điều kiện đặc trưng của trường đại học Trường đại học làm thế nào để khai thác hết khả năng tiềm tàng ở sinh viên, làm tối ưu hoá các hoạt động của cá nhân và tập thể, để khi ra trường họ trở thành những chuyên gia biết làm việc Vai trò và vị trí của Tâm lý học sư phạm đại học trong hệ thống chung của Tâm lý học không chỉ xuất phát từ quan điểm sử dụng các tri thức tâm lý trong thực tiễn mà nó còn là một khâu củng cố những nhiệm vụ nhận thức của Tâm lý học như nghiên cứu và giải thích các hiện tượng tâm lý với vấn đề điều khiển và tự điều khiển hoạt động của cá

nhân và tập thể Về điều này, Viện sĩ B.Ph.Lomốp đã viết: “Tham gia tích cực vào giải

quyết các nhiệm vụ nảy sinh trong thực tiễn xã hội là những điều kiện cần thiết để phát triển tiếp theo của bản thân Tâm lý học như một khoa học Chỉ bằng cách liên hệ chặt chẽ với thực tiễn mới có khả năng mở ra triển vọng thực tế của khoa học tâm lý, hoàn thiện những phương pháp của nó và phát triển lý luận” Sự ra đời muộn mằn của Tâm lý học

sư phạm đại học cho phép nó thừa hưởng thành tựu phong phú của các ngành Tâm lý ra đời trước nó, đặc biệt là Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm

1.2 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp của Tâm lý học dạy học đại học

1.2.1 Đối tượng của Tâm lý học dạy học đại học:

- Những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục ở đại học

- Vai trò, vị trí của các biểu hiện, sự phát triển và quy luật vận hành của các hiện tượng tâm lý cá nhân và xã hội diễn ra trong hoạt động của sinh viên và hoạt động của giảng viên

- Các biện pháp tâm lý tác động đến sinh viên và giảng viên nhằm giải quyết những nhiệm vụ của giáo dục đại học đạt kết quả cao

1.2.2 Nhiệm vụ của Tâm lý học dạy học đại học:

Trang 8

- Phân tích về phương diện tâm lý các hoạt động của sinh viên, giảng viên, trên cơ sở đó vạch ra những cơ sở tâm lý cho việc nâng cao hiệu quả đào tạo đại học Điều khiển về mặt tâm lý học quá trình giảng dạy, hình thành nhận thức từ tri giác đến tư duy độc lập sáng tạo cho sinh viên, vạch ra các chuẩn phát triển trí tuệ và dự đoán sự phát triển đó trong quy trình đào tạo

- Nghiên cứu tâm lý tập thể sinh viên và ảnh hưởng của nó đến hoạt động học tập, hoạt động xã hội, hoạt động nghiên cứu khoa học của họ

- Vạch ra các quy luật hình thành nhân cách sinh viên và những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng của người chuyên gia tương lai

- Nghiên cứu nhân cách và hoạt động của người cán bộ giảng dạy; những cơ sở tâm lý của nghiệp vụ sư phạm và sự sáng tạo sư phạm của họ

- Phân tích mối quan hệ- giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên

- Phân tích quá trình thích ứng đối với việc học tập ở đại học của học sinh mới vào đại học và với điều kiện hoạt động nghề nghiệp của sinh viên mới ra trường

- Luận chứng về mặt tâm lý học cho quan điểm hệ thống đối với việc đào tạo chuyên gia của các trường đại học

(Dựa trên quan điểm của Diachencô và Kandưbivich “Tâm lý học đại học” Minscơ 1981

tr 16 Tiếng Nga)

1.3 Bản chất và quy luật của sự phát triển tâm lý người

1.3.1 Bản chất của sự phát triển tâm lý người

Để tìm hiểu được sự hình thành và phát triển của trẻ diễn ra theo cơ chế nào, trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm Trưởng thành và Phát triển là gì

Trưởng thành là sự hiện thực hoá các yếu tố của cơ thể, được mã hoá trong các gen, dưới tác động của các yếu tố ngoại cảnh Sự trưởng thành của cơ thể dường như được lập trình sẵn và ít phụ thuộc vào sự học của cá thể (sự trưởng thành của hệ thần kinh, của các giác quan, khả năng vận động của cơ thể của trẻ v.v…)

Phát triển là sự thay đổi có tính hệ thống của cá nhân do sự học mang lại Đó là sự hình thành cái mới của cá nhân, trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể (ví dụ, lúc đầu trẻ khóc

do bị đói và phải thỏa mãn nhu cầu cá nhân, sau này trẻ khóc thể hiện cảm xúc buồn, vui hay thái độ của mình với người khác – những biểu hiện này là sự hình thành những cấu

Trang 9

trúc tâm lý mới về mặt xã hội – tình cảm trong đời sống tinh thần của trẻ) Nói cách khác, phát triển là sự thay đổi các hành động bên ngoài dẫn đến sự thay đổi các cấu trúc bên trong, tạo ra cấu trúc mới trên cơ sở tiềm năng đã có của bản thân và những điều kiện của môi trường xã hội, tạo ra bản sắc riêng của mỗi cá nhân Mục đích của sự phát triển giúp cho việc đảm bảo sự thích ứng của cơ thể với môi trường đồng thời là quá trình lĩnh hội

và sáng tạo của con người

Sự phát triển tâm lý của con người do chính hoạt động và giao tiếp của họ trong cuộc sống hàng ngày tạo ra Ngoài việc tạo ra cái riêng của mỗi con người cũng có những

cơ chế hình thành phát triển tâm lý chung của nhiều người, và tâm lý chung này đều có nguồn gốc từ bên ngoài, từ nền văn hóa xã hội và quan hệ xã hội Cơ chế hình thành phát triển tâm lý trẻ được xem như cơ chế hình thành các cấu trúc tâm lý (hiểu theo J Piaget), hay là cơ chế hình thành các chức năng tâm lý cấp cao (hiểu theo L S Vygotsky) Tuy vậy, cơ chế hình thành các cấu trúc tâm lý có những đặc điểm sau:

- Sự phát triển tâm lý của trẻ là quá trình lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội, biến những kinh nghiệm đó thành kinh nghiệm của cá nhân Để con người tồn tại và phát triển phải cần đến hai loại kinh nghiệm Kinh nghiệm loài đã được mã hóa trong gen, kinh nghiệm xã hội do con người có được qua quá trình học tập, lĩnh hội thông qua hoạt động và giao tiếp Đặc điểm này đều được các thuyết đề cập đến (các kích thích ‘S’ trong thuyết hành vi; kích thích tâm trí trong học thuyết của J.Piaget; các quan hệ xã hội trong thuyết phân tâm; các công cụ kí hiệu trong thuyết lịch sử văn hóa của L S Vygotsky v.v…) Như vậy, tâm lý trẻ em có nguồn gốc từ bên ngoài và được chuyển vào bên trong trẻ

- Quá trình lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội – lịch sử của trẻ em được thực hiện thông qua sự tương tác giữa trẻ với thế giới bên ngoài, mà trước hết là tương tác xã hội Trẻ tương tác với thế giới đồ vật để hình thành những kinh nghiệm về thuộc tính vật lý của sự vật và phương pháp sáng tạo ra sự vật đó Tuy vậy, ngay cả khi tương tác với đồ vật cũng có sự hiện diện của người lớn (trẻ học cách sử dụng đồ vật - các công

cụ kí hiệu mà con người sáng tạo ra và được mã hóa trong đồ vật) Vì vậy, ở góc độ này hay góc độ khác, tương tác là sự tất yếu trong sự phát triển tâm lý của trẻ

Quá trình hình thành và phát triển các cấu trúc tâm lí trẻ em thực chất là quá trình

Trang 10

chuyển những kinh nghiệm xã hội - lịch sử từ bên ngoài vào bên trong của trẻ theo cơ chế nhập tâm Có hai cách lý giải cơ chế chuyển vào trong là các nhà tâm lý học nhận thức và

các nhà tâm lý học hoạt động J Piaget cho rằng quá trình chuyển hóa này là quá trình cơ thể thích nghi Chủ thể thực hiện quá trình đồng hóa và điều ứng các kích thích bên ngoài

để làm tăng trưởng các cấu trúc đã có (đồng hóa) hoặc hình thành cấu trúc mới (điều ứng) nhằm giúp cho cơ thể cân bằng, thích ứng với môi trường Các nhà tâm lý học hoạt động (L S Vygotsky, A.N Leochev, P.Ia Galperin v.v…) cho rằng cơ chế chuyển vào trong

có ba điểm cơ bản: (a) cơ chế chuyển bắt nguồn từ vật thật qua các bước: Hành động vật thật  hành động với lời nói to  hành động với lời nói thầm không thành tiếng  hành động với lời nói thầm bên trong Trong đó, hành động với vật thật, hành động thực tiễn, là nguồn gốc của mọi sự phát triển tâm lí; (b) trong quá trình chuyển hóa các hành động từ bên ngoài vào bên trong theo các bước, thường xuyên diễn ra hai hành động: hành động với đối tượng (hành động của chủ thể theo lôgic của đối tượng) và hành động chủ ý của chủ thể đến đối tượng và đến hành động với đối tượng Hai hành động này ở mức độ sau

sẽ kết hợp với nhau tạo thành một cấu trúc tâm lý gồm nghĩa khách quan của đối tượng và

ý nghĩa chủ quan của chủ thể về đối tượng đó; (c) quá trình chuyển hành động từ bên ngoài vào bên trong của cá nhân được định hướng theo nhiều cách, cách định hướng khái quát có hiệu quả hơn thể hiện qua việc định hướng về phương pháp học, phương pháp làm việc v.v…

1.3.2 Các quy luật của sự phát triển tâm lý người

Sự hình thành và phát triển tâm lý người chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, mỗi yếu tố đều có giá trị, tác động ở mặt này hay mặt khác đồng thời các yếu tố đều thống nhất với nhau để tác động một cách phù hợp đến sự hình

thành và phát triển nhân cách con người

a Sự phát triển tâm lý phụ thuộc vào yếu tố môi trường (tự nhiên, xã hội)

Mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển bao giờ cũng cần có một môi trường hiện thực với nhiều lực tác động trực tiếp và gián tiếp, chi phối và quy định sự phát triển tâm

lý cá nhân Cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đều tác động đến sự phát triển tâm lý của trẻ nhưng môi trường văn hóa xã hội là chủ yếu (ngay cả môi trường tự nhiên cũng mang tính văn hóa – xã hội)

Trang 11

Môi trường sống của xã hội loài người là nguồn gốc làm nảy sinh tâm lý người Sự phát triển là quá trình trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm loài người trong nền văn hoá - xã hội lịch sử Các nhà tâm lí học macxit khẳng định rằng, sự phát triển tâm lí không diễn ra theo quy luật di truyền sinh học mà diễn ra theo quy luật di truyền xã hội Nghĩa là, trong quá trình hoạt động và giao lưu, cá nhân tiếp thu kinh nghiệm xã hội lịch sử, và biến nó thành kinh nghiệm của bản thân, nhờ đó mà đời sống tâm lí của cá nhân ấy được phát triển Như vậy nền văn hoá xã hội lịch sử là nguồn gốc và nội dung của sự phát triển tâm lí

Trình độ phát triển xã hội khác nhau góp phần tạo nên sự khác nhau trong sự phát triển tâm lý Nếu đứa trẻ được sống trong một nền văn hoá lành mạnh thì sự phát triển tâm lí, nhân cách sẽ diễn ra thuận lợi và ngược lại Tuy nhiên, để phát triển tâm lí đứa trẻ phải hoạt động, giao lưu để tiếp thu, lĩnh hội kinh nghiệm của nền văn hoá xã hội lịch sử

Trong môi trường xã hội, giáo dục giữ vai trò trọng yếu, chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý Giáo dục là sự tác động tới con người của toàn bộ xã hội và của thực tiễn xung quanh Đó là quá trình mà thế hệ trước truyền lại kinh nghiệm xã hội - lịch sử cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống và lao động để đảm bảo sự phát triển hơn nữa của xã hội và cá nhân

Bàn về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển tâm lí trẻ em, các nhà tâm lí học,

giáo dục học macxít khẳng định rằng, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, định hướng sự phát

triển tâm lí trẻ em Song để giáo dục mang lại hiệu quả, theo L S Vygotsky, giáo dục

phải hướng vào vùng phát triển gần nhất của trẻ, giáo dục phải đi trước sự phát triển, kéo

theo sự phát triển, chứ không chạy theo sự phát triển Chất lượng giáo dục tạo ra chất

lượng của sự phát triển tâm lý Các mức độ giáo dục khác nhau tạo nên sự hình thành phát

triển nhân cách khác nhau

Đối với trẻ thơ, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (từ 0 - 6 tuổi), giáo dục giữ vai trò

vô cùng quan trọng trong sự phát triển các chức năng tâm lí, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi Trẻ em không một mình đối diện với thế giới xung quanh nó Những mối quan hệ của nó với thế giới xung quanh bao giờ cũng thông qua người lớn Người lớn là trung tâm của mọi tình huống mà đứa trẻ ở trong đó Các nhà tâm lí học macxít khẳng định rằng, người lớn - nhà giáo dục là cầu nối giữa trẻ em và thế giới xung quanh Chỉ có thông qua người

Trang 12

lớn và nhờ có người lớn trẻ mới lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội - lịch sử chứa đựng trong đồ dùng, đồ chơi, trong giao tiếp ứng xử Mối quan hệ giữa trẻ em với người lớn - nhà giáo dục ngày càng sâu sắc và trở nên tinh tế hơn, đa dạng hơn trong tiến trình phát triển tâm lí trẻ em

Yếu tố môi trường cũng đã từng được coi như là yếu tố duy nhất, quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ và chỉ cần nghiên cứu môi trường con người sinh sống có thể biết được nhân cách con người đó Đây là một cách hiểu siêu hình về môi trường, cho rằng môi trường là bất biến, quyết định trước tâm lý của con người, con người thụ động trước môi trường Quan niệm này coi trẻ em như “tấm bảng sạch” hay “tờ giấy trắng” và người lớn muốn viết gì lên đó thì viết Sự phát triển tâm lí của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào tác động bên ngoài Quan niệm như vậy sẽ không giải thích được vì sao trong môi trường như nhau lại có những nhân cách rất khác nhau

Để xem xét yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người như thế nào, chúng ta cùng đề cập đến các nội dung sau:

a.1 Tác động của môi trường tự nhiên đến quá trình phát triển tâm lý người

Môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ những gì không phải là con người và do con người tạo ra cũng như cộng đồng xã hội người nhưng nó có liên quan đến con người như một chủ thể và tác động đến cuộc sống, đến tâm - sinh lý của con người như đất đai, sông núi, nắng mưa, hạn hán lũ lụt, bão từ, hiệu ứng nhà kính v.v… Môi trường tự nhiên tác động đến con người ở các mặt sau:

- Môi trường tự nhiên là điều kiện khách quan, tác động tới việc tổ chức sản xuất và

tổ chức đời sống cộng đồng, tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi cộng đồng (bên cạnh dòng sông Hồng tạo nên văn hóa nông nghiệp)

- Môi trường tự nhiên trực tiếp tác động đến các hành động nhận thức và sinh hoạt của các cá nhân sống trong nó Người sống ở vùng biển, đồng bằng hay miền núi

có những đặc điểm tâm lý khác biệt nhau v.v…

a.2 Tác động của môi trường xã hội đến quá trình phát triển tâm lý người

Môi trường xã hội là một hệ thống các quan hệ hiện hữu giữa con người với con người và giữa con người với thế giới đồ vật do con người chế tạo ra Môi trường xã hội bao hàm hai yếu tố: (a) các quan hệ xã hội hiện thực, hiện hữu, công khai (ví dụ, cách ứng

Trang 13

xử của vợ chồng); (b) yếu tố văn hóa ngầm ẩn (quan niệm về vợ chồng) Từ khi sinh ra đến khi từ giã cõi đời, mỗi cá nhân luôn luôn tồn tại và phát triển trong một môi trường văn hóa nhất định Như vậy, môi trường văn hóa – xã hội tác động trực tiếp đến quan hệ

cá nhân tham gia vào và các “khuôn mẫu văn hóa” tác động đến quan hệ đó và tác động trực tiếp đến đời sống tâm lý cá nhân (tương tác văn hóa)

Môi trường xã hội là một tổng thể rộng lớn có tác động trực tiếp đến sự hình thành

và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Tác động của môi trường xã hội có thể được xem xét ở các khía cạnh sau đây:

Gia đình và sự phát triển tâm lý của trẻ: Đây là môi trường đầu tiên có tác động

trực tiếp, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ Những đặc điểm của môi trường gia đình tác động đến trẻ như: (a) truyền thống văn hóa của gia đình, đây được xem là yếu tố cốt lõi, quan trọng đối với sự tồn tại của mỗi gia đình; (b) cách ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau (phong cách giao tiếp trong gia đình); (c) quan điểm và lối sống của mỗi thành viên trong gia đình; (d) số lượng và thế hệ của các thành viên trong gia đình; (e) tình yêu thương, tình cảm của gia đình v.v… Đứa trẻ sẽ bị tác động tâm lý ngay từ khi người mẹ mang thai, được quyết định bởi trạng thái, tâm lý của người mẹ do cách tác động từ gia đình Ví dụ, gia đình có kiểu quan hệ nồng ấm - chấp nhận và yêu cầu cao đối với con thường phát triển ở các con xúc cảm và tình cảm tích cực đối với cha, mẹ và người thân; phát triển ở chúng khả năng trí tuệ, sự ham hiểu biết và năng lực học tập, thái độ và hành vi vị tha, nhu cầu cao và khả năng thiết lập các quan hệ rộng rãi với người khác; phát triển khả năng tự đánh giá bản thân mình; dễ dàng chấp nhận và tuân theo những quy tắc hành vi của cha mẹ và cô giáo đặt ra v.v…

Nhóm bạn trong quá trình phát triển tâm lí cá nhân Giao tiếp với bạn bè, với

người xung quanh vẫn là tác nhân quan trọng trong quá trình xã hội hoá trẻ em Bạn ngang hàng được hiểu là những người tại cùng thời điểm nhất định có sự tương đồng cơ bản về cấu trúc nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử Như vậy, trẻ khác tuổi vẫn có thể được coi là bạn ngang hàng khi có sự điều chỉnh nhận thức và hành vi cho phù hợp với bạn cùng chơi Gia đình tạo cho trẻ sự an toàn và các điều kiện để học hỏi, khám phá và tìm tòi thì bạn bè ngang hàng giúp phát triển ở trẻ em các mô hình kĩ năng xã hội cơ bản, phát triển các ứng xử của trẻ em với bạn và người xung quanh Bạn bè ảnh hưởng đến sự

Trang 14

phát triển tâm lý cá nhân ở các khía cạnh sau: (a) bạn bè là những mô hình xã hội để trẻ

em thực hiện hành vi của mình nghĩa là trẻ có thể bắt chước các hành vi, khuôn mẫu của bạn bè, kể cả hành vi tốt hay không tốt; (b) bạn bè là những tác nhân củng cố hành vi xã hội được lặp lại ở trẻ em nghĩa là những tác động của bạn bè (hành vi yêu thương, hành vi bạo lực v.v…) sẽ được cá nhân tiếp nhận, được củng cố và thể hiện ở những đối tượng khác (cũng thể hiện hành vi yêu thương với người khác hay hành vi bạo lực với người khác); (c) bạn là chuẩn mực để so sánh hành vi xã hội của trẻ Học sinh có thể kém hơn thầy giáo nhưng khó có thể chấp nhận kém bạn, “thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly” Đây có thể là động lực (tích cực hay tiêu cực) đối với sự phát triển tâm lý trẻ; (d) bạn là tấm gương phản chiếu và điều chỉnh hành vi của trẻ em Trong quá trình tương tác với bạn, các hành vi của trẻ được bạn tiếp nhận và phản ứng lại theo sự cảm nhận của bạn, nhờ quan sát các phản ứng đáp lại của bạn, trẻ em nhận ra hiệu quả tác động của mình, từ đó điều chỉnh hành vi theo hướng tăng cường hoặc làm mất nó

Trong giao tiếp nhóm bạn, yếu tố văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng Đây là yếu

tố khó xác định nhưng nó lại là yếu tố điều chỉnh trực tiếp đến hành vi của mỗi cá nhân trong nhóm Vì vậy, để có sự tác động tích cực từ nhóm bạn đến sự phát triển tâm lý cá nhân, nhà giáo dục cần quan tâm đến việc xây dựng được các giá trị văn hóa tích cực trong mỗi nhóm người học

Vai trò của nhà trường đối với sự phát triển tâm lí cá nhân Nhà trường giữ vai trò

vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tâm lý cá nhân vì nó tác động đến giai đoạn phát triển quan trọng nhất của đời sống tâm lý cá nhân (20 năm đầu của cá nhân), giai đoạn hình thành những nét nhân cách đầu tiên và quyết định sự phát triển tương lai của cá nhân Vai trò và chức năng của nhà trường đối với quá trình phát triển cá nhân được thể hiện ở các điểm sau: (a) nhà trường là một thiết chế xã hội, có chức năng đặc thù là xã hội hóa cá nhân vì vậy có nhiệm vụ xác định mục tiêu phát triển của cá nhân trong cả cuộc đời cũng như trong từng giai đoạn; (b) nhà trường có khả năng tổ chức các hoạt động của

cá nhân để thực hiện có kết quả mục tiêu phát triển đó, thông qua nội dung, phương thức giáo dục của nhà trường; (c) nhà trường có quyền pháp lý và các điều kiện thực tế để tổ chức các lực lượng xã hội trở thành lực lượng giáo dục và được giáo dục

Sự tác động từ phía nhà trường được thể hiện cụ thể ở các nội dung: (a) dạy học

Trang 15

bao giờ cũng đi trước sự phát triển của trẻ, kéo theo và định hướng cho sự phát triển của trẻ (dạy học tác động vào vùng phát triển gần của L S Vygotsky); (b) dạy học dựa trên

cơ chế và quy luật hình thành phát triển trẻ em

Để làm được điều này có hiệu quả, nhà trường cần phải tiến hành các nội dung: (a) xây dựng nội dung và phương pháp dạy học khoa học; (b) xây dựng một môi trường văn hóa trong trường học (văn hóa giao tiếp, ứng xử, đoàn kết, yêu thương, cùng phấn đấu v.v…); (c) không ngừng nâng cao phẩm chất nhân cách của người giáo viên

Ảnh hưởng của truyền hình, máy tính và các phương tiện truyền thông khác đến sự phát triển cá nhân Đây là một lực lượng tác động vô cùng quan trọng đối với sự hình

thành và phát triển tâm lý cá nhân, nó tác động hàng ngày, hàng giờ đến nhận thức, tình cảm và hành vi của con người Điều quan trọng của sự tác động này là sự đa dạng của các nguồn thông tin mà nhà giáo dục không kiểm soát được (những thông tin tích cực và tiêu cực, thông tin thuận chiều và trái chiều, thông tin đúng và thông tin sai lệch v.v…)

Sự tác động của các loại phương tiện thông tin đã thực sự trở thành một lực lượng xã hội độc lập, can thiệp mạnh mẽ và sâu sắc tới quá trình xã hội hoá cá nhân và sự phát triển của xã hội Chúng đã và đang làm thay đổi căn bản cuộc sống của cá nhân, gia

đình và xã hội

Sự tác động của nguồn thông tin này đến sự phát triển tâm lý của mỗi cá nhân thể hiện ở các nội dung sau: (a) cá nhân có xu hướng càng ngày càng dành nhiều thời gian sử dụng cho xem ti vi, máy tính, các phương tiện truyền thanh, truyền hình; (b) mang đến nguồn tư liệu vô tận để cá nhân có thể khai thác thông tin hữu ích; (c) cung cấp cho trẻ các khuôn mẫu xã hội đa dạng; (d) là một công cụ giáo dục đắc lực; (e) ảnh hưởng tiêu cực của truyền hình, máy tính và các phương tiện truyền thông hiện đại khác - xu hướng bạo lực và sự suy giảm tính nhạy cảm đối với hành vi bạo lực ở trẻ em

Tóm lại, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, định hướng sự phát triển tâm lí trẻ em Giáo dục có thể tác động đến mọi yếu tố bên trong cũng như bên ngoài của các điều kiện đối với sự phát triển tâm lí trẻ em Tuy nhiên, giáo dục không phải là vạn năng Sự phát triển tâm lí trẻ em còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện sinh học, môi trường, và khả năng hoạt động của trẻ

b Sự phát triển tâm lý phụ thuộc vào yếu tố di truyền và sự trưởng thành

Trang 16

Yếu tố di truyền đã từng được coi là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển tâm lý con người (thuyết tiền định) Theo từng giai đoạn trưởng thành, các đặc điểm tâm

lý được mã hóa vào trong gen và cứ như vậy bộc lộ và phát triển, môi trường chỉ được coi như yếu tố có tính chất điều chỉnh Điển hình cho cách hiểu này là nhà tâm lý học người

Mỹ E Toocđai cho rằng tự nhiên ban cho mỗi con người một vốn nhất định, giáo dục cần phải bộc lộ vốn đó là vốn gì và sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất Ở phương Đông từng có quan niệm: Cha mẹ sinh con trời sinh tính, hay người quân tử vốn sẽ là người quân tử còn kẻ tiểu nhân mãi mãi là tiểu nhân (Khổng Tử) v.v… Cách hiểu này đã tạo ra

sự phân hóa xã hội, tạo ra sự bất bỉnh đẳng, phân chia giai cấp trong xã hội

Để xem xét yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người như thế nào, chúng ta cùng đề cập đến các nội dung sau:

b.1 Bẩm sinh, di truyền là gì?

Di truyền được hiểu là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những đặc tính sinh học Sự di truyền này được thực hiện theo cơ chế mã hóa và giải mã các gen Yếu tố

di truyền được thể hiện ở: (a) kiểu di truyền là tập hợp các đặc tính được di truyền, được

kế thừa từ một cá thể ở thế hệ trước, là khả năng tiềm tàng của cá thể như giới hạn về chiều cao, màu mắt, màu da v.v ; (b) kiểu ngoại hình là tập hợp các đặc tính di truyền được mỗi người thực sự thể hiện ra trong suốt cuộc đời Kiểu ngoại hình là sự kết hợp giữa kiểu di truyền với những trải nghiệm của chính cá nhân trong cuộc sống, làm biến đổi kiểu di truyền Do đó kiểu ngoại hình thường không trùng khớp với kiểu di truyền (hai đứa trẻ có kiểu di truyền giống nhau về chiều cao và cân nặng, nhưng một trẻ được luyện tập thể thao nhiều hơn sẽ có chiều cao cao hơn trẻ không được luyện tập Ngược lại, hai trẻ có nhiều điểm bề ngoài giống nhau (kiểu ngoại hình giống nhau), nhưng thực ra chúng có hai kiểu di truyền khác nhau Quá trình di truyền có thể bị biến đổi (biến dạng), do sự tham gia của quá nhiều hoặc quá ít nhiễm sắc thể (NST) và thường dẫn đến gen bị hỏng Gen hỏng

có thể gây ra các bệnh bẩm sinh ở thế hệ sau như Hội chứng Down (bất thường NST thứ 21), gây chậm phát triển trí tuệ và kém khả năng miễn dịch Hội chứng Turner (chỉ có một NST giới tính X) Người phụ nữ mắc chứng Turner sẽ bị lùn, chậm trí tuệ v.v Hiện nay, một số bệnh trong các bệnh do lỗi gen có thể chẩn đoán sớm và có thể khắc phục được

Bẩm sinh là những đặc tính của cá thể có ngay từ khi mới sinh và tồn tại tương đối

Trang 17

ổn định trong suốt cuộc đời của cá thể đó Cần phân biệt yếu tố bẩm sinh (sinh ra đã có và

sẽ có do yếu tố di truyền) với các thay đổi của cơ thể do yếu tố ngoại cảnh như trẻ bị nhiễm phóng xạ, thiếu iôt, các chấn thương trong và sau khi sinh v.v… Những biến đổi đó cũng ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của cá nhân, nhưng chúng không phải là bẩm sinh

b.2 Bẩm sinh, di truyền đối với sự phát triển tâm lý cá nhân

Yếu tố di truyền đóng vai trò chính yếu trong sự phát triển của cơ thể người nhưng không quy định trực tiếp nội dung tâm lý cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển tâm lý cá nhân Yếu tố di truyền được khúc xạ và phát động thông qua hoạt động và giao tiếp của cá nhân Điều này được thể hiện qua các điểm sau:

- Yếu tố bẩm sinh, di truyền không quy định sự phát triển tâm lý mà chỉ đặt ra trước chủ thể các khả năng khác nhau và việc phát triển các khả năng này tùy thuộc vào chủ thể

và hoạt động của chủ thể đó

- Khi sinh ra trẻ được kế thừa các yếu tố sinh lý thần kinh có tính bẩm sinh ban đầu tạo

ra sự khác biệt ban đầu của cá nhân về sự phát triển Trên cơ sở này, khi trẻ được tạo điều kiện thuận lợi thì trẻ có thể phát triển tốt, còn ngược lại có thể bị thui chột hay phát triển theo hướng khác Như vậy, yếu tố sinh lý thần kinh không chỉ là tiềm năng phát triển mà còn là sản phẩm của chính hoạt động của trẻ trong các môi trường sống khác nhau

Yếu tố bẩm sinh di truyền tạo ra tiềm năng cho sự phát triển, góp phần quy định chiều hướng, tốc độ, hiệu quả và mức độ hoạt động của cá nhân được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Bẩm sinh di truyền ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ phát triển, biểu hiện đến các lĩnh vực liên quan đến cơ chế hoạt động thần kinh, hệ nội tiết, các chức năng sinh lý như khí chất, cảm xúc v.v…

- Bẩm sinh di truyền ảnh hưởng đến sự tương đồng và khác biệt về cá nhân trong quá trình phát triển (về chỉ số IQ, anh em sinh đôi cùng trứng được nuôi dưỡng ở môi trường khác nhau vẫn cho tính tương đồng cao)

- Các yếu tố di truyền (cấu trúc thần kinh, hệ nội tiết, cấu trúc cơ thể v.v…) sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế cho quá trình phát triển Có những trẻ có yếu tố di truyền

Trang 18

tích cực sẽ phát triển các năng khiếu trong các lĩnh vực khác nhau (thể thao, nghệ thuật, âm nhạc v.v ) trong khi đó những yếu tố di truyền hạn chế (chậm thần kinh, suy nhược cơ thể v.v ) gây khó khăn cho sự phát triển tâm lý cá nhân

- Yếu tố di truyền không tác động trực tiếp và riêng rẽ tới sự phát triển của cá nhân mà bao giờ cũng tác động gián tiếp thông qua hoạt động của cá nhân, trong sự tương tác

và kết hợp với môi trường

Tóm lại, điều kiện di truyền là tiền đề vật chất của sự phát triển tâm lý người Điều

kiện sinh học này là cơ sở vật chất, cơ sở di truyền mà trẻ nhận được từ cha mẹ mình Đó

là cấu tạo giải phẫu sinh lí và những đặc điểm của cơ thể như màu da, màu mắt, hình vóc v.v… Đặc biệt là đặc điểm hệ thần kinh và những đặc điểm đặc trưng của loài người như mầm mống của tư duy, ngôn ngữ Các nhà tâm lí học macxit khẳng định, điều kiện sinh học là cơ sở vật chất của sự phát triển tâm lí người, nó quy định chiều hướng, nhịp độ, tốc

độ phát triển tâm lí trẻ em

Yếu tố di truyền góp phần tạo ra sự thuận lợi hoặc khó khăn hơn cho quá trình phát triển tâm lý Những đứa trẻ có tư chất tốt sẽ có khả năng phát triển thuận lợi hơn những đứa trẻ khác (về một lĩnh vực nào đó) Song để phát triển được những yếu tố bẩm sinh di truyền này, đứa trẻ phải có môi trường giáo dục thuận lợi

Sự hình thành cấu trúc tâm lý mới là kết quả của chức năng phản ánh hiện thực của chủ thể Sự phản ánh này phụ thuộc vào hệ thần kinh, vào sự trưởng thành của cơ thể và mức độ hoạt động của cơ thể Mức độ phát triển tâm lí phải phù hợp với sự trưởng thành

của cơ thể Nếu sự phù hợp này bị phá vỡ sẽ dẫn đến bất bình thường trong quá trình phát

triển của cá nhân (chậm hoặc phát triển sớm về tâm lí so với sự phát triển của cơ thể)

c Sự phát triển tâm lý phụ thuộc vào tính tích cực hoạt động của chủ thể

Tâm lý người chỉ hình thành và phát triển thông qua hoạt động tích cực của chủ

thể Các nhà tâm lí học macxit khẳng định rằng, tâm lí con người được hình thành và phát

triển thông qua hoạt động và giao lưu Các đối tượng, phương tiện và động cơ hoạt động cũng như những quan hệ xã hội chứa đựng trong nó, những sản phẩm vật chất hay tinh thần đều là những vật ''mang tâm lí người'', nên qua hoạt động “tâm lý” này thấm vào đứa trẻ hình thành nên bộ mặt tâm lí của nó

Tâm lí của trẻ em phát triển đến mức nào phụ thuộc khá lớn vào tính tích cực hoạt

Trang 19

động của trẻ, vào sự giáo dục của người lớn Hoạt động theo xu hướng nào tạo ra xu

hướng ấy trong sự phát triển tâm lý và mức độ sâu rộng của hoạt động tạo ra mức độ sâu

rộng của sự phát triển tâm lý

Sự hình thành và phát triển tâm lý của con người là kết quả của sự tương tác giữa hoạt động của cá nhân với hai yếu tố là di truyền và môi trường sống của cá nhân Hoạt động được xem như là sự tác động qua lại giữa chủ thể - khách thể và sự tác động qua lại này để lại dấu ấn ở cả hai phía Hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng với đời sống cá nhân, là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý cá nhân được thể hiện qua các nội dung sau:

- Hoạt động là đơn vị của đời sống cá nhân, là phương thức tồn tại và phát triển của cá nhân và xã hội Giống như tế bào là đơn vị tạo nên cơ thể sống của cá thể, thì hoạt động là đơn vị tạo nên toàn bộ đời sống tâm lý của cá nhân Sự phát triển tâm lý của

cá nhân được đặc trưng bởi sự biến đổi liên tục và chuyển hóa lẫn nhau của các hoạt động để đáp ứng những chức năng nhất định của nó Trong các dòng hoạt động đó thì dòng hoạt động chủ đạo giữ vai trò quyết định nhất

- Hoạt động là khâu trung gian giữa chủ thể với đối tượng, có chức năng là phương tiện

để chủ thể tác động lên đối tượng, đồng thời là sự phản ánh tâm lý và hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng Bằng hoạt động, con người tác động vào thế giới sẽ làm diễn ra sự phản ánh tâm lý, hình thành ở chủ thể biểu tượng ban đầu về thuộc tính của khách thể và biểu tượng này hướng chủ thể tiếp tục đi sâu vào thế giới đối tượng, làm cho bản chất của đối tượng được bộc lộ rõ và khi đó chủ thể phán ánh, tiếp thu những đặc tính của đối tượng biến thành tâm lý của chính mình (chủ thể hóa) Tuy nhiên, khi con người đạt đến một trình độ tâm lý nhất định thì con người chuyển hóa năng lực của mình (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ v.v ) vào đối tượng làm bộc lộ bản chất của đối tượng và biến đối tượng thành vật khác, sản phẩm mới (khách thể hóa) Như vậy, hoạt động là phương tiện để cá nhân và đối tượng tác động với nhau Trong đó, một mặt cá nhân cải tạo và sáng tạo ra thế giới, mặt khác, cải tạo và điều chỉnh tâm lý của chính bản thân mình

- Hoạt động bao giờ cũng diễn ra trong sự tương tác với người khác Hoạt động bao giờ cũng được đặt trong các mối quan hệ giao tiếp xã hội với người khác, có thể là giao

Trang 20

tiếp trực tiếp hay giao tiếp gián tiếp và luôn chịu sự chế ước của các quan hệ đó

Mối quan hệ của ba yếu tố trong quá trình phát triển tâm lý người

Ba yếu tố di truyền, môi trường và hoạt động của chủ thể luôn có sự tác động biện chứng lẫn nhau Mỗi yếu tố giữ một vị trí quan trọng khác nhau trong sự phát triển tâm lý

cá nhân song lại thống nhất với nhau để tạo nên sự toàn diện tâm lý cá nhân Xét theo

“chiều dọc” của sự phát triển tâm lý của trẻ, yếu tố di truyền được xem là yếu tố nền tảng đầu tiên cho sự phát triển, nếu yếu tố nền tảng này tốt sẽ có thể thúc đẩy cho sự phát triển nhanh và đạt kết quả cao hơn, ngược lại sẽ làm hạn chế, kiềm chế sự phát triển tâm lý của trẻ Yếu tố môi trường được xem như là điều kiện cho sự phát triển Điều kiện môi trường thuận lợi sẽ giúp cho sự phát triển tâm lý cá nhân tốt hơn và ngược lại, môi trường không thuận lợi sẽ kiềm chế, hạn chế phát triển Môi trường như một mảnh đất để gieo hạt giống, mảnh đất tốt thì hạt giống nảy mầm và phát triển nhanh hơn, còn ngược lại sẽ làm cho hạt giống chậm nảy mầm, cây bị còi cọc hơn khi phát triển Yếu tố hoạt động của chủ thể được xem là yếu tố quyết định cho sự phát triển, chủ thể tích cực hoạt động theo xu hướng nào sẽ tạo ra đời sống tâm lý theo xu hướng đó, mang tính điển hình hơn Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ của ba yếu tố này cần chú đến các nội dung: (a) sự tương tác của ba yếu tố này trong mỗi giai đoạn có những khác nhau; (b) không được nhấn mạnh một yếu tố nào đó mà bỏ qua yếu tố khác, cần phải tiến hành giáo dục, phát triển tổng hợp cả ba yếu tố trên

d Quy luật về tính tiệm tiến, theo trình tự và nhảy vọt theo các giai đoạn

Sự phát triển tâm lý diễn ra một cách tiệm tiến nghĩa là dần dần tích lũy các kinh nghiệm và khi đạt đến một lượng nhất định sẽ dẫn đến sự nhảy vọt, biến đổi về chất sang một giai đoạn cao hơn

Trong nghiên cứu của J Piaget, quy luật này được thể hiện trong sự đồng hóa và điều ứng (tiếp nhận thông tin vào cấu trúc đã có – thích nghi các thông tin, tạo sự cân bằng) qua đó dẫn đến biến đổi cấu trúc đã có tạo ra cái mới (nhảy vọt) dẫn đến sự thăng bằng Sự phát triển các cấu trúc tâm lí theo cách tăng dần về số lượng (tăng trưởng) và đột biến (phát triển, biến đổi về chất) Các nghiên cứu của S Freud và E Erikson cho thấy sự phát triển các cấu trúc nhân cách của trẻ em diễn ra bằng cách tăng dần các mối quan hệ với người lớn, dẫn đến cải tổ các cấu trúc nhân cách đã có, tạo ra cấu trúc mới, để thiết

Trang 21

lập sự cân bằng trong đời sống nội tâm của mình Như vậy, trong quá trình phát triển các cấu trúc tâm lí thường xuyên diễn ra và đan xen giữa hai quá trình: tiệm tiến và nhảy vọt Hai quá trình này có quan hệ nhân quả với nhau

Sự phát triển tâm lý diễn ra theo trình tự Sự hình thành, phát triển và trưởng thành của cơ thể từ lúc bắt đầu là hợp tử cho đến khi về già cũng trải qua tuần tự các giai đoạn: thai nhi, tuổi thơ, dậy thì, trưởng thành, ổn định, suy giảm, già yếu và chết Thời gian của mỗi giai đoạn ở từng cá thể có thể dài ngắn khác nhau, cường độ và tốc độ phát triển các giai đoạn ở mỗi cá thể có thể khác nhau, nhưng mọi cá thể phát triển bình thường đều phải trải qua các giai đoạn đó theo một trật tự hằng định, không đốt cháy, không nhảy cóc,

bỏ qua giai đoạn trước để có giai đoạn sau Vì vậy, trong quá trình tổ chức, điều khiển sự phát triển tâm lý của trẻ, nhà giáo dục cần phải chú ý đến đặc tính của từng giai đoạn thì mới có thể giáo dục hiệu quả

e Quy luật về tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý

Sự phát triển tâm lý của cá nhân diễn ra một cách không đồng đều trong tiến trình phát triển cả về thể chất lẫn tâm lý ở các giai đoạn lứa tuổi Sự không đồng đều được thể hiện ở các nội dung sau:

Sự không đồng đều ở các giai đoạn lứa tuổi Mỗi giai đoạn lứa tuổi có những tốc

độ phát triển khác nhau Tuổi càng nhỏ thì sự phát triển càng nhanh, thậm chí tính theo từng tuần, từng tháng (đối với trẻ dưới 3 tuổi) và càng về sau thì tốc độ phát triển càng chậm Giai đoạn 12 đến 15 tuổi được coi là giai đoạn bứt phá của sự phát triển thể chất, giai đoạn 15 đến 18 tuổi thì sự phát triển trở nên êm ả hơn

Trong mỗi giai đoạn phát triển, mỗi cá nhân có những điểm phát triển tối ưu để hình thành và phát triển một số chức năng tâm lí đặc trưng của lứa tuổi đó Chẳng hạn, từ

2 - 3 tuổi là thời kì nhạy cảm để trẻ phát triển ngôn ngữ ban đầu nên trong giai đoạn này trẻ hỏi suốt ngày, nói suốt ngày Thời kì 5 - 6 tuổi là thời điểm tốt nhất để hoàn thiện vốn ngôn ngữ cơ bản của trẻ, trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này số lượng từ tăng lên rất nhanh và đạt tới 3500 – 4000 từ

Tính không đồng đều còn thể hiện giữa các cá nhân trong cùng một độ tuổi Ở cùng một độ tuổi sự phát triển tâm lý giữa các cá nhân cũng khác nhau về tốc độ, mức độ, khuynh hướng, tính cách, năng lực, hứng thú v.v… Chính sự khác nhau này mà các nhà

Trang 22

tâm lí học macxít khẳng định rằng, mỗi trẻ em là một chủ thể riêng biệt, không đứa trẻ nào giống đứa trẻ nào Chẳng hạn, khả năng giao lưu bằng cảm xúc trực tiếp với người lớn xuất hiện ở đa số trẻ vào tháng thứ ba, nhưng có trẻ tháng thứ hai đã phát triển khá tốt Đến ba tuổi, nhiều trẻ đã nói được câu ghép, nhưng một số trẻ vẫn chỉ sử dụng được câu đơn Trong hoạt động tạo hình ở trẻ mẫu giáo, có những trẻ rất say mê trong hoạt động sáng tạo, trẻ tạo nên những bức tranh phong phú, ngược lại có những trẻ rất thờ ơ

Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các trẻ em do cả yếu tố bên trong (nhu cầu, hứng thú, tính tích cực hoạt động và giao tiếp v.v ) và yếu tố bên ngoài như môi trường sống và giáo dục (ví dụ những đứa trẻ được gia đình luôn quan tâm chăm sóc, giao tiếp tốt với trẻ, tạo ra môi trường để khuyến khích trẻ nói, thì trình độ ngôn ngữ

sẽ phát triển hơn hẳn so với trẻ không được gia đình quan tâm)

Hiểu được quy luật về tính không đồng đều sẽ giúp các nhà giáo dục phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong quá trình tổ chức hoạt động, định hướng, điều chỉnh,

điều khiển sự phát triển tâm lý của trẻ em

f Quy luật về tính mềm dẻo và có khả năng bù trừ

Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo nên nhà giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí trẻ em Tính mềm dẻo cũng tạo ra khả năng bù trừ Khi một chức năng tâm lí hoặc sinh lí nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâm lí khác được tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chức năng bị yếu hay bị hỏng Thí dụ: khuyết tật của thị giác được bù đắp bằng sự phát triển thính giác, trí nhớ kém được bù bằng tính

tổ chức cao và tính chính xác của hoạt động

Sự bù trừ này được chứng minh ở cả góc độ tâm lý lẫn sinh lý Nhà sinh lý học thần kinh và tâm lý học hành vi người Mỹ K Lashley và các cộng sự đã nghiên cứu và cho thấy nếu một vùng nào đó trên vỏ não đang hoạt động với một chức năng nhất định, khi vùng đó bị cắt bỏ thì các vùng khác của vỏ não sẽ thay thế vùng vỏ não bị cắt và hoạt động bị mất sẽ được khôi phục Theo nghiên cứu của của nhà phân tâm học A Adler, con người ngay từ nhỏ đã có xu hướng vươn tới sự tốt đẹp Con người ý thức được sự thiếu hụt, yếu kém và mặc cảm về điều đó nhưng điều này lại trở thành động lực thúc đẩy cá nhân khắc phục, bù trừ sự thiếu hụt đó Đứa trẻ muốn nhìn tất cả nếu trẻ bị mù, muốn nghe tất cả nếu tai của trẻ bị khiếm khuyết, muốn nói nếu trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ

Trang 23

v.v Xu hướng bù trừ trong tâm lí là quy luật tâm lí cơ bản trong quá trình phát triển

Thậm chí, sự bù trừ có thể quá mức (siêu bù trừ), dẫn đến chuyển hoá sự yếu kém trở thành sức mạnh

Như vậy, cả về phương diện hành vi bên ngoài, các cấu trúc tâm lí bên trong và cơ chế sinh lí thần kinh của vỏ não đều cho thấy sự linh hoạt và khả năng bù trừ của cá nhân trong quá trình phát triển Việc phát hiện quy luật về tính mềm dẻo và bù trừ trong quá trình phát triển tâm lí đã vạch ra cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh sự lệch lạc và khắc phục sự chậm trễ, hẫng hụt tâm lí của cá nhân, do các tác động từ phía chủ thể và từ phía môi trường, đem lại sự cân bằng và phát triển bình thường cho cá nhân

1.4 Phương pháp nghiên cứu của Tâm lý học dạy học đại học

a Phương pháp luận của Tâm lý học sư phạm đại học là học thuyết về các phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế giới, là những quan điểm duy vật biện chứng về bản chất tâm lý, về sự thống nhất ý thức, nhân cách và hoạt động Những quan điểm đó là:

- Tâm lý người là sản phẩm cao nhất của sự phát triển vật chất, là chức năng của não, là

sự phản ánh hiện thực khách quan

- Các quá trình tâm lý là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

- Có sự thống nhất giữa ý thức, nhân cách, hoạt động của con người Tâm lý được biểu hiện và hình thành trong hoạt động và giao tiếp Thông qua phương tiện hoạt động của chủ thể mà tâm lý của nó trở thành được nhận thức đối với người khác

b Các phương pháp cụ thể:

Phương pháp là sự tổng hợp các cách thức và các quan điểm nhận thức các quy luật của tự nhiên và xã hội Phương pháp nghiên cứu Tâm lý hoc sư phạm đại học là các cách thức nghiên cứu những đặc điểm tâm lý hoạt động của sinh viên, của giảng viên

và của tập thể sinh viên Bao gồm các nhóm phương pháp sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp lập kế hoạch nghiên cứu

Trang 24

- Phương pháp tổ chức nghiên cứu Có 3 phương pháp tổ chức nghiên cứu: so sánh (hay gọi là phương pháp nghiên cứu cắt ngang); nghiên cứu theo chiều dọc (bổ dọc); phương pháp phức hợp

Trong nghiên cứu tâm lý, cần xem xét kỹ các thành phần của việc tổ chức nghiên cứu:

số lượng các đối tượng nghiên cứu (n); số lượng các chỉ số nghiên cứu (m); số thời điểm nghiên cứu (t)

Các phương pháp nghiên cứu chuyên biệt được sử dụng trong Tâm lý học sư phạm bao gồm:

(i) Quan sát: Kelly (1965) định nghĩa quan sát như một sự kiểm tra có tính phương

pháp về hành vi của một cá thể hoặc của một nhóm cùng với việc suy luận được căn cứ trên những giải thích về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi Theo Flores,

độ tin cậy của quan sát có thể được đảm bảo nhờ: (a) Hành vi của cá nhân hoặc nhóm sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và thời gian, vì vậy việc quan sát cần phải được tiến hành trong những điều kiện và bối cảnh khác nhau để đảm bảo độ chắc chắn; (b) Các quan sát cần phải được lặp lại và có tính hệ thống Một hành vi

có thể xảy ra một lần và không tái diễn, do đó những quan sát lặp lại và có tính hệ thống sẽ làm bộ lộ những xu thế hành vi hoặc mẫu hành vi thường là nhất quán đối với một cá thể hoặc có tính đặc trưng cho một nhóm tuổi nào đó Vì vậy, khi quan sát cần phải ghi chép nghiêm túc và kịp thời (như là chụp ảnh vậy); (c) Sự chuẩn bị

kỹ càng cho việc quan sát cũng là một nhân tố đảm bảo độ tin cậy, trong đó cần lưu ý việc huấn luyện kỹ năng quan sát, cũng như khả năng tiên liệu về hành vi sẽ xảy ra và biết tách bóc chúng ra khỏi những hành vi khác

(ii) Thang phân loại: Các nhà tâm lý học cho rằng thang phân loại là một công cụ

hữu hiệu để phân biệt, xác định các nét tính cách hoặc đặc điểm của học sinh -

sinh viên Chẳng hạn Flores đưa ra một thang phân loại sau đây:

Hoàn toàn đáng tin

cậy trong mọi tình

huống

Hầu như luân đáng tin cậy trong mọi tình huống

nhiệm

Vô trách nhiệm Có thể luân luân không đáng tin cậy

Trang 25

Khi sử dụng thang phân loại cần tránh tính chủ quan, cũng như những định kiến về đối tượng được đánh giá phân loại, khiến việc đánh giá có thể bị sai lệch, hoặc đánh giá quá cao, hoặc đánh giá quá thấp Kết quả của việc phân loại đánh giá bằng thang phân loại sẽ

có ý nghĩa và hữu ích nếu chúng được giải thích kết hợp với những dữ kiện khác về đối tượng

(iii) Bảng hỏi: Là một công cụ chuyên biệt được sử dụng trong tâm lý học giáo dục

trước hết nhằm mục đích thu thập, phân loại, giải thích thông tin, niềm tin, dư luận Về mặt hình thức, bảng hỏi gồm một dãy câu hỏi được xây dựng tỉ mỉ, cẩn thận Các câu hỏi cần được xây dựng sao cho câu trả lời thu được có tính khách quan, không bị áp đặt và cũng tránh bị phân tán quá mức Yếu điểm lớn nhất của phương pháp này là không thể xác minh được năng lực và sự trung thực của người trả lời

(iv) Kỹ thuật đo lường xã hội được sử dụng để xác định quan hệ liên nhân cách giữa

các sinh viên, nó là một công cụ hỗ trợ cho phương pháp quan sát Flores đưa ra một số chỉ dẫn khi sử dụng phương pháp này như sau: (a) Một cách để có được thông tin đo lường xã hội là: yêu cầu mỗi sinh viên viết ra tên của 3 bạn đồng học (chẳng hạn) mà sinh viên đó muốn cùng học tập, cùng làm việc, cùng chơi Mức

độ ưa thích sẽ được đánh thứ tự lần lượt từ 1,2,3, (b) Dựa trên sự lựa chọn đó thành lập nên một lược đồ quan hệ xã hội (Sociogram), các mũi tên trong lược đồ

sẽ chỉ hướng của dự lựa chọn bạn chơi, bạn học, bạn làm, (c) Người giảng viên phụ trách lớp cần biết rằng một sinh viên có thể lựa chọn “bạn chơi” khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau, thậm chí ở lứa tuổi sinh viên, một sự bất đồng nhỏ cũng có thể dẫn đến sự thay đổi bạn chơi (d) Những dữ liệu thu được, giảng viên cần phải giữ tuyệt mật, vì sự tiết lộ có thể gây ra những bất lợi trong bầu không khí của tập thể sinh viên (e) Những phát hiện về mặt đo lường xã hội thường khó giải thích rõ ràng vì sao một sinh viên này được nhiều bạn ưa chọn, trong khi những sinh viên khác lại không? Tuy vậy, những khó khăn kiểu này không nên là vật cản trở trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên

Trang 26

(v) Nghiên cứu tình huống: Kelly coi phương pháp này là sự nghiên cứu đầy đủ, toàn

diện và sâu sắc về sinh viên và môi trường- hoàn cảnh của họ nhằm mục đích thu thập, tổ chức và trình bày các thông tin dưới hình thức một lịch sử tình huống (vi) Phương pháp nghiên cứu sự phát triển là phương pháp nghiên cứu sự phát triển về

tâm lý, thể chất của một sinh viên trong một thời gian đủ dài, bao gồm hàng loạt sự

đo lường các quan sát được kiểm chứng nhằm phát hiện xu thế phát triển của sinh viên về các mặt: thể chất, tinh thần, xúc cảm, các quan hệ xã hội

(vii) Trắc nghiệm tâm lý học là phương pháp sử dụng các trắc nghiệm tâm lý học và

giáo dục học được chuẩn bị rất công phu, đảm bảo tính khách quan và được tiêu chuẩn hoá Các điểm số phải được giải thích một cách thống nhất Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến động cơ học tập, kết quả học tập của sinh viên cũng như đánh giá hiệu quả giảng dạy của giáo viên

(viii) Thực nghiệm là phương pháp rất tinh tế, tỉ mỉ được sử dụng trong tâm lý học giáo

dục khi người giáo viên hoặc nhà nghiên cứu muốn kiểm định một số giả thuyết hay muốn thấy rõ ảnh hưởng của những tác động nhất định đến cá nhân hoặc một nhóm sinh viên Để tiến hành thực nghiệm cần phải hình thành nhóm (cá thể) thực nghiệm và nhóm (cá thể) đối chứng Các thiết kế thực nghiệm thường được sử dụng trong tâm lý giáo dục để đánh giá các tài liệu giáo khoa, các phương pháp giáo dục, giảng dạy, , nhờ đó có thể xác định biện pháp cải tiến chất lượng đào tạo

Trang 27

CHƯƠNG 2:

NGƯỜI HỌC Ở ĐẠI HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ SINH VIÊN

2.1 Về người học ở bậc đại học

chúng tôi muốn bắt đầu phần này bằng câu nói của aber anhstanh:

“It is not so very impotant for a person to learn facts For that he does not really need college He can learn them from books The value of an education in a liberal arts college is not the learning of many facts, but the training of the mind to think some thing that cannot be learned from texbooks ”

{ The Expanded Quoteable Einstein-page 67 }

Tạm dịch : “ Có lẽ không cần thiết phải học các sự kiện Và để làm điều đó thực ra không cần nhà trường ( cao đẳng-đại học) Người ta có thể tìm chúng ở các quyển sách Giá trị của nhà trường là huấn luyện cho họ khả năng tư duy mà họ không thể học từ sách ! ” { Những câu đáng trích dẫn (mở rộng) của A Anhstanh- trang 67 }

Chúng ta đã khẳng định rằng sứ mệnh trọng tâm và những giá trị của giáo dục đại học là đóng góp vào việc định hướng phát triển và đổi mới xã hội thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ:

- Đào tạo những sinh viên tốt nghiệp có đủ tiêu chuẩn về năng lực và trình độ và những công dân có trách nhiệm có thể kết hợp những kiến thức và kỹ năng cấp cao, trang bị cho họ những năng lực hành động ở tương lai và hiện hữu mà xã hội cần

- Cung cấp những cơ hội đa dạng cho việc hấp thụ học vấn đại học và cung cấp cho học viên một loạt sự lựa chọn tối ưu và linh hoạt trong lối vào và lối ra với sự liên thông trong hệ thống đào tạo, cho việc tham gia tích cực trong hoạt động nghề nghiệp của tương lai

- Trong phạm vi đa dạng văn hoá và sắc tộc, giáo dục đại học góp phần giúp hiểu, bảo tồn, nâng cao các giá trị tinh hoa của các nền văn hoá các dân tộc, đất nước, địa phương và quốc tế;

- Giúp bảo tồn và nâng cao các giá trị xã hội bằng cách đào tạo những người trẻ tuổi các chuẩn mực giá trị, hình thành quyền cơ bản của công dân và nhân sinh quan tiến bộ;

Trang 28

- Góp phần vào công cuộc phát triển và cải tiến giáo dục ở mọi bậc học thông qua việc đào tạo giáo viên

Hiểu được các đặc tính và nhu cầu của người học là nhân tố chính đưa đến thành công trong dạy học đại học Mức độ đạt được hiệu quả giảng dạy cũng phụ thuộc vào đặc điểm và bản chất của người học : Bản chất tự nhiên (ví dụ: về tuổi tác, giới tính), đặc điểm tâm lí (ví dụ: động lực thúc đẩy và sự hứng thú học tập), đặc điểm xã hội học (ví dụ: mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ xã hội), vốn hiểu biết về văn hoá - xã hội, sự hội nhập tôn giáo, chất lượng của việc chuẩn bị tại các trường trung học phổ thông, tình trạng hôn nhân và vốn hiểu biết về gia đình

Có thể có những nhu cầu lớn đòi hỏi giảng viên phải có ý thức tìm hiểu những đặc tính của sinh viên đại học Để làm được điều này giảng viên nên :

- Xem xét lại tình trạng của người học trong việc chuyển đổi từ trung học phổ thông lên đại học (Một sự chuyển đổi quan trọng!)

- Định nghĩa đặc tính của người học-sinh viên trong giáo dục đại học;

- Mô tả những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí xã hội của học viên đại học ( Thông qua kiến thức tâm lí học sư phạm đại học!);

- Phát triển công cụ để đánh giá, đo lường các đặc tính của người học với tư cách họ là người lớn (Các cách lấy thông tin phản hồi )

Rõ ràng, sau khi kết thúc bậc trung học, đây là thời gian theo đuổi việc học cao hơn ở bậc đại học với sự cần thiết về yêu cầu đầu vào và kinh phí, về khả năng tự học, tự nghiên cứu Việc chuyển từ giáo dục trung học lên giáo dục đại học bắt đầu với một giai đoạn chuyển đổi Giai đoạn chuyển đổi này được đặc trưng bởi nhiều sự tự do hơn, không phải bắt đầu đồng loạt buổi học từ 8 giờ sáng( nếu trường thực hiện theo hệ thống tín chỉ), không bị trừng phạt theo kiểu con trẻ ( theo kiểu phải úp mặt vào tường!) Những sinh viên tương lai mang theo mình nhiều kinh nghiệm giáo dục và kinh nghiệm xã hội phong phú và cũng đã là người lớn theo đúng nghĩa pháp lí và sinh lí Chúng ta hy vọng

sự can thiệp của chúng ta sẽ giúp họ thay đổi đáng kể về thái độ và nâng cao tính tích cực của họ

Trang 29

Những nét nhân cách của sinh viên

Như ở phần tâm lí học sư phạm đã nhấn mạnh, thế giới nội tâm của sinh viên là vô cùng phức tạp, phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn, là quá trình chuyển từ các yêu cầu bên ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ Những mâu thuẫn chính là:

- Thứ nhất, mâu thuẫn giữa mơ ước của người sinh viên với khả năng, điều kiện và kinh nghiệm để thực hiện mơ ước đó

- Thứ hai, mâu thuẫn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn ưa thích và yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập

- Thứ ba, mâu thuẫn giữa khối lượng thông tin vô cùng phong phú với khả năng, điều kiện để xử lý thông tin

Sự phát triển nhân cách của sinh viên được diễn ra theo các hướng cơ bản sau:

- Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp và các năng lực cần thiết được củng cố và phát triển

- Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được “nghề nghiệp hoá”

- Tình cảm, nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá tính và lập trường sống của sinh viên được bộc lộ rõ rệt

- Kỳ vọng đối với nghề nghiệp tương lai của sinh viên được phát triển

- Sự trưởng thành về mặt xã hội, tinh thần và đạo đức, những phẩm chất nghề nghiệp và

sự ổn định chung về mặt nhân cách của sinh viên được phát triển

- Khả năng tự giáo dục của sinh viên được nâng cao

- Tính độc lập và sự sẵn sàng đối với hoạt động nghề nghiệp tương lai được củng cố

Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc

đáo bởi sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia của một lĩnh vực nào đó phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệm vụ cao Hoạt động học tập của sinh viên cũng mang đầy đủ những đặc điểm bản chất của quá trình học tập nói chung:

- Đối tượng của hoạt động học tập là các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Hoạt động học tập là loại hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hướng vào việc tiếp thu chính những tri thức của bản thân hoạt động (các hành động học tập nhằm đạt hiệu quả cao)

Trang 30

- Mục đích của hoạt động này hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động

Những nét đặc trưng cho hoạt động học tập của sinh viên:

- Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động Khác với hoạt động lao động sản xuất là biến đổi đối tượng vật chất thành sản phẩm, hoạt động học tập làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học hình thành những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên gia trong tương lai

- Là hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo

- Phương tiện hoạt động là thư viện, sách vở, phòng thí nghiệm với các thiết bị bộ môn,

- Tâm lý diễn ra trong quá trình học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ

về trí tuệ, đặc biệt trong các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ luận văn,

- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao

+/ Vấn đề động cơ học tập của sinh viên:

Để nghiên cứu động cơ học tập của sinh viên, trước hết hãy tìm hiểu sơ bộ vấn đề động cơ nói chung Một trong những thuyết khá phổ biến về động cơ là thuyết thoả mãn của Abrham Maslow, ông đề xuất một thứ bậc các nhu cầu từ thấp đến cao bao gồm: (i) Nhu cầu sinh học hay nhu cầu cơ bản; (ii) Nhu cầu về sự an toàn; (iii) Nhu cầu về sự thừa nhận và quý mến; (iv) Nhu cầu được tôn trọng; (v) Nhu cầu tự thể hiện; và sau nữa là (vi) Mong muốn hiểu biết; (vii) Nhu cầu thẩm mỹ Nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với động

Nâng cao hiểu biết về lai lịch người học của chúng ta tại thời điểm nhập học của

họ sẽ giúp chúng ta lựa chọn kinh nghiệm giáo dục thích hợp cũng như là cung cấp các chỉ dẫn và tư vấn phù hợp với đối tượng dạy học Xin liệt kê vài điểm lưu ý :

- Mô tả trình độ học vấn và hiểu biết xã hội của người học đại học;

- Quyết định các yếu tố tác động đến khả năng học của người học;

Tại thời điểm chuyển đổi, có sự thay đổi về thể chất, tinh thần, tác động xã hội, sự cảm nhận, vận dụng trí óc (liên quan đến nhận thức, hiểu biết) và những thay đổi về

Trang 31

nguyện vọng Sinh viên bước vào một lớp mới với rất nhiều câu hỏi thắc mắc: Đây có phải là một khoá học phù hợp với mình không? học ở đại học khác học ở phổ thông như thế nào? Giáo viên có đủ trình độ và có công bằng không? Bao nhiêu công việc sẽ được yêu cầu? Sinh viên sẽ được đánh giá như thế nào? Chúng ta muốn giúp người học vượt qua được quá trình thay đổi một cách uyển chuyển, từng bước một và không gây tâm lý nặng nề Chúng ta muốn kết hợp hài hoà giữa thời điểm kết thúc bậc trung học và những tuần đầu ở bậc đại học Sự chuyển đổi này không mang tính đột biến, kịch tính và không gây thất vọng Để đạt được điều này, chúng ta cần có sự hiểu biết sâu sắc các đặc tính của người học tại hai thời điểm (thời điểm cuối bậc trung học và thời kỳ đầu ở bậc đại học)

Tuy nhiên, chúng ta thậm chí cũng có thể thử áp dụng sự hiểu biết về sự mô tả sơ lược chung của lớp học qua những đặc điểm này đối với những lớp có số học viên lớn , trong một thời gian ngắn hơn Tổ chức lớp học với sự mô tả sơ lược và với kiến thức tâm

lí học sư phạm, giảng viên đại học có thể đưa ra kế hoạch mang đầy ý nghĩa và bổ sung lời chỉ dẫn cho sinh viên

2.2 Một số khía cạnh tâm lý thanh niên - sinh viên

Trước hết, chúng ta tìm hiểu xem tuổi thanh niên là gì? Các nhà tâm lý học trên thế giới đều có chung một quan niệm cho rằng tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ

em đến người lớn và bao gồm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi Giai

đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ (cũng có tác giả chia làm ba, tuỳ quan niệm): thời kỳ

chuyển tiếp trước (early adolescence) bắt đầu từ 11, 12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi và

thời kỳ chuyển tiếp sau (lateadolescence) bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kết thúc và lúc thành người lớn thực sự (24, 25 tuổi) Như vậy, sinh viên đại học là những thanh niên ở vào thời

kỳ chuyển tiếp sau Chúng ta hãy tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về sinh lý, tâm lý và mặt xã hội của nhóm tuổi này

a Về mặt sinh lý, hình thể đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và phối hợp giữa

các chức năng Đầu thời kỳ này, con người đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành Não bộ đã đạt trọng lượng tối đa (trung bình 1400 gram) và số tế bào thần kinh đã phát triển đầu đủ tới trên một trăm tỷ nơrôn (những số liệu cũ cho rằng não người có khoảng 14-16 tỷ nơrôn thần kinh; nhưng trong hai thập kỷ qua, nhờ các

Trang 32

phương tiện kỹ thuật hiện đại hơn, các nhà sinh học đã tính đếm được rằng não bộ của con người trưởng thành có trên một trăm tỷ nơrôn thần kinh) Quan trọng hơn, chính ở lứa tuổi này, hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành Một tế bào thần kinh

có thể nhận tin từ 1200 nơ rôn trước và gửi đi 1200 sau, bảo đảm một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết và tinh tế giữa vô số kênh vào và vô số kênh ra làm cho trí tuệ của sinh viên vượt xa trí tuệ của học sinh Ước tính có tới 2/3 số kiến thức học trong đời người do được tích luỹ trong thời gian này (Theo Lê Quang Long, “Một số cơ sở sinh học của việc học tập ở đại học và chuyên ngiệp”) Đặc điểm quan trọng của thời kỳ này là “tuổi dậy thì” (mà Nguyễn Bính ví rất hay: “Lúa thì con gái mượt như nhung”), khi các chức năng sinh sản bắt đầu quá trình phát triển đầy đủ Giới tính đã phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗi giới, cả về biểu hiện ngoại hình lẫn biểu hiện nội tiết tố

b Về mặt tâm lý, trước hết ta đề cập đến sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi chuyển

tiếp Trong thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ rệt nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận lôgic, trong việc lĩnh hội tri thức, trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ ở lứa tuổi này đã phát triển khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết

và học tập Một trong những đặc trưng cơ bản của sự phát triển trí tuệ của thời kỳ chuyển tiếp là “tính nhạy bén cao độ”, khả năng giải thích và gán ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào những kinh nghiệm và tri thức đã có trước đây Những sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho lứa tuổi này biết cách lĩnh hội một cách tối ưu, mà đó chính là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập

Sự phát triển tình cảm ở thời kỳ chuyển tiếp được đặc trưng bởi “thời kỳ bão táp và

căng thẳng” hoặc bởi thời kỳ vô tư chẳng có gì phải bận tâm Đây cũng là một thời kỳ

đầy súc cảm đối với mỗi cá nhân, nó chất chứa những hạnh phúc và đam mê của mối tình chưa kịp chín hoặc mối tình đầu Vì nỗi nhiều tình huống mới nảy sinh đòi hỏi phải có những phán đoán và quyết định chín chắn - những tình huống này đầy rẫy trong thời kỳ chuyển tiếp - mà mỗi cá nhân ở thời kỳ này thường thiếu kinh nghiệm và hiểu biết xã hội, cho nên dễ phát sinh những tình cảm không thích hợp khi phải ứng xử với những tình huống đó Vì thế con người ta ở lứa tuổi này thường dễ bị lúng túng, do đó quá nhậy cảm

Trang 33

trước một sự phê bình, sự nhận xét nặng lời hoặc sự thiếu tôn trọng Khi lâm vào tình thế đó dễ xuất hiện những phản ứng như: Thiếu tự tin, miễn cưỡng thực hiện công việc, từ chối tham gia vào công việc chung, hay ở một cực khác, rơi vào tình trạng mơ mộng hão huyền khi được khen quá lố Trong một số trường hợp, có thể xuất hiện những hành vi quá hung hăng, hay ngược lại, hoàn toàn thờ ơ

Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi thanh niên - sinh viên là

sự phát triển tự ý thức Tự ý thức là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân có chức năng điều chỉnh nhận thức và thái độ đối với bản thân Đó là quá trình tự quan sát,

tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá về hành động và kết quả tác động của bản thân, về

tư tưởng, tình cảm, phong cách, đạo đức, hứng thú v.v là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu của xã hội

c Về mặt xã hội, trong thời kỳ chuyển tiếp, con người ngày càng hiểu biết về môi

trường xã hội rộng lớn hơn nhiều ngôi nhà nơi anh ta sống, hàng xóm láng giềng, ngôi trường nơi anh ta học Trong lứa tuổi này con người đang hình thành những hứng thú và thái độ mới, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển những kỹ năng mới, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xã hội ngày một mở rộng Cần lưu ý rằng sự thừa nhận của các bạn đồng tuế có ý nghĩa rất đáng kể, ảnh hưởng của những nhóm bạn bè này đôi khi dẫn đến nảy sinh vấn đề giữa cha mẹ, hay các thành viên khác của gia đình với con cái

Khi xét đến mặt xã hội của thời kỳ chuyển tiếp, chúng ta phải quan tâm đến kế hoạch đường đời và việc tự xác định nghề nghiệp của thanh niên- sinh viên Kế hoạch đường đời là một hiện tượng đồng thời của thể chế xã hội và pháp quyền, kế hoạch đường đời cũng chính là kế hoạch hoạt động và nó được khởi đầu bằng sự lựa chọn nghề nghiệp

Lựa chọn nghề nghiệp còn có tính đạo đức nữa, như Mác và Anghen đã từng dạy: “

chúng ta lựa chọn nghề nghiệp phải vì quyền lợi của nhân loại và phải vì sự hoàn thiện của riêng ta bản chất con người được hình thành sao cho vừa có thể đạt được sự hoàn thiện bản thân vừa làm việc để hoàn thiện những bạn bè của mình và vì lợi ích của họ”

(Suy nghĩ của thanh niên khi lựa chọn nghề, Mác-Anghen 1956, tr 4-5)

Trang 34

- Sinh viên có độ tuổi từ 17-23 là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội Nghiên cứu của Ananhev cho thấy rằng lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt là họ có vai trò xã hội của người lớn (quyền công dân, quyền xây dựng gia đình ) Người sinh viên có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình và độc lập trong phán đoán và hành vi Đây là thời kỳ có nhiều biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội Họ xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống

Một số kiểu nhân cách sinh viên:

Kiểu nhân cách sinh viên là sự phân loại nhân cách sinh viên dựa trên tổ hợp các xu hướng phát triển và định hình nhân cách của họ

Các nhà xã hội học Mỹ đề xuất bốn kiểu thái độ của sinh viên đối với học tập như sau: (i) Kiểu “W”: Họ học vì nghề nghiệp tương lai hẹp, không quan tâm đến các lĩnh vực

tri thức và hoạt động xã hội khác Họ chỉ thực hiện bài tập theo yêu cầu, chỉ cần đạt điểm trung bình; ngoài sách bắt buộc, họ chỉ đọc theo ý thích không liên quan đến sự phát triển nghề nghiệp

(ii) Kiểu “X”: Là những sinh viên thích những môn học mà họ coi là những tri thức về

cuộc sống nói chung trên cơ sở lựa chọn riêng của cá nhân Họ quan tâm đến thế giới tư tưởng và sách Ngoài giờ học bắt buộc, họ tự nguyện tham gia vào các chuyên đề tự chọn, những giờ học phụ đạo, các buổi hoà nhạc v.v , họ muốn hiểu biết những lĩnh vực mà họ quan tâm, họ chỉ tham gia vào các tổ chức khoa học, né tránh các tổ chức tập thể, các công việc xã hội không liên quan trực tiếp đến việc học tập Đối với họ, việc học đại học là để thoả mãn lòng khao khát tri thức và kinh nghiệm sống

(iii) Kiểu “Y”: Là những sinh viên “nhang nhác” với kiểu “X”, mặc dù cũng ham thích

sách vở và học tập nhưng vẫn tham gia các hình thức hoạt động và đời sống tập thể Họ cố gắng đạt điểm cao trong các kỳ thi, coi hoạt động tập thể, tuy không phải là cơ bản, nhưng có ảnh hưởng tích cực đến cá nhân họ

Ngày đăng: 26/03/2019, 20:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo, 2007, Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên. Nhà xuất bản Lý luận Chớnh trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận Chớnh trị
2. V.A. Cruchetxki, 1980, 1981, Những cơ sở của tâm lý học sư phạm, T1,T.2, Nhà xuất bản Giỏo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lý học sư phạm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giỏo dục
3. Bùi Văn Huệ, 2000, Giáo trình tâm lý học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
4. N.X. Lõytex, 1978, Năng lực trí tuệ và lứa tuổi . T.1, Nhà xuất bản Giỏo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực trí tuệ và lứa tuổi . T.1
Nhà XB: Nhà xuất bản Giỏo dục
5. Trần Hữu Luyến, 1995, Thực hành tổng hợp về tâm lý học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tổng hợp về tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Miler, Patricia.H, 2003, Các thuyết về tâm lý học phát triển, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuyết về tâm lý học phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
7. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên), 2003, Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
8. Trần Trọng Thuỷ, 2002, Bài tập thực hành tâm lý học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập thực hành tâm lý học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Tài liệu tham khảo tiếng Anh
4. Clarizio, Harvey F, 1934, Contemporary issues in educational psychology, 6th ed. - New York : McGraw-Hill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contemporary issues in educational psychology
1. Anita E.Woolfolk, 1995, Educational Psychology, the Ohio State University, A Simon & Schuster Company,Needham Heights. MA 02194 Khác
3. Brophy.J.E (1988), On motivating students.In D.Berliner & B.Rosenshine (Eds), Talks to teacher (pp.201 – 245). New York: Random House Khác
5. Deci,E, &Ryan,R.M.(1985).Intrinsic motivation.Newyork, Plenum Khác
6. Feldman, Robert S, 1999), Understanding psychology, 5th ed. - Boston : McGraw- Hill College Khác
7. Maslow.A.H & Roger.C, (1970), motivation and personality (2nd ed). New York: Harper and Row Khác
8. Stipck.D.J (1993), Motivation and Learn (2nd ed): Boston: Allyn and Bacon Khác
9. Vroom.V (1964), Work and motivation: New York: Wiley Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w