1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật công bằng môn luật so sánh

13 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 44,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, các phán quyết của các tòa thông luật trong nhiều trường hợp đã không thể giải quyết vụ việc một cách thỏa đáng và công bằng.. Sự cứng nhắc của thông luật Vào thế kỉ thứ XI

Trang 1

DANH SÁCH NHÓM 07

1 331110

23458 Lê Lý Diễm

- Tổng hợp nội dung

- Rà soát nội dung bài viết và slides thuyết trình

- Trả lời câu hỏi của Giảng viên và các nhóm

2 331210

22080 Nguyễn Thị Bé Ly - Thực hiện ppt cho bài thuyết trình

3 331210

25586

Phạm Thị Thu Sương

- Phân công nội dung bài tiểu luận

- Tổng hợp nội dung

- Trả lời câu hỏi của Giảng viên và các nhóm

4 331210

25480 Vũ Quốc Tín

- Soạn nội dung và thuyết trình: Đặc trưng Luật Công Bằng

5 331210

25120

Ngô Thị Thùy Trang

- Soạn nội dung và thuyết trình: Lịch sử hình thành và phát triển Luật Công bằng

6 331210

24803 Võ Thị Ái Trúc

- Soạn nội dung và thuyết trình: Đặc trưng Luật Công Bằng

7 331210

25502

Huỳnh Thị Ngọc Tuyền

- Soạn nội dung và thuyết trình: Lịch sử hình thành và phát triển Luật Công bằng

- Soạn thảo câu hỏi

Trang 2

MỤC LỤC

1 Lịch sử hình thành và phát triển Luật Công Bằng

1.1 B i c nh kinh t , chính tr , xã h i ố ả ế ị ộ

Vào thế kỷ XV, nền kinh tế Anh phát triển mạnh mẽ làm nảy sinh các quan hệ xã hội mới: quan hệ trao đổi hàng hóa mang tính chất hàng - tiền - hàng Quan hệ sản xuất mang tính chất tư bản chủ nghĩa dần dần hình thành trong lòng xã hội phong

kiến Anh

1.2 S kh ng kho ng c a Thông lu t ự ủ ả ủ ậ

Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế cùng với các quan hệ xã hội ngày một đa dạng phong phú đã làm nảy sinh nhiều tranh chấp mới trong xã hội, song chủ yếu vẫn là các tranh chấp mang tính chất thương mại Những tranh chấp này hoàn toàn mới lạ với thực tiễn xét xử của các tòa án hoàng gia Các thẩm phán cũng không tìm được

Trang 3

nguồn luật thích hợp để áp dụng giải quyết những tranh chấp mới này và vẫn phải áp dụng các qui định cũ của thông luật để xét xử

Bên cạnh đó, sự phụ thuộc chặt chẽ vào thủ tục hình thức, tính chất cứng nhắc của hệ thống trát, sự bảo thủ và cổ hủ của giới thẩm phán đã làm cho thông luật mất dần tính linh hoạt ban đầu, sự phát triển của hệ thống thông luật bị cản trở một cách nghiêm trọng Chính vì vậy, các phán quyết của các tòa thông luật trong nhiều trường hợp đã không thể giải quyết vụ việc một cách thỏa đáng và công bằng

Sự cứng nhắc của thông luật

Vào thế kỉ thứ XIII, khi mới ra đời Thông luật đã phát huy tác dụng, là một luật rất mềm dẻo vì thẩm phán tự sáng tạo ra các quy phạm pháp luật để giải quyết những vấn đề, vụ việc đưa đến tòa dựa trên các nguyên tắc chung đã được thỏa thuận giữa các thẩm phán

Đến cuối thế kỉ XIV, học thuyết tiền lệ pháp được tuân thủ và áp dụng trong các Tòa án Hoàng gia của Anh Theo đó, các Tòa án cấp dưới chịu sự ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lí do Tòa án cấp trên sáng tạo ra được ghi nhận trong các bản án trong quá trình xét xử các vụ việc trong quá khứ Nghĩa là án lệ phải được tôn trọng (nguyên tắc Stare decisis) Ban đầu nguyên tắc này không chính thức bắt buộc nhưng dần dần vào khoảng giữa thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 19 nguyên tắc này chính thức bắt buộc áp dụng1

Vì sự ràng buộc của học thuyết tiền lệ pháp làm cho Thông luật (Common Law) trở lên cứng nhắc, bởi vì đến một thời điểm thẩm phán không còn đủ tự do để phát triển các quy phạm pháp luật giải quyết những vấn đề đem đến tòa nữa Khi tình tiết

vụ việc khác đi thì các thẩm phán không thể áp dụng tiền lệ pháp cũ nữa nhưng họ cũng không có khả năng sáng tạo ra tiền lệ pháp mới vì bị bó buộc trong khuôn khổ của học thuyết tiền lệ pháp2

Hệ thống trát

1 Michael Bogdan (1994) Comparity Law Kluwer Law and Taxation Publisher CE Fritzes AB (Bản dịch bởi PGS.TS

Lê Hồng Hạnh và TH.S Dương Thị Hiền, trang 80

2 Wikipeida, Luật Công bình

Trang 4

Về mặt thủ tục, bản thân Thông luật được xây dựng trên thủ tục tố tụng khá phức tạp, đặc biệt trong mối quan hệ với hệ thống trát Trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do vua cấp để bên nguyên có thể bước qua cửa Tòa án Hoàng gia, tiếp cận với công lí nhằm giải quyết những oan khuất của mình

Mỗi loại khiếu kiện sẽ có một loại trát tương ứng, vì vậy, tùy thuộc vào bản chất của việc khiếu kiện mà bên nguyên cần giành được loại trát phù hợp mới hi vọng đơn khiếu kiện của mình được Tòa án Hoàng gia thụ lí và giải quyết3

Bước sang thế kỉ XV, thủ tục tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát, do đó, thủ tục tố tụng thường được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện Nếu đơn khiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bên nguyên sẽ mất quyền khởi kiện, hoặc nếu bên nguyên giành được trát nhưng trát đó không phù hợp với bản chất của vụ kiện, bên nguyên cũng bị tòa bác đơn4

Chính các hạn chế trên đã làm nảy sinh nhu cầu để tìm giải pháp để khắc phục những hạn chế của thông luật trong 2 trường hợp

− Người dân không thể tiếp cận công lý từ tòa thông luật vì không có trát phù hợp

− Người dân không đạt được kết quả trọn vẹn từ các giải pháp pháp lý mà tòa thông luật đã áp dụng

1.3 Nhà Vua v i v trí c p xét x cao nh t ớ ị ấ ử ấ

Do sự cứng nhắc của Thông luật, đặc biệt trong thủ tục xét xử, nhiều người khởi kiện không thỏa mãn với phán quyết của các Tòa án hoàng gia thường tiếp tục khiếu kiện lên vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúp đặc biệt mang tính chất phúc thẩm Họ coi nhà vua là người có quyền lực tối cao và là biểu tượng của Công lý, lẽ công bằng

Đơn thỉnh cầu trước khi đến tay nhà vua sẽ được chuyển đến cho vị Đại pháp quan (Lord Chancellor - người đứng đầu Văn phòng đại pháp hoàng gia, hay còn gọi

là Đại chưởng ấn hoặc Ngài Đổng lý Văn phòng) Đại pháp quan có quyền tiếp nhận

3 Giáo trình Luật so sánh, Đại học luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2012, trang 217

4 Giáo trình Luật so sánh, Đại học luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2012, trang 223

Trang 5

và trình lên đức vua đơn thỉnh cầu của các bên khi tòa án hoàng gia không thể đưa ra các phán quyết công bằng theo qui định của thông luật Cho tới đầu thế kỷ XVI, vị Đại pháp quan này thường là giám mục cơ đốc giáo Với chức năng là linh mục nghe xưng tội và cố vấn về mặt tinh thần của nhà vua, Đại pháp quan còn có nhiệm vụ giải thích, định hướng nhận thức cho nhà vua về các vụ việc5

1.4 Ả nh h ưở ng c a Lu t giáo h i và uy tín c a V Đ i pháp quan trong b máy ủ ậ ộ ủ ị ạ ộ

quy n l c c a Nhà Vua ề ự ủ

Vào thời kì này, giáo hội đóng một vai trò rất quan trọng trong xã hội và đời sống tinh thần của nhân dân Đại pháp quan thường là giám mục cơ đốc giáo nên luôn

có được niềm tin của các thần dân Do đó, nhà vua muốn thông qua vai trò của Đại pháp quan, lợi dụng đức tin của thần dân để giải quyết các tranh chấp, đồng thời để tạo sự ổn định trong xã hội vì giai đoạn này giai cấp tư sản bắt đầu hình thành và mâu thuẫn với giai cấp phong kiến

Do những thỉnh cầu gửi lên càng ngày càng nhiều, tranh chấp càng ngày càng đa dạng, phức tạp, chưa kể là có những đơn thỉnh cầu, những tranh chấp vặt vãnh, dần dần nhà vua trao toàn quyền cho vị Đại pháp quan giải quyết các vụ việc

Các vụ kiện được xét xử dựa theo cảm tính, quan niệm chủ quan về đạo đức, về

sự công bằng của nhà vua và Đại pháp quan Đại pháp quan có quyền nhân danh nhà vua độc lập giải quyết các đơn thỉnh cầu dựa trên quan niệm chủ quan của mình Đại pháp quan có toàn quyền quyết định các vấn đề như: thủ tục xét xử, nguồn luật áp dụng

Đại pháp quan là linh mục nên chịu ảnh hưởng của những luật lệ, qui tắc của giáo hội và một phần của luật La Mã Thủ tục tố tụng giải quyết các vụ việc là thủ tục thành văn lấy từ luật giáo hội

1.5. Sự hình thành Tòa đại pháp (Chancery court) vào thế kỷ XV.

Đại pháp quan là thư kí của Vua và là người chịu trách nhiệm quản lý bộ máy hành chính của nhà nước, là người phát hành trát, do đó có kiến thức sâu sắc về thông luật và các giải pháp của thông luật

5 Michael Bogdan (1994) Comparity Law Kluwer Law and Taxation Publisher CE Fritzes AB (Bản dịch bởi PGS.TS

Lê Hồng Hạnh và TH.S Dương Thị Hiền, trang 84

Trang 6

Trong quá trình sử dụng công lý để giải quyết các vụ việc, cùng với thời gian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm pháp luật đặc biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa “Equity” Trong vài thế kỷ đầu kể từ khi

ra đời, Equity đã phát triển độc lập, bên ngoài tòa án hoàng gia.6

Trong suốt thế kỷ XV, Đại pháp quan quyết định vụ việc theo những gì ông ta cho là thích hợp Các phán quyết này sau đó đã được các viên Đại pháp quan kế nhiệm phát triển thêm, tùy thuộc vào nhận thức cá nhân của mỗi viên Đại pháp quan

về sự công bằng và lẽ phải

Tuy nhiên, từ khoảng giữa của nửa đầu thế kỷ XVI, viên Đại pháp quan đầu tiên không phải là tín đồ cơ đốc giáo được bổ nhiệm và luật công bằng bắt đầu đi theo chiều hướng của luật công bằng7

Từ cuối thế kỷ XVI, các phán quyết của Đại pháp quan đã được xuất bản định

kỳ và ngay tức khắc, Đại pháp quan bị ràng buộc bởi tiền lệ pháp, giống như các thẩm phán của Tòa án hoàng gia Hoạt động của đại pháp quan ngày càng mang tính

tư pháp và văn phòng của Đại pháp quan đã trở thành Tòa đại pháp với thẩm phán duy nhất là bản thân viên Đại pháp quan

Từ khoảng giữa của nửa đầu thế kỷ XVIII, Đại pháp quan đã được trợ giúp trong hoạt động xét xử bởi viên trợ lí, chịu trách nhiệm lưu giữ hồ sơ và sổ sách của Tòa đại pháp Như vậy, trong thế kỷ XVIII, các quy phạm pháp luật được áp dụng ở tòa Đại pháp cũng đã bị cố định bởi các phán quyết của tòa đại pháp trong quá khứ và được định hình thành những quy phạm theo đúng nghĩa pháp luật, giống kiểu quy phạm của thông luật

Như vậy, từ đầu thế kỷ XVI, ở Anh tồn tại song song hai hệ thống pháp luật: Thông luật và Luật công bằng với hai hệ thống qui phạm riêng biệt: qui phạm thông luật chỉ được áp dụng ở tòa thông luật và qui phạm công bằng chỉ được áp dụng ở tòa công bằng Sự hình thành và phát triển của luật công bằng là nhằm sửa đổi và bổ

6 Giáo trình Luật so sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2012, trang 224

7 Giáo trình Luật so sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2012, trang 224

Trang 7

sung cho thông luật, để hoàn tất thông luật chứ không nhằm mục đích thay thế thông luật8

Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật công bằng là nó không đi ngược với các quy định đang tồn tại của thông luật Trái lại, nguyên tắc của luật công bằng

là “công bằng đi sau pháp luật” (equitas Sequitur legem) Từ năm 1616, người ta bắt đầu chấp nhận việc ưu tiên áp dụng luật công bằng trong trường hợp có xung đột với thông luật, nhưng không phải theo cách vô hiệu hóa quy định của thông luật có liên quan mằ bằng việc tòa công bằng đưa ra lệnh cấm, theo đó, bên khởi kiện ở tòa thông luật, dù có đầy đủ cơ sở pháp lý để thực hiện khởi kiện song lại bị cấm tiếp tục tranh tụng hay cấm tìm cách cưỡng chế phán quyết Nếu một người không thực hiện lệnh của tòa công bằng thì có thể bị phạt hoặc thậm chí bị bỏ tù vì đã tỏ ra coi thường tòa công bằng (hành vi coi thường này mang tính chất dân sự, khác với hành vi coi thường mang tính chất hình sự như gây rối quá trình xét xử hoặc lăng nhục tòa án)9

Về pháp lý, từ 1621, viện nguyên lão bắt đầu xem xét các phán quyết của tòa công bằng, đồng nghĩa với việc tòa công bằng đã có vị trí ngang với tòa thông luật10 Năm 1873, sự ra đời của đạo Luật về tòa án (Judicature Act) đã đánh dấu bước chuyển biến mới trong quan hệ giữa tòa thông luật và tòa công bằng Theo quy định của luật này thì chức năng của 2 tòa sẽ được Tòa án tối cao (Supreme Court of Judicature) đảm nhận, các nguyên tắc của thông luật và luật công bằng vẫn tồn tại độc lập, và tòa án áp dụng độc lập khi xét xử tùy theo từng trường hợp Nếu có sự khác nhau giữa hai hệ thống nguyên tắc này thì những nguyên tắc của luật công bằng

sẽ được ưu tiên áp dụng11

Tòa án tối cao vừa có thẩm quyền đối với vụ việc của thông luật vừa có thẩm quyền đối với vụ việc của luật công bằng Tuy nhiên những qui định của thông luật

8 Giáo trình Luật so sánh, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân, 2012, trang 223

9 Michael Bogdan (1994) Comparity Law Kluwer Law and Taxation Publisher CE Fritzes AB (Bản dịch bởi PGS.TS

Lê Hồng Hạnh và TH.S Dương Thị Hiền, trang 85

10 Bài giảng môn Luật so sánh, ThsPhan Hoài Nam, ĐH Luật Tp.HCM

11 Tìm hiểu về Common Law, ThS Nông Quốc Bình, tạp chí luật học số 4/1998, trang 54

Trang 8

và luật công bằng vẫn được áp dụng theo 2 trình tự thủ tục khác nhau (việc cải cách chỉ là hình thức chứ không triệt để do vẫn còn 2 thủ tục tố tụng) Cải cách tòa án đã bãi bỏ hình thức đơn kiện trát, thay vào đó tất cả các vụ việc dù được tiến hành theo thủ tục nào cũng bắt đầu bằng một loại trát chung là trát hầu tòa.Tuy vậy thực tế vẫn tồn tại vài loại trát và khả năng thắng kiện khi không có lọai trát tương ứng là rất thấp

Bên cạnh đó, tuy đã có qui định ưu tiên áp dụng luật công bằng, nhưng trong thực tế, luật công bằng vẫn chỉ là một bộ phận bổ sung cho thông luật Trước mỗi vụ việc, các luật sư ở Anh trước hết đều xem xét các qui định của thông luật, sau đó mới xét đến việc các qui định của luật công bằng có thể tác động như thế nào đối với những qui định của thông luật12

2 Đặc điểm của luật công bằng

Về cơ bản, giống như thông luật, luật công bằng được tạo ra bởi các thẩm phán chứ không phải bởi con đường lập pháp Tuy nhiên, ban đầu luật công bằng ra đời với mục đích bổ sung cho thông luật nên có một số đặc trưng sau :

2.1. Hệ thống các phương tiện pháp lý của luật công bằng

 Tính mềm dẻo

Không bị ràng buộc bởi án lệ, chỉ dựa trên sự công bằng  vì luật công bằng là quan điểm của cá nhân thẩm phán

 Tính mới mẻ, linh hoạt

Có thêm 3 công cụ mới là tuyên bố quyền của bên nguyên, buộc bên bị thực hiện một hành vi nào đó, cấm bên bị thực hiện 1 hành vi nào đó Nhờ những giải pháp pháp lý của tòa công bằng mà những qui định về

ủy thác (giao tài sản cho người khác quản lý) phát triển mạnh

2.2. Thủ tục tố tụng và hệ thống chứng cứ của tòa công bằng.

 Tổ chức nhân sự của tòa công bằng đơn giản hơn tòa thông luật

12 Bài giảng môn Luật so sánh, ThsPhan Hoài Nam, ĐH Luật Tp.HCM

Trang 9

Thẩm phán của tòa công bằng sẽ đưa ra quyết định thông qua quá trình xét hỏi bị đơn mà không có sự tham gia của bồi thẩm đoàn

 Thủ tục tố tụng của tòa công bằng đơn giản hơn tòa thông luật

Tòa đại pháp mở đầu quá trình tố tụng không phải bằng trát mà bằng đơn thỉnh cầu, không có mẫu in sẵn, Với đơn viết tay như thế, mọi oan

ức của người dân có thể nhờ công lí mà được giải quyết

 Về mặt chứng cứ luật công bằng ít coi trọng hơn so với thông luật Tại Tòa đại pháp, Đại pháp quan xét xử dựa vào nội dung vụ việc và quyền lợi của các bên tranh chấp Thẩm phán của thông luật chỉ đóng vai trò là trọng tài (các bên phải tự đưa ra chứng cứ không bên nào bắt buộc được bên kia trình ra), thì thẩm phán của tòa công bằng có thể can thiệp và bắt buộc các bên trình ra chứng cứ  hoạt động xét xử của tòa công bằng thể hiện tính chất cá nhân, chủ quan của các đại pháp quan

2.3. Luật công bằng đi sau thông luật

 Các thẩm phán của tòa công bằng tự nhìn nhận và đưa ra nguyên tắc

“luật công bằng đi sau thông luật”  luật công bằng ra đời chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp cho thông luật hoàn thiện hơn Chỉ khi thông luật không điều chỉnh được hay không điều chỉnh hết thì luật công bằng mới giải quyết (Ví dụ khi không có trát, khi phán quyết của thông luật không thỏa đáng do chỉ có chế tài phạt tiền) Luật công bằng đưa ra nguyên tắc này nhằm tránh gây ra xung đột với các tòa án hoàng gia luôn tìm cách bảo vệ sự độc quyền của mình trong xét xử

2.4. Người gõ cửa tòa công bằng phải có bàn tay sạch

 Các quy định của luật công bằng được thiết lập trên nguyên lý "lẽ phải

và tình yêu thương của Chúa trời" nên người đi khởi kiện phải tự đảm bảo mình chỉ hành động theo lẽ phải, công bằng

Tóm lại, các nguyên tắc của tòa công bằng cho thấy các thẩm phán thực hiện công việc vì công lý và không có kỳ vọng thay đổi các qui phạm của thông luật Nhờ vậy, luật công bằng đã vượt qua sự cản trở để tạo ra một hệ thống pháp luật mới song song

Trang 10

tồn tại với thông luật.Trong thời hiện đại, sự phân biệt giữa hai loại luật này đôi khi

bị mờ nhạt

3 Mối tương quan giữa Thông luật và Luật công bằng

3.1. Giai đoạn trước cải cách tòa án 1873 – 1875

Luật công bằng chỉ được xem là một bộ phận bổ sung cho thông luật

• Tòa công lý không làm thay đổi pháp luật do các tòa án thông luật vận dụng Các thẩm phán công lý luôn tỏ ra tôn trọng pháp luật đó: “Công lý tuân theo pháp luật” – một trong những định lý do tòa công lý đưa ra1 Vì thế, luật công bằng ra đời chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp cho thông luật hoàn thiện hơn Thẩm quyền xét xử dựa trên quyền lực Nhà vua có thể giảm tính cứng nhắc của thông luật, bổ sung cho nó và làm những điều đó thích hợp với những yêu cầu của đạo đức và lương tâm.2

• Các phán quyết của tòa công bằng không chỉ được áp dụng trong tòa công bằng mà còn được các thẩm phán của tòa thông luật tham khảo với tư cách

là những lẽ phải, lẽ công bằng để bổ sung cho “luật”

Như vậy, tính đến trước cuộc cải cách tòa án, nước anh đã có hai hệ thống tòa

án độc lập với nhau Trong đó mỗi tòa án áp dụng một thủ tục tố tụng riêng, quy phạm pháp luật riêng

3.2. Giai đoạn sau cải cách

Thông luật và luật công bằng được xem là hai bộ phận độc lập có vị trí ngang nhau trong pháp luật Anh; xóa bỏ sự tồn tại song song của hai nhánh tòa án, sáp nhập hai tòa làm một, chấm dứt tính hai mặt của thủ tục tố tụng Sau cải cách tòa án, nguyên đơn thay vì phải nộp hai đơn khác nhau tại hai tòa khác nhau thì sau cải cách chỉ cần nộp một đơn tại một tòa Tòa này vừa có thẩm

1 Réne David (2003), Tìm hiểu pháp luật quốc tế: Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại (Bản dịch bởi TS Nguyễn Sỹ Dũng, Th.S Nguyễn Đức Lam), trang 249.

2 Réne David (2003), Tìm hiểu pháp luật quốc tế: Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại (Bản dịch bởi TS Nguyễn Sỹ Dũng, Th.S Nguyễn Đức Lam), trang 249.

Ngày đăng: 25/03/2019, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w