Cẩm nang đã đề cập tới những thông tin liên quan đến HIV/AIDS, tình hình đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay, quyền của người sống chung với HIV theo quy định của luật quốc tế và Việt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Trọng Tuân
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV 8
1.1 Bối cảnh của vấn đề nhiễm HIV 8
1.1.1 Tình hình nhiễm HIV hiện nay 8
1.1.2 HIV; người sống chung với HIV 11
1.1.3 Thực trạng của người sống chung với HIV hiện nay 19
1.2 Sự phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV 21
1.2.1 Từ phía gia đình, người thân 31
1.2.2 Từ phía cộng đồng, xã hội 32
1.3 Phòng, chống phân biệt đối xử 33
1.3.1 Quyền của người sống chung với HIV 33
1.3.2 Phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV 49
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV Ở VIỆT NAM 61
2.1 Chính sách, pháp luật của Việt Nam về phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS 61
2.1.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền bình đẳng của con người và của người sống chung với HIV/AIDS 61
Trang 52.1.2 Khuôn khổ pháp luật về phòng, chống sự phân biệt đối xử với người
sống chung với HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay 69
2.2 Kết quả và những hạn chế việc thực hiện pháp luật về phòng,
chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV tại Việt Nam 72
2.2.1 Kết quả đã đạt được 72 2.2.2 Những hạn chế 77
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM ĐẢM BẢO CHO VIỆC
PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 82 3.1 Nâng cao nhận thức 82
3.1.1 Nâng cao nhận thức của người sống chung với HIV 83 3.1.2 Nâng cao nhận thức của các chủ thể có trách nhiệm trong xã hội 83 3.1.3 Nâng cao nhận thức của cộng đồng, xã hội 86
3.2 Hoàn thiện cơ chế đảm bảo việc phòng, chống phân biệt đối xử với
người sống chung với HIV ở Việt Nam hiện nay 87
3.2.1 Rà soát, kiểm tra, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về phòng, chống
phân biệt đối xử, đảm bảo quyền của người sống chung với HIV 92 3.2.2 Hoàn thiện xây dựng, tổ chức của các cơ quan quyền con người 93 3.2.3 Phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã
hội 94 3.2.4 Phát huy vai trò của truyền thông, internet kêu gọi sự ủng hộ của cả
cộng đồng và toàn xã hội 95
KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ICCPR: International Covenant on Civil and Political Rights (Công ước
quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị 1966)
AIDS: Acquired Immune Deficiency Syndrome (Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải)
HIV: Human immunodeficiency virus (Virus gây ra hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người)
CRC: Convetion on the Rights of the Child (Công ước quốc tế về
quyền trẻ em)
ICESCR: International Convenant on Economic, Social and Cultural
Rights (Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966)
CEDAW: Convetion on the Elimination of all Forms of Discrimination
against Woman (Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ 1979)
WHO: World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
UNAIDS: United National AIDS (Chương trình Phối hợp của Liên Hợp
quốc về HIV/AIDS)
ARV: Anti-RetroVirus drugs (Các thuốc kháng vi rút liên quan đến
điều trị kháng vi rút)
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng tình hình người nhiễm HIV/AIDS qua các năm 8Bảng 1.2 Biểu đồ tình hình nhiễm HIV qua các năm 9
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đang hướng tới sự ổn định, hòa bình, phát triển kinh tế gắn với an sinh xã hội Ngày nay, con người được sống trong môi trường dân chủ, hòa bình và bình đẳng Quyền con người và quyền công dân được đảm bảo bằng hệ thống các văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật ở mỗi quốc gia Con người sinh ra ai cũng có quyền bình đẳng Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những nhóm thiểu số đang phải giành giật sự sống hàng ngày, do những điều kiện khách quan, truyền thống lịch sử, hay do tác động của những nhóm xã hội khác mà họ bị hạn chế trong việc hưởng các quyền vốn có, trong đó có cộng đồng người sống chung với HIV/AIDS Đây
là nhóm xã hội dễ bị tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc họ phải sống chung với HIV/AIDS, nhưng có một điểm chung là không ai trong số họ mong muốn như vậy, họ khao khát được sống, được làm việc, được học tập, được đối xử bình đẳng như những người bình thường trong xã hội Thực tế cho thấy, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia trên thế giới, những người sống chung với HIV/AIDS luôn bị đối xử bất bình đẳng, bị kỳ thị, phân biệt, bị vi phạm nghiêm trọng quyền con người Thậm chí cả những người thân, con cái của họ cũng chịu không ít sự ghẻ lạnh
từ xã hội Họ không được lao động, học tập thậm chí không được sống như những người bình thường khác
Chúng ta đều biết rằng sự kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV là rào cản chính của công cuộc phòng chống HIV/AIDS Sự kỳ thị phân biệt đối
xử liên quan đến HIV/AIDS cũng chính là nhân tố làm ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy đủ quyền con người mà nhân loại tiến bộ luôn luôn hướng đến Các quyền con người cơ bản cho sự sinh tồn và phát triển của nhóm thiểu số
Trang 9Với những lý do trên, tôi đã chọn: “Phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn, với
mong muốn góp tiếng nói của mình nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về HIV/AIDS, cũng như hướng tới mục tiêu phòng, chống phân biệt, kỳ thị, đối
xử, khôi phục và đảm bảo đầy đủ quyền của nhóm người sống chung với HIV/AIDS tại Việt Nam hiện nay
Trang 10“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” của Trung
tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân thuộc Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội đã đề cập tới quyền của những người sống chung với HIV/AIDS theo luật quốc tế Công trình đã khái quát lịch sử phát triển của vấn
đề quyền của những người sống chung với HIV/AIDS, nêu lên những nội dung chủ yếu của các văn kiện hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người
“HIV/AIDS và quyền con người” của Viện nghiên cứu quyền con người
đã giới thiệu phương pháp tiếp cận mới đã được phân tích về mặt khoa học và được kiểm chứng thực tiễn, đó là phòng chống HIV/AIDS dựa trên quyền con người Tài liệu này đã làm rõ cơ sở pháp lý, chính trị, đặc điểm trong phòng chống HIV Đồng thời cũng nêu bật lên mối quan hệ giữa việc đảm bảo các quyền con người bao gồm các quyền dân sự chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và quyền của phụ nữ, trẻ em với phòng chống HIV/AIDS Nội dung của tài liệu còn đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường việc đảm bảo quyền con người của những người sống chung với HIV/AIDS
“ Học về quyền của bạn – Cẩm nang giảng dạy về Luật và HIV” của
Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển (PLD Việt Nam), cùng với sự tham gia của những chuyên gia và tình nguyện viên từ Babsea CLE đã biên soạn và phát hành mục đích giúp cho cộng đồng người có HIV có thể sử dụng như một công cụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Trang 114
của mình, trên cơ sở tiếp cận những nội dung cơ bản của Luật Phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ( HIV/AIDS), các văn bản hướng dẫn thi hành dưới góc độ quyền cơ bản của người sống chung với HIV Cẩm nang đã đề cập tới những thông tin liên quan đến HIV/AIDS, tình hình đại dịch HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay, quyền của người sống chung với HIV theo quy định của luật quốc tế và Việt Nam hiện hành, quyền của phụ nữ và trẻ em sống chung với HIV, sự kỳ thị phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS, những cơ chế xử lý vi phạm pháp luật
về quyền của người sống chung với HIV/AIDS Những tình huống thực tế, kết hợp với việc thuyết trình, chơi trò chơi, thực sự cẩm nang đã trở thành công cụ hữu ích không chỉ đối với những người sống chung với HIV/AIDS
mà còn giúp những chủ thể khác trong xã hội tiếp cận một cách đầy đủ và đúng đắn về HIV/AIDS và quyền con người
“Luật quốc tế về quyền của những người nhiễm HIV/AIDS” của Nguyễn
Đình Thơ đăng trên website của Bộ Tư pháp đề cập đến các hướng dẫn quốc
tế về quyền của người sống chung với HIV/AIDS đã liệt kê, phân tích những nhóm quyền dễ bị vi phạm của cộng đồng người sống chung với HIV
“Quyền lao động của người nhiễm HIV/AIDS và quyền của người sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Trí Dũng đã nêu ra
quan điểm không thống nhất giữa quyền lao động của người sống chung với HIV/AIDS và quyền của người sử dụng lao động ở Việt Nam PGS.TS Nguyễn Trí Dũng đã chỉ ra sự mâu thuẫn giữa hai nhóm chủ thể này không chỉ trong quy định của pháp luật mà còn không thống nhất ngay cả trong thực tiễn
Báo cáo tham luận: “ Đánh giá và phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức NGO và những người có HIV trong phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Thanh – Giám đốc Trung tâm Công tác lý
luận, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chỉ ra vai trò quan
Trang 125
trọng của các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ trong công tác phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam Sự cần thiết phối hợp với các tổ chức này trong hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của người sống chung với HIV/AIDS
Các công trình nghiên cứu trên về quyền của những người sống chung với HIV/AIDS đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên cần có cái nhìn toàn cảnh, trọn vẹn về nguyên nhân và thực trạng của việc phân biệt đối
xử với người sống chung với HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay, các quy định của pháp luật quốc tế và của Việt Nam về phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS, từ đó đưa ra những ý kiến, quan điểm, phương pháp phù hợp nhất thúc đẩy việc bảo vệ quyền, và thực hiện công tác phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV Luận văn góp phần bổ sung những nghiên cứu về vấn đề này nhằm thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV tại Việt Nam hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp bản thân, cộng đồng và xã hội hiểu rõ hơn về HIV, những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, pháp luật quốc tế về quyền của những người sống chung với HIV Đồng thời để cộng đồng, xã hội nhìn nhận nhóm người dễ bị tổn thương này dưới con mắt nhân đạo, tránh sự
kỳ thị, xa lánh, sự phân biệt đối xử, để cộng đồng này thực sự được tôn trọng, được sống trong môi trường hòa đồng, bình đẳng
Trên cơ sở lý luận, thực tiễn theo các quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam hiện hành có thể đề xuất, đóng góp ý kiến nhằm tăng cường công tác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng người sống chung với HIV tại Việt Nam
Trang 136
Nhiệm vụ nghiên cứu
Cơ sở lý luận về quyền con người, quyền của người sống chung với HIV theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành
Thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế về phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
ở nước ta hiện nay
Tổng hợp các số liệu có liên quan về việc thực thi Luật Phòng chống HIV tại Việt Nam và các vấn đề cần trợ giúp pháp lý cho người sống chung với HIV
Một số góp ý, đề xuất nhằm tăng cường công tác bảo vệ quyền, lợi ích
và phòng, chống phân biệt đối xử đối với nhóm người dễ bị tổn thương này
ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành
về việc phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV và thực trạng việc thực hiện các quy định này tại Việt Nam
Nghiên cứu về quyền của người sống chung với HIV nhìn từ góc độ quyền con người, cơ chế đảm bảo quyền của người sống chung với HIV theo pháp luật quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá tình hình thực tế việc phòng, chống phân biệt đối xử, đảm bảo quyền con người của người sống chung với HIV trong xã hội Việt Nam hiện nay Từ đó có thể đưa ra những đề xuất, góp ý giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan, thực hiện tốt công tác phòng, chống phân biệt đối xử và đảm bảo việc thực hiện quyền
Trang 147
của người sống chung với HIV ở mức cao nhất
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Đề tài là luận văn bảo vệ tốt nghiệp cao học, ngoài ra nó còn là tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên quan tâm đến vấn đề này Giúp cộng đồng, xã hội hiểu rõ hơn về HIV, cách phòng, chống phân biệt đối xử và các cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền của những người sống chung với HIV theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
Đồng thời cùng với những đề xuất, góp ý của người viết, hy vọng luận văn sẽ đóng góp tiếng nói kêu gọi các cơ quan nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng và toàn thể xã hội thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử và đảm bảo quyền của những người sống chung với HIV Để cộng đồng này được sống trong môi trường bình đẳng, hòa nhập như những người bình thường khác
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
Chương 2:Pháp luật và việc thực hiện pháp luật về phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp và đề xuất nhằm đảm bảo cho việc phòng, chống
phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam hiện nay
Trang 158
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG PHÂN BIỆT
ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV
1.1 Bối cảnh của vấn đề nhiễm HIV
1.1.1 Tình hình nhiễm HIV hiện nay
Kể từ năm 1981, khi AIDS lần đầu tiên được phát hiện tại Hoa Kỳ cho tới nay, dịch AIDS đã phát triển nhanh chóng và lan ra khắp các châu lục, xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Do những đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, phương thức lây truyền HIV/AIDS, sự hiểu biết không đầy đủ về virus
đã gây ra những khó khăn trong việc tạo ra vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu, nên dịch HIV/AIDS đã trở thành mối đe dọa thực sự đối với nhân loại chúng
ta Theo thời gian, số người nhiễm HIV/AIDS vẫn không ngừng gia tăng Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới WHO, tính đến tháng 7/1995, trên toàn thế giới có khoảng 20 triệu người nhiễm HIV bao gồm: 18,5 triệu người lớn và 1,5 triệu trẻ em Số bệnh nhân AIDS là 4,5 triệu người
Hiện nay, HIV/AIDS không còn là vấn đề xa lạ với nhân loại Nó đã trở thành một đại dịch nguy hiểm nhất trong lịch sử loài người Kể từ năm 1981, trên thế giới có khoảng 80 triệu người đã bị nhiễm virus HIV và khoảng 40 triệu người đã chết vì HIV/AIDS ( tính đến năm 2014)
Bảng 1.1 Bảng tình hình người nhiễm HIV/AIDS qua các năm
Nội dung ( triệu người) 2014 ( triệu người) 2013 ( triệu người) 2012 Người sống
chung với HIV
36,9 (34,2 – 41,4)
35,0 (33,2 – 37,2)
35,2 (32,2 – 38,8) Nhiễm mới HIV 2,0 ( 1,9 – 2,2) 2,1 ( 1,9 - 2,4) 2,3 ( 1,9 – 2,7)
Số người chết 1,2 ( 1,0 – 1,5) 1,5 ( 1,4 – 1,7) 1,6 ( 1,4 – 1,9)
(Nguồn:UNAIDS Global Report 2014)
Trang 169
Bảng 1.2 Biểu đồ tình hình nhiễm HIV qua các năm
( Nguồn: UNAIDS Global Report 2014)
Ở Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó cho đến nay, số người nhiễm HIV tăng nhanh Cụ thể là 1.136 ca (12/1993); 2.155 (12/1994); 2.975 (10/1995) trong đó có 233 bệnh nhân AIDS và 70 người chết vì AIDS, trong
đó nam nhiễm HIV chiếm 86,35% (2.569 ca), nữ chiếm 11,9% ( 354 ca) Dịch HIV/AIDS đang gia tăng một cách nhanh chóng ở Việt Nam, tính trung bình mỗi ngày có hơn 100 người nhiễm HIV/AIDS Phần lớn số trường hợp nhiễm mới HIV do lây truyền qua đường tình dục với nam – nữ; nam – nam Ở mức độ quốc gia, tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất ở những người tiêm chích ma túy (34%) Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải
Trang 1710
Phòng có tỷ lệ cao hơn nhiều so với mức 34% trên cả nước Hơn 1% số người trưởng thành ở Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng nhiễm HIV, dân số ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 10% so với cả nước nhưng số người nhiễm HIV ở thành phố này đã chiếm 20% số người nhiễm HIV trên cả nước
Đa phần người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi trẻ, trong đó số người nhiễm HIV ở độ tuổi 20 – 39 tuổi chiếm 78,15% tổng số người nhiễm HIV được báo cáo
( Số liệu: Ngân hàng thế giới tại Việt Nam)
Trong 6 tháng đầu năm 2016, cả nước phát hiện mới 3.684 ca nhiễm HIV, chuyển sang giai đoạn AIDS 2.366, tử vong 862 người Tính đến tháng 6/2016, cả nước có 227.225 người nhiễm HIV, 85.753 người giai đoạn AIDS, trong đó 89.210 người nhiễm HIV đã tử vong Trong số những người nhiễm HIV theo báo cáo từ các tỉnh, thành trên cả nước, chỉ có 80 – 85% trường hợp quản lý và theo dõi được Nam giới chiếm 69,8%, nữ giới chiếm 30,2%, lây nhiễm qua đường tình dục chiếm 56%, qua đường máu 34%, từ mẹ truyền sang con 2%, còn lại không rõ nguyên nhân lây nhiễm So sánh với cùng kỳ năm 2015, số người nhiễm HIV trong năm 2016 giảm 89 trường hợp Tuy nhiên số bệnh nhân AIDS tăng 822 trường hợp, số người tử vong do AIDS tăng 267 trường hợp
( Theo Báo cáo Công tác phòng, chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2016 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2016 của Bộ Y tế ngày 09/08/2016)
Qua những số liệu trên, thấy rằng tỷ lệ nhiễm mới HIV trên toàn thế giới đang giảm dần qua các năm, chứng tỏ các biện pháp can thiệp có hiệu quả Để thực hiện làm giảm sự ảnh hưởng của HIV trên toàn cầu, bên cạnh sự cố gắng của các hệ thống y tế thì cần sự hỗ trợ từ chính mỗi con người chúng ta Thực hiện đúng khuyến cáo của WHO, đồng thời tăng cường công tác phòng, chống phân biệt kỳ thị, đối xử với người sống chung với HIV, có lối sống
Trang 1811
lành mạnh, tăng cường sự hiểu biết về HIV/AIDS hãy chung tay góp sức mình nhằm đẩy lùi đại dịch HIV/AIDS, hướng tới mục tiêu 3 không: Không còn người nhiễm mới HIV; không còn người tử vong do AIDS; không còn kỳ
thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS
1.1.2 HIV; người sống chung với HIV
Theo Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006 HIV là chữ viết tắt của cụm từ
“Human immunodeficiency virus” có nghĩa là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh HIV lây truyền qua các đường chính như đường tình dục, qua đường máu hoặc truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ và cho con bú
AIDS là chữ viết tắt của cụm từ “Acquired Immune Deficiency Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, ung thư Đây là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh, dẫn đến
Trang 1912
người nhiễm HIV Ở nước ta hiện nay mới được sử dụng thuốc kháng HIV ức chế sự nhân lên nhanh chóng của vi rút này, kiềm chế không cho HIV ngay lập tức phá hủy toàn bộ hệ miễn dịch của cơ thể, và thuốc hỗ trợ giảm nhiễm trùng cơ hội tức là chỉ có thể kéo dài thời gian sống của người nhiễm mà chưa thể điều trị khỏi bệnh hoàn toàn
Những người nhiễm HIV khá đa dạng về hoàn cảnh lây nhiễm như họ có thể dùng bơm kim tiêm chung với người nhiễm HIV khác trước đó, những đứa con ra đời đã bị nhiễm HIV do bị truyền từ mẹ sang con, quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm HIV, làm việc trong môi trường có nguy cơ, rủi ro cao Ở nước ta hiện nay, nhóm có nguy cơ lây nhiễm cao là những người tiêm chích ma túy, những người làm nghề mại dâm, hay những người
có quan hệ tình dục đồng giới không an toàn
HIV/AIDS thực sự trở thành hiểm họa lớn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng giống nòi, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước, tương lai quốc gia
HIV lây truyền như thế nào ?
HIV có trong dịch sinh học cơ thể người: Mặc dù HIV có trong nhiều loại dịch cơ thể khác nhau của một người sống với HIV, nhưng chỉ có một số dịch cơ thể chứa một lượng vi rút đủ lớn để làm lây nhiễm HIV, đó là: máu, tinh dịch, dịch âm đạo, sữa mẹ Một người sẽ bị nhiễm HIV khi để các dịch
cơ thể có chứa HIV xâm nhập vào cơ thể, tuy nhiên, không phải khi nào phơi nhiễm với dịch cơ thể có chứa HIV cũng sẽ bị lây nhiễm HIV
HIV lây truyền từ người này sang người khác theo những cách sau: Sử dụng bơm kim tiêm hoặc các dụng cụ sắc nhọn khác; quan hệ tình dục xâm nhập không bảo vệ (qua âm đạo hoặc hậu môn hay đường miệng) với người nhiễm HIV; từ mẹ nhiễm HIV lây truyền sang con trong quá trình mang thai, sinh nở, và cho con bú; truyền máu hoặc các sản phẩm của máu có chứa HIV
Trang 2013
Những hiểu biết chưa đúng về HIV
Tắm rửa sau khi quan hệ tình dục sẽ phòng tránh được HIV; quan hệ tình dục với người còn trinh tiết, sau khi đã quan hệ tình dục với người khác thì sẽ không bị nhiễm HIV; có thể bị lây nhiễm HIV từ việc dùng chung nhà
vệ sinh; HIV và AIDS là như nhau; bắt tay có thể làm lây nhiễm HIV; dùng chung cốc chén có thể làm lây nhiễm HIV; phụ nữ có HIV hoặc AIDS thì không thể có con; nhìn bên ngoài có thể nhận biết được một người có nhiễm HIV hay không; muỗi làm lây nhiễm HIV; kết quả xét nghiệm HIV không đáng tin cậy
Làm thế nào để giảm nguy cơ lây nhiễm HIV ?
Một số biện pháp nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV như: Không dùng chung bơm, kim tiêm, sử dụng bơm, kim tiêm mới đã tiệt trùng cho mỗi lần tiêm chích Điều này rất quan trọng khi phải tiêm thuốc điều trị hoặc tiêm chích ma túy Nếu muốn sử dụng lại bơm kim tiêm đã dùng rồi thì phải rửa sạch, ngâm trong thuốc tẩy javen ít nhất ba mươi phút Dùng bao cao su nam
và bao cao su nữ đúng cách khi quan hệ tình dục, bao cao su đã hết hạn, chất lượng kém hoặc cất giữ ở nơi có nhiệt độ cao sẽ dễ bị thủng Máu và các sản phẩm của máu phải được cất giữ trong ba tháng và phải được sàng lọc một cách cẩn thận với các thiết bị chuyên dụng Cần thiết phải làm điều này vì có thể máu được lấy từ một người sống với HIV đang trong giai đoạn “cửa sổ” Đây là giai đoạn phơi nhiễm HIV và lúc này, việc xét nghiệm máu có thể chưa thực sự phát hiện được vi rút HIV Trong thời gian vi rút chưa được phát hiện, các cơ sở y tế có trách nhiệm sàng lọc máu trước khi truyền
Thường xuyên xét nghiệm HIV, định kỳ xét nghiệm sẽ giúp biết được tình trạng HIV của bản thân, đặc biệt khi có những hành vi nguy cơ, xét nghiệm HIV không ngăn chặn được HIV nhưng nếu biết được tình trạng nhiễm, chúng ta sẽ có những cách bảo vệ bản thân, bạn tình và những người
Trang 2114
xung quanh Những người sống với HIV cần uống thuốc ARV đều đặn và tuân thủ theo hướng dẫn của thầy thuốc để giảm lượng vi rút, đồng thời giảm nguy cơ lây truyền
Các dấu hiệu và triệu chứng của HIV
Sau khi HIV xâm nhập vào cơ thể, người bị nhiễm có thể không biểu hiện triệu chứng, nhìn vẫn khỏe mạnh và cảm thấy khỏe như mọi người khác Những người có HIV dương tính vẫn có thể sống bình thường mà không biết
về tình trạng nhiễm HIV của bản thân Vì thế, một người có thể không biết mình đã nhiễm HIV và truyền HIV cho người khác
Tuy nhiên, một số lại có những triệu chứng đầu tiên giống như cảm nặng Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bắt đầu suy giảm, người sống với HIV có thể có các dấu hiệu và triệu chứng như sau:
Giảm hơn 10% trọng lượng cơ thể;
Sốt kéo dài hơn một tháng;
Các bệnh ở hệ bạch huyết, hệ bạch huyết bao gồm các hạch bạch huyết (tuyến bạch huyết) và các mạch bạch huyết (như các dây nhỏ nối các hạch bạch huyết) Hệ thống này thông thường có chức năng giúp chống lại các nhiễm khuẩn;
Tiêu chảy kéo dài hơn một tháng; Các vết loét ở da; Mệt mỏi trong thời gian dài; Đổ mồ hôi về đêm; Ho khan kéo dài
(Bộ Y tế - Hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị HIV/AIDS ngày 19/08/2009)
Cho dù có hay không những triệu chứng khi nhiễm HIV, thì người mới nhiễm HIV trong một số tuần đầu sau khi nhiễm có khả năng lây truyền vi rút
ở mức độ cao Lúc này, lượng HIV trong máu ở mức độ cao, họ dễ dàng lây truyền HIV sang người khác, nếu không thực hiện những hành vi an toàn
Ở giai đoạn HIV tiến triển, người sống với HIV có thể mắc lao, viêm phổi, tiêu chảy hoặc các bệnh nhiễm trùng mãn tính, thường được gọi là “các
Trang 2215
bệnh nhiễm trùng cơ hội” vì nhân cơ hội hệ miễn dịch của cơ thể bị suy yếu, các loại bệnh này xuất hiện Các bệnh nhiễm trùng cơ hội này làm cho người sống chung với HIV ốm yếu thậm chí có thể tử vong
Các loại thuốc điều trị ARV
ARV là viết tắt tiếng Anh của từ “Anti-RetroVirus drugs” các thuốc kháng vi rút liên quan đến điều trị kháng vi rút – ART (anti-retroviral therapy) Mặc dù ARV không thể chữa khỏi HIV, nhưng hiện tại, các thuốc ARV vẫn là một trong những biện pháp tốt nhất để kéo dài thời gian sống và cải thiện tình trạng sức khỏe của người sống với HIV ARV là các loại thuốc
có hiệu quả nhất trong việc làm giảm các biến chứng lâu dài, đồng thời ngăn chặn quá trình nhân lên của HIV ARV cũng giúp phục hồi chức năng của hệ miễn dịch và giảm nguy cơ tử vong ở người sống với HIV, do giảm nguy cơ mắc các bệnh trong giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Tuy nhiên, các thuốc điều trị ARV chỉ tác dụng khi người sử dụng thuốc phải tuân thủ đầy đủ các quy định điều trị
Điều trị ARV không ngăn ngừa được HIV lây truyền từ người sống với HIV sang những người khác, nếu không thực hiện các biện pháp an toàn ARV có thể làm giảm lượng vi rút trong cơ thể của một người sống với HIV xuống mức rất thấp, do đó giảm đáng kể khả năng lây truyền HIV của người
đó sang người khác
Người sống chung với HIV/AIDS ( tiếng Anh: People living with HIV) là
thuật ngữ dùng để đề cập đến nhóm xã hội dễ bị tổn thương mà bản thân có HIV/AIDS; những người có người thân bị nhiễm hoặc những người đang có nguy cơ cao lây nhiễm
Trước hết cần đề cập đến thuật ngữ “ nhóm xã hội dễ bị tổn thương”: Đó
là những nhóm, những cộng đồng người có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị tổn thương về quyền
Trang 23Có những nhóm người sống chung với HIV/AIDS sau:
Thứ nhất: Nhóm người nhiễm HIV/AIDS: Đây là nhóm người đang
mang vi rút HIV trong người, có thể chia làm ba thế hệ: thế hệ thứ nhất là những người bị lây nhiễm do tiêm chích ma túy và mại dâm không an toàn, thế hệ thứ hai là những người bị lây nhiễm từ người thân của thế hệ thứ nhất như vợ hoặc chồng , thế hệ thứ ba bao gồm con cái của những người có HIV
và những người bởi nhiều lý do khác nhau như rủi ro nghề nghiệp hoặc bị phơi nhiễm Nhóm này vừa bị tổn thương về mặt sức khỏe thể trạng khi bị vi rút tấn công hệ miễn dịch đồng thời xuất hiện nhiều bệnh lây nhiễm khác như bệnh lao hay những bệnh truyền nhiễm do hệ miễn dịch bị phá hoại, có nguy
cơ phải đối mặt với cái chết, họ không chỉ bị tổn thương về thể chất mà còn bị tổn thương về mặt tinh thần khi bị những người xung quanh hắt hủi, xa lánh,
kỳ thị
Thứ hai: Nhóm có người thân bị nhiễm HIV (vợ, chồng, bố, mẹ, con
cái) Đây là nhóm mặc dù bản thân không bị nhiễm HIV nhưng có nguy cơ rất cao trước việc bị lây nhiễm do thường xuyên tiếp xúc với người bệnh, mang gánh nặng kinh tế khi phải chạy chữa điều trị cho người bệnh, đồng thời họ cũng chịu sự phân biệt đối xử, chịu đựng sự kỳ thị từ phía cộng đồng, xã hội
Trang 2417
Thứ ba: Nhóm những người đang có hành vi nguy cơ cao lây nhiễm đó
là những người tiêm chích ma túy, hoạt động mại dâm, những người có cuộc sống tình dục không an toàn, những người có quan hệ tình dục đồng giới họ
là những người mặc dù chưa mắc bệnh trong người, nhưng có khả năng nhiễm bệnh rất cao, nhưng không có cơ chế bảo vệ do nhóm người này bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị vì xã hội cho rằng họ là những có người có lối sống lệch lạc, thiếu lành mạnh, suy đồi về đạo đức, lối sống, họ đáng bị lên án
Sở dĩ người sống chung với HIV được coi là những nhóm người dễ bị tổn thương là vì:
Thứ nhất: Do đặc điểm dịch tễ và phương pháp y tế công truyền thống,
HIV là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, người bệnh khi nhiễm loại vi rút này sẽ từng bước bị suy giảm miễn dịch, từ đó các bệnh cơ hội nguy hiểm khác có điều kiện dễ dàng tấn công Đây là hội chứng khá dễ lây qua đường máu như việc sử dụng chung bơm kim tiêm, mẹ truyền sang con hoặc quan hệ tình dục không an toàn Gần ba mươi năm kể từ khi nhân loại phát hiện ra ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới, phương pháp y tế công cộng được nhân loại
sử dụng triệt để như việc cách ly và chỉ tập trung vào chăm sóc, điều trị cho người bệnh và phương pháp này đã cho thấy sự không hiệu quả Trong quá trình cách ly, người bệnh không hoàn toàn nhận được sự chăm sóc cần thiết đồng thời lại tạo ra tâm lý xa cách, bị kỳ thị, phân biệt đối xử từ những người xung quanh với người nhiễm HIV
Thứ hai: Do mức độ hiểu biết sai lầm về HIV/AIDS của chính người
nhiễm HIV/AIDS và xã hội, do đại dịch HIV/AIDS bùng phát nhanh chóng với mức độ nguy hiểm tới xã hội loài người, vì thế lựa chọn an toàn nhất là cách ly khỏi nguồn bệnh Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về HIV/AIDS còn bị xem nhẹ, hầu hết người dân không có những hiểu biết nhất định về căn bệnh này, đại đa số đều cho rằng đây là căn bệnh rất dễ lây lan
Trang 2518
Họ không biết thực chất hội chứng này là gì, tại sao nó lại nguy hiểm và những con đường lây lan chủ yếu ? Đã có lúc, xã hội tin rằng thậm chí khi dùng chung đồ đạc, nói chuyện, ăn chung một bàn ăn hay ngủ chung một giường cũng bị nhiễm HIV
Hiện nay, nhận thức của xã hội về căn bệnh đã được nâng cao, tuy nhiên
sự xa lánh, kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV gần như là phản xạ nhằm bảo vệ bản thân Bên cạnh đó, quan niệm HIV/AIDS ở nước ta còn gắn liền với các tệ nạn xã hội Họ bị coi là những người sa đọa, suy đồi đạo đức, nhân cách, lệch lạc về quan niệm sống
Những người sống chung với HIV/AIDS bị tổn thương cả về vật chất lẫn tinh thần, theo các nghiên cứu, phần lớn những người nhiễm HIV/AIDS do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp Nhóm người này thuộc tầng lớp nghèo khổ, thiếu hiểu biết, thiếu điều kiện để tự bảo vệ mình Một bộ phận khác bị lây nhiễm thuộc nhóm người lao động xa gia đình như lái xe đường dài, thợ khai thác than, đào vàng, hay những người vì hoàn cảnh gia đình mà phải hành nghề mại dâm Sau khi nhiễm bệnh, điều kiện kinh tế còn khó khăn hơn nhiều lần khi phải cố gắng chạy chữa và những người này họ trở thành gánh nặng cho gia đình, sức khỏe suy kiệt, cơ thể không còn khả năng miễn dịch, không thể sống bình thường như người khỏe mạnh, đồng thời
họ phải đối diện với sự phân biệt đối xử và kỳ thị từ phía gia đình, cộng đồng
Họ bị tổn thương sâu sắc về tinh thần, thể chất suy sụp, những người sống chung với HIV dưới hình thức này hay hình thức khác, chủ quan hay khách quan cũng bị gạt ra ngoài xã hội
Với nhận thức còn chưa đầy đủ về HIV/AIDS, quan niện sai lầm của xã hội vô hình chung đã xâm hại nặng nề tới quyền của những người sống chung với HIV
Trang 2619
1.1.3 Thực trạng của người sống chung với HIV hiện nay
Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS khá phổ biến HIV/AIDS có tất cả các đặc điểm của những căn bệnh bị kỳ thị nhất Những đặc điểm này bị liên hệ với quan hệ tình dục sai trái, tiêm chích
ma túy như những hành vi bị xã hội lên án và được coi là lỗi của cá nhân người bệnh AIDS là căn bệnh nan y và luôn gắn liền với “một cái chết không mong muốn” Mọi người thường có suy nghĩ sai lầm rằng bệnh này dễ lây lan qua tiếp xúc và nó là mối đe dọa cho cộng đồng Những người dân, thậm chí
là các nhân viên y tế, không được thông báo một cách đầy đủ và thiếu sự hiểu biết sâu về HIV và AIDS Chính vì vậy, sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người sồng chung với HIV/AIDS là một thử thách lớn cần phải giải quyết UNAIDS định nghĩa về sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS như sau: Sự kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS được mô tả như một
“quá trình mất giá” của những người sống chung hoặc có quan hệ với những người bị nhiễm HIV/AIDS Sự kỳ thị này thường có nguồn gốc từ kỳ thị mại dâm và tiêm chích ma túy là hai con đường thông dụng nhất dẫn đến lây nhiễm HIV
Sự phân biệt đối xử đi sau kỳ thị là việc đối xử không công bằng đối với một người nào đó do bị nhiễm hoặc do cảm tưởng là người đó bị nhiễm HIV
Sự kỳ thị và phân biệt đối xử vi phạm đến các quyền cơ bản của con người, ở các cấp độ khác nhau từ chính trị đến kinh tế, xã hội, tâm lý và thể chế
Một khi có sự kỳ thị thì người ta thường muốn làm ngơ trước tình trạng thực sự hoặc có thể nhiễm HIV của mình Điều này dẫn đến nguy cơ làm cho bệnh tật tiến triển nhanh hơn đối với bản thân họ cũng như nguy cơ lây nhiễm HIV sang những người khác
Trang 2720
Phân biệt đối xử là thái độ, hành động làm mất thể diện hoặc không tôn trọng, đối xử không công bằng một cách thiếu căn cứ đối với một cá nhân hoặc một nhóm người nào đó Kỳ thị, phân biệt đối xử có thể dẫn đến những định kiến, hành vi hoặc hành động làm tổn thương người khác Với những người sống chung với HIV/AIDS đó là sự coi thường, xa lánh, từ chối và trừng phạt họ Phân biệt đối xử hình thành trên cơ sở xã hội, do đó cần có những giải pháp mang tính xã hội để chống lại nó nhằm thay đổi thái độ và hành vi
Theo Luật Phòng, chống HIV/AIDS: “Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV”
Phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS là bất cứ một hành vi, hành động nhằm phân biệt, trừng phạt, phỉ báng, hạn chế quyền của người nhiễm hoặc người liên quan chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Kỳ thị nói
về thái độ còn phân biệt đối xử nói về hành động cụ thể đối với người sống chung với HIV Phân biệt đối xử là hệ quả của sự kỳ thị
Phân biệt đối xử là một trong những rào cản lớn nhất cho việc tiếp cận tới các dịch vụ về HIV và chăm sóc sức khỏe Phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV đồng nghĩa với “cái chết” về mặt xã hội, khi người nhiễm HIV bị chính những người thân trong gia đình, cộng đồng và các quan
hệ xã hội của mình cô lập và chối bỏ Nhiễm HIV đồng nghĩa với việc mất việc làm, bị chối bỏ các quyền, bị bạo hành, bị các dịch vụ y tế, xã hội từ chối
hỗ trợ, khó tiếp cận được với các dịch vụ trợ giúp pháp lý Hãy thử hình dung nếu chính chúng ta hay những người thân trong gia đình chúng ta cũng bị tước đoạt những quyền cơ bản đó ?
Trang 2821
Phân biệt đối xử không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, còn khiến HIV lây lan nhanh chóng hơn trong cộng đồng, khi người nhiễm HIV e sợ những gì người khác nghĩ về họ, hoặc sợ người khác có thể sẽ đối xử tệ với mình, thì
họ không muốn đi xét nghiệm hay sử dụng các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV Do vậy, họ có thể vô tình lây truyền HIV sang những người thân của mình không hay biết Một người chồng có thể lây truyền HIV cho vợ, người
vợ ấy có thể truyền HIV sang đứa con mà họ sẽ sinh Như vậy, đáng lẽ ban đầu chỉ một người nhiễm HIV nhưng chính do sự phân biệt đối xử, kỳ thị đã làm lây truyền ra nhiều người vô tội khác Nhiều người bị nhiễm HIV còn từ chối hoặc trì hoãn tiếp cận dịch vụ y tế Đã có nhiều hoàn cảnh của những người nhiễm HIV đã chấp nhận đi xa khỏi nơi mình sinh sống để được nhận dịch vụ chăm sóc và điều trị của những cán bộ y tế hoàn toàn xa lạ, cốt để tránh bị lộ danh tính tại cơ sở y tế nơi người đó cư trú Họ chỉ chịu tham gia điều trị khi bệnh đã quá nặng và không thể giấu được các triệu chứng
Những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao như người tiêm chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới hay người bán dâm còn phải chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử nặng hơn trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y
tế, xã hội và pháp lý
1.2 Sự phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV
Xã hội ngày nay đều có những hiểu biết chung về các con đường lây nhiễm HIV, nhưng do còn có nhiều điểm chưa rõ nên họ vẫn sợ bị lây nhiễm HIV qua tiếp xúc hằng ngày với những người bị nhiễm bệnh Chính điều này
đã khiến mọi người có những hành động không cần thiết mà họ cho rằng làm như vậy để ngăn ngừa sự lây nhiễm của căn bệnh này Sự phân biệt đối xử liên quan đến HIV có xuất phát từ một thực tế là trong tâm trí của tất cả mọi người trong cộng đồng, kể cả những cán bộ lãnh đạo, đội ngũ y bác sĩ, HIV/AIDS luôn gắn với ma túy, mại dâm, các tệ nạn xã hội và cái chết Đối
Trang 2922
với những người sử dụng ma túy, sự phân biệt đối xử, kỳ thị từ phía cộng đồng còn nặng hơn, do họ luôn bị coi là những kẻ chỉ “ăn chơi chác táng” chứ không có bất cứ đóng góp gì cho cộng đồng, xã hội Do đó luôn luôn có sự xét đoán đối với người nhiễm HIV, cho rằng họ nhiễm căn bệnh này do lối sống không lành mạnh, họ đáng bị như vậy coi như một sự trừng phạt
Hiện nay còn rất nhiều những hình thức, biểu hiện công khai phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở nhiều nơi, có thể là ngấm ngầm hay công khai, tế nhị hay thô bạo với các hình thức khác nhau Người sống chung với HIV bị phân biệt đối xử, các quyền cơ bản của họ bị xâm hại một cách nghiêm trọng
Những người sống chung với HIV bị phân biệt đối xử ở khắp mọi nơi,
họ bị phân biệt đối xử ngay trong chính ngôi nhà của mình, hàng xóm hay ở cộng đồng
Sự phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS tại nơi làm việc là một thực tế đang diễn ra ở Việt Nam, điều đã được đề cập trong các báo cáo của Chính phủ cũng như các nghiên cứu do các tổ chức quốc tế và các tổ chức trong nước thực hiện Mặc dù nhìn chung, người sử dụng lao động và người lao động có thái độ thông cảm đối với người lao động nhiễm HIV nhưng không có bằng chứng có tính hệ thống và đáng thuyết phục để chỉ ra rằng những người sống chung với HIV nhận được sự hỗ trợ thích đáng và có thể tin tưởng vào doanh nghiệp về những hỗ trợ tài chính, xã hội và tinh thần Hơn thế nữa, nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ các biểu hiện của sự phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV tại nơi làm việc:
Hình thức rõ ràng nhất của sự phân biệt đối xử là cho thôi việc trực tiếp người lao động có HIV với lý do là để bảo vệ những lao động khác cũng như bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp; hoặc doanh nghiệp yêu cầu người lao động
có HIV nghỉ ốm nhưng vẫn hưởng lương và sau đó kết thúc hợp đồng lao
Trang 3023
động với họ Cho thôi việc cũng được tiến hành dưới các hình thức khác Nghiên cứu của Viện Xã hội học cho biết đã có những doanh nghiệp cho thôi việc người lao động có HIV với lý do doanh nghiệp không có việc làm Nghiên cứu cũng cho thấy 30% số người lao động được hỏi nhất trí với quan điểm cho rằng người có HIV cần phải bị cho thôi việc để bảo vệ lợi ích của những người lao động khác
Theo một cuộc điều tra của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện theo yêu cầu của UNAIDS và Văn phòng Thường trực Quốc gia Phòng chống AIDS tại Hà Nội ở 6 bộ và 19 doanh nghiệp, người xin việc chỉ cần có giấy chứng nhận sức khỏe và không cần phải tiến hành xét nghiệm HIV Mặc dù vậy, điều tra cũng cho thấy, có 5 doanh nghiệp muốn tiến hành xét nghiệm HIV để phục vụ cho mục đích tuyển dụng lao động Nghiên cứu chỉ rõ thêm tất cả 30 doanh nghiệp được điều tra (22 doanh nghiệp nhà nước, 8 doanh nghiệp tư nhân) đều trả lời họ sẽ không tuyển dụng những người bị nhiễm HIV và sẽ cho thôi việc nhân viên nếu người đó có HIV
Thái độ này cũng được phản ánh trong các cuộc điều tra khác của KABP, đa số người lao động được hỏi (82,5%) cho rằng cần tiến hành xét nghiệm HIV đối với người xin việc trước khi nhận họ vào làm việc trong các nhà máy Lý do đưa ra chủ yếu để bảo vệ tình trạng sức khỏe cho những lao động khác, xác định những người có HIV để bố trí công việc thích hợp cho
họ Ngoài ra, một tỷ lệ lớn (85%) số lao động được hỏi cho rằng nhà máy nên tiến hành xét nghiệm HIV thường xuyên để xác định những người bị nhiễm HIV, ý tưởng này thậm chí còn được sự ủng hộ của các nhân viên y tế, những người chịu trách nhiệm đối với hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong các nhà máy được tiến hành điều tra Chỉ có 9% những người được hỏi phản đối ý tưởng này
Nguyên nhân của sự phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
Trang 31Do sự thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết sai lệch, không đúng, không đầy đủ
về HIV/AIDS Nhiều người vẫn cho rằng HIV/AIDS là bệnh rất dễ lây, kể cả qua tiếp xúc thông thường hoặc nhiều người cho rằng chỉ có những người tiêm chích ma túy hay người mua, bán dâm tức là những người bị cho là xấu
xa trong xã hội mới bị lây nhiễm HIV, họ coi HIV là tệ nạn xã hội, nhiễm HIV là có tội;
Do một thời gian dài việc tuyên truyền không đầy đủ hoặc không phù hợp như truyền thông quá nhấn mạnh chú trọng đến những con đường lây truyền mà không giải thích rõ ràng những con đường không lây nhiễm của HIV; thường hay hù dọa tạo ra những cảnh hãi hùng Chính việc tuyên truyền như vậy đã khiến mọi người sợ hãi, xa lánh và đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
Do đặc điểm tâm lý xã hội: Phân biệt đối xử diễn ra trong nhiều trường hợp (trọng nam khinh nữ, giàu nghèo ); phân biệt đối xử với các bệnh dễ lây lan như lao hay phong hủi;
Do sự bất bình đẳng giới: Khi bị nhiễm HIV/AIDS thì phụ nữ nhận được
sự thông cảm từ con mắt mọi người ít hơn nam giới; họ bị lên án nhiều hơn đồng nghĩa với việc sẽ bị phân biệt đối xử nhiều hơn
Hậu quả của sự phân biệt đối xử với người sống chung với HIV:
Trang 3225
Qua các số liệu nghiên cứu về chỉ số đánh giá mức độ phân biệt đối xử với người sống chung với HIV ở Việt Nam của Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam cho thấy, người sống chung với HIV phải đối mặt với sự phân biệt đối xử và đây không chỉ là thách thức đối với riêng người nhiễm HIV, người sống chung với HIV, khi dịch HIV/AIDS đang ở giai đoạn tập trung, chủ yếu lây nhiễm ở nhóm tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ
nữ làm nghề mại dâm
Do bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc, người sống chung với HIV bị rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc bị buộc phải thay đổi công việc thường xuyên, thay đổi nơi ở hoặc không thuê được nhà ở, phải vật lộn để đảm bảo kế sinh nhai cho bản thân hay gia đình họ
Nghiên cứu của Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam cũng cho thấy, có khoảng 3% người nhiễm HIV và 4% trẻ em là con của người nhiễm HIV đã bị từ chối không được đi học
Ngoài ra, phân biệt đối xử còn xảy ra ở gia đình, cộng đồng, bạn bè, hàng xóm như bị vợ, chồng bỏ rơi hoặc bị người thân trong gia đình ruồng rẫy, bị cộng đồng tẩy chay, mất việc làm, thất học, mất tài sản, bị từ chối khám sức khỏe tại các cơ sở y tế, thiếu sự chăm sóc hỗ trợ, thậm chí họ còn bị bạo hành
Do bị phân biệt đối xử, người sống chung với HIV thường dấu tình trạng bệnh của bản thân hay người thân của họ, họ thấy mặc cảm, không dám tiếp xúc với hàng xóm, cộng đồng, không hợp tác với những chương trình phòng chống HIV/AIDS Cán bộ chuyên môn khó có thể gặp và tư vấn cho họ hiểu
về những kỹ năng phòng và tránh lây nhiễm HIV/AIDS cho người khác, làm cho việc tiếp cận người có HIV cực kỳ khó khăn, do đó họ khó có thể tiếp nhận những thông tin, kỹ năng phòng bệnh và như vậy họ dễ dàng “vô tư” truyền HIV cho người khác
Trang 3326
Do thiếu sự thông cảm giúp đỡ từ cộng đồng có thể dẫn đến bi quan, chán nản, hoặc sợ hãi không tiết lộ danh tính, không tiếp cận dịch vụ do vậy chương trình phòng chống HIV/AIDS cũng không tiếp cận được với người nhiễm HIV nên cũng không có được số ca bệnh chính xác cũng không ước tính và dự báo chính xác được về tình hình dịch Việc lập kế hoạch và dựa trên những thông tin không đầy đủ sẽ chỉ làm lãng phí tiền của và đặc biệt là không ngăn chặn được sự lây lan của HIV
Với các hình thức phân biệt như hiện nay như bàn tán, xúc phạm, nhục
mạ, bạo hành, ép nghỉ việc, nghỉ học hay không nhận vào làm việc, học tập làm cho người sống chung với HIV cố tình che giấu không tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của mình ra ngoài phạm vi gia đình, đặc biệt có tỷ lệ đáng kể người nhiễm HIV không cho chồng, vợ, con cái hay bạn bè biết họ có HIV
Không phát huy được tiềm năng của người nhiễm HIV, làm tăng tác động đến gia đình, đến kinh tế xã hội của đất nước (người nhiễm HIV không được học tập, làm việc, họ bị chết sớm do không được cung cấp các dịch vụ y tế )
Làm mất đi một lực lượng phòng chống HIV/AIDS hiệu quả, có tiềm năng; Mất đi một lực lượng lớn lao động (trong đó bao gồm những lao động có trình độ tay nghề cao được đào tạo bài bản )
Làm hạn chế một số quyền con người, quyền công dân: Quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập, làm việc; quyền tự do đi lại, cư trú; Làm giảm vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS: Người sống chung với HIV rất cần sự hỗ trợ giúp đỡ từ cộng đồng, xã hội, họ dường như không có một chỗ dựa cả về thể chất lẫn tinh thần làm cho họ mất đi niềm tin với cuộc sống, họ cảm thấy đơn độc bị dồn vào ngõ cụt
Trang 3427
Có thể thấy, sự phân biệt đối xử đối với người sống chung với HIV có tác động rất lớn đến người có HIV và những người xung quanh họ, có thể khiến họ cảm thấy không an toàn trong xã hội, hình thành tâm lý bị cách ly khỏi cộng đồng, bị cô lập và tình trạng trầm trọng hơn khi xuất hiện sự tự kỳ thị của chính bản thân người có HIV
Một vấn đề khác là chúng ta đã bỏ phí một nguồn lực lớn, không phát huy được tiềm năng của người có HIV, những người sống chung với HIV họ vẫn có thời gian dài khỏe mạnh nên họ vẫn có thể cống hiến cho gia đình và
xã hội Khi bị phân biệt đối xử, người sống chung với HIV bị tách biệt, không làm việc, không được chăm sóc và như vậy họ có thể chết sớm để lại vợ, chồng con cái, cha mẹ già làm tăng tác động của HIV/AIDS đến gia đình, đến kinh tế xã hội của đất nước
Hiện nay rất nhiều các công ước quốc tế về nhân quyền hay Luật phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam cũng đã có nhiều điều khoản nghiêm cấm việc phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS
Đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng phân biệt đối xử làm dịch HIV phát triển nhanh chóng hơn Người nhiễm HIV không dám tiết lộ thông tin mình bị nhiễm HIV, họ từ chối điều trị hoặc không áp dụng các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV cho những người xung quanh Đây là một trong những nguyên nhân làm cho HIV ngấm ngầm gia tăng trong cộng đồng.Thực tế trường hợp của một người ở Mường Thanh ( Điện Biên) khi biết mình nhiễm HIV đã không khỏi bàng hoàng Anh như bị chìm trong sự đau khổ đến tuyệt vọng, nhưng điều sợ nhất đối với anh lại là những chuỗi ngày sau đó anh phải đối mặt với sự ghẻ lạnh, soi mói, nhòm ngó của bạn bè, người thân xung quanh Anh cho biết: “Họ nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lẽo, thờ ơ và có những lời nói, hành động xúc phạm đến tôi và gia đình, một thời gian dài tôi phải sống trong sự cô đơn, tách rời khỏi các sinh hoạt của cộng đồng”
Trang 3528
Thiệt thòi hơn là trường hợp của Th Cô gặp phải sự phân biệt đối xử ngay trong chính gia đình, bởi những người ruột thịt.Th bị nhiễm HIV từ chồng (chồng cô là người nghiện ma túy) Một lần về thăm bố mẹ đẻ, khi thấy
cô lấy chậu nước rửa mặt, cô cũng không thể ngờ rằng khi vừa rửa xong thì
bố đẻ mình lập tức đã lấy ngay dầu hỏa đốt chiếc chậu mà cô vừa sử dụng vì
sợ sẽ bị lây nhiễm HIV sang những người khác trong gia đình
Cũng chính vì sự phân biệt đối xử nên N – một cô giáo tại Điện Biên được xác định nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS phải từ chối điều trị bằng thuốc ARV tại cơ sở y tế gần nhà Còn T ở thị trấn Mường Ảng khi đến Trung tâm để tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện được cung cấp sách hướng dẫn phòng, chống HIV những lại không dám nhận
Trường hợp của cháu H ở Hà Nội, mới chỉ 3 tuổi, cháu không bị nhiễm HIV, nhưng mẹ cháu là người có HIV, các cô giáo ở trường mầm non và các bạn cùng lớp đã có những biểu hiện làm tổn hại đến tinh thần của cháu, như khi ăn, khi học xếp chỗ cho cháu ngồi xa hơn so với các bạn cùng lớp khác, hạn chế tối đa việc cháu chơi chung với các bạn, các bạn trong lớp hầu như cũng không ai dám chơi với cháu với lý do “nhỡ đâu rồi nó cũng sẽ bị” Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, nhân cách của cháu bé sau này,
là một người vô tội, mới chỉ là một đứa trẻ như những đứa trẻ khác, cháu lại phải chịu quá nhiều đau khổ Thậm chí có những trường hợp ngay cả việc một người đột nhiên quan tâm đến các kiến thức về phòng, chống HIV cũng khiến những người xung quanh để ý và đặt câu hỏi: “Tại sao nó nghiên cứu kỹ vấn
đề này thế ? Hay là nó đã bị nhiễm HIV ?”
“Cô độc” ngay trong chính ngôi nhà của mình: Là trường hợp của em Nguyễn Thanh X, ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Với những giọt nước mắt lăn dài, kèm theo tiếng nấc nghẹn ngào, em X không tránh khỏi xúc động khi bày tỏ về thảm cảnh trớ trêu của mình X nhiễm HIV và mồ côi cha mẹ,
Trang 3629
em sống với bà ngoại từ nhỏ Khi biết tin em nhiễm HIV, những người sống xung quanh đều cấm con cái của họ chơi em với Thậm chí, chính người cậu ruột của em cũng hắt hủi đứa cháu gái tội nghiệp Lúc này cũng dặn các con phải giữ khoảng cách với X X phải đối mặt với sự phân biệt đối xử của chính người thân Khi đi học X cũng bị các bạn hắt hủi, xa lánh
“Con luôn phải sống lủi thủi trong ánh mắt kỳ thị của mọi người Nhiều lúc, chính con cũng thất khiếp sợ căn bệnh trong người mình ” X bộc bạch trong dòng nước mắt Từ khi bà ngoại mất, X trở nên bơ vơ, không nơi nương tựa, thậm chí có nhà mà không được về Em đã phải bỏ học và bỏ nhà vì không chịu được sự kỳ thị, phân biệt đối xử từ những người thân trong gia đình cũng như bạn bè, hàng xóm
Cháu Lê Đức Mạnh ở Thanh Hóa, con của chị Nguyễn Thị Lệ Th Là người có HIV Tuy cháu Mạnh âm tính nhưng nhà trường yêu cầu cháu phải
đi xét nghiệm HIV mấy lần với sự chứng kiến của giáo viên, có dấu đỏ của bệnh viện xác nhận mới cho cháu nhập học Tuy nhiên khi cháu nhập học thì gặp phải sự phản đối của phụ huynh học sinh khác Họ không cho con
đi học làm sĩ số lớp từ 49 xuống còn 14 khiến nhà trường “bắt buộc”cho Mạnh nghỉ học
Bị “gạch tên” khỏi hộ khẩu do nhiễm HIV, đó là trường hợp của chị T ở Bắc Giang Trước kia, chị T có công việc làm ổn định, khi biết mình nhiễm HIV, chị đã cố giấu mọi người tình trạng bệnh tật của mình, nhưng khi thấy ngày nào chị cũng uống thuốc vào giờ đó, mọi người bàn tán thắc mắc nhiều nên chị đã phải bỏ việc
Khi biết chị bị nhiễm HIV, bố mẹ chồng chị đã không chia sẻ, động viên
mà bỏ rơi, từ mặt và không thèm quan tâm Chị T đã phải lận đận đi tìm nhiều công việc khác, nhưng đi đến đâu chị cũng bị phân biệt đối xử khiến chị phải
tự kiếm công việc bán hàng vất vả để nuôi sống bản thân và con cái Sau khi
Trang 3730
chồng chị chết, bố chồng chị đã nhờ người tư vấn sang tên, đổi chủ ngôi nhà, đuổi mẹ con chị ra ngoài đường Dù nhiều năm theo đuổi các cơ quan chức năng để nhờ công lý bảo vệ, nhưng đều không có kết quả Mẹ chồng chị luôn trì triết rằng: “mày đã làm ô uế thanh danh dòng họ, mày đi đến đâu tao sẽ chơi với mày đến cùng, không tha cho mày đâu”
Những trường hợp người sống chung với HIV bị vi phạm các quyền, bị phân biệt đối xử như trên còn rất nhiều, diễn ra trên mọi miền đất nước Do sự phân biệt đối xử, kỳ thị nên người nhiễm HIV đã không dám tiết lộ thông tin
về tình trạng nhiễm HIV của mình Những người có hành vi nguy cơ cao không dám đi xét nghiệm và không áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV cho người khác vì sợ bị phát hiện Và cũng chính do bị phân biệt đối xử làm cho người sống chung với HIV có những phản ứng tiêu cực, chẳng hạn như những người nhiễm HIV cố tình làm lây lan cho người khác Tất cả những điều này làm cho đại dịch HIV ngấm ngầm lan ra trong cộng đồng Nguồn gốc và nguyên nhân của sự phân biệt đối xử là do thiếu hiểu biết
về HIV, nhất là việc cho rằng HIV có thể lây qua những tiếp xúc thông thường như ăn cùng mâm, đi chung xe, dùng chung nhà vệ sinh Do việc truyền thông không đúng đắn trong một thời gian dài trước đây, khi nói đến HIV/AIDS, người ta thường đưa luôn ra những hình ảnh đầu lâu, lưỡi hái
tử thần khiến người dân sợ bệnh HIV/AIDS sợ luôn cả những người mắc bệnh Hơn nữa, người nghiện ma túy và mại dâm lại nằm trong số những người đầu tiên bị nhiễm HIV, điều này đã làm cho cộng đồng, xã hội gắn HIV với các tệ nạn xã hội càng làm tăng sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
Chống phân biệt đối xử là trách nhiệm chung của tất cả mọi người trong cộng đồng, mọi gia đình, các ngành các cấp, các đoàn thể xã hội Trước hết, chúng ta phải xóa bỏ những quan niệm không đúng về HIV trong mỗi người
Trang 3831
dân, vì HIV là một bệnh và không được gắn nó với các tệ nạn xã hội HIV không lây nhiễm qua những tiếp xúc thông thường Những người nhiễm HIV cũng là những người con, em trong mỗi gia đình Bởi vậy, việc khơi dậy tấm lòng tương thân tương ái, sự cưu mang, đùm bọc của mỗi cá nhân, gia đình và của cộng đồng đối với những người bị nhiễm HIV là rất quan trọng
Người sống chung với HIV rất cần được hòa nhập, được chung sống và cùng lao động Họ cần được biết tình trạng nhiễm HIV của bản thân, được trao đổi học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm sống cũng như cần sự tư vấn hỗ trợ của cộng đồng, xã hội về cách làm việc, cách sống có ích cho gia đình, xã hội Hơn nữa, cần phải loại bỏ kiểu truyền thông mang tính hù dọa, những hình ảnh chết chóc hay tiêu cực làm cho mọi người sợ hãi và hiểu lầm sự lây lan của HIV Song song với truyền thông về các đường lây truyền của HIV thì cũng cần truyền thông cho người dân hiểu rằng HIV là bệnh lây nhưng không
dễ dàng lây nhiễm như mọi người vẫn lầm tưởng HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường, ăn uống chung, sinh hoạt chung Đồng thời cũng cần huy động người nhiễm HIV, những người sống chung với HIV tham gia vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS để tiến tới bình thường hóa sự hiện diện của người nhiễm HIV trong cộng đồng Nếu xóa bỏ sự kỳ thị, phân biệt đối
xử thì người sống chung với HIV sẽ tự công khai danh tính của mình
Do đó, họ sẽ được tư vấn các biện pháp phòng ngừa và tiếp cận các dịch
vụ chăm sóc, điều trị Như vậy, nếu họ được tư vấn, chăm sóc, điều trị tốt họ
sẽ có cơ hội sống và làm việc lâu dài có ích cho bản thân, gia đình, cộng đồng
và xã hội Đặc biệt họ sẽ là những tuyên truyền viên tích cực và hiệu quả nhất trong công tác phòng, chống HIV và phòng, chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV
1.2.1 Từ phía gia đình, người thân
Trang 3932
Gia đình, họ hàng là những người gần gũi, thân yêu nhất đối với mỗi cá nhân, tuy nhiên thay vì đó là nơi ở, sinh hoạt, nơi để chúng ta đi về hằng ngày, nơi chứa đựng những kỷ niệm đẹp, những tiếng cười thì ở đâu đó vẫn là nơi khủng khiếp đối với những người sống chung với HIV
Ở chính trong ngôi nhà của mình, trong dòng họ của mình, người sống chung với HIV bị ghẻ lạnh, họ bị phân biệt đối xử thậm tệ, với các biểu hiện: Cho người có HIV ăn, ở riêng hoặc nếu ở chung thì miễn cưỡng giao tiếp; hạn chế, cấm đoán những người khác trong gia đình giao tiếp, tiếp xúc với người
có HIV; Cấm người có HIV dùng chung những vật dụng sinh hoạt trong nhà như thìa, bát, đũa, nhà vệ sinh, nhà tắm Chối bỏ người có HIV, tìm mọi cách đưa họ tới những trung tâm, cơ sở tập trung; Tước quyền làm cha, mẹ, chồng, vợ của người có HIV, tước quyền thừa kế tài sản trong gia đình nhất
là đối với phụ nữ có HIV;
1.2.2 Từ phía cộng đồng, xã hội
Không chỉ với những người trong gia đình, họ hàng có sự phân biệt đối
xử với những người người sống chung với HIV, mà cộng đồng, xã hội là những chủ thể thường xuyên có những hành vi phân biệt đối xử, xâm hại quyền của người sống chung với HIV nhất Từ các địa điểm dịch vụ công cộng, tại trường học, bệnh viện hay tại chính nơi người sống chung với HIV làm việc Một số biểu hiện như: Cấm hay hạn chế con cái tiếp xúc với những người sống chung với HIV; Cấm những người sống chung với HIV sử dụng những dịch vụ công cộng như nhà tắm, nhà vệ sinh công cộng, các khu vui chơi giải trí, thể dục thể thao Không sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế các dịch vụ mà người có HIV hay gia những người thân của họ cung cấp nhất là dịch vụ ăn uống Không muốn hoặc không cho tổ chức cưới hỏi, ma chay hoặc không tới tham gia khi được những người sống chung với HIV mời
Trang 4033
Tại các cơ sở y tế: Một số y bác sĩ miễn cưỡng khi tiếp xúc với người có HIV; hoặc bắt những người này phải chờ lâu, hay phải dời lịch khám sang buổi khác
Gây khó dễ cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân khi nhập viện điều trị; Đùn đẩy bệnh nhân có HIV giữa các y bác sĩ, giữa các khoa và các bệnh viện; Trì hoãn thậm chí từ chối làm các xét nghiệm, phẫu thuật hay các thủ thuật y tế; Ngừng điều trị cho bệnh nhân khi chưa khỏi bệnh hoặc cho xuất viện sớm; Đánh dấu hồ sơ giường nằm hoặc đồ vải của người có HIV; Xét nghiệm phát hiện HIV trước phẫu thuật, trước khi sinh mà không có ý kiến với người bệnh; Từ chối điều trị HIV theo chế độ bảo hiểm y tế
Tại nơi học tập, làm việc: Những người sống chung với HIV thường bị
cô lập, xa lánh, ngại tiếp xúc, không muốn làm việc, học tập với người có HIV hay những người sống chung với HIV cũng bị phân biệt đối xử; Không thông báo lấy máu xét nghiệm HIV trong quá trình tuyển dụng, lao động, học tập nhưng vẫn tiến hành làm xét nghiệm HIV; Tùy tiện thay đổi công việc của người lao động có HIV; Thuyết phục, gây sức ép tạo cớ để những người sống chung với HIV xin nghỉ việc, nghỉ học; Buộc thôi việc, dừng học với những
lý do không chính đáng
Những người sống chung với HIV không thể duy trì mãi cuộc sống khi
họ bị phân biệt đối xử bằng các hình thức, biểu hiện khác nhau và ở khắp mọi nơi như vậy
1.3 Phòng, chống phân biệt đối xử
1.3.1 Quyền của người sống chung với HIV
Quyền của người sống chung với HIV đã được pháp luật quốc tế ghi nhận trong hàng loạt các văn kiện quốc tế
Đầu tiên, phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế năm 1948; Công ước về quyền trẻ em (CRC); Công