1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam

120 1,5K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết xác lập cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế cũng như quốc gia.... Mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÒA THỊ THỦY

BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÒA THỊ THỦY

BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM: PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Công Giao

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hòa Thị Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS,TS Vũ

Công Giao, người hướng dẫn khoa học giúp tôi thực hiện luận văn này Thầy đã

luôn tận tình hướng dẫn, nhắc nhở tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo lớp Cao học Luật về

Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật khóa 16 đã giúp tôi lĩnh hội những kiến

thức cơ bản về lĩnh vực quan trọng này

Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia đã tổ chức khóa học bổ

ích và lý thú, các thầy cô giáo Khoa Luật, Phòng Đào tạo và Bộ môn Luật Hiến

pháp-Hành chính đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt thời gian khóa học và thực

hiện luận văn

Xin cảm ơn các bạn đồng môn đã trao đổi thảo luận và cung cấp những

thông tin tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn

Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đã ủng hộ, động

viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9/2015

Hòa Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 8

1.1 Tổng quan một số vấn đề lý luận về người khuyết tật 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Phân loại người khuyết tật 12

1.1.3 Đặc điểm, vị trí, vai trò của người khuyết tật 13

1.1.4 Một số đối tượng khuyết tật đặc thù 17

1.1.4.1 Phụ nữ khuyết tật 17

1.1.4.2 Trẻ em khuyết tật 18

1.2 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT 19

1.2.1 Nguyên tắc bình đẳng 19

1.2.2 Nguyên tắc không phân biệt đối xử 22

1.3 Sự cần thiết xác lập cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế cũng như quốc gia 26

Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 30

2.1 Tổng quan pháp luật quốc tế và Việt Nam về người khuyết tật 30

2.1.1 Tổng quan pháp luật quốc tế về người khuyết tật 30

2.1.1.1 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật 30

Trang 6

2

2.1.1.2 Công ước quốc tế về người khuyết tật và vấn đề bình đẳng,

chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 33

2.1.1.3 Vị trí của vấn đề người khuyết tật trong hệ thống pháp luật quốc gia 37

2.1.2 Tổng quan chính sách, pháp luật Việt Nam về người khuyết tật 39

2.1.2.1 Pháp luật Việt Nam về người khuyết tật 39

2.1.2.2 Nội dung cơ bản của Luật người khuyết tật Việt Nam 44

2.1.2.3 Các tổ chức của/vì người khuyết tật Việt Nam 46

2.2 Mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 47

2.2.1 Việc sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” 47

2.2.2 Về nội dung định nghĩa “người khuyết tật” 48

2.2.3 Đảm bảo quyền một số nhóm người khuyết tật đặc thù 49

2.2.4 Đảm bảo quyền của người khuyết tật trong một số lĩnh vực cụ thể 52

2.2.4.1 Quyền về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật 52

2.2.4.2 Quyền về tiếp cận hạ tầng giao thông, công cộng 59

2.2.4.3 Quyền được chăm sóc y tế và phục hồi chức năng 63

2.2.4.4 Quyền về giáo dục – đào tạo 67

2.2.4.5 Quyền về văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch 71

2.2.4.6 Quyền được bảo trợ xã hội 73

2.2.4.7 Quyền tiếp cận truyền thông, công nghệ thông tin 75

2.2.5 Đánh giá chung 77

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM 85

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật Việt Nam hiện nay 85

3.1.1 Bối cảnh trong nước và yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền của người khuyết tật 85

Trang 7

3

3.1.2 Tình hình người khuyết tật tại Việt Nam và yêu cầu thúc đẩy, bảo đảm quyền của người khuyết tật trên thực tế 89 3.1.3 Quan điểm về việc bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong thời gian tới 933.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật tại Việt Nam 953.2.1 Hoàn thiện quy định về người khuyết tật trong Hiến pháp 2013 96 3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật để phù hợp với Công ước CRPD 97

3.2.2.1 Về thuật ngữ “người khuyết tật” 97 3.2.2.2 Cần đưa “tự kỷ” vào Luật người khuyết tật Việt Nam 97 3.2.2.3 Bổ sung quan điểm của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ khuyết tật và trẻ em khuyết tật vào Luật Người Khuyết tật 99

3.2.2.4 Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trên một số lĩnh vực 99

KẾT LUẬN 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 8

4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

BLLĐ : Bộ luật Lao động

CRPD : Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật

CRC : Công ước quốc tế về quyền của trẻ em

ILO : Tổ chức Lao động quốc tế

ICESCR : Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa ICCPR : Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị

LĐTB&XH : Lao động, Thương Binh và Xã hội

LHQ : Liên Hiệp Quốc

NKT : Người khuyết tật

TKT : Trẻ khuyết tật

UDHR : Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền

UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, Nhà nước luôn coi con người là mục tiêu và động lực của sự nghiệp phát triển đất nước Mọi chính sách phát triển của Việt Nam luôn lấy con người làm trung tâm: phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường Việc quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của các nhóm người dễ bị tổn thương mà trong đó có NKT là một trong những ưu tiên hàng đầu nhằm phát triển mạng lưới an sinh xã hội của Việt Nam

Sau 30 năm chiến tranh, đất nước Việt Nam trở nên đói nghèo, kinh tế kiệt quệ, cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn, lại phải khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại (nạn nhân chất độc da cam, rà phá bom mìn ) Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến số NKT ở Việt Nam khá cao Theo số liệu của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hiện tại, ước tính cả nước có hơn 7 triệu NKT [34] Trong tổng số những NKT này, rất nhiều người vẫn còn khả năng lao động ở mức độ khác nhau nhưng họ không có cơ hội làm việc vì gặp phải nhiều rào cản, chủ yếu là những định kiến và thái độ tiêu cực tồn tại bấy lâu nay Bên cạnh các nguyên nhân hậu quả chiến tranh, tình trạng khuyết tật còn do tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…

Xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể họ khác nhau về trí lực, thể lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau Mỗi một con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận sự quan tâm và tôn trọng như nhau Đây chính là nguyên tắc bình đẳng trong nhiều văn bản pháp luật của mỗi quốc gia và pháp luật quốc tế Đối với NKT, việc bản thân họ tham gia vào cuộc sống và duy trì cuộc sống đã là một khó khăn, do đó vấn đề bình đẳng với

Trang 10

2

NKT là thực sự cần thiết để bảo vệ họ trong cuộc sống Tuy nhiên, sự bình đẳng mà chúng ta nói đến ở đây không phải là sự đối xử như nhau đối với những nhóm đối tượng giống nhau, mà được hiểu theo một cách khác, đó là bình đẳng về cơ hội Có nghĩa là cần phải xóa bỏ các rào cản rào cản bên ngoài mà NKT gặp phải có thể cản trở họ tham gia toàn diện vào đời sống xã hội Theo cách tiếp cận này, tình trạng khuyết tật không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở cho vấn đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường thể chế để tạo điều kiện cho NKT tiếp cận và hòa nhập cùng xã hội

Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho NKT

thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động

xã hội Người khuyết tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Quan điểm này được phản ánh trong các bản Hiến pháp của Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992) khẳng định NKT là công dân, thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân, được chung hưởng thành quả xã hội Đặc biệt, Quốc hội Việt Nam gần đây đã thông qua Luật người khuyết tật (có hiệu lực ngày 01/01/2011) là văn bản luật quốc gia toàn diện đầu tiên đảm bảo các quyền của NKT Luật mới đã có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống của NKT Mặt khác, Việt Nam vừa tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT và đang trong quá trình nghiên cứu để nội luật hoá công ước vào hệ thống pháp luật hiện hành của quốc gia Hiến pháp 2013 được ban hành có nhiều nội dung mới, tiến bộ liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong đó có NKT cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật

Tuy nhiên, việc thực thi các quyền của NKT trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, quyền của NKT chưa được bảo đảm: đời sống của NKT Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những đối tượng thuộc diện nghèo; điều kiện giáo dục, đào tạo nghề cho NKT chưa được quan tâm đúng mức; vẫn còn tình trạng

Trang 11

3

kỳ thị và phân biệt đối xử trong giáo dục, ở nơi làm việc, trong các hoạt động cộng đồng, Một trong những nguyên nhân là do pháp luật nước ta vẫn chưa hoàn toàn tương thích với pháp luật quốc tế về quyền của NKT, đồng thời có những quy định chưa hợp lý, gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tế Đây cũng là những vấn

đề đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết, khắc phục trong thời gian tới

Từ thực tế nêu trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam: Phân tích và so sánh” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học, góp phần hoàn

thiện pháp luật Việt Nam về quyền của NKT phù hợp với pháp luật quốc tế, từ đó

bảo đảm quyền của NKT ngày càng tốt hơn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề quyền của NKT, pháp luật về quyền của NKT liên quan đến mọi quốc gia trên thế giới, nên đã có một số công trình khoa học nghiên cứu trong và ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau

- Các công trình khoa học nước ngoài:

Trên thế giới hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền của NKT, pháp luật quốc tế, pháp luật của các quốc gia về quyền của NKT, luận văn chỉ đề cập đến một số công trình tiêu biểu như sau:

+ Dưới góc độ pháp luật quốc tế, có sách “Quyền con người và vấn đề người khuyết tật" (Human Rights and Disabilily) của các tác giả - chủ biên Gerard Quinn

và Theresia Degener, do LHQ xuất bản, tại Geneva- Thụy Sĩ năm 2002 Đây là công trình nghiên cứu về việc áp dụng hiện tại và khả năng áp dụng trong tương lai các quy định của các văn kiện quốc tế về quyền con người từ góc độ bảo vệ quyền của NKT; yêu cầu các quốc gia phải nỗ lực cải cách pháp luật, chính sách để bảo đảm quyền của NKT

+ Dưới góc độ nghiên cứu chính sách, pháp luật của các quốc gia, có một số công trình sau:

Sách “Pháp luật, Quyền và vấn đề người Khuyết tật" (Law, Rights, and

Disability) do Jeremy Cooper làm chủ biên, Nhà xuất bản Jessica Kmgsley, năm

Trang 12

4

2000, tại Vương quốc Anh Công trình đề cập đến thực trạng và những nỗ lực trong việc nâng cao vị thế của NKT ở Anh và trên thế giới; vấn đề các quyền của NKT; vai trò của pháp luật; của chính những NKT trong việc hiện thực hoá những cam kết toàn cầu về quyền của NKT

Sách "Những quyền của người khuyết tật (Disability Rights), do Justin

Healey làm chủ biên, Nhà xuất bản The Spliney, Sydney Australia, năm 2005 Các tác giả đưa ra đình nghĩa về NKT; nội dung Luật chống phân biệt NKT và cơ chế khiếu nại vi phạm; các vấn đề thực tiễn về NKT như: hệ thống chăm sóc cộng đồng; NKT tại nơi làm việc; doanh nghiệp với vấn đề tuyển dụng NKT; tiếp cận bình đắng về lntemet cho NKT ở Australia

Mặc dù các công trình trên chỉ nghiên cứu dưới góc độ pháp luật quốc tế, nhưng đây là các công trình nghiên cứu có ý nghĩa, là tài liệu tham khảo bổ ích cho quá trình nghiên cứu vấn đề bình đẳng, chống phân biệt đối xử với NKT ở Việt Nam hiện nay

- Các công trình nghiên cứu của Việt Nam

Vấn đề NKT, chính sách, pháp luật đối với NKT liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, nên ở Việt Nam đã có một số công trình khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:

+ Dưới góc độ chính sách, pháp luật có các công trình nghiên có sau: Tác

giả Vũ Ngọc Bình đã có cuốn sách "Trẻ em tàn tật và quyền của các em", Nxb Lao

động - Xã hội, H, 2001: Đây là công trình viết về trẻ em tàn tật dưới góc độ quyền

con người Sách "Quyền con người và người tàn tật” (Vũ Ngọc Bình - Nxb Lao

động - Xã hội, H, 2001) Tác giả đã tuyển chọn các Văn kiện quốc tế và khu vực,

văn bản pháp luật Việt Nam có liên quan đến quyền của người tàn tật Sách "Bảo

trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam" (Nxb Thế giới, H, 2005) là công

trình nghiên cứu tập thể của nhóm tác giả: Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung và Robert Leroy Bách Các tác giả đã tập trung nghiên cứu, phân tích vấn đề bảo trợ trong bối cảnh đổi mới đất nước; các chính sách và chương trình bảo trợ xã hội trong đó có bảo trợ cho NKT ở Việt Nam

Trang 13

5

Cùng với những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã xuất bản thành sách nêu trên, còn có các công trình nghiên cứu dưới dạng dự án, đề tài như:

Dự án "Phân tích đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em có

hoàn cảnh đặc biệt” (Bộ LĐTB&XH và Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em Việt Nam

và UNICEF tại Việt Nam); Đề tài "Đánh giá việc thực hiện Bộ luật Lao động đối

với lao động là người tàn tật và Pháp lệnh về người tàn tật", (Nguyễn Thị Diệu

Hồng (chủ nhiệm), Bộ LĐTB&XH, H, 2002)

Bên cạnh đó còn có một số báo nghiên cứu, đề tài, luận văn, luận án tiến sĩ

nghiên cứu về nội dung này như: Luận án Tiến sĩ của TS Nguyễn Thị Báo: “Hoàn

thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, luận án đi sâu

vào nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam để đưa ra những giải pháp hoàn thiện góp phần xây dựng Luật Người khuyết tật; Báo cáo của UNICEF và Bộ LĐTB&XH

năm 2009 nghiên cứu về việc “Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam:

đánh giá luật và những chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có những hoàn

cảnh đặc biệt tại Việt Nam”; TS Tường Duy Kiên với “Báo cáo phân tích so sánh

Luật quốc tế và Luật Việt Nam về quyền của trẻ em khuyết tật” (2009)

Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu dưới dạng các tham luận được trình bày tại các buổi toạ đàm và hội thảo, các bài báo, tạp chí như: các bài tham luận tại

“Hội nghị đánh giá 7 năm triển khai thi hành Pháp lệnh về người tàn tật (1998 -

2005); TS Nguyễn Thị Báo “Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của người khuyết tật trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 6/2005; TS Trần Thái Dương

“Phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật và việc thực thi nghĩa vụ thành viên công ước”

Tuy nhiên, các công trình nói trên còn để lại nhiều thoảng trống, chưa đề

cập một cách toàn diện đến vấn đề bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT trong pháp luật quốc tế và Việt Nam là nội dung trọng tâm của luận văn này

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát: Phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam và pháp

luật quốc tế liên quan đến việc bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với

Trang 14

6

NKT; rút ra những bất cập, hạn chế trong pháp luật Việt Nam; từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện phù hợp

3.2 Mục tiêu cụ thể:

- Phân tích, làm rõ một số vấn đề chung về NKT, nguyên tắc bình đẳng và

không phân biệt đối xử với NKT để cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm bình đẳng

và chống phân biệt đối xử với NKT;

- Phân tích các quy định pháp luật quốc tế và trong nước liên quan đến việc

bảo đảm bình đẳng và chông phân biệt đối xử với NKT; đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế trên lĩnh vực này;

- Đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền bình

đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung phân tích khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam liên quan đến việc bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT, sự tương thích giữa hai hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật về quyền của NKT Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Bên cạnh việc đánh giá tổng quan hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền của NKT, đề tài sẽ tập trung vào việc đánh giá, phân tích so sánh các quyền đặc thù dành cho NKT liên quan đến việc bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT trên thực tế

5 Tính mới và những đóng góp của luận văn

Những điểm mới của luận văn bao gồm:

- Phân tích, làm rõ nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT, đồng thời nhận diện các hành vi này trên thực tế;

- Đánh giá hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật Việt Nam về NKT, tập trung vào các quy định pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT;

Trang 15

7

- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bình đẳng và chống phân biệt đối xử với NKT tại Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu

thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về NKT, bình đẳng và chống phân biệt đối

xử với người khuyết tật

Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bình đẳng và chống

phân biệt đối xử với người khuyết tật

Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng và

chống phân biệt đối xử với người khuyết tật tại Việt Nam

Trang 16

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ

CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Tổng quan một số vấn đề lý luận về người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm

Liên quan đến khái niệm “người khuyết tật”, có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau ở cả khía cạnh không gian và thời gian, tuy nhiên, có thể khái quát thành hai nhóm quan điểm lớn đó là:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng vấn đề khuyết tật là ở tại chính con người

đó, vì thế chú trọng rất ít hoặc không để ý gì đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người đó Theo mô hình này, một người bị suy giảm khả năng vận động sẽ bị rơi vào hoàn cảnh khuyết tật do sự suy giảm chức năng của riêng cá nhân đó Người ấy có thể cố gắng vượt qua các hạn chế về chức năng do tình trạng khuyết tật gây ra bằng cách điều trị y khoa và/hoặc sử dụng các dụng cụ trợ giúp y tế, ví dụ như xe lăn hoặc nạng Quan điểm này tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác, sức khỏe tâm thần…, và NKT cần được hỗ trợ, chăm sóc, họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc

sống của mình Quan điểm này được gọi là quan điểm mô hình khuyết tật cá nhân

hay mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế

Tổ chức Y tế thế giới đưa ra 3 thuật ngữ về khuyết tật đều theo quan điểm

khuyết tật cá nhân, đó là “khiếm khuyết”, “giảm khả năng” và “tàn tật” Khiếm khuyết

là tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân

tố môi trường hoặc bẩm sinh (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể)

Giảm khả năng là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây

ra, hạn chế hoặc mất chức năng vận động, nói, nghe, nhìn hoặc giao tiếp (thuật ngữ

này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể) Tàn tật là những thiệt thòi mà một người

phải chịu do bị khuyết tật (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội)

Luật thành văn của các nước sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để mô tả

Trang 17

khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác” Luật về người khuyết tật ban hành năm

1995 của Ấn Độ (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho NKT tham gia

mọi hoạt động xã hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển

trí óc và mắc bệnh về tâm thần Trong khi đó, NKT lại được định nghĩa là “một

người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của cơ quan y tế

có thẩm quyền” Theo đạo luật số 7277 của Phillipines năm 1991 thì “Người

khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”

Nhược điểm của các quan điểm nêu trên là nhìn nhận NKT là một vấn đề của

xã hội và cần có giải pháp để làm người đó “bình thường” [5, tr10], vì vậy dễ làm NKT cảm thấy bị xúc phạm Luật pháp cần sử dụng thuật ngữ một cách nhất quán và phải thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm con NKT

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng khuyết tật là một sản phẩm của xã hội

Vấn đề khuyết tật bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể Theo mô hình xã hội về khuyết tật, sự suy giảm khả năng đi lại cần được xem xét trong bối cảnh xã hội và môi trường xung quanh Xóa bỏ những rào cản xã hội và đảm bảo sự tiếp cận với môi trường vật thể có ý nghĩa tích cực trong việc giảm bớt hoặc vượt qua được những hạn chế giúp NKT hoạt động và tham gia vào mọi mặt cuộc sống [13]

Trang 18

10

Khái niệm này mang ý nghĩa bao quát hơn khái niệm mô hình khuyết tật cá nhân, và có ý nghĩa bảo vệ những NKT khỏi bị phân biệt đối xử Khái niệm có đối tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người có khuyết tật nhẹ, những người sống chung với NKT, những người bị gán cho danh nghĩa khuyết tật cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử Có một số văn kiện pháp lý quốc tế định nghĩa

về NKT theo quan niệm này, chẳng hạn như: Công ước số 159 của ILO về phục hồi

chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (năm 1983) quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” (khoản 1, Điều 1); Công ước

về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006) quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ

sở bình đẳng với những người khác” (Điều 1)

Kế thừa quan điểm này trong pháp luật quốc tế, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận vấn đề khuyết tật dưới góc độ xã hội Ở Cộng hòa Liên

bang Đức, Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có các chức năng

về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội” Luật bình đẳng về việc làm

của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực

hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp” Đạo luật về người

khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA-Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống” Hay

Bộ Luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật của Vương Quốc Anh năm

1995 điều chỉnh đối tượng là người có tiền sử hoặc hiện đang mang tật về trí não

Trang 19

11

hay thể lực khiến cho khả năng thực hiện các công việc thường ngày bị ảnh hưởng đáng kể và lâu dài Khi được sửa đổi mới đây, Bộ luật được mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với người dị dạng mức độ nặng và những người nhiễm HIV/AIDS

Bản thân CRPD không có định nghĩa khuyết tật, nhưng thuật ngữ đó được

hiểu là “những người khiếm khuyết lâu ngày về thể chất, thần kinh, trí tuệ hoặc

các giác quan mà khi tác động tương hỗ với những rào cản khác nhau có thể gây cản trở cho việc tham gia hiệu quả và đầy đủ vào xã hội, trên cơ sở bình đẳng với những người khác” CRPD đặc biệt loại ra mô hình y tế mà coi một người khuyết

tật là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện Thay vào đó, CRPD công nhận

“mô hình xã hội” của khuyết tật Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự nó không giảm bớt quyền của trẻ em và người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống trong một môi trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của mình thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội (chứ không phải lên cá nhân NKT) phải tháo

gỡ những rào cản lý tính và thái độ đang “làm khuyết tật” những con người có chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy

đủ vào xã hội

Như vậy, khái niệm người khuyết tật phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi Do vậy, không có một khái niệm chung nào về khuyết tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật Mỗi quốc gia phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính sách của quốc gia mình để đưa khái niệm phù hợp Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về NKT, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người [5]

Trang 20

12

1.1.2 Phân loại người khuyết tật

Dưới góc độ dạng khuyết tật, ở mỗi quốc gia có thể có các quy định khác

nhau về một số dạng tật, song nhìn chung hầu hết và phổ biến là các dạng khuyết tật giống như đã được quy định tại Luật NKT Việt Nam, bao gồm: a) Khuyết tật vận động; b) Khuyết tật nghe, nói; c) Khuyết tật nhìn; d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; đ) Khuyết tật trí tuệ; e) Khuyết tật khác Mỗi dạng khuyết tật này có đặc điểm riêng, chung về tâm, sinh lý về khả năng qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân, và

có ảnh hưởng qua lại, tác động đáng kể tới môi trường xung quanh làm xuất hiện những hệ quả pháp lý trong quá trình hòa nhập cộng đồng [5,tr25]

Đối với những NKT vận động, khuyết tật nghe nói, khuyết tật nhìn họ có đặc điểm chung là đều có bộ não phát triển bình thường như người không khuyết tật Do

đó, nếu được quan tâm, tạo môi trường thuận lợi và được rèn luyện từ sớm và thường xuyên thì họ vẫn có thể hòa nhập vào các hoạt động của xã hội (học tập, lao động ) Thực tế cho thấy, đại bộ phận NKT thuộc nhóm này đều có ý chí, khát vọng vươn lên khắc phục những khuyết điểm về mặt thể chất hay giác quan của bản thân để tự khẳng định mình, tham gia học tập, rèn luyện, sinh hoạt như mọi thành viên khác trong xã hội Tuy nhiên, cũng có một bộ phận không nhỏ do hạn chế về mặt thể chất, giác quan thêm vào đó là thái độ kỳ thị của gia đình, xã hội nên họ thường có tâm lý tự ti, mặc cảm tách mình ra khỏi cộng đồng Đi sâu vào từng dạng khuyết tật, mỗi dạng khuyết tật lại có tác động khác nhau đến đời sống, sinh hoạt

hàng ngày của NKT Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử

động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe

và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói1 mà cụ thể là hạn chế đọc, viết Khuyết tật nhìn là tình trạng

giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường Tuy nhiên, nhóm khuyết tật này thường có hai giác quan rất phát triển là thính giác và xúc giác Khác với ba loại

Trang 21

13

khuyết tật trên, khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư

duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

Nếu chia theo mức độ khuyết tật thì có các mức độ khuyết tật sau đây: a)

Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; c) Người khuyết tật nhẹ là NKT không thuộc hai trường hợp trên

Sự phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các chính sách của nhà nước đối với NKT Thực tế cho thấy, NKT khó có cơ hội tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết về cơ thể hay chức năng, song khó khăn đó sẽ tăng thêm do ảnh hưởng bởi những rào cản khác trong

xã hội Do đó, chính sách đối với NKT không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng mà còn phải tiến tới giảm thiểu hoặc xoá bỏ những rào cản, giúp NKT chủ động hòa nhập, có cơ hội tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động của xã hội

1.1.3 Đặc điểm, vị trí, vai trò của người khuyết tật

Để có được những chính sách phù hợp bảo đảm bình đẳng thực chất cho NKT thì cần phải có những đánh giá đầy đủ và chính xác về đặc điểm của nhóm NKT Những đặc điểm này sẽ là cơ sở, căn cứ quan trọng để quy định, ban hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với NKT Tuy nhiên, các quy định pháp luật, chính sách của nhà nước không phải vì NKT mà gây nên sự mất cân bằng xã hội, cần có những điều chỉnh hợp lý để việc hòa nhập của NKT không trở thành gánh nặng đối với “phần còn lại” của xã hội Có như vậy, các chính sách mới có tính khả thi và bản thân NKT không bị mặc cảm, tự ti vì sự khuyết tật Dưới đây là một số đặc điểm nổi bật của nhóm NKT cần được tính đến:

Trang 22

14

Thứ nhất, NKT là nhóm người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia vào các hoạt động xã hội

Đây là những đặc điểm sinh học của NKT có khả năng tác động đến các nhu cầu bản thân của NKT, làm hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng của NKT Điều này không chỉ là một khó khăn của NKT mà đối với một số trường hợp còn là gánh nặng của gia đình và người thân càng làm cho NKT dễ có tâm lý tự ti, mặc cảm về

sự khuyết tật của mình Trên thực tế, có những gia đình NKT do NKT không thể lao động, không thể tự chăm lo cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của bản thân, nên luôn luôn phải có một người chăm sóc càng làm cho kinh tế gia đình trở nên rất khó khăn Tuy nhiên, nếu được quan tâm, tạo môi trường thuận lợi, có sự tập luyện và

hỗ trợ cần thiết họ vẫn có thể khắc phục được những khó khăn đó, có thể học tập, rèn luyện, cống hiến và tham gia vào hoạt động cộng đồng như các cá thể khác trong xã hội

Tùy thuộc vào mức độ và dạng khuyết tật khác nhau mà mức độ ảnh hưởng đến việc hòa nhập của NKT cũng khác nhau và nhu cầu cần được hỗ trợ để giảm bớt những khó khăn cũng khác nhau Người khuyết tật vận động có thể gặp khó khăn trong việc tự di chuyển, ngồi, nằm, cầm, nắm, và họ cần được hỗ trợ về phương tiện đi lại và những không gian cần thiết, thuận lợi, phù hợp để di chuyển Người khuyết tật nghe, nói lại có thể gặp khó khăn về nghe, nói dẫn đến hạn chế trong việc đọc, viết và họ cần có các phương tiện trợ giúp như máy trợ thính, ngôn ngữ kí hiệu trong giao tiếp tạo điều kiện thuận lợi để họ thể hiện ý chí của mình Người khiếm thị lại cần các công cụ hỗ trợ di chuyển và nhận biết Như vậy, đây là một đặc điểm quan trọng để xác định các chính sách phù hợp với từng đối tượng, bảo đảm việc hòa nhập cộng đồng cho NKT Đây cũng là đặc điểm chi phối dẫn đến các đặc điểm khác liên quan đến NKT

Thứ hai, người khuyết tật thường gặp khó khăn về kinh tế

Người khuyết tật là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và

họ cũng có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng

Trang 23

15

góp công sức của mình vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia

và cũng có quyền được hưởng đầy đủ những thành quả phát triển của nhân loại Tuy nhiên, khuyết tật đã gây ra nhiều khó khăn cho họ trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Mặt khác, họ lại không có được những hỗ trợ cần thiết trong việc hòa nhập nên họ không chỉ gặp khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày mà việc lao động kiếm sống cũng là một vấn đề rất lớn chứ chưa nói đến việc tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội khác Kết quả là NKT phải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống hằng ngày trong đó kinh tế là một vấn đề lớn

Thực tế, rất nhiều NKT hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng đi làm nhưng lại bị thất nghiệp Một số rất nhỏ trong đó nếu được tuyển dụng thì người lao động khuyết tật thường là người được trả lương thấp, triển vọng thăng tiến trong công việc không cao, điều kiện làm việc khó khăn

Việc NKT có thể tạo ra thu nhập để nuôi sống được bản thân không nhiều

chứ chưa kể đến chuyên chăm lo cho gia đình Bản thân NKT nói chung và đặc biệt

là những NKT nặng việc tự lập trong vấn đề sinh hoạt tối thiểu hàng ngày đã là một khó khăn, chưa kể đến những trường hợp NKT bị phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người thân và gia đình còn mất đi một nguồn lực lao động chính để tạo ra thu nhập Vì vậy, phần lớn các hộ có NKT đều có mức sống thấp, đa số hộ thuộc loại nghèo Gia đình càng có nhiều NKT thì mức sống càng giảm, nhà ở tạm bợ, học tập gián đoạn, không có khả năng tham gia lao động Và chính những khó khăn này lại cản trở NKT tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn chồng lấn khó khăn

Thứ ba, người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong vấn đề hôn nhân và gia đình, đặc biệt là phụ nữ khuyết tật

Từ trước đến nay, để trợ giúp NKT hòa nhập cộng đồng, xã hội mới chỉ quan tâm nhiều tới những chính sách việc làm, giáo dục, sức khỏe nói chung cho họ Nhưng NKT cũng là con người – họ cần có nhu cầu về sức khỏe sinh sản và một

Trang 24

16

mái ấm gia đình hạnh phúc của riêng mình Hiện nay, NKT đang gặp phải rất nhiều rào cản từ gia đình, xã hội và từ chính bản thân khiến họ gặp nhiều khó khăn trong vấn đề hôn nhân và gia đình Mới chỉ có một bộ phận nhỏ NKT đã quan tâm và dám thể hiện tình yêu của mình còn đa số họ tự ti, mặc cảm về bản thân chưa dám thể hiện nhu cầu của mình

Vấn đề hôn nhân, gia đình đặc biệt nghiêm trọng đối với nhóm phụ nữ khuyết tật Giữa nam và nữ khuyết tật, nam giới khuyết tật có cơ hội yêu và kết hôn với một phụ nữ không khuyết tật, nhưng ngược lại, rất ít có cơ hội cho phụ nữ khuyết tật lập gia đình với một nam giới không khuyết tật Phụ nữ khuyết tật phải đối mặt với khó khăn thách thức gấp hai lần, bị phân biệt vì hai lí do: vừa mang giới tính nữ và vừa là NKT (phân biệt đối xử kép) Trong hôn nhân ở Việt Nam, quan niệm về người phụ nữ đảm đang, biết chăm lo cho cuộc sống gia đình vẫn luôn được xem trọng thì việc kết hôn giữa một phụ nữ khuyết tật với một nam giới không khuyết tật càng là một điều hiếm thấy

Thứ tư, dù có nhiều khó khăn trong cuộc sống NKT luôn nỗ lực vươn lên [9]

Một điều không thể phủ nhận là NKT có thể gặp khó khăn trong cuộc sống hơn so với bộ phận còn lại của xã hội Tuy nhiên, với sự nỗ lực của bản thân và sự

hỗ trợ từ phía gia đình, cộng đồng xã hội và Nhà nước, NKT vẫn có thể chủ động vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập cộng đồng và khẳng định được vai trò của mình trong gia đình và xã hội

Hầu hết trên các lĩnh vực hoạt động của xã hội của các quốc gia đều có sự tham gia của NKT, họ có thể là công chức, viên chức, cán bộ, những người làm công ăn lương trong các nhà máy, xí nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc làm người chủ doanh nghiệp, người chủ trang trại, hoặc cũng có thể là những người nông dân, những người thợ thủ công Nhiều tấm gương tiêu biểu về NKT có ý chí vượt qua khó khăn của số phận trở thành ông chủ doanh nghiệp đồ gỗ gia dụng, doanh nghiệp mây tre đan họ không những tạo được công ăn việc làm cho chính

họ mà còn tạo công ăn việc làm cho háng trăm người khác; cũng có những NKT đã trở thành những nhà nghiên cứu thiết kế thành công bóng điện cao áp công xuất nhỏ

Trang 25

17

đã tiết kiệm cho người sử dụng trong quá trình sử dụng điện hàng chục tỷ đồng một năm [9] Người khuyết tật đã chứng minh được rằng khi có cơ hội phù hợp đi cùng với sự tạo điều kiện hợp lý trong công việc hay trong môi trường làm việc, NKT có thể có những đóng góp quý báu cho xã hội Người khuyết tật cũng tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hoá thể thao và các hoạt động xã hội khác Với sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, xã hội và nhà nước nhiều NKT cũng

đã gặt hái được những thành công trong phong trào văn hoá thể thao quần chúng và trong các kỳ đại hội thể thao NKT khu vực và thế giới được tổ chức thường niên 5 năm một lần [9]

Trong lịch sử phát triển của nhân loại nhiều NKT đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của các quốc gia, điển hình như Tổng thống Mỹ Ruzeven hoặc chủ tịch các tập đoàn kinh tế lớn đa quốc gia của Nhật bản Ngay ở nước ta rất nhiều người là NKT vẫn đảm nhiệm các chức danh Bộ trưởng, Thứ trưởng, Vụ trưởng; Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp… họ đã thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, và có những đóng góp cống hiến đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [9] Nhiều tấm gương các thầy giáo, cô giáo khuyết tật vượt khó đã lưu danh từ đời này qua đời khác như: thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, thầy Phạm Văn Tường, Và còn nhiều câu chuyện kì diệu nữa Nếu ai đã từng xem các cuộc thi tìm kiếm tài năng và thi giọng hát Việt trên truyền hình thì không thể quên được cô bé xương thủy tinh Nguyễn Phương Anh, hay những cái tên như Dương Quyết Thắng, Hà Văn Đông, Phương Dung, Nguyễn Thanh Bình Và người không tay không chân ở Australia cũng sẽ được ít người Việt Nam biết đến nếu như không có dịch giả Bích Lan, một NKT tự học tiếng Anh qua radio [24]

1.1.4 Một số đối tượng khuyết tật đặc thù

1.1.4.1 Phụ nữ khuyết tật

So với nam giới, nữ giới thường bị yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi hơn trong việc hoà nhập xã hội và bị phân biệt đối xử, bất kể năng lực làm việc của họ là như thế nào Đối với nhóm phụ nữ khuyết tật, bài toán càng trở nên nan giải hơn bởi

Trang 26

bị tách biệt với những người khác Ở khắp nơi trên thế giới, họ ít được tham gia hơn vào các chương trình đào tạo nghề và tái thích ứng nghề nghiệp, và ngay cả khi đã qua đào tạo họ vẫn có nhiều khả năng bị thất nghiệp hơn hoặc chỉ được nhận làm một phần thời gian Người ta vẫn thường viện ra những quan điểm cố hữu về giới

và giới tính để bào chữa cho việc tuyển dụng NKT nam giới, hoặc cho hành vi tách lao động nữ ra khỏi một số loại công việc nhất định một cách không hợp lý với lý

do tránh gây tổn thương Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình xây dựng pháp luật, các nhà lập pháp và hoạch định chính sách quốc gia cần phải hết sức thận trọng và quan tâm đến khía cạnh giới trong vấn đề NKT, trong pháp luật và chính sách về NKT để đảm bảo mọi NKT, kể cả nam lẫn nữ, đều được hưởng công bằng từ luật pháp và chính sách này [13]

1.1.4.2 Trẻ em khuyết tật

Thực tiễn đã chứng minh rằng nếu có được cơ hội phát triển bình đẳng, trẻ

em khuyết tật hoàn toàn có khả năng phát huy năng lực của mình và cống hiến cho cộng đồng và xã hội Khác biệt ở đây là xã hội có thể phải thích ứng để thực hiện tiềm năng đó của trẻ [7] Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy trẻ em khuyết tật nằm trong nhóm những trẻ em dễ bị tổn thương nhất bởi bạo lực, xâm hại, bóc lột và xao nhãng, đặc biệt là khi trẻ bị giấu diếm hoặc bị gửi vào các trung tâm Rất nhiều em rơi vào trường hợp này do sự kỳ thị của xã hội hoặc do không đủ chi phí nuôi dưỡng trẻ Kết quả là trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu thế nhất trên thế giới Đặc biệt đối với trẻ em gái khuyết tật, sự kết hợp giữa phân biệt giới tính và phân biệt đối xử với NKT đã khiến họ không được chấp nhận và dễ trở thành nạn nhân của bạo lực

Trang 27

19

Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, trẻ khuyết tật phải đương đầu với nhiều khó khăn tiếp cận môi trường vật chất, cũng như tiếp cận những dịch vụ dựa vào cộng đồng, dịch vụ y tế, giáo dục và hệ thống bảo vệ trẻ em Vấn đề thiếu khả năng tiếp cận đối với NKT tại Việt Nam đặc biệt trầm trọng đối với trẻ khuyết tật, nó tạo ra những rào cản đến dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao và những hoạt động khác rất thiết yếu cho sự phát triển của một đứa trẻ Cụ thể là, trẻ khuyết tật thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ giao thông công cộng, trường học, bệnh viện, nhà vệ sinh, các tòa nhà văn hóa và những tòa nhà khác Thiếu tiếp cận đến thông tin liên lạc đối với những người khiếm khuyết

về thị lực và thính lực Trẻ em khiếm khuyết thị lực và thính lực không thể tiếp cận được những chương trình học tập và những thông tin khác vì những nội dung đó không có bằng chữ nổi Braille, phông chữ lớn, hoặc có phụ đề bằng chữ đi kèm Phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu thì hiếm và NKT phải dựa vào cố gắng của các giáo viên tình nguyện làm việc với những người điếc [7]

Có thể nói đây là hai đối tượng khuyết tật đặc thù cần được quan tâm nhiều hơn trong xã hội

1.2 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT

1.2.1 Nguyên tắc bình đẳng

Lý tưởng bình đẳng dựa trên nguyên lý căn bản là con người sinh ra đều như nhau, đều có chung dòng máu đỏ và nước mắt mặn, và đều xứng đáng được hưởng quyền lợi như nhau [9] Bình đẳng ở đây được hiểu là bình đẳng về cơ hội, có nghĩa

là mọi người đều được tạo một cơ hội như nhau để phấn đấu và vươn lên trong xã

hội Bình đẳng không có nghĩa là sự “cào bằng” như nhau về hưởng thụ, về tài năng, mà là sự bình đẳng “như nhau” về cơ hội, về điều kiện để phát triển đối với

mỗi cá nhân trong xã hội Bản chất của bình đẳng là trong xã hội mọi người đều có

cơ hội, điều kiện như nhau để phát triển năng khiếu và áp dụng tài năng Mọi ranh giới như: giai cấp, màu da, chủng tộc, giới tính, trình độ, địa vị… không thể quyết định và thay đổi bản chất bình đẳng giữa mọi người Các cá nhân trong mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau, các cộng đồng trong xã hội cũng bình đẳng với nhau Tuy

Trang 28

20

nhiên, cũng phải hiểu trong cuộc sống, nếu ai nỗ lực nhiều hơn, học giỏi hơn, làm việc hiệu quả hơn, tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn [17] Mặt khác, bình đẳng cũng hướng đến việc quan tâm đến những nhóm người có điều kiện khó khăn hơn những người khác, những cộng đồng kém phát triển, chẳng hạn: người nghèo, người già, trẻ em, người tàn tật, dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa… sao cho giảm bớt những khó khăn của họ

Từ nguyên lý bình đẳng, mọi quy định, luật lệ, thiết chế xã hội đều nhằm mục tiêu đảm bảo sự bình đẳng giữa mọi người trong xã hội Xã hội càng tiến bộ thì tính bình đẳng giữa mọi công dân càng cao Chính vì vậy, khái niệm bình đẳng xuất hiện trong nhiều văn bản và trở thành nguyên tắc chủ đạo trong các văn bản về quyền con người Chẳng hạn, Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ

khẳng định: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ

những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Ý tưởng về sự bình đẳng

trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ cũng được nhắc đến trong Bản Tuyên ngôn Nhân

quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về

quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.Với việc thừa

nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới, năm 1948, Liên hợp quốc ra Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người nhằm thúc đẩy các quốc gia tôn trọng và tuân thủ các quyền tự do cơ bản của con người, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội cũng như xây dựng các điều kiện sống tốt hơn, với sự tự do rộng rãi hơn, sự nhận thức thống nhất về các quyền và tự do cơ bản của con người Ngay tại Điều 1 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 đã khẳng định:

"Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền Mọi người

đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm, và cần phải đối xử với nhau bằng tình cảm anh em" Điều 2 Tuyên ngôn nhân quyền 1948 cũng nêu rõ: “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền tự do nêu trong bản Tuyên ngôn nhân quyền mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,

Trang 29

Nguyên tắc bình đẳng xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể

họ khác nhau về trí lực, thể lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau Theo nghĩa dân sự và chính trị, điều này có nghĩa là chính phủ phải trao các quyền và ưu đãi như nhau cho mọi công dân Nguyên tắc bình đẳng, cũng như một sản phẩm mà nguyên tắc này đem lại là việc cấm phân biệt đối xử, có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong pháp luật, tùy thuộc vào mục đích của văn bản và quan điểm của nhà soạn thảo và điều kiện đáp ứng của mỗi quốc gia ở mức độ nào

Dưới góc độ quyền con người, quyền bình đẳng được phân loại thành ba cấp

độ như sau [13]:

(1) Bình đẳng trên danh nghĩa

Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong hoàn cảnh như nhau cần được đối xử giống nhau Quan điểm này thường không tính đến

sự khác biệt và bất lợi của từng cá nhân và hoàn cảnh, xem như những yếu tố này không có liên quan gì Trong khi không cho phép đối xử người này hơn hoặc kém người kia, bình đẳng trên danh nghĩa không đặt ra quy định phải có những điều chỉnh và cải thiện cần thiết Do vậy, quan điểm này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng là NKT

Trang 30

22

biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận diện những rào cản bên ngoài mà NKT gặp phải có thể cản trở họ tham gia vào xã hội Định kiến và môi trường không thân thiện với NKT đều được coi là những vật cản đối sự tham gia toàn diện vào đời sống

xã hội của NKT Theo cách nhìn nhận này, tình trạng khuyết tật không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở cho vấn đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường vật thể để tạo điều kiện cho NKT tiếp cận và hòa nhập cùng xã hội

(3) Bình đẳng về kết quả

Bình đẳng về kết quả là sự bảo đảm các kết quả là như nhau đối với tất cả mọi người Nếu nhìn nhận sự bình đẳng theo góc độ này, sự khác biệt giữa các cá nhân và các nhóm đối tượng sẽ được thừa nhận Ví dụ, phải tính đến các chi phí thêm mà người lao động khuyết tật phải chi trả trong khi xem xét việc họ có nhận được tiền lương bằng mọi người hay không Khái niệm này có một số nhược điểm

Nó không chỉ rõ trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu của NKT nhằm đảm bảo sự bình đẳng thực sự về kết quả thuộc về ai - Nhà nước, khu vực tư nhân hoặc cá nhân nào

đó Ngoài ra, còn một điểm không rõ trong cách nhìn nhận này là người ta có thực

sự hiểu rõ giá trị của một cá nhân hay không khi tìm cách để chứng minh rằng anh

ta đã không làm ra được kết quả như những người khác

Trên thực tế, khái niệm bình đẳng về cơ hội hiện nay được sử dụng nhiều nhất trong các văn bản pháp luật của các quốc gia Việt Nam cũng là quốc gia đi theo nguyên tắc này

1.2.2 Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Phân biệt đối xử như sợi chỉ xuyên suốt hệ thống các quyền con người hiện đại, như là một sự hạn chế chủ yếu đối với việc thực hiện quyền lực của đa số ưu thế Yêu cầu về việc chống phân biệt đối xử được đặt ra trong nhiều văn kiện quốc

tế từ rất sớm, chẳng hạn như: Các quy định liên quan đến việc chống phân biệt đối

xử được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 1 và Điều 55), UDHR năm 1948 (Điều 2), ICESCR năm 1966 (Điều 2), ICCPR năm 1966 (Điều 2) Các

Trang 31

23

quy định chống biệt đối xử cũng được ghi nhận trong một số văn kiện quốc tế đặc biệt như Công ước về chống phân biệt đối xử trong Việc làm và nghề nghiệp (Công ước 111 do ILO thông qua năm 1858) (Điều 1), Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (liên hợp quốc thông qua năm 1965) (Điều 1), Tuyên

bố về thành kiến chủng tộc và chủng tộc (UNESCO thông quan năm 1978) (Điều 1,2,3), Tuyên bố về chống phân biệt đối xử trong giáo dục (UNESCO thông qua năm 1960( ( Điều 1), Tuyên bố về xóa bỏ tất cả mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên cơ cở tôn giáo hoặc tín ngưỡng (Liên hợp quốc thông qua năm 1981) (Điều 2)

và Công ước về quyền trẻ em (Liên hợp quốc thông qua năm 1989) (Điều 2) Bên cạnh đó, các quy định về không phân biệt đối xử cũng được ghi nhận trong các văn kiện khu vực cơ bản về quyền con người như: Công ước Châu Âu về Bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản, Hiến chương xã hội Châu Âu, Công ước khung

về Các dân tộc thiểu số (của Cộng đồng châu Âu), Văn kiện của Hội nghị Copenhagen về vị thế của con người ( Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu- OSCE), Công ước Châu Mỹ về quyền con người (của tổ chức các nước châu Mỹ), Hiến chương châu Phi về quyền của cong người và của các dân tộc (của Tổ chức thống nhất châu Phi)

Các hành vi phân biệt đối xử được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức

như: (1) Phân biệt đối xử trực tiếp xảy ra khi một người bị đối xử kém hơn so

người khác có cùng hoàn cảnh vì một lý do là người đó có đặc điểm nhất định và đặc điểm này thuộc các lĩnh vực được bảo vệ của pháp luật như khác biệt về chủng tộc và giới tính, đồng thời cũng không tìm đươc cơ sở hợp lý nào để minh chứng cho việc phân biệt này Ví dụ, một doanh nghiệp quảng cáo cho một vị trí đang

trống và thông báo trên bảng quảng cáo: “không tuyển người mù”; (2) Phân biệt

đối xử gián tiếp xảy ra khi người ta đặt ra một tiêu chí lựa chọn trung tính khiến

một nhóm đối tượng được luật pháp về chống phân biệt đối xử bảo vệ rơi vào vị trí bất lợi hơn so với những người khác, đồng thời không có cơ sở khách quan nào cho việc phải áp dụng tiêu chí đó Ví dụ, một doanh nghiệp đăng quảng cáo tìm người

và thông báo chỉ tuyển những người có bằng lái xe Yêu cầu này không thẳng thừng

Trang 32

24

loại trừ NKT Tuy nhiên, một số NKT nhất định không thể lấy được bằng lái xe và

do đó sẽ không thể xin việc Nếu không nhất thiết phải có bằng lái xe cho công việc

đó, ví dụ công việc đó rất hãn hữu phải lái xe và có thể thuê taxi hoặc phương tiện giao thông công cộng trong trường hợp cần phải đi bằng xe, thì yêu cầu nói trên sẽ

bị coi là phân biệt đối xử gián tiếp; (3) Gây phiền nhiễu là trường hợp khi xảy ra

một hành vi ngoài mong muốn nhằm mục đích hoặc gây hậu quả là xâm phạm nhân phẩm của một người hoặc/và nhằm tạo ra không khí đe dọa, thù địch, gây tiếng xấu, lăng mạ hoặc động chạm đến tự ái Dùng sức mạnh hoặc quyền lực để bắt nạt đồng

nghiệp ở nơi làm việc là một ví dụ; (4) Chỉ đạo và khuyến khích phân biệt đối xử

diễn ra khi một người hoặc một tổ chức yêu cầu hoặc khuyến khích việc đối xử với một người này kém hơn so với một người khác có cùng vị thế vì lý do người này có những đặc điểm nào đó được luật pháp về chống phân biệt đối xử bảo vệ Vận động

và kêu gọi mọi người ghét bỏ và có hành vi bạo lực với NKT là một ví dụ Trên thực tế, phân biệt đối xử với NKT diễn ra phổ biến và nặng nề nhất là trong lĩnh vực lao động và việc làm [13]

Ở góc độ khác, hành vi phân biệt đối xử đối với NKT còn có thể phân loại

như sau: (i) Phân biệt đối xử trong gia đình: Nhiều NKT bị chính những thành viên

trong gia đình phân biệt đối xử như: coi thường, coi là gánh nặng, coi là “vô dụng”, thường xuyên lăng mạ; không chăm sóc, thậm chí bỏ rơi; không cho ăn, khóa, xích trong nhà, bắt đi ăn xin Nhiều gia đình đổ tội cho “số phận” khi trong gia đình có

thành viên là NKT; (ii) Phân biệt đối xử trong cộng đồng: Có nhiều hình thức phân

biệt đối xử đối với Người khuyết tật diễn ra trong cộng đồng nơi họ sinh sống Nhiều người được hỏi cho biết có nhiều NKT bị: coi thường, lăng mạ, bị phớt lờ trong các hoạt động của cộng đồng; từ chối kết hôn, bị đánh đập; nhà hàng, cửa

hàng từ chối phục vụ; lạm dụng tình dục; (iii) Phân biệt đối xử tại nơi làm việc: Các

hình thức phân biệt đối xử gồm: từ chối nhận vào làm việc, không tôn trọng trong công việc; không có cơ hội thăng tiến; chỉ ký được hợp đồng ngắn hạn; chỉ được giao cho “những việc phù hợp” (lương thấp, vị trí thấp); ít khi hoặc không được đào

tạo; bị bóc lột sức lao động; (iv) Phân biệt đối xử trong giáo dục: Nhiều người cho

Trang 33

25

rằng, một số NKT không nên đi học vì họ không thể đi học hoặc sẽ ảnh hưởng đến việc học của những học sinh “bình thường” khác hoặc cho rằng học cũng không giúp ích gì Đối với những NKT đã từng đi học thì nhiều người cũng không học xong bậc tiểu học Phần lớn học sinh khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn ở trường như: trong việc đi lại, học tập, giao tiếp với giáo viên và các bạn cùng lớp; tham gia các hoạt động của trường; cơ sở hạ tầng của trường không thân thiện với NKT; giáo viên thiếu kỹ năng dạy NKT và hành vi phân biệt đối xử của giáo viên và các bạn

cùng lớp; (v) Phân biệt đối xử trong hôn nhân và sinh con: Một quan niệm khá phổ

biến là NKT không nên kết hôn vì NKT không thể có cuộc sống hôn nhân “bình thường”, không thể nuôi sống gia đình và bản thân và sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình Tương tự như vậy, nhiều người trong cộng đồng cho rằng NKT nữ không nên sinh con vì họ không thể nuôi con, sinh con sẽ tăng thêm gánh nặng cho họ và gia đình họ, con cái họ có thể bị khuyết tật “di truyền”… Đây là một trong những nguyên

nhân mà khoảng một nửa NKT ở độ tuổi 15 trở lên không kết hôn; (vi) Phân biệt đối

xử trong việc NKT tham gia các hoạt động xã hội: Người dân trong cộng đồng

thường có suy nghĩ là NKT không nên tham gia các hoạt động xã hội Vì những thái

độ này mà hầu hết NKT không tham gia bất cứ tổ chức nào ở địa phương (chính thức

và phi chính thức) và vào hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao trong cộng đồng

Tựu chung lại, chúng ta có thể nhận diện ba yếu tố mang tính phổ biến của

mọi hình thức phân biệt đối xử, đó là [25]:

(i) Những hành động được xác định có tính phân biệt đối xử như phân biệt, loại trừ, hạn chế, thiên vị;

(ii) Nguyên nhân của sự phân biệt đối xử xuất phát từ sự toàn vẹn về thể chất

và tâm thần

(iii) Mục đích và/hoặc hậu quả của sự phân biệt đối xử có tính mục tiêu hoặc ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa nạn nhân thực hiện và /hoặc hưởng thụ các quyền con người và tự do cơ bản Do đó, có sự khác biệt giữa phân biệt trực tiếp (mô tả mục đích), khi chủ thể có ý định phân biệt đối xử với một cá nhân/ nhóm và phân biệt đối xử gián tiếp (liên quan đến hậu quả) tức là khi có một quy định trung tính

Trang 34

26

hay biện pháp thực tế gây bất lợi đối với cá nhân/nhóm so với những người khác

Điểm cốt lõi của nguyên tắc không phân biệt đối xử xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng trong đối xử, bị coi là vi phạm khi sự phân biệt không có mục tiêu và sự

lý giải hợp lý Do đó, vấn đề “chống lại sự phân biệt đối xử” hay “ngăn ngừa phân biệt đối xử” được đặt ra để bảo vệ những nhóm, cộng đồng người này Chống phân biệt đối xử có thể được hiểu như là việc ngăn chặn bất kỳ một hành động nào từ chối quyền của các cá nhân hoặc các nhóm được đối xử một cách bình đẳng như họ mong đợi Để thể hiện nguyên tắc này, trước tiên các chính sách, pháp luật về NKT cần khẳng định “nghiêm cấm việc phân biệt đối xử người khuyết tật” trong tất cả các lĩnh vực Thứ hai là, quy định việc cần thiết lập quyền có “môi trường cư ngụ hợp lý”, một yếu tố trọng yếu để bảo vệ NKT khỏi bị phân biệt đối xử

1.3 Sự cần thiết xác lập cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế cũng như quốc gia

Thứ nhất, xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng thực chất trong hưởng thụ các quyền con người

Dưới góc độ sinh học, con người sinh ra có sự bất bình đẳng nhất định về sức khỏe, về giới tính, về màu da Nhưng con người không chỉ tồn tại chỉ với một mặt

tự nhiên Bản chất của con người là sinh vật xã hội tức là luôn phải tồn tại trong mối quan hệ với nhau Hợp thành xã hội cũng là bản chất tự nhiên của con người để phân biệt với các sinh vật khác Tính xã hội của con người làm phát sinh nhu cầu về bình đẳng Bình đẳng về nhân phẩm, phẩm giá Như vậy, bình đẳng ở đây không phải là sự bình đẳng về những thuộc tính sinh học- tự nhiên mà là sự bình đẳng về

tư cách con người trong xã hội Đó là việc được thành viên khác, xã hội và nhà nước đối xử như là một thành viên trong xã hội có đầy đủ các phẩm chất, các quyền của một con người: Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc… Quyền bình đẳng là một quyền tự nhiên của con người [17] Theo đó, NKT cũng như mọi người, có quyền được đối xử bình đẳng

Thứ hai, người khuyết tật là nhóm thiểu số lớn nhất thế giới đang gặp phải nhiều rào cản trong cuộc sống, cần được chú ý bảo vệ đặc biệt

Trang 35

27

Hiện nay, người khuyết tật là nhóm thiểu số lớn nhất thế giới Theo số liệu của LHQ, hiện nay trên toàn cầu có hơn 600 triệu NKT và cuộc sống hằng ngày của 25% dân số toàn cầu có liên quan với NKT ở mặt này hay mặt khác Vì cuộc sống của NKT ảnh hưởng đến toàn gia đình của NKT, chứ không chỉ có cá nhân người

đó, và rằng 80% số NKT sống trong các nước nghèo (trong đó có Việt Nam) phần lớn trong số họ là những người nghèo và không tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như các trung tâm phục hồi chức năng

Chúng ta cần phải khẳng định rằng: NKT là một nguồn lực của xã hội, họ có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân Nhiều NKT đã cho thấy một khi có cơ hội

và với sự điều chỉnh cần thiết đối với công việc hoặc môi trường làm việc, NKT có

thể đem lại những đóng góp to lớn Chẳng hạn, trong vấn đề lao động việc làm,

NKT muốn được tính đến trong các chính sách về thị trường lao động các chương trình và dịch vụ, kể cả chương trình dịch vụ việc làm và dạy nghề, nhằm giúp trang

bị kiến thức và chuẩn bị cho họ tốt hơn để tham gia thị trường lao động Điều này không chỉ giúp NKT có thể tự chăm lo cho bản thân mà còn giúp nhà nước và xã hội tận dụng được một nguồn lao động lớn bị bỏ quên Điều có ý nghĩa lớn lao hơn nữa đó là gánh nặng trong gia đình NKT sẽ giảm xuống Bản thân NKT sẽ thấy tự tin hơn trong gia đình và cuộc sống, gia đình NKT cũng bớt khó khăn hơn, xã hội cũng được cải thiện nhờ họ [14, tr13]

Tuy nhiên, vì tình trạng khuyết tật khiến họ đã và đang phải chịu những thiệt

thòi trên tất cả phương diện của đời sống xã hội [10, tr98], thường xuyên gặp phải

các rào cản trong cuộc sống Có thể kể đến một số rào cản như sau [9]: (i) Các rào

cản về mặt tinh thần như sự phân biệt đối xử của xã hội về cơ hội việc làm, cơ hội thăng tiến, cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, cơ hội tiếp cận trường học, và sự mặc cảm và tự ty của chính NKT); (ii) Rào cản về mặt vật chất: Điều kiện cơ sở vật chất không cho phép họ tiếp cận và tham gia đầy đủ như không tiếp cận được giao thông công cộng, không tiếp được các công sở, các công trình phúc lợi xã hội, trường học, bệnh viện, công trình nhà ở ; (iii) Rào cản về thể chế: Như việc pháp luật quốc gia chưa có nhiều điều luật quy định về chống phân biệt đối xử về cơ hội việc làm, tiếp

Trang 36

28

cận các dịch vụ xã hội hoặc chính sách phúc lợi xã hội chưa đáp được những nhu cầu cơ bản tối thiểu của NKT, để họ có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội đầy đủ

và hiệu quả hơn Có thể nói, NKT là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất

Vì vậy, những chính sách, pháp luật quốc tế cũng như quốc gia cần có cơ chế cụ thể hơn để bảo vệ và thúc đẩy, bảo đảm NKT được hưởng thụ các quyền của mình

Thứ ba, pháp luật là công cụ quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật

Sự kỳ thị của xã hội là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn, đẩy NKT ra bên lề của cuộc sống Điều đáng nói, kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học kỹ thuật - nó là vấn đề thuộc tâm lý và sự ý thức sâu xa giá trị sống của con người [28] Nó trở thành “một trở ngại cho các hỗ trợ xã hội, bảo vệ quyền của NKT cũng như tạo điều kiện để phát triển toàn diện cho NKT” Chiến đấu với sự kì thị và phân biệt đối xử dành cho NKT gần đây đã trở thành như một vấn đề chính của chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế Vì vậy, rất cần có các chiến dịch nhằm thay đổi thái độ, khuyến khích sự hòa nhập toàn diện bảo đảm NKT được bình đẳng và không bị phân biệt đối xử Việc thay đổi những nhận thức và thái độ

cố hữu trong xã hội là một điều không hề dễ dàng, tuy nhiên, thành công của những nhà ủng hộ cho quyền của NKT tại nhiều quốc gia khác đã chứng tỏ rằng nhiệm vụ này có thể thực hiện được và pháp luật là một công cụ không thể thiếu trong quá trình này Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự cân bằng ở mức độ nhất định cho NKT trong cuộc sống, góp phần vào việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử

và kỳ thị với NKT Nhờ có pháp luật, NKT có cơ hội phát huy tiềm năng, trí lực và

cả sức lao động của họ cho sự phát triển xã hội

Một trong những tính năng thống trị của tư duy pháp lý trong thế kỷ XX đã được công nhận, đó là pháp luật như một công cụ của sự thay đổi xã hội Mặc dù pháp luật không phải là phương tiện duy nhất của tiến bộ xã hội, nó đại diện cho một trong những chiếc xe mạnh mẽ nhất của tiến bộ, thay đổi và phát triển trong xã hội Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trong những năm qua đã góp phần làm thay đổi nhận thức của NKT

Trang 37

vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ sở để bảo vệ các quyền khác của con người

Thứ tư, bảo đảm bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người klhuyết tật còn góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện của đất nước

Việc pháp luật ghi nhận, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền của NKT là cơ sở vững chắc tạo hành lang pháp lý cho NKT hòa nhập vào cộng đồng, ổn định cuộc sống Có thể nói, lao động khuyết tật là một lực lượng lao động không nhỏ, đồng thời cũng là một lực lượng tiêu dùng những sản phẩm công nghệ Khi người lao động có cơ hội giáo dục, học nghề, việc làm sẽ giảm đi rất nhiều khoản trợ cấp xã hội và bảo hiểm y tế Rõ ràng, lao động khuyết tật đã góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân, công việc mà họ đang làm đã giúp giảm bớt chi phí dành cho phúc lợi khuyết tật và có thể giảm nghèo

Như vậy, việc ghi nhận và xác lập cơ chế bảo vệ quyền bình đẳng, chống phân biệt đối xử với NKT bằng các quy định pháp luật là thực sự cần thiết Nó không chỉ tạo điều kiện để NKT có cơ hội được thừa hưởng các quyền của mình, thuận lợi hơn trong việc hòa nhập cộng đồng mà còn góp phần quan trọng khẳng định tính nhân văn và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội tiến bộ

Trang 38

30

Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

2.1 Tổng quan pháp luật quốc tế và Việt Nam về người khuyết tật

2.1.1 Tổng quan pháp luật quốc tế về người khuyết tật

2.1.1.1 Pháp luật quốc tế về người khuyết tật

Dưới góc độ quyền con người, pháp luật quốc tế về quyền con người nói chung đều bao hàm cho cả quyền của NKT Các nguyên tắc được tuyên bố trong Hiến chương Liên hợp quốc công nhận phẩm giá và giá trị vốn có, quyền bình đẳng

và bất di bất dịch của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như nền tảng của tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới Trong bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và trong các công ước quốc tế về nhân quyền đã tuyên bố và thống nhất rằng mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và sự tự do được ghi trong công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào Mặc dù không phải là văn kiện có tính ràng buộc pháp lý nhưng các chuẩn mực về nhân quyền được đề cập trong Tuyên ngôn đã được nhân loại thừa nhận và coi Tuyên ngôn cùng với các Công ước quốc

tế về quyền dân sự, chính trị, và về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 là

“Bộ luật nhân quyền quốc tế” Tuy nhiên, do vị thế dễ bị tổn thương, NKT rất dễ bị

vi phạm các quyền hoặc gặp khó khăn trong việc hưởng thụ các quyền Vì vậy hệ thống các quy phạm và cơ chế quốc tế về quyền con người nói chung về cơ bản là không đủ, thậm chí, đôi khi không phù hợp nếu áp dụng một cách máy móc với nhóm NKT Trong khi đó, quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương như trẻ

em, phụ nữ và người thiểu số đều được nhắc đến trong các văn kiện pháp lý quốc tế Thực tế đó làm nảy sinh nhu cầu xây dựng văn kiện pháp lý quốc tế với những quy định cụ thể và chi tiết hơn để bảo vệ và thúc đẩy quyền của NKT

Mặc dù nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc ban hành từ 1945, song mãi đến những năm 1970, chính những thiệt thòi bất lợi mà NKT phải gánh chịu, tình trạng họ bị phân biệt đối xử, bị tách biệt khỏi xã hội mới

Trang 39

31

dần được cộng đồng quốc tế nhận thức rõ ràng hơn và sau đó được nêu lên thành vấn đề quyền của NKT Sau đó, quyền của NKT dần được đề cập nhiều hơn, cụ thể hơn trong các văn bản pháp lý quốc tế (thường là các văn bản không mang tính bắt buộc)

Bản Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người chậm phát triển và Tuyên bố về Quyền của Người khuyết tật được thông qua vào những năm 1970 được coi là văn kiện quốc tế đầu tiên quy định các nguyên tắc nhân quyền liên quan đến NKT Việc áp dụng những công cụ pháp lý này vào thời gian đó là một bước tiến quan trọng trong việc công nhận quyền của NKT, nâng cao nhận thức về quyền con người của NKT Tuy nhiên, các văn kiện này sớm bị chỉ trích bởi chúng vẫn chỉ thể hiện các quan điểm y tế và từ thiện đối với NKT và cuối cùng làm gia tăng thêm thái độ gia trưởng đối với NKT

Vào thập niên 1980, việc xác định lại vấn đề NKT theo mô hình xã hội diễn

ra ở cấp quốc gia như là một kết quả của các phong trào ủng hộ cho quyền khuyết tật đang dấy lên ở tầm quốc tế Đầu tiên là các văn bản pháp lý quốc tế không mang tính bắt buộc được các tổ chức quốc tế thông qua như: Chương trình hành động thế giới về NKT năm 1981, Các nguyên tắc bảo vệ người bị bệnh tâm thần và chăm sóc

y tế cải thiện tâm thần năm 1991, Chính sách nhất quán của Ủy ban Châu Âu về tái thích ứng nghề nghiệp cho NKT năm 1992, Tiêu chuẩn, quy chuẩn về sự bình đẳng các cơ hội đối với NKT năm 1993, Tuyên bố về quyền của NKT năm 1995, Đặc biệt, năm 1993, trong Tuyên bố Viên và chương trình Hành động (Đoạn 13), Hội

nghị thế giới về quyền con người lần thứ II đã nêu rõ: “Tất cả các quyền con người

và tự do cơ bản là mang tính phổ biến, bởi vậy tất cả mọi người, kể cả những người khuyết tật, đều là chủ thể bình đẳng của các quyền này” Tuy các văn bản quốc tế

này chỉ có tính khuyến nghị đối với các quốc gia nhưng chúng thể hiện sự cam kết

về đạo lý, chính trị của các thành viên và đóng vai trò như những hướng dẫn nhằm giúp cho việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật về NKT ở mỗi nước

Trong số các điều ước quốc tế về quyền con người trước năm 2007 có một số văn bản đề cập đến quyền của người khuyến tật ở mức độ hạn chế Chẳng hạn,

Trang 40

32

Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ năm 1999 đề cập đến

quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của phụ nữ khuyết tật, cụ thể "Quyền được

hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp hưu trí, thất nghiệp, đau ốm, khuyết tật, ”, theo quy định này, phụ nữ khuyết tật được thừa nhận là nhóm yếu

thế trong xã hội cần được bảo hiểm xã hội CRC năm 1989 đề cập khá toàn diện đến quyền của trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng, xem trẻ em khuyết tật là đối tượng được đặc biệt quan tâm Theo quy định của CRC, trẻ khuyết tật có quyền được tôn trọng, không bị phân biệt đối xử, được sống đầy đủ trong những điều kiện đảm bảo phẩm giá, thúc đẩy sự tự lực và tạo điều kiện cho các em tham gia, hòa nhập và phát triển Các văn kiện trên đã khẳng định NKT có các quyền cơ bản như mọi thành viên bình thường trong xã hội Tuy nhiên, đó chưa phải là quy định trong một công ước riêng về quyền của NKT

Những nỗ lực quốc tế vận động cho việc thúc đẩy các quyền của NKT càng trở nên mạnh mẽ hơn khi bước vào thế kỷ XXI Năm 2001, Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 56/168 về việc thành lập Ủy ban đặc biệt để xây dựng một công ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm tăng cường bào vệ quyền, phẩm giá của NKT Sau 5 năm soạn thảo và trải qua 8 kỳ họp của Ủy ban soạn thảo, ngày 13/12/2006, Công ước quốc tế về quyền của NKT đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc nhất trí thông qua Sự ra đời của Công ước có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu mốc son trong lịch sử phát triển quyền con người vì đây là công ước nhân quyền đầu tiên ra đời vào thế kỷ XXI và lại là dành cho nhóm người yếu thế, thiệt thòi nhất trong xã hội – NKT

Tính đến thời điểm hiện nay, những văn kiện quốc tế về quyền con người có nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề NKT đã ra đời có thể kể đến như Công ước

số 111 của ILO về phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm và nghề nghiệp (1958); Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật (1983); Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và chống thất nghiệp (1988); Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006 (có hiệu lực năm 2008) và Nghị định thư không bắt buộc Ngoài ra còn có những văn

Ngày đăng: 29/03/2016, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w