1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn môn luật hôn nhân gia đình

12 243 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 74,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ pháp lý thì "nam nữ chung sống như vợ chồng" là trường hợp nam nữ có đủ điều kiện đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng kí kết hôn.. Hành vi chung sống

Trang 1

MỤC LỤC:

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU………

NỘI DUNG ………

I Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về vấn đề nam nữ

chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn

1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất …………

2 Quy định của pháp luật về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng

nhưng không đăng kí kết hôn

II Quan điểm cá nhân về tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà

không đăng kí kết hôn

1 Đánh giá tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng

kí kết hôn

2 Quan điểm cá nhân về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng mà

không đăng kí kết hôn

3 Một số giải pháp hạn chế tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng

mà không đăng kí kết hôn

KẾT LUẬN………

DANH MỤC GIÁO TRÌNH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO……

Trang 1 2 2 2 2 2 3

5 6

7

10 11 12

LỜI MỞ ĐẦU:

Trang 2

Với vị trí là một thiết chế của xã hội, hôn nhân có vai trò là cơ sở tạo lập nên gia đình – tế bào của xã hội Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều cặp nam – nữ sống chung mà không xác lập nên quan hệ hôn nhân gia đình hợp pháp Tình trạng nam

nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn là một hiện tượng đã, đang tồn tại và ngày càng phổ biến trong xã hội Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Thực trạng, nguyên nhân, một số giải pháp và quan điểm của cá nhân

về tình trạng này chính là nội dung mà bài viết đề cập

Trong phạm vi kiến thức có hạn, bài viết còn có nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của thầy cô, để hoàn thiện thêm kiến thức của mình Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG:

I Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về nam nữ chung sống như

vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn:

1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất:

a, Khái niệm: Theo quy định tại điểm d, Khoản 2 của Thông tư liên tịch số

01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/1/2001 (hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35 của Quốc hội) thì việc sống chung như vợ chồng thuộc một trong các trường hợp sau: 1 Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau 2.Việc người nam và nữ về chung sống với nhau được gia đình một hoặc cả hai bên chấp nhận

3 Việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến 4 Người nam và nữ chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng gia đình Dưới góc độ pháp lý thì "nam nữ chung sống như vợ chồng" là trường hợp nam

nữ có đủ điều kiện đăng kí kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng

kí kết hôn Về nguyên tắc, pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ chồng

b, Đặc điểm: - Nam nữ có đủ điều kiện kết hôn (Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000)

nhưng chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn Hành vi chung sống

như vợ chồng của hai bên hình thành không vi phạm pháp luật nhưng giữa họ không có Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan đăng kí kết hôn cấp Nghĩa là giữa

họ trong quan hệ hôn nhân không có ràng buộc cũng như chứng cứ về mặt pháp lý

để khẳng định họ là vợ chồng So với hôn nhân có đăng kí đây là khác biệt cơ bản

Trang 3

- Trong thời gian chung sống như vợ chồng hai người thực sự coi nhau là vợ chồng: Trong thực tế họ đã và đang chung sống, thực sự coi nhau là vợ chồng và

thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau, với gia đình và xã hội

- Khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn định Đặc

điểm này phân biệt với hôn nhân "thử nghiệm" hay "sống thử" Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, cả hai bên đều mong muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc, nên ngay từ khi bắt đàu chung sống đã có ý định gắn bó lâu dài

c, Bản chất: Về bản chất, hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng chỉ quan

hệ vợ chồng mà quan hệ đó không được xác lập theo thủ tục và trình tự pháp lý nhưng lại đã và đang tồn tại trên thực tế, hai bên chung sống như vợ chồng với nhau, thực sự coi nhau là vợ chồng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của

vợ chồng với nhau, với gia đình và xã hội Vì vậy, trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng và hôn nhân có đăng kí về bản chất là như nhau

2 Quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề nam nữ chung như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn:

"Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn"

Theo khoản 1, Điều 11 Luật HN&GĐ: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này Mọi nghi thức kết hôn không

theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau

cũng phải đăng ký kết hôn” Điều 14, Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tổ

chức đăng ký kết hôn như sau: “Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên” Kể từ ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực pháp luật (ngày 01/01/2001), Nhà nước ta chỉ thừa nhận nam nữ là vợ chồng khi họ đã được cơ quan đăng kí kết hôn cấp giấy chứng nhận

Trang 4

kết hôn

- Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn

về việc thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày

Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ

đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia

đình năm 2000 để giải quyết Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

c) Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản

3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng…”

Điều 2, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP, ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng

ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của cũng quy định chi tiết về vấn đề này Ngoài ra, ngày 14/7/2003, Bộ Tư pháp còn ban hành Chỉ thị số 02/2003/CT-BTP về việc tiếp tục đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam và nữ chung sống

với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001 Như vậy:

- Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 thì vẫn được coi là vợ chồng (hôn nhân thực tế) Khi tiến hành khai lý lịch bản thân sẽ phải khai họ tên vợ hoặc tên chồng

- Nếu nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng kể cả có tổ chức đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nêu trên thì đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng Do đó khi khai lý lịch bản thân sẽ không phải khai họ tên vợ hoặc chồng

Trang 5

- Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa

án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, ngày 03/01/2001, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của

Quốc hội “về việc thi hành Luật HN&GĐ quy định cụ thể về trường hợp chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn" muốn chia tay như sau:

Đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật HN&GĐ, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng Vấn đề nuôi con và chia tài sản chung trong trường hợp hai bên nam nữ sống chung không có đăng ký kết hôn, nay xin ly hôn áp dụng tương tự như trường hợp vợ chồng ly hôn (khoản 2, khoản

3 Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2000) Như vậy:

+Về con chung: Do quan hệ cha mẹ-con cái không chịu ảnh hưởng bởi tình trạng

hôn nhân của cha mẹ nên quyền lợi của con vẫn được đảm bảo Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con áp dụng theo Điều 92 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000

+Về tài sản: Không được coi là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng mà là tài sản

chung theo phần Vấn đề chia tài sản được giải quyết theo nguyên tắc: Tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết,

có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con (khoản 3, Điều 17 Luật HN&GĐ)

+Về cấp dưỡng: cấp dưỡng là loại quan hệ nhân thân gắn với tài sản giữa các

thành viên trong gia đình trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Vì không được pháp luật công nhận là vợ chồng nên khi có mâu thuẫn không chung sống với nhau được nữa thì giữa họ cũng không phát sinh quan hệ cấp dưỡng

II Quan điểm cá nhân về tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:

Trang 6

1 Đánh giá về tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:

Hiện nay, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn

diễn ra ở nước ta ngày càng phổ biến và có xu hướng phát triển phức tạp về cả số lượng cũng như tính chất

Một cuộc khảo sát ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có 12.712 đôi bạn trẻ chung sống trước, kết hôn sau và 10.148 đôi chung sống không kết hôn Những cuộc hôn nhân này phần nhiều là do phong tục tập quán lạc hậu, do thiếu sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến hết ngày 31/12/2002, tại 56/61 tỉnh thành ở nước ta có 929.319 cặp vợ chồng có quan hệ hôn nhân không đăng kí kết hôn đã được rà soát và lập danh sách Về nguyên nhân của việc không đăng kí kết hôn, 40,6% số người trả lời là "thấy không cần thiết"

và 31,2% "không biết có quy định đó" (theo Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em Việt Nam, 2002) Theo thống kê của Sở Tư pháp Sơn La, 80% các cặp vợ chồng người dân tộc không đăng ký kết hôn, những đứa trẻ sinh ra không có giấy khai sinh rất phổ biến ở tỉnh miền núi này Cũng theo số liệu thống kê của Chi cục Dân

số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Ðắc Lắc, số kết hôn không đăng ký và vẫn còn ở mức cao (năm 2007, toàn tỉnh có 847 cặp kết hôn không đăng kí, năm 2008 số cặp kết hôn không đăng ký là 817)

Theo quy định của pháp luật thì nam nữ muốn trở thành vợ chồng phải đăng kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trên thực tế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: đất nước trải qua chiến tranh một thời gian dài nên nhiều trường hợp không có điều kiện đi đăng kí kết hôn; do phong tục tập quán, hay do sự thiếu hiểu biết pháp luật, mà để bảo vệ quyền lợi của các bên và các con Nhà nước ta

đã công nhận việc nam nữ chung sống như vợ chồng không có đăng kí kết hôn là

"hôn nhân thực tế" Tuy nhiên, để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta chỉ công nhận quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực (3/1/1987) là hôn nhân thực tế Có thể nói, hiện tượng nam

nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn diễn ra ngày càng phức tạp, nó là thực trạng đáng báo động hiện nay

Trang 7

2 Quan điểm của cá nhân về vấn đề nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:

Thứ nhất, có rất nhiều vấn đề có thể nảy sinh trong các cặp chung sống như vợ

chồng mà không đăng kí kết hôn Trên thực tế, việc "kết hôn" không đăng kí sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, pháp luật vẫn chưa thực sự là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đặc biệt là quyền lợi của phụ nữ

và trẻ em Những vấn đề có thể phát sinh, đó là:

- Sau một thời gian chung sống, một trong hai bên kết hôn với người khác, hoặc có mối quan hệ, chung sống như vợ chồng với người khác

- Trong quá trình chung sống như vợ chồng nếu bạo lực gia đình xảy ra, vấn đề bảo vệ quyền lợi của các chủ thể sẽ được thực hiện như thế nào?

- Khi đã có con chung, tài sản chung, giữa họ phát sinh mâu thuẫn và yêu cầu chấm dứt quan hệ Khi đó, quyền và lợi ích của các bên sẽ giải quyết ra sao? Trong những cuộc "hôn nhân" không có đăng kí kết hôn cuộc sống vợ chồng diễn

ra bình thường như bao người khác chỉ có điều cuộc hôn nhân ấy không có sự ràng buộc của pháp luật Tuy nhiên, không phải cuộc hôn nhân không có giá thú nào cũng êm đẹp hoàn toàn Đối với quan hệ hôn nhân khi không được chứng minh bằng giấy chứng nhận đăng kí kết hôn sẽ dẫn đến hệ lụy không nhỏ về quyền lợi của các bên và con cái Khi phát sinh mâu thuẫn, họ quyết định chia tay và đến lúc này thì người chịu thiệt thòi nhất là phụ nữ Có người tay trắng ra đi trong khi

đã đổ bao công sức, hi sinh hết tuổi trẻ, sức lực cho chồng con Thế nhưng chỉ vì không có đăng ký kết hôn nên dù cố gắng kiện ra đến tận luật pháp họ cũng bị thua Bởi rất dễ hiểu, cuộc hôn nhân cũng như thân phận của họ nằm ngoài vòng luật pháp vì thế họ không được luật pháp bênh vực và bảo vệ

Thứ hai, trong giải quyết ly hôn trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng cũng có một số vướng mắc Một vấn đề phát sinh là nếu các bên có sự mâu thuẫn

và yêu cầu ly hôn, khi chia tài sản, theo nguyên tắc: tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên trong quá trình chung sống Nhưng việc xác định bên

Trang 8

nào bỏ công sức và đóng góp nhiều hơn là không đơn giản Sẽ rất khó khăn để chứng minh, tập hợp chứng cứ, giấy tờ, hóa đơn, vì lúc còn hạnh phúc mấy ai ghi chép cụ thể Không chỉ có vậy, những đứa trẻ sinh ra khi cha mẹ sống chung mà không đăng kí kết hôn, thì khai sinh sẽ mang họ mẹ, không được ghi tên cha trong giấy khai sinh, hoặc khi chưa sinh ra thì cha đã chết, nên nhiều quyền lợi không được đảm bảo Câu chuyện dưới đây là ví dụ điển hình: " Chị N.T.T - vợ của nguời bị hại trong một vụ án giết người - không cam lòng với bản án mà toà sơ thẩm tuyên nên đã kháng cáo lên tòa phúc thẩm yêu cầu tăng hình phạt đối với các

bị cáo, đồng thời yêu cầu tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp duỡng nuôi con Theo lời khai tại toà, chị N.T.T va anh B.H.L gặp nhau, cùng cảnh nghèo, thất học va xa quê hương đã lâu, cả hai chung sống, không nghĩ đến chuyện phải đăng ký kết hôn Nhưng hạnh phúc thật ngắn ngủi, anh L vô cớ bị đâm chết truớc khi chị T sinh bé B.H.P 3 tháng Chị T được mời tham dự phiên toà vì là người lo toàn bộ mai táng phí nhưng chị không đủ tư cách đại diện hợp pháp cho người bị hại cũng như gia đình người bị hại Trước tòa, chị T không xuất trình được giấy đăng ký kết hôn cũng không có giấy ủy quyền của những nguời có quan hệ huyết thống với anh L Tờ giấy khai sinh của cháu B.H.P dù có ghi tên cha la B.H.L vẫn không đuợc xem là hợp pháp vì cha mẹ không có hôn thú, giấy khai sinh ghi tên cha phải được cha công nhận nhưng anh L mất truớc khi cháu P chào đời Tòa Phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, dành cho chị T quyền khởi kiện dân sự đòi bồi thường tổn thất tinh thần, trợ cấp nuôi con khi có đủ căn cứ chứng minh chị là vợ anh L., cháu P là con của anh L Vấn đề là làm sao để chứng minh khi hai người không đăng kí kết hôn? "

Thứ ba, các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề nam

nữ chung sống như vợ chồng còn nhiều khó khăn, vướng mắc.

- Có thể thấy văn bản luật, dưới luật đều quy định khá rõ ràng về trường hợp nam,

nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn Thế nhưng thực tế lại phát sinh nhiều bất cập Đó là tình trạng độc thân - để có cơ sở xác định một người nào đó còn độc thân, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tình trạng hôn nhân, tức chưa đăng ký kết hôn hoặc có đăng ký kết hôn nhưng đã ly hôn thì đủ cơ sở pháp lý xác nhận còn độc thân Vấn đề đặt ra là nam, nữ chung

Trang 9

sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn thì xác định tình trạng hôn nhân như thế nào? Nếu căn cứ theo quy định thì họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng Căn cứ vào tình trạng hôn nhân thì họ không có đăng ký kết hôn Nhưng họ có phải là độc thân hay không thì luật không quy định rõ Từ đó, cơ quan thẩm quyền thụ lý thủ tục hành chính tỏ ra lúng túng, không biết phải giải quyết trường hợp này như thế nào mà chỉ biết hướng dẫn khởi kiện ra Toà án

- Một vấn đề nữa đó là: Theo Tòa Dân sự TAND Tối cao, hiện nhiều thẩm phán đang có cách hiểu khác nhau khi vận dụng Điều 3 Nghị quyết 35 năm 2000 của

Quốc hội Một ví dụ tiêu biểu đã được đưa ra: "Ông A chung sống với bà B nhiều năm, đã có con chung và tài sản chung Đến năm 1970, ông A lấy thêm vợ lẽ là bà

C (có tổ chức cưới hỏi), sau đó sống với bà C Năm 2002, ông A xin ly hôn bà C".

Vậy quan hệ giữa ông và bà C có phải là hôn nhân thực tế hay không? Các thẩm phán lý giải: Theo Điều 3 Nghị quyết 35, hai bên nam nữ chung sống với nhau như

vợ chồng trước ngày 3-1-1987 nhưng không đăng ký kết hôn thì được tòa công nhận là vợ chồng khi ly hôn Vì luật không quy định nên các thẩm phán cho rằng chỉ cần điều kiện duy nhất là hai bên chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 thì công nhận họ là vợ chồng mà không cần điều kiện gì khác Ngược lại, nhiều thẩm phán khác không đồng tình với cách hiểu trên Theo họ, ông A và bà C sẽ không được công nhận là vợ chồng dù hai bên có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng, có sống chung từ năm 1970 bởi ông A đang có vợ là bà B, Điều 3 Nghị quyết 35 chỉ châm chước cho các trường hợp sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3-1-1987 mà vi phạm điều kiện về hình thức là chưa đăng ký kết hôn; còn về nội dung phải thì tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ (Trừ những trường hợp cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trước giải phóng lấy tiếp

vợ hai, đã có thông tư hướng dẫn riêng) Tòa Dân sự TAND Tối cao đồng ý với quan điểm này, theo Tòa Dân sự, thẩm phán hiểu khái niệm không quy định điều kiện kết hôn đồng nghĩa với khái niệm không cần đủ điều kiện kết hôn là máy móc

và không chính xác Đánh đồng hai khái niệm trên sẽ dẫn đến chuyện áp dụng pháp luật thiếu thống nhất

Thứ tư, việc kết hôn và đăng kí kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng Đây là biện pháp để Nhà nước kiểm soát việc tuân theo pháp luật của

Trang 10

nam nữ trong việc kết hôn Đăng kí kết hôn còn là biện pháp bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho đôi bên nam nữ Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cứ viết xác nhận giữa hai bên nam nữ đã phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, quan hệ này được Nhà nước bảo hộ Việc đăng kí kết hôn phải được đăng kí tại cơ quan đăng kí kết hôn thì mới có giá trị pháp lý, hai bên nam nữ mới phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau

3 Một số giải pháp hạn chế tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn:

Hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn đang diễn ra ngày càng phổ biến, nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên mà còn đe dọa sự ổn định và những giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam.Vì vậy hạn chế tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn cũng như hoàn thiện quy định của pháp luật về kết hôn, đăng kí kết hôn và vấn đề này là một đòi hỏi tất yếu

- Trước hết, các đôi nam nữ đang có ý định cũng như đang có cuộc sống chung

như vợ chồng mà chưa đăng ký kết hôn nên suy nghĩ kỹ càng, nhận thức tốt hơn trong việc kết hôn và đăng ký kết hôn bởi việc “đăng ký kết hôn” theo quy định của pháp luật mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Trong cuộc sống không ai có thể dự liệu được hết các tình huống có thể xảy ra trong tương lai, vì vậy, để đảm bảo quyền lợi, tránh thiệt thòi khi có tranh chấp phát sinh về sau thì việc đăng ký kết hôn sẽ là một trong những việc làm cần thiết Bài học lớn nhất là cho mỗi người; đặc biệt đối với phụ nữ khi bước vào cuộc sống hôn nhân là phải đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật Bởi đó chính là chứng cứ pháp

lý cần thiết bảo vệ quyền lợi thiết thực của họ trong cuộc sống hôn nhân

- Thứ hai, pháp luật cần quy định rõ hơn về vấn đề xác định tình trạng hôn nhân

trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kí kết hôn Văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này còn thiếu, chưa có hướng dẫn cụ thể, nên gây khó khăn trong giải quyết nhiều trường hợp Bên cạnh đó, cần có thêm những quy định để đảm bảo quyền và lợi ích của nam, nữ và con chung của họ khi ly hôn, quy định các chế tài xử phạt khi có hành vi bạo lực xảy ra trong quá trình chung sống, Các cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn rõ để các quy định của pháp

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w