Dân chủ XHCN là một phạm trù chính trị biểu thị một hình thức chính trị ‐ nhà nước mà ở đó quyền con người, các quyền tự do, bình đẳng của công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; t
Trang 1VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
(Kỷ yếu Hội thảo)
Trang 2MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
(Kỷ yếu Hội thảo)
Trang 3In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2014.
Trang 4VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
(Kỷ yếu Hội thảo)
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 5Đồng chủ biên
GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Trịnh Đức Thảo
TS Vũ Công Giao – TS Trương Hồ Hải
This book has been published with financial assistance of the Norwegian Embassy and the Canadian Embassy in Hanoi. The contents of this book are the sole responsibility of the Institute
of Public Policy & Law and the Institute of State and Law of
Vietnam, which can under no circumstances be regarded as
reflecting the position of the donors.
Trang 710 Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử và sự phát triển của quy định về quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử qua các bản Hiến pháp Việt Nam
PGS.TS. Bùi Xuân Đức 193
15 Hoàn thiện pháp luật về cơ chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Hiến pháp năm 2013
TS Trương Hồ Hải 209
16 Thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về dân chủ cơ sở
ThS. Mai Thị Thanh Tâm 265
19 Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở với việc thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013
TS. Nguyễn Thị Vy 271
Trang 820 Chế độ bầu cử dân chủ
TS. Trần Nho Thìn 284
21 Sự phát triển của chế độ bầu cử ở Việt Nam từ Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến nay
Trang 10LỜI GIỚI THIỆU
ân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở là hai hình thức dân chủ
đã được thực hiện từ lâu ở Việt Nam và gần đây được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thúc đẩy. Mặc dù vậy, liên quan đến hai vấn đề này hiện vẫn còn nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn chưa được làm rõ.
Để góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận, thực tiễn nêu trên, qua đó thúc đẩy dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới theo như định hướng của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Viện Chính sách công
và Pháp luật trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Nhà nước và Pháp luật trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức cuộc hội
thảo với tiêu đề: “Dân chủ trực tiếp, Dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt
Nam” vào ngày 10/3/2014 tại Hà Nội. Hội thảo có sự tham gia của
hơn 60 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà quản lý đang làm việc cho hai cơ quan tổ chức và nhiều cơ quan nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu về pháp luật, chính sách công ở Hà Nội.
Trong một ngày hội thảo, các đại biểu đã chia sẻ kiến thức, thông tin và trao đổi, thảo luận về một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ
cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.
Để lưu giữ và cung cấp kiến thức, thông tin về hội thảo cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan nhà nước, các cơ sở đào tạo, các chuyên gia không có cơ hội tham dự cho các mục đích D
Trang 11tham khảo, nghiên cứu và giảng dạy, chúng tôi tập hợp và xuất bản các tham luận được gửi tới hội thảo trong cuốn sách này. Mặc dù đã rất cố gắng, song do những hạn chế về nguồn lực và thời gian, cuốn sách này chắc chắn vẫn còn những hạn chế, sai sót. Chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân tình của các quý độc giả
để có thể xuất bản những ấn phẩm nghiên cứu tốt hơn về sau. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cám ơn các Đại sứ quán Nauy và Canada đã hỗ trợ tổ chức cuộc hội thảo kể trên và xuất bản cuốn sách này. Xin trân trọng giới thiệu và hy vọng cuốn sách
sẽ bổ sung một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan nhà nước, các đại biểu Quốc hội, các giảng viên, học viên, sinh viên ngành Luật và tất cả những ai quan tâm đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và cơ chế về bảo đảm dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở ở Việt Nam.
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG & PHÁP LUẬT
và VIỆN NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT
Trang 12đảm quyền lực và vị thế của nhân dân với tư cách là người làm
chủ nhà nước và xã hội. Vì vậy, cùng với dân chủ đại diện, việc
thực thi các hình thức dân chủ trực tiếp có ý nghĩa quan trọng,
Trang 13sở trong Hiến pháp năm 2013 được thi hành trên thực tế thì vẫn còn nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được làm rõ. Đây cũng chính là lý do đông đảo các nhà khoa học, các quý vị đại biểu có mặt tại buổi Hội thảo này để trao đổi ý kiến, quan điểm khoa học về các vấn đề lý luận và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam. Từ
đó, thảo luận, đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.
Kính thưa các quý vị đại biểu,
Ban Giám đốc Học viện nhiệt liệt hoanh nghênh tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc của Ban Tổ chức, cùng với sự tham gia nhiệt thành của các nhà khoa học có uy tín, tâm huyết và giàu kinh nghiệm, tôi tin chắc Hội thảo này sẽ tạo ra được một không gian sinh hoạt khoa học sôi nổi, cởi mở.
Một lần nữa, thay mặt Lãnh đạo Học viện, kính chúc các nhà khoa học, các quý vị đại sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
Trang 14
Kể từ thời Locke, Hobbes và Rousseau đến nay, tranh luận trong giới học thuật về sự đa dạng của các loại và các hình thức dân chủ (trong đó có đa dạng văn hóa) vẫn đang tiếp diễn.
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về “dân chủ” trong giới học thuật, dường như ở đây có một mẫu số chung: Dân chủ là nói về nhân dân, về việc người dân tham gia quyết định những vấn đề ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ, về việc trao quyền và tham gia, không bị loại trừ.
Năm nay Na Uy kỷ niệm 200 năm ngày ra đời Hiến pháp
Bí thư thứ hai Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam.
Trang 152. Sự phân quyền giữa các quyền lực lập pháp, hành pháp
và tư pháp. Các quyền lực độc lập cần phải kiểm soát lẫn nhau. Mục đích của việc phân quyền là để tránh tập trung quyền lực
và lạm quyền.
3. Các quyền cơ bản của công dân. Hiến pháp thiết lập các quyền dân sự, chính trị cơ bản của công dân – quyền tự do ngôn luận và pháp quyền.
Những khái niệm này cũng phù hợp cho các thảo luận của các bạn hôm nay về dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở. Những yếu chủ chốt này là một phần của mọi nền dân chủ – dù là ở cấp độ quốc gia hay cấp cơ sở.
Thứ hai, Phụ nữ. Dù Hiến pháp Na Uy 1814 có bản chất dân
chủ, nhưng phải đến năm 1898 lần đầu tiên đàn ông mới có quyền
bỏ phiếu và phụ nữ phải đợi đến tận năm 1913 mới có quyền bỏ phiếu. Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của phụ nữ cũng như các quyền của phụ nữ, như có thể thấy qua việc
kỷ niệm ngày quốc tế phụ nữ trong tuần qua. Phụ nữ là chìa khóa cho phát triển mọi khía cạnh của đời sống xã hội, cũng như phát triển dân chủ. Đặt binh đẳng giới vào trung tâm công tác quản trị công ở cơ sở là rất quan trọng để đạt được quản trị tốt.
Trang 16Chúng tôi hoan nghênh việc Viện Chính sách công và Pháp luật và Viện Nhà nước và Pháp luật chú trọng vấn đề dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở tại Việt Nam hiện nay. Phát triển dân chủ là một quá trình liên tục và phức tạp. Đại sứ quán chúng tôi hy vọng Viện có thể sử dụng cuốn sổ tay về dân chủ trực tiếp và dân chủ
cơ sở một cách xây dựng trong quá trình thúc đẩy và phát triển dân chủ ở Việt Nam.
Đại sứ quán Na Uy xin chúc quý vị thành công trong thảo luận tại hội thảo này, tập trung vào vấn đề dân chủ, vốn ảnh hưởng và có thể thay đổi cuộc sống của rất nhiều người.
Xin cảm ơn.
Trang 18
HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM
GS. TSKH Đào Trí Úc
1. Đặt vấn đề
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, từng bước Đảng ta đã xác định ngày càng rõ nét hơn, đầy đủ hơn, cụ thể hơn và ở trình độ cao hơn vấn đề dân chủ và pháp quyền. Cùng với những bước tiến vững chắc của công cuộc đổi mới, quan điểm của Đảng về dân chủ và pháp quyền cũng không ngừng được phát triển và hoàn thiện.
Dân chủ XHCN là một phạm trù chính trị biểu thị một hình thức chính trị ‐ nhà nước mà ở đó quyền con người, các quyền tự
do, bình đẳng của công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; trong chế độ đó, nhân dân phải là chủ thể đích thực và cao nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Ở đó, mọi thiết chế quyền lực đều được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát, trước hết là của nhân dân.
Những năm qua, các hình thức dân chủ đã từng bước được củng cố và hoàn thiện. Các tiến bộ trong việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đã có khả năng thâm nhập sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân và mọi vùng của đất nước, đang tạo ra những mô hình, những điển hình có sức lan tỏa mới. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, cũng đã có những chủ trương và bước đi cải cách và đổi mới trên nhiều mặt hoạt động.
Chủ tịch Hội đồng Viện Chính sách công và Pháp luật.
Trang 19Trước hết, cần phải kể đến mối liên hệ giữa đại biểu (đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND) và cử tri. Trong nhiều nhiệm kỳ vừa qua, mối liên hệ này đã được chú ý cải thiện, các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu và các cử tri đã đều đặn hơn. Trong các kỳ họp của các cơ quan đại diện, MTTQ Việt Nam các cấp đã tổng hợp được các ý kiến và kiến nghị của cử tri và chuyển đến các đại biểu, trong đó có những ý kiến thể hiện sự bức xúc của cử tri trước những vấn đề khác nhau trong chủ trương, chính sách, pháp luật
và thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật.
Sự thảo luận, chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội và HĐND đã được truyền hình trực tiếp và rộng rãi, thu hút sự quan tâm của nhân dân, của dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Một số chế định giám sát mới đã được thiết kế và thể chế hóa như: thành lập các Ủy ban lâm thời của Quốc hội (mặc dù chưa được hiện thực hóa), bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu. Cơ sở pháp lý mới cho việc thực hiện các
cơ chế dân chủ đó là sự thể chế hóa trong Hiến pháp quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng ta cũng như việc ban hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Khiếu nại, Luật MTTQ Việt Nam, Luật Thanh tra, Luật Cán bộ, công chức; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật v.v…
Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã được đẩy mạnh trên cơ sở chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2010 tầm nhìn
2020. Kết quả là đã tạo ra được khung pháp luật tương đối đầy đủ nhằm điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội phục vụ đắc lực cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu hơn, rộng hơn, có hiệu quả hơn và cho hoạt động bình thường của các lĩnh vực quan hệ xã hội và sinh hoạt quốc gia. Quy trình xây dựng pháp luật đã được đổi mới theo hướng phản ánh tốt hơn lợi ích đa dạng của xã hội, dân chủ hóa, công khai hóa quy trình đó nhằm thu hút sự quan tâm của xã hội, sự tham gia của doanh nghiệp, của các chuyên gia và các nhà khoa học.
Trang 20Trong thập niên vừa qua, cải cách hành chính đã được Đảng
và Nhà nước ta chủ trương triển khai với việc xây dựng và thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001‐2010. Kết quả là trên các mặt: cải cách thể chế hành chính nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, cải cách chế độ công
vụ và công chức, cải cách tài chính công đều đã tạo được một số chuyển biến tích cực với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo các nguyên tắc và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng mà điểm cốt yếu nhất là tăng cường năng lực tiếp nhận nhu cầu và lợi ích của xã hội, tạo thuận lợi tối đa cho các doanh nghiệp, cho người dân trong việc sử dụng các dịch vụ công. Nhiều nỗ lực cũng đang được đặt theo hướng tăng cường các bảo đảm cho việc gắn kết hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân, chống quan liêu, các hiện tượng hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.
Cải cách tư pháp được Đảng và Nhà nước ta đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đổi mới pháp luật, cải cách hành chính. Điểm khởi đầu của cuộc cải cách này có thể được tính từ sự ra đời của Nghị quyết 08‐NQ/TW ngày 02‐01‐2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Những định hướng và giải pháp cơ bản và toàn diện cho công cuộc cải cách tư pháp được xác định trong Nghị quyết số 49‐NQ/TW ngày 02‐6‐
2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Thông qua các nỗ lực cải cách, hệ thống tư pháp Việt Nam
đã từng bước được củng cố về tổ chức, làm trong sạch đội ngũ cán
bộ các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử; tăng cường khả năng tiếp cận công lý cho công dân, khắc phục tình trạng án oan, sai, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Đảng và Nhà
Trang 21sự kiểm tra, giám sát của cá nhân công dân, hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể xã hội, vai trò của dư luận xã hội và của thông tin đại chúng. Đó là những tác nhân quan trọng và trực tiếp đối với việc phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Trong khi khẳng định những kết quả quan trọng trên đây, chúng ta cũng thấy trong việc thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay vẫn tồn tại những vấn đề bức xúc.
Trước hết, cần nói đến dân chủ và kỷ luật trong Đảng và năng lực kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng, cơ chế và điều kiện để nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở Đảng và đảng viên, hiệu quả và hiệu lực của pháp luật trong đời sống xã hội và trong sinh hoạt quốc gia.
Tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước còn cồng kềnh, nhiều đầu mối và tầng nấc trung gian, chất lượng hoạt động và hiệu quả thấp. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và chế độ trách nhiệm của nhiều cơ quan và người đứng đầu chưa thật rõ, cơ chế vận hành và mối quan hệ còn bất hợp lý, đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế cả về năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ. Tình hình đó làm giảm hiệu quả lãnh đạo của Đảng, làm yếu hiệu lực quản lý của Nhà nước là năng lực lãnh đạo điều hành của hệ thống chính trị. Tệ quan liêu, tình hình tham nhũng có chiều hướng gia tăng, nhưng chưa kiểm soát được. Một trong những nguyên nhân của tình hình này là vấn đề dân chủ và kỷ luật trong hệ thống chính trị nói chung và trong bộ máy nhà nước nói riêng. Tình hình đó đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực và hiệu quả của việc kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ nói chung và vấn đề kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nói riêng. Một mặt, đây là vấn đề về hiệu quả và năng lực lãnh đạo, điều hành của hệ thống chính trị: cần phải tạo dựng
và hoàn thiện một cơ chế chính trị, cơ chế quyền lực luôn luôn có
Trang 22thể được kiểm soát trong quỹ đạo phục vụ lợi ích của đất nước, của nhân dân, đủ năng lực nắm bắt, phản ánh và thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của nhân dân, xã hội, bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mặt khác, cơ chế chính trị và cơ chế quyền lực đó cần được giám sát và kiểm soát, tăng cường khả năng “miễn dịch” đối với tệ quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác.
2. Mối quan hệ quyền lực (hệ thống chính trị) và xã hội – cơ sở phương pháp luận của vấn đề dân chủ trực tiếp
2.1. Mối quan hệ giữa quyền lực và xã hội dưới lăng kính xã hội học
Theo lý thuyết hệ thống, quyền lực được xem xét như là một thực thể của cả hệ thống xã hội. Nhà xã hội học người Mỹ Talcott Parsons viết: “Chúng ta có thể định nghĩa quyền lực như một khả năng gây ảnh hưởng thực tế đối với các quá trình khác nhau trong hệ thống”1. Từ đó, T. Parsons coi quyền lực là một bộ phận của một hệ thống lớn các cơ chế kiểm soát xã hội. Trong vai trò đó, quyền lực được sử dụng để các thành tố của hệ thống xã hội thực hiện các trách nhiệm của mình, đạt được các mục đích của mình,
mà trước hết là các mục đích chung của cộng đồng xã hội, các giá trị tổng thể và kết nối xã hội. Trong trường hợp có chống đối việc thực hiện các mục đích và giá trị đó thì cần phải loại bỏ sự chống đối đó thông qua việc áp dụng các chế tài. Giá trị của quyền lực chính là ở việc thực hiện các chức năng nêu trên.
Theo lý thuyết hệ thống về quyền lực thì quyền lực là một thực thể được thiết chế hóa và có sức mạnh trong toàn bộ cơ cấu
xã hội đã được phân tầng, một sự phân tầng xuất phát từ các giá trị xã hội. Vì vậy, quyền lực luôn dựa trên nền tảng các giá trị và các định hướng giá trị của xã hội.
Trang 23
xã hội trong xã hội với tính cách là một hệ thống lớn.
Nội dung và vai trò của quyền lực chính trị thể hiện qua hệ thống
các chức năng của quyền lực chính trị trong xã hội, bao gồm: a/ Quyền lực chính trị xác định các mục tiêu phát triển của xã hội, lựa chọn các ưu tiên phát triển của xã hội;
b/ Quyền lực chính trị đảm bảo sự hợp tác và kết nối của các lực lượng và tầng lớp xã hội; chịu trách nhiệm duy trì trật tự và sự toàn vẹn của quốc gia;
Thứ nhất, quyền lực là một dạng quan hệ, trong đó luôn luôn
có chủ thể và khách thể cụ thể. Đó là quá trình thể hiện ý chí và lợi ích của chủ thể trong mối liên hệ với khách thể. Không có một thứ quyền lực chung chung mà không có chủ thể và khách thể hoặc đối tượng của quyền lực. Kết luận này liên quan đến vấn đề bản chất của quyền lực chính trị: quyền lực của ai, do ai và đối với ai?
Thứ hai, quá trình thực hiện quyền lực chính trị diễn ra dưới
mọi hình thức tác động có chủ định của chủ thể đối với khách thể.
Đó là quá trình biến ý chí và lợi ích của chủ thể quyền lực chính trị thành hiện thực thông qua việc tác động nhằm thay đổi ý thức và hành vi của đối tượng bị tác động, từ những biện pháp cứng rắn nhất đến những phương pháp, hình thức, thủ đoạn chính trị khác
Trang 24nhau, trong đó vấn đề lợi ích mà trước hết là lợi ích của khách thể chịu tác động luôn luôn là tâm điểm của toàn bộ quá trình tác động mang tính quyền lực. Thực hiện quyền lực chính trị là một quá trình thể hiện, ghi nhận, xử lý, đánh giá các vấn đề lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích của nhóm xã hội và của các tầng lớp xã hội.
Thứ ba, để làm được điều đó, bản thân quyền lực chính trị và
hệ thống chính trị phải được coi là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội. Quyền lực chính trị phải được đặt trong mối liên hệ với xã hội trong mối tương tác với môi trường xã hội, thể hiện được chức năng liên hệ trong một hệ thống.
Từ nhận thức như trên về quyền lực chính trị và hệ thống chính trị, có thể thấy một mối liên hệ tự nhiên giữa một bên là các thiết chế chính trị, các quy phạm, thể chế của chúng với một bên khác
là xã hội, môi trường xã hội.
Lãnh đạo, quản lý, với tính chất là chức năng của các thiết chế của hệ thống chính trị, là quá trình và phương pháp phản ánh mối quan hệ đó. Xử lý mối quan hệ này là biểu hiện tập trung nhất của
năng lực và hiệu quả và quản lý của hệ thống chính trị.
Để giải thích cho quan điểm tiếp cận này về hiệu quả hoạt động của các thiết chế hệ thống chính trị, cần trở lại với quan điểm tiếp cận
hệ thống chính trị như là một hệ thống quan hệ giữa nó với môi trường xã hội. Nhà xã hội học Mỹ D. Easton hình dung hoạt động của hệ thống chính trị thông qua hệ thống các “đầu vào” và các “đầu ra” của hệ thống chính trị. Nhờ có mối liên hệ với xã hội mà đầu vào của hệ thống chính trị chính là xuất phát từ xã hội. Đó là các nhu cầu
xã hội, thái độ của xã hội, sự ủng hộ, hỗ trợ và tiếp sức hay là thái độ bàng quan, không ủng hộ từ phía các lực lượng xã hội.
Các yêu cầu và nhu cầu luôn luôn được đặt ra cho các thiết chế quyền lực từ phía xã hội. Đó có thể là:
‐ Yêu cầu liên quan đến sự phân bổ nguồn lợi, lợi ích, các dịch
vụ công cộng.
Trang 25‐ Yêu cầu về xử lý chính sách và bảo đảm sự hoạt động bình thường cho xã hội (chẳng hạn chính sách bảo hộ hàng hóa, bảo đảm an ninh và an toàn xã hội v.v )
‐ Yêu cầu về tự do và bình đẳng xã hội (ví dụ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do đi lại, tự do kinh doanh v.v ) Các yêu cầu từ phía xã hội chính là mạch sống của quyền lực chính trị, tạo nên nguồn kích thích hoạt động và đồng thời đó cũng là nội dung tổ chức thực hiện các chức năng quyền lực của
hệ thống chính trị. Thiếu chúng, các thiết chế chính trị sẽ thiếu đi lý do
để tồn tại như là chủ thể của các quan hệ chính trị.
Sự ủng hộ, hỗ trợ và tiếp sức từ phía xã hội đối với hệ thống chính trị thể hiện qua các trạng thái của xã hội mà biểu hiện là mức độ tuân thủ chính sách và pháp luật, mức độ tham gia vào đời sống chính trị; độ tin cậy đối với các quyết sách, lòng tin của dân chúng đối với nhà cầm quyền; sự ủng hộ về kinh tế (nộp thuế, thực hiện các nghĩa vụ công dân v.v ) đối với Nhà nước.
D. Easton đã mô tả quá trình đó bằng sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 1)
Trang 27và xã hội trọng tâm là “đầu vào” và quá trình xử lý nó của hệ thống chính trị. Đây là một quá trình hết sức phức tạp. Bởi vì “đầu vào”, với tính cách là nơi thể hiện các nhu cầu xã hội, chứa đựng một lượng thông tin hết sức đa dạng, phức tạp. Đó là một khối lượng các thông tin đa chiều, phản ánh nhiều nhóm lợi ích và nhu cầu xã hội, có khi khác nhau và thậm chí trái chiều nhau, phản ánh các khuynh hướng tư tưởng, ý thức hệ, quan điểm xã hội, quan điểm chính trị, những đòi hỏi, động cơ xã hội và động cơ chính trị khác nhau.
Chính vì vậy, các thiết chế của hệ thống chính trị trong quá trình vận hành phải xây dựng được những cơ chế ghi nhận và xử
lý thông tin về nhu cầu và đòi hỏi xã hội. Cơ chế đó bao gồm nhiều khâu hợp thành với những khu vực hoạt động liên quan mật thiết với nhau. Sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 2) mô tả một cách chi tiết về sự hiện diện của các khu vực nói trên trong cơ chế về sự liên hệ hệ thống chính trị với xã hội. Đó là:
Khu vực của sự chuyển hóa các nhu cầu xã hội khác nhau thành các đòi hỏi về chính trị. Tại khu vực này, cần có những nỗ lực nhằm ghi nhận hoặc ngược lại, phủ nhận các yêu cầu, làm cơ
sở cho sự chuyển hóa đó. Sự thừa nhận được giải mã trong “cổng mở”, sự phủ nhận được thể hiện trong “cổng đóng” của hệ thống.
Cả hai “cổng” đều phải thực sự biểu hiện sự quan tâm và nhạy bén về chính trị của các thiết chế quyền lực.
a/ Khu vực tạo ra động lực cho sự phát triển tính tích cực chính trị, nâng cao ý thức chính trị của các thành viên xã hội. b/ Khu vực xử lý, điều hòa các lợi ích, phối hợp các đối tượng và nguồn lực của xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội. c/ Khu vực ra các quyết sách chính trị, hoạch định chính sách và pháp luật.
d/ Khu vực bảo đảm thực thi các quyết sách, chính sách và pháp luật.
Trang 28Sơ đồ 2: Sự vận hành của hệ thống chính trị trong mối liên hệ với xã hội
Sự tương tác giữa việc ra quyết sách và nhu cầu xã hội
Theo D.Easton: A system analysis of political life N.Y, 1965, p.74 Chú thích sơ đồ:
tr.22 Kênh điều hòa, phối hợp, tạo đồng thuận lợi ích và yêu cầu chính trị
I: Kênh chuyển hóa các yêu cầu (sau khi được xử lý) thành các quyết sách chính trị.
O: Đưa quyết sách vào thực tiễn (thi hành quyết sách)
D: Khu vực chuyển hóa các nhu cầu xã hội thành các yêu cầu về chính trị
S, T, U, V, W: Các kênh chuyển tải yêu cầu chính trị, trong đó: S: Cổng ngăn chặn, giới hạn
Trang 29U: Các kênh xử lý, phân loại yêu cầu để chuyển tải đến khu vực xử lý R
Qua việc tiếp cận cách nhìn nhận như trên của các nhà xã hội học hiện đại về quá trình hoạch định về chính trị của các thiết chế
hệ thống chính trị, có thể rút ra những kết luận sau đây:
Thứ nhất, hệ thống chính trị và các thiết chế của hệ thống
chính trị luôn luôn tồn tại và hoạt động dưới ảnh hưởng và áp lực của các nhu cầu xã hội và do đó, chúng tồn tại và hoạt động không
vì mục đích tự thân mà luôn luôn bị quy định bởi đòi hỏi khách quan và sự phát triển của xã hội.
Thứ hai, để tiếp nhận và xử lý tốt các nhu cầu, đòi hỏi phức
tạp và đa dạng của xã hội, nhiệm vụ của các thiết chế thuộc hệ thống chính trị là nỗ lực một cách khách quan nhằm chuyển hóa
và định hướng nhu cầu xã hội thành các lợi ích và yêu cầu về chính trị. Không chính trị hóa các nhu cầu xã hội nếu không cần thiết và đồng thời phải kịp thời chuyển hóa các đòi hỏi và nhu cầu
xã hội thành các yêu cầu chính trị khi cần thiết, vì vậy cần nhận biết các yêu cầu chính trị trong vô số các nhu cầu xã hội. Các thiết chế của hệ thống chính trị cần có năng lực làm việc đó.
Thứ ba, hệ thống chính trị phải được vận hành thông suốt
trong từng khâu, từng bộ phận và trong cả hệ thống. Sự ách tắc nào ở bất kỳ khâu nào đều có thể dẫn đến làm mất khả năng vận hành và thực hiện chức năng của cả hệ thống.
Thứ tư, việc tiếp nhận nhu cầu, đòi hỏi, xử lý nhu cầu và đòi hỏi,
biến chúng thành các yêu cầu chính trị hay không, nhận diện các yêu cầu chính trị, sàng lọc chúng để đưa lên thành quyết sách, đường lối, chủ trương, pháp luật, thể chế là những khâu hết sức phức tạp, đòi hỏi tính khoa học, tính khách quan, dân chủ, quyết định sự thành bại của
hệ thống chính trị, đòi hỏi năng lực cao của hệ thống chính trị.
Đến lượt nó, năng lực của hệ thống chính trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, trước hết phải kể đến những tố chất vốn
Trang 30có của hệ thống chính trị. Đó là tính mở. Tính mở của các thiết chế chính trị tạo ra sự liên hệ mật thiết giữa chúng với nhau và của toàn bộ
hệ thống chính trị với đời sống xã hội. Tính mở tạo nên mối liên hệ dân chủ trong mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong của các thiết chế chính trị, tăng cường khả năng tiếp nhận thông tin từ bên ngoài hệ
Tuy nhiên, chính trị học hiện đại trên cơ sở những thành tựu của các khoa học quản lý và khoa học tự nhiên đã chú trọng đến tính thể chế của các quan hệ cộng đồng mà xã hội học cũng đã xác nhận. Xã hội học, bắt đầu từ E.Durkheim, M. Weber đến G.Lasswell, T. Parsons, D.Easten đều nói đến thể chế như là lĩnh vực các quan hệ. Về sau, chẳng hạn như nhà xã hội học người Pháp Moris Duverger đã phát triển thêm quan điểm này, nhấn mạnh hạt nhân mang tính hình thức trong khái niệm thể chế. Ông viết: “Thể chế chính trị thể hiện mô hình các quan hệ của con người trong đó ghi nhận các mối liên hệ cụ thể và vì thế có tính ổn định, bền vững”.2 Thể chế chính trị là đặc trưng của quyền lực chính trị về mặt hình thức, là “luật chơi” chung của xã hội.
Tính chất xã hội là tính đặc trưng chung của quyền lực, trên cơ
sở đó mà hình thành quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị có thể chuyển hóa thành quyền lực nhà nước trong những trường hợp nhất
1
Simon G, Philosophy of Democratic Government, L 1993, p.19.
2 M.Duverger, Les Constitutions en France, Paris, 1957, p.105.
Trang 31định, còn quyền lực nhà nước luôn luôn là quyền lực chính trị và mang trong mình nó yếu tố xã hội tự thân. Một ví dụ đặc trưng khi quyền lực xã hội (của nhân dân) chuyển thành quyền lực chính trị rồi sau đó chuyển hóa thành quyền lực nhà nước là Ủy ban cách mạng lâm thời của Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1945 ở Việt Bắc. Theo quan điểm của các nhà chính trị học và luật học, quyền
lực chính trị và quyền lực nhà nước phải mang trong mình nó tính
ý chí: ý chí của chủ thể quyền lực. Ý chí đó có thể được biểu thị
(bằng tuyên ngôn, bằng Hiến pháp, các đạo dụ, chiếu chỉ, bằng pháp luật v.v ) hoặc không được biểu thị (vì không phải lúc nào cũng cần thiết) nhưng trong mọi trường hợp quyền lực là ý chí và bản thân quyền lực hoặc các thiết chế đại diện cho nó phải có năng lực thực hiện ý chí đó, sẵn sàng thể hiện được, biểu thị được và thực hiện được ý chí đó.
Ngoài những đặc tính chung của quyền lực xã hội và quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước có đặc trưng riêng của nó là
quyền lực công.
Quan điểm về quyền lực cũng có nền tảng lý luận từ học thuyết nổi tiếng về Khế ước xã hội của nhà tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp J.J. Rouseau (1712‐1778). Học thuyết của J.J. Rouseau có hai nội dung chủ đạo là vấn đề quyền lực nhân dân
và tính thống nhất, không chia sẻ của quyền lực nhà nước. Ở phần này, chúng ta đề cập đến nội dung thứ nhất trong học thuyết của nhà tư tưởng vĩ đại này. Đó là học thuyết về nguồn gốc mang tính khế ước của Nhà nước và quyền lực nhà nước.
Là nhà tư tưởng Khai sáng và triệt để chống chủ nghĩa
chuyên chế phong kiến, trong tác phẩm “Luận bàn về nguồn gốc và
cơ sở của sự bất bình đẳng giữa người với người”, J.J. Rouseau đã xây
dựng học thuyết của mình trên nền tảng về chế độ tư hữu. Theo
đó, Nhà nước ra đời từ trong lòng xã hội có sự chiếm hữu tư nhân đối với tài sản. Và Nhà nước chính là sự liên kết của những sở hữu chủ để tự bảo vệ mình và rồi sau đó bảo vệ lợi ích của những
người khác. Về sau, trong tác phẩm nổi tiếng Về khế ước xã hội hay
Trang 32các nguyên tắc của quyền lực chính trị, J.J. Rouseau đã đưa luận điểm
về sự liên kết của những người sở hữu thành học thuyết về khế ước xã hội. Theo học thuyết này, nhiệm vụ chủ yếu của Khế ước là xác lập một tổ hợp (association) và thông qua đó bằng nỗ lực chung mà bảo vệ, che chở tính mạng và tài sản của từng thành viên của tổ hợp đó. Tổ hợp là sự kết hợp thống nhất của mọi người, nhưng mỗi thành viên là độc lập, vẫn tồn tại như trạng thái ban đầu và hoàn toàn tự do và thuộc về chính mình.
J.J. Rouseau cho rằng, tư tưởng về chế độ dân chủ đại diện là sản phẩm của giai đoạn sau của quá trình phát triển tư tưởng về khế ước
xã hội, ông coi tư tưởng đó là trái với quan điểm về tính không chuyển nhượng và không chia sẻ của quyền lực nhà nước. Thậm chí, ông còn cho rằng, dân chủ đại diện trái với bản chất của con người, là sản phẩm của chế độ phong kiến bất công và phi lý vì trong chế độ
đó, con người bị hạ nhục, bị tước đi phẩm giá và chính danh của mình. Làm gì có ai đại diện cho con người trong các chế độ đó.
Như vậy, theo J.J. Rouseau và các nhà tư tưởng của học thuyết Khế ước về nguồn gốc của quyền lực nhà nước thì chế độ dân chủ đại diện và sản phẩm của nó là chế định đại biểu nhân dân là một sản phẩm bất đắc dĩ của quá trình phát triển quyền lực nhà nước, khi nó phải được triển khai trên một phạm vi rộng lớn, phức tạp, khi mà, theo như J.J. Rouseau, tình cảm đối với đất nước của con người đã nguội lạnh, lòng vị kỷ, sự xâm chiếm và lạm dụng chính quyền đã trở nên phổ biến. Nó phi tự nhiên, vì “các đại biểu của nhân dân không là nhân dân và không thể đại diện cho nhân dân,
họ chỉ là những người được nhân dân ủy quyền và những quyết định của họ không được nhân dân trực tiếp thông qua, đều không
có hiệu lực, thậm chí không phải là luật”.
Chính trên cơ sở quan điểm này mà khi nói đến chế độ đại nghị được coi là hoàn hảo nhất là chế độ đại nghị ở Anh, J.J. Rouseau đã nói một cách chua chát như sau: “Nhân dân Anh
tự cho mình là tự do, nhưng họ đã nhầm lẫn một cách cay đắng!
Họ chỉ tự do trong lúc họ đi bầu các ông nghị, bà nghị. Nhưng khi
Trang 33các vị ấy đã trúng cử rồi thì nhân dân trở thành nô lệ của họ, người dân không là gì hết đối với họ!” 1.
Học thuyết về Khế ước xã hội có mối liên hệ với lý thuyết trước
nó là lý thuyết về trạng thái tự do tự nhiên của cá nhân con người. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết đó là nhà tư tưởng Anh J. Locke (1632‐1704). Ông kịch liệt bác bỏ chế độ quân chủ tuyệt đối và học thuyết cho rằng đây là hình thức nhà nước duy nhất trên thế giới vì
nó không phù hợp với xã hội công dân, do vậy không thể là một cách thức của một chính quyền dân sự. Theo J. Locke, “để có thể bảo vệ được cuộc sống an toàn, bảo đảm được các quyền và tự do của con người, Nhà nước không thể là gì khác ngoài một sự tự nguyện hợp nhất của mọi người vào một cộng đồng chính trị thống nhất, một sự hợp nhất được hình thành và hoạt động không thể trên cái gì khác ngoài sự đồng thuận và chỉ thông qua đồng thuận”2.
Ngay từ lúc ra đời, học thuyết của J. Locke, của J.J.Rouseau đã trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản non trẻ ở Tây Âu và Bắc Mỹ trong việc giành quyền lực chính trị từ tay giai cấp phong kiến, dần dần, học thuyết đó đã có sức lan tỏa rộng lớn, mặc dù ở những khía cạnh nhất định nó đã tỏ rõ sự hạn chế về lịch sử và máy móc. Ngày nay, ý nghĩa chính trị ‐ tư tưởng và giá trị thực tiễn của thuyết Khế ước về nguồn gốc của quyền lực nhà nước được xem xét
từ yêu cầu của việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính trị của nhân dân, chống lạm quyền, tiếm quyền từ phía cá nhân này hay nhóm người khác, đặc biệt là trong vấn đề chống tha hóa quyền lực.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tính chất công của quyền lực Nhà nước đảm bảo rằng, dù xuất phát điểm quyền lực đó đại diện cho giai cấp nào, tầng lớp nào thì quyền lực nhà nước cũng phải gánh vác vai trò “người trọng tài” điều hòa lợi ích xã hội,
1 Trích theo: Rossollillo, Popular Sovereignity and The World Federal People as its Subject. The Federalist, Pavia, 1995, p.181.
2 J. Locke, Khảo luận thứ hai về chính quyền, NXB Tri thức, Hà Nội, 2007, trang 19‐20.
Trang 34phục vụ lợi ích chung của mọi tầng lớp nhân dân, bảo đảm sự đồng thuận xã hội. Ở nghĩa đó, quyền lực nhà nước khác với quyền lực chính trị, vì quyền lực chính trị luôn luôn mang màu sắc
xã hội và có tính giai cấp rất rõ nét.
Ở nghĩa đó, quyền lực nhà nước có tính khách quan và có vị trí độc lập tương đối trong hệ thống các thiết chế xã hội như kinh
tế, chính trị, văn hóa v.v. C.Mác đã từng chỉ ra tính chất khách quan của Nhà nước, coi đó như là một hoạt động quản lý các lợi ích công, là một chức năng xã hội mà qua đó các thành viên của xã hội được phân ra thành những người quản lý và những người bị quản lý (người nắm quyền lực và người thuộc quyền). Theo ông, quyền lực của Nhà nước cũng chính là cơ sở cho việc hình thành các quan hệ chính trị và quan hệ quyền lực, các chế định, các quy phạm, các vai trò và chức năng mang tính quyền lực.
Tính độc lập so với kinh tế và tính chuyên môn của hoạt động quyền lực dẫn đến chỗ “sự tồn tại của pháp luật và của Nhà nước
đã đặt ý chí của giai cấp vào việc đã rồi trong nhiều trường hợp”.1
Vì vậy, với tính cách là quyền lực công, quyền lực nhà nước mang tính thống nhất cao, phản ánh ý chí xã hội của nhân dân thuộc nhiều tầng lớp và thành phần xã hội. Đó là tính thống nhất của quyền lực nhà nước về mặt xã hội, về mặt chính trị. Chẳng hạn, trong khuôn khổ của chế độ chính trị đa đảng của một nước
tư sản thì dù đảng (về chính trị) nào cầm quyền (tức Nhà nước) thì đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại cũng đều nhất quán và chỉ
có thể điều chỉnh có mức độ nhất định về mặt chiến lược, chiến thuật mà thôi. Tính nhất quán về xã hội và chính trị của quyền lực nhà nước vừa là biểu hiện của quyền lực công ‐ quyền lực nhà nước, vừa là biểu hiện của bản chất giai cấp, tính chất xã hội của quyền lực nhà nước. Bản chất đó chỉ mất đi hoặc thay đổi trong kết quả của một cuộc cách mạng xã hội mà thôi.
1 Xem: C.Mác. Phê phán Cương lĩnh Gô‐ta, C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập,
tập 19, tr.26 (tiếng Nga).
Trang 35Tính chất quyền lực công tạo ra tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Đó là quyền lực của cả xã hội được tổ chức về mặt Nhà nước. Về nguyên tắc, nó không thể bị chia ra thành quyền lực nhà nước của giai cấp này, của tầng lớp kia; nó cũng không thể (lại một lần nữa cần nhấn mạnh: về nguyên tắc!) chịu sự chi phối của nhóm
xã hội này hay nhóm xã hội khác. Tính thống nhất của quyền lực công thể hiện ở sự thống nhất về nội dung, mục đích, về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Nói khác đi, một quốc gia không thể có hai thứ quyền lực nhà nước hoặc có những quyền lực hoạt động theo những mục đích khác nhau, kể cả đó là các bang trong một Nhà nước liên bang. Việc phân chia và tồn tại các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn đòi hỏi các cơ quan đó của quyền lực nhà nước hoạt động trên cùng những đường lối, mục tiêu quốc gia, không làm mất đi tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Phân quyền chỉ là một nguyên tắc tổ chức ‐ pháp lý của quyền lực nhà nước.
Từ những hiểu biết trên đây về nguồn gốc ‐ chủ quyền của quyền lực nhà nước ‐ tính chất thống nhất của quyền lực công – quyền lực nhà nước, chúng ta thấy một vấn đề quan trọng được đặt ra là: Làm thế nào để các lợi ích nhóm, lợi ích bộ phận không lấn lướt lợi ích chung của nhân dân trong chính sách và đường lối hoạt động của Nhà nước với tính cách là tổ chức quyền lực công? Làm thế nào để Nhà nước được nhân dân ủy quyền không lạm dụng quyền của nhân dân? Làm thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn những hành vi tiếm quyền, đoạt quyền của nhân dân nhằm mưu cầu lợi ích riêng, hay lợi ích của một bộ phận xã hội?
Đó là những mấu chốt của vấn đề hôm nay về quyền lực nhà nước ở tất cả các quốc gia.
Trước hết đó là vấn đề về tha hóa quyền lực. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là vì lợi ích giai cấp, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, nhưng không chỉ dừng lại ở đó.
Do tính ủy thác, quyền lực nhà nước được thực thi bởi một
hệ thống các thiết chế quyền lực. Đó là những cơ quan đại diện, người đại diện và bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, vấn đề về
Trang 36năng lực thực thi quyền lực, tính hợp pháp, uy tín và tính chính đáng của các cơ quan quyền lực nhà nước và của những người đại diện luôn luôn là vấn đề trung tâm của quyền lực nhà nước,
là những điểm nhấn quan trọng trong các học thuyết và tư tưởng chính trị ‐ pháp lý, là tâm điểm của mọi cuộc cải cách chính trị và thể chế nhà nước.
2.3. Tính chính đáng của quyền lực và vấn đề dân chủ
Đây là khái niệm chỉ tính hợp pháp, nhưng không mang nội dung pháp lý và chủ yếu không nói về mặt pháp lý, thậm chí có
trường hợp trái với pháp luật, nhằm biểu thị trạng thái thực chất
của quyền lực, không nhất thiết phải được biểu thị bằng văn bản.
Khi nói về bản chất của tính chính đáng của quyền lực nhà nước, nhà nghiên cứu người Ý F.Rossollillo đã định nghĩa như sau:
“Tính chính đáng ‐ đó là khi các thành viên của tập thể, của cộng đồng ý thức rằng, ngoài các lợi ích riêng tây mà ai cũng có và thường là khác nhau và có khi mâu thuẫn trong một xã hội dân sự thì còn tồn tại những lợi ích chung; Nhà nước là người thể hiện lợi
ích chung đó, và khi đó người ta, trong đa số của họ, ủng hộ Nhà
nước, các thiết chế của Nhà nước. Trong trường hợp này, họ ý thức được rằng, sự liên kết của họ thành Nhà nước là định hướng chủ đạo duy nhất đúng. Nhờ đó, tính chính đáng là phương cách
để khắc phục xung đột xã hội và nội chiến”1. Như vậy nó gần nghĩa với khái niệm uy tín trong cách nói ở Việt Nam.
Tính chính đáng của quyền lực nhà nước được thể hiện trong một tiến trình nhận thức và biến nhận thức thành động lực cho hoạt động thực tiễn, cho tổ chức và phương thức hoạt động của các thiết chế quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước, là con đường dẫn đến tính hợp pháp của hoạt động chính trị, hoạt động nhà nước. Tính chính đáng bao gồm các khía cạnh, hay các yếu tố quan trọng sau đây:
1 F. Rossollillo, sách đã dẫn, tr.151.
Trang 37chức và hoạt động của các thiết chế quyền lực nhà nước so với kỳ vọng và mong đợi của họ.
b/ Nhận thức về mặt tâm lý của số đông, về năng lực và sự tận
tụy của những người đại diện cho quyền lực nhà nước.
c/ Nhận thức về mặt tâm lý của số đông về yếu tố đạo đức của những người lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, về sự công bằng trong các quyết sách của Nhà nước.
d/ Ý thức của số đông nhân dân về tính hợp pháp trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước.
Nói một cách khái quát nhất, một quyền lực nhà nước là chính đáng khi trong con mắt của nhân dân (ít nhất là của đa số), trong lòng người dân, chính quyền nhà nước, các thiết chế và những công chức
và người lãnh đạo tỏ ra phù hợp với quan niệm và mong đợi của họ
về một chính quyền cần có. Những cách quan niệm ấy thường không gắn với yếu tố pháp lý, thậm chí ít khi lấy pháp luật làm cơ sở.
Cơ sở chủ yếu cho nhận thức về tính chính đáng của quyền lực nhà nước trước hết là các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và trạng thái tinh thần của xã hội và theo đó là trạng thái tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội.
Yếu tố trung tâm của sự nhận thức về tính chính đáng của quyền lực nhà nước là lòng tin của mọi người rằng đời sống vật chất và tinh thần của họ và của đất nước nói chung có liên quan đến
sự ủng hộ của họ đối với nhà nước, rằng nhà nước đang bảo đảm cho họ và đại diện được lợi ích của họ, chính quyền là của họ và vì
họ. Như vậy, tính chính đáng có mối quan hệ mật thiết với vấn đề lợi ích. Do đó, vấn đề tính chính đáng của quyền lực nhà nước có nội dung rất gần gũi với vấn đề tha hóa quyền lực, khi người dân cảm nhận có sự gắn bó hay thờ ơ với quyền lực nhà nước.
Tuy nhiên, cần thấy rõ sự tương đối của tính chính đáng của nguồn lực nhà nước.
Trang 38Như đã nêu ở trên, tính chính đáng của quyền lực có động cơ về lợi ích. Thế nhưng, trong một xã hội thì lợi ích của các tầng lớp, nhóm
xã hội là không giống nhau, trong khi nguồn lực của đất nước là hữu hạn, thêm vào đó là sự tác động và áp lực từ nhiều phía của các nhóm lợi ích trong quá trình hoạt động và thực hiện chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kết quả là không phải khi nào lợi ích của nhóm này hay khu vực khác trong xã hội cũng được thỏa mãn. Có khi Nhà nước thỏa mãn được lợi ích của đa số, và đa số đó lại rất khác nhau trong từng thời kỳ, ở từng quốc gia. Có thể, tầng lớp dân nghèo là bộ phận
đa số ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển; cũng có thể bộ phận đa số của xã hội là tầng lớp trung lưu, chẳng hạn ở các nước công nghiệp phát triển; ở nhiều nước chậm phát triển với chế độ độc tài hoặc tham nhũng thao túng thì chính quyền chỉ làm việc để thỏa mãn lợi ích của một thiểu số cầm quyền hoặc lợi ích của một khu vực, của dòng tộc, của giáo phái v.v. nhất định nào đó. Vì vậy, có thể nói rằng, tính chính đáng của quyền lực nhà nước không thể có hiệu lực phổ quát,nói khác đi, không thể hoặc rất hiếm khi mà quyền lực nhà nước bảo đảm tính chính đáng tuyệt đối.
Hệ quả tất yếu của một quyền lực nhà nước được coi là chính
đáng và chỉ số uy tín đối với dân chúng, là sự thừa nhận của dân
chúng đối với quyền của cơ quan nhà nước lãnh đạo hay điều hành họ; sự ưng thuận, phục tùng, chấp nhận hoặc ủng hộ các quyết sách và pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước. Đó chính là cơ sở cho việc đạt được hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành, hiệu quả sử dụng quyền lực.
Chính vì vậy, mục tiêu của bất kỳ thiết chế quyền lực nào cũng muốn có được sự chính đáng nhằm duy trì nền tảng tồn tại bền vững của mình.
Tính chính đáng của quyền lực nhà nước được dân chúng biểu thị bằng nhiều cách khác nhau: biểu lộ bằng tình cảm, ý nghĩ
và hành động, thông qua các hoạt động như mít tinh, xuống đường, thông qua các kết quả bầu cử, trưng cầu dân ý; biểu thị qua các cuộc thăm dò dư luận v.v
Trang 39sự là kết quả của lao động lãnh đạo quên mình, của tài năng, trí tuệ
và bản lĩnh của những người cầm quyền vì nhân dân, vì đất nước mà không mưu cầu đặc quyền, đặc lợi cho mình. Ở nghĩa đó, cùng với
sự hòa mình với quần chúng nhân dân, sự đối thoại chân tình, thẳng thắn và cởi mở là chìa khóa cho sự chính đáng và uy tín lâu bền của một chế độ chính trị và quyền lực nhà nước. Đối thoại, biết lắng nghe những ý kiến phản biện, những quan điểm trái chiều, biết điều chỉnh
ở những mức độ cần thiết quyết định đã đưa ra do có các ý kiến và quan điểm phê phán v.v. được coi là phương châm hoạt động chủ đạo của các cơ quan lãnh đạo và quản lý, của người lãnh đạo và tổ chức, thể hiện năng lực cầm quyền của một đảng chính trị.
3. Dân chủ trực tiếp theo Hiến pháp năm 2013
3.1. Chủ quyền nhân dân và vai trò của dân chủ trực tiếp
Ở Việt Nam, xuất phát từ truyền thống và đạo lý nhân nghĩa của dân tộc, trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử của các phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, trên nền tảng và với sự phát triển chủ nghĩa Mác ‐ Lênin và các giá trị tư tưởng tiến bộ của của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã trước sau như một khẳng định bản chất của quyền lực chính trị và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ rất sớm, tư tưởng đó đã được Hồ Chí Minh thể hiện một cách cô đọng và đầy đủ như sau: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra”1. Tư tưởng đó, như vậy, đã khẳng định quan điểm mà C.Mác đã tiên đoán trước đây về sự chuyển hóa Nhà nước từ trạng thái “nhân dân bị quản lý” sang trạng thái “tự quản của nhân dân”, đã gắn quyền lực của nhân dân với dân chủ.
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.8, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.563.
Trang 40Người nói: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực
sự tham gia vào công việc của Nhà nước”.
Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là kết tinh trí tuệ và văn minh nhân loại, là thành quả đấu tranh bền
bỉ của nhân dân. Tư tưởng đó đã chuyển hóa, phát triển từ quan điểm, học thuyết trong các cuộc tranh luận học thuật và quan điểm thành các chế định dân chủ và pháp quyền được ghi nhận trong các Hiến pháp, pháp luật và trong tổ chức thực hiện quyền lực. Đó là chủ nghĩa lập hiến trong lý luận và trong thực tiễn. Đó
là sự ghi nhận, sự thừa nhận điều kiện tiên quyết cho một chính quyền hợp pháp và chính đáng: khi chính quyền đó được hình thành và hoạt động trên cơ sở sự đồng thuận của nhân dân. Những hoạt động, những tổ chức do Nhà nước tiến hành sẽ bị coi
là không hợp pháp, “không có thẩm quyền” (J.Locke) nếu không
có sự ưng thuận của nhân dân.
Có thể nói rằng, sự ra đời của các bản Hiến pháp, sự khẳng định tôn trọng Hiến pháp đã trở thành một nguyên tắc xuyên suốt của tư tưởng Nhà nước pháp quyền bắt đầu từ việc thừa nhận quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người và trách nhiệm ràng buộc bởi pháp luật của Nhà nước đến sự khẳng định quyền lực của nhân dân như là lá chắn cho việc bảo vệ quyền con người. Nguyên tắc chủ đạo của chế độ pháp quyền là nguyên tắc
về sự tối thượng của Hiến pháp, là thể hiện sự khẳng định chủ quyền của nhân dân, quyền của nhân dân kiểm soát Nhà nước. Nhà nước chịu sự ràng buộc của Hiến pháp là chịu sự ràng buộc của Nhân dân. Quyền của nhân dân đối với Nhà nước là quyền của chủ nhân, quyền thực hiện khả năng kiểm soát và giám sát người được giao quyền, người được ủy quyền. Đó là một nguyên
lý chắc chắn không thể nghi ngờ hoặc tranh cãi. Nếu không phải như vậy thì thử hỏi làm sao có được những quy định có tính cách mạng trong các bản Tuyên ngôn và các bản Hiến pháp với nội