1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề lý LUẬN, THỰC TIỄN về dân CHỦ TRỰC TIẾP, dân CHỦ cơ sở TRÊN THẾ GIỚI và ở VIỆT NAM

335 596 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 335
Dung lượng 4,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dân chủ XHCN là một phạm trù chính trị biểu thị một hình thức chính trị ‐ nhà nước mà ở đó quyền con người, các quyền tự do, bình đẳng của công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; t

Trang 1

VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

(Kỷ yếu Hội thảo)

Trang 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN

VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

(Kỷ yếu Hội thảo)

Trang 3

In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2014.

Trang 4

VỀ DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

(Kỷ yếu Hội thảo)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 

Trang 5

Đồng chủ biên

GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Trịnh Đức Thảo

TS Vũ Công Giao – TS Trương Hồ Hải

This book has been published with financial assistance of       the Norwegian Embassy and the Canadian Embassy in Hanoi.      The contents of this book are the sole responsibility of the Institute 

of Public Policy & Law and the Institute of State and Law of 

Vietnam, which can under no circumstances be regarded as 

reflecting the position of the donors. 

Trang 7

10 Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử và sự phát triển của quy định về quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử qua các bản Hiến pháp Việt Nam   

PGS.TS. Bùi Xuân Đức   193 

15 Hoàn thiện pháp luật về cơ chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Hiến pháp năm 2013  

TS Trương Hồ Hải   209 

16 Thực hiện pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về dân chủ cơ sở   

ThS. Mai Thị Thanh Tâm   265 

19 Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ trực tiếp,  dân  chủ  cơ  sở  với  việc thúc  đẩy  các  quyền  con  người,  quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 

TS. Nguyễn Thị Vy   271 

Trang 8

20 Chế độ bầu cử dân chủ 

TS. Trần Nho Thìn     284 

21 Sự phát triển của chế độ bầu cử ở Việt Nam từ Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đến nay 

Trang 10

LỜI GIỚI THIỆU

 

ân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở là hai hình thức dân chủ 

đã  được  thực  hiện  từ  lâu  ở  Việt  Nam  và  gần  đây  được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm thúc đẩy. Mặc dù vậy, liên quan đến hai vấn đề này hiện vẫn còn nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn chưa được làm rõ.  

Để góp phần làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận, thực tiễn nêu trên,  qua  đó  thúc  đẩy  dân  chủ  trực  tiếp,  dân  chủ  cơ  sở  ở  nước  ta trong thời gian tới theo  như  định hướng  của Đảng, Nhà nước,  đặc biệt là theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Viện Chính sách công 

và Pháp luật trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam  (VUSTA)  đã  phối  hợp  với  Viện  Nhà  nước  và  Pháp  luật  trực thuộc  Học  viện  Chính  trị  Quốc  gia  Hồ  Chí  Minh  tổ  chức  cuộc  hội 

thảo với tiêu đề: “Dân chủ trực tiếp, Dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt 

Nam”  vào  ngày  10/3/2014  tại  Hà  Nội.  Hội  thảo  có  sự  tham  gia  của 

hơn 60 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà quản lý đang làm việc cho hai cơ quan tổ chức và nhiều cơ quan nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu về pháp luật, chính sách công ở Hà Nội.   

Trong một ngày hội thảo, các đại biểu đã chia sẻ kiến thức, thông tin và trao đổi, thảo luận về một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ 

cơ  sở  trên  thế  giới  và  ở  Việt  Nam,  đồng  thời  đề  xuất  những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới. 

Để  lưu  giữ và  cung  cấp  kiến thức,  thông tin về  hội thảo  cho các  nhà  hoạch  định  chính  sách,  các  cơ  quan  nhà  nước,  các  cơ  sở đào tạo, các chuyên gia không có cơ hội tham dự cho các mục đích D

Trang 11

tham  khảo,  nghiên  cứu  và  giảng  dạy,  chúng  tôi  tập  hợp  và  xuất bản các tham luận được gửi tới hội thảo trong cuốn sách này. Mặc dù đã rất cố gắng, song do những hạn chế về nguồn lực và thời gian, cuốn sách này chắc chắn vẫn còn những hạn chế, sai sót. Chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân tình của các quý độc giả 

để có thể xuất bản những ấn phẩm nghiên cứu tốt hơn về sau.  Nhân đây chúng tôi xin chân thành cám ơn các Đại sứ quán Nauy và Canada đã hỗ trợ tổ chức cuộc hội thảo kể trên và xuất bản cuốn sách này. Xin trân trọng giới thiệu và hy vọng cuốn sách 

sẽ bổ sung một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan nhà  nước,  các  đại  biểu  Quốc  hội,  các  giảng  viên,  học  viên,  sinh viên ngành Luật và tất cả những ai quan tâm đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và cơ chế về bảo đảm dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở ở Việt Nam. 

      Hà Nội, tháng 4 năm 2014 

       VIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG & PHÁP LUẬT 

       và        VIỆN NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT 

Trang 12

đảm  quyền  lực  và  vị  thế  của  nhân  dân  với  tư  cách  là  người  làm 

chủ  nhà  nước  và  xã  hội.  Vì  vậy,  cùng  với  dân  chủ  đại  diện,  việc 

thực  thi  các  hình  thức  dân  chủ  trực  tiếp  có  ý  nghĩa  quan  trọng, 

Trang 13

sở  trong  Hiến  pháp năm  2013  được  thi  hành  trên  thực  tế  thì  vẫn còn nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được làm rõ. Đây cũng chính là lý do đông đảo các nhà khoa học, các quý vị đại biểu  có  mặt  tại  buổi  Hội  thảo  này  để  trao  đổi  ý  kiến,  quan  điểm khoa học về các vấn đề lý luận và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam. Từ 

đó, thảo luận, đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới. 

Kính thưa các quý vị đại biểu, 

Ban Giám đốc Học viện nhiệt liệt hoanh nghênh tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc của Ban Tổ chức, cùng với sự tham gia nhiệt thành của các nhà khoa học có uy tín, tâm huyết và giàu kinh nghiệm, tôi tin chắc Hội thảo này sẽ tạo ra được một không gian sinh hoạt khoa học sôi nổi, cởi mở. 

Một lần nữa, thay mặt Lãnh đạo Học viện, kính chúc các nhà khoa học, các quý vị đại sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt; chúc Hội thảo thành công tốt đẹp. 

 

 

       

Trang 14

Kể từ thời Locke, Hobbes và Rousseau đến nay, tranh luận trong giới học thuật về sự đa dạng của các loại và các hình thức dân chủ (trong đó có đa dạng văn hóa) vẫn đang tiếp diễn.  

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về “dân chủ” trong giới học thuật, dường như ở đây có một mẫu số chung: Dân chủ là nói về nhân  dân,  về  việc  người  dân  tham  gia  quyết  định  những  vấn  đề ảnh  hưởng  đến  cuộc  sống  của  chính  họ,  về  việc  trao  quyền  và tham gia, không bị loại trừ.  

Năm  nay  Na  Uy  kỷ  niệm  200  năm  ngày  ra  đời  Hiến  pháp  

  Bí thư thứ hai Đại sứ quán Na Uy tại Việt Nam. 

Trang 15

2.  Sự  phân  quyền  giữa  các  quyền  lực  lập  pháp,  hành  pháp 

và tư pháp. Các quyền lực độc lập cần phải kiểm soát lẫn nhau. Mục đích của việc phân quyền là để tránh tập trung quyền lực 

và lạm quyền.  

3.  Các  quyền  cơ  bản  của  công  dân.  Hiến  pháp  thiết  lập  các quyền dân sự, chính trị cơ bản của công dân – quyền tự do ngôn luận và pháp quyền.  

Những khái niệm này cũng phù hợp cho các thảo luận của các bạn  hôm  nay  về  dân  chủ trực tiếp  và  dân  chủ  cơ  sở. Những  yếu chủ chốt này là một phần của mọi nền dân chủ – dù là ở cấp độ quốc gia hay cấp cơ sở.  

Thứ hai, Phụ nữ. Dù Hiến pháp Na Uy 1814 có bản chất dân 

chủ, nhưng phải đến năm 1898 lần đầu tiên đàn ông mới có quyền 

bỏ phiếu và phụ nữ phải đợi đến tận năm 1913 mới có quyền bỏ phiếu. Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của phụ nữ cũng như các quyền của phụ nữ, như có thể thấy qua việc 

kỷ niệm ngày quốc tế phụ nữ trong tuần qua. Phụ nữ là chìa khóa cho phát triển mọi khía cạnh của đời sống xã hội, cũng như phát triển dân chủ. Đặt binh đẳng giới vào trung tâm công tác quản trị công ở cơ sở là rất quan trọng để đạt được quản trị tốt.  

Trang 16

Chúng  tôi  hoan  nghênh  việc  Viện  Chính  sách  công  và  Pháp luật và Viện Nhà nước và Pháp luật chú trọng vấn đề dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở tại Việt Nam hiện nay. Phát triển dân chủ là một quá trình liên tục và phức tạp. Đại sứ quán chúng tôi hy vọng Viện có thể sử dụng cuốn sổ tay về dân chủ trực tiếp và dân chủ 

cơ  sở  một  cách  xây  dựng  trong  quá  trình  thúc  đẩy  và  phát  triển dân chủ ở Việt Nam.  

Đại  sứ  quán  Na  Uy  xin  chúc  quý  vị  thành  công  trong  thảo luận  tại  hội  thảo  này,  tập  trung  vào  vấn  đề  dân  chủ,  vốn  ảnh hưởng và có thể thay đổi cuộc sống của rất nhiều người.  

Xin cảm ơn. 

 

Trang 18

HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM NĂM 2013 VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN DÂN CHỦ TRỰC TIẾP, DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM

GS. TSKH Đào Trí Úc 

1. Đặt vấn đề 

Cùng với quá trình đổi mới đất nước, từng bước Đảng ta đã xác định ngày càng rõ nét hơn, đầy đủ hơn, cụ thể hơn và ở trình độ cao hơn vấn đề dân chủ và pháp quyền. Cùng với những bước tiến vững chắc  của  công  cuộc  đổi  mới,  quan  điểm  của  Đảng  về  dân  chủ  và pháp quyền cũng không ngừng được phát triển và hoàn thiện. 

Dân  chủ  XHCN  là một  phạm trù chính  trị  biểu  thị một hình thức chính trị ‐ nhà nước mà ở đó quyền con người, các quyền tự 

do, bình đẳng của công dân được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; trong chế độ đó, nhân dân phải là chủ thể đích thực và cao nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Ở đó, mọi thiết chế quyền  lực  đều  được  đặt  dưới  sự  kiểm  tra,  giám  sát,  trước  hết  là của nhân dân. 

Những  năm  qua,  các  hình  thức  dân  chủ  đã  từng  bước  được củng cố và hoàn thiện. Các tiến bộ trong việc thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đã có khả năng thâm nhập sâu  rộng  vào  mọi  tầng  lớp  nhân  dân  và  mọi  vùng  của  đất  nước, đang tạo ra những mô hình, những điển hình có sức lan tỏa mới. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, cũng đã có những chủ trương và bước đi cải cách và đổi mới trên nhiều mặt hoạt động.  

    Chủ tịch Hội đồng Viện Chính sách công và Pháp luật. 

Trang 19

Trước hết, cần phải kể đến mối liên hệ giữa đại biểu (đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND) và cử tri. Trong nhiều nhiệm kỳ vừa qua,  mối  liên  hệ  này  đã  được  chú  ý  cải  thiện,  các  cuộc  tiếp  xúc giữa đại biểu và các cử tri đã đều đặn hơn. Trong các kỳ họp của các cơ quan đại diện, MTTQ Việt Nam các cấp đã tổng hợp được các  ý  kiến  và  kiến  nghị  của  cử  tri  và  chuyển  đến  các  đại  biểu, trong  đó  có  những  ý  kiến  thể  hiện  sự  bức  xúc  của  cử  tri  trước những vấn đề khác nhau trong chủ trương, chính sách, pháp luật 

và thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật. 

Sự thảo luận, chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội và HĐND đã được  truyền  hình  trực  tiếp  và  rộng  rãi,  thu  hút  sự  quan  tâm  của nhân  dân,  của  dư  luận  xã  hội  và  các  phương  tiện  thông  tin  đại chúng. Một số chế định giám sát mới đã được thiết kế và thể chế hóa  như:  thành  lập  các  Ủy  ban  lâm  thời  của  Quốc  hội  (mặc  dù chưa  được  hiện  thực  hóa),  bỏ  phiếu  tín  nhiệm  đối  với  các  chức danh do Quốc hội bầu. Cơ sở pháp lý mới cho việc thực hiện các 

cơ chế dân chủ đó là sự thể chế hóa trong Hiến pháp quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng ta cũng như việc ban hành  Luật  về  hoạt  động  giám  sát  của  Quốc  hội,  Luật  Khiếu  nại, Luật  MTTQ  Việt  Nam,  Luật  Thanh  tra,  Luật  Cán  bộ,  công  chức; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật v.v… 

Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã được đẩy mạnh trên cơ sở chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2010 tầm nhìn 

2020. Kết quả là đã tạo ra được khung pháp luật tương đối đầy đủ nhằm điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội phục vụ đắc lực cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu hơn, rộng hơn, có hiệu quả hơn và cho hoạt động bình thường của các lĩnh vực quan hệ xã hội và sinh hoạt quốc gia. Quy trình xây dựng pháp luật đã được đổi mới theo hướng  phản  ánh  tốt  hơn  lợi  ích  đa  dạng  của  xã  hội,  dân  chủ  hóa, công khai hóa quy trình đó nhằm thu hút sự quan tâm của xã hội, sự tham gia của doanh nghiệp, của các chuyên gia và các nhà khoa học. 

Trang 20

Trong thập niên vừa qua, cải cách hành chính đã được Đảng 

và  Nhà  nước  ta  chủ  trương  triển khai  với  việc  xây  dựng  và  thực hiện  Chương  trình  tổng  thể  cải  cách  hành  chính  nhà  nước  giai đoạn  2001‐2010.  Kết  quả  là  trên  các  mặt:  cải  cách  thể  chế  hành chính nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, cải cách chế độ công 

vụ và công chức, cải cách tài chính công đều đã tạo được một số chuyển biến tích cực với mục tiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo các nguyên tắc và đòi hỏi của Nhà  nước  pháp  quyền  XHCN  dưới  sự  lãnh  đạo  của  Đảng  mà điểm cốt yếu nhất là tăng cường năng lực tiếp nhận nhu cầu và lợi ích  của  xã  hội,  tạo  thuận  lợi  tối  đa  cho  các  doanh  nghiệp,  cho người dân trong việc sử dụng các dịch vụ công. Nhiều nỗ lực cũng đang được đặt theo hướng tăng cường các bảo đảm cho việc gắn kết hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước với nhân dân, chống  quan  liêu,  các  hiện  tượng  hách  dịch,  cửa  quyền,  tham nhũng. 

Cải  cách  tư  pháp  được  Đảng  và  Nhà  nước  ta  đặt  trong  mối quan  hệ  với  nhiệm  vụ  xây  dựng  Nhà  nước  pháp  quyền  XHCN, đổi mới pháp luật, cải cách hành chính. Điểm khởi đầu của cuộc cải  cách  này  có  thể  được  tính  từ  sự  ra  đời  của  Nghị  quyết  08‐NQ/TW  ngày  02‐01‐2002  của  Bộ  Chính  trị  “Về  một  số  nhiệm  vụ trọng  tâm  công  tác  tư  pháp  trong  thời  gian  tới”.  Những  định hướng và giải pháp cơ bản và toàn diện cho công cuộc cải cách tư pháp  được  xác  định  trong  Nghị  quyết  số  49‐NQ/TW  ngày  02‐6‐

2005  của  Bộ  Chính  trị  “Về  chiến  lược  cải  cách  tư  pháp  đến  năm 2020”. Thông qua các nỗ lực cải cách, hệ thống tư pháp Việt Nam 

đã từng bước được củng cố về tổ chức, làm trong sạch đội ngũ cán 

bộ các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử; tăng cường khả năng tiếp cận  công  lý  cho  công  dân,  khắc  phục  tình  trạng  án  oan,  sai,  xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ XHCN,  xây  dựng  Nhà  nước  pháp  quyền  XHCN,  Đảng  và  Nhà 

Trang 21

sự kiểm tra, giám sát của cá nhân công dân, hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể xã hội, vai trò của dư luận xã hội và của thông tin đại chúng. Đó là những tác nhân quan trọng và trực tiếp đối với việc phát triển nền dân chủ XHCN ở nước ta. 

Trong  khi  khẳng  định  những  kết  quả  quan  trọng  trên  đây, chúng  ta  cũng  thấy  trong  việc  thực  hiện  dân  chủ  ở  nước  ta  hiện nay vẫn tồn tại những vấn đề bức xúc. 

Trước hết, cần nói đến dân chủ và kỷ luật trong Đảng và năng lực kiểm tra, giám sát của các cấp ủy đảng, cơ chế và điều kiện để nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở Đảng và đảng viên, hiệu quả và hiệu lực của pháp luật trong đời sống xã hội và trong sinh hoạt quốc gia. 

Tổ  chức  bộ  máy  của  các  cơ  quan  nhà  nước  còn  cồng  kềnh, nhiều  đầu  mối  và  tầng  nấc  trung  gian,  chất  lượng  hoạt  động  và hiệu quả thấp. Chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và chế độ trách nhiệm của nhiều cơ quan và người đứng đầu chưa thật rõ, cơ chế vận  hành  và  mối  quan  hệ  còn  bất  hợp  lý,  đội  ngũ  cán  bộ,  công chức  còn  hạn  chế  cả  về  năng  lực  chuyên  môn,  tinh  thần  trách nhiệm,  đạo  đức  công  vụ.  Tình  hình  đó  làm  giảm  hiệu  quả  lãnh đạo của Đảng, làm yếu hiệu lực quản lý của Nhà nước là năng lực lãnh đạo điều hành của hệ thống chính trị. Tệ quan liêu, tình hình tham nhũng có chiều hướng gia tăng, nhưng chưa kiểm soát được. Một  trong  những  nguyên  nhân  của  tình  hình  này  là  vấn  đề dân chủ và kỷ luật trong hệ thống chính trị nói chung và trong bộ máy  nhà  nước  nói  riêng.  Tình  hình  đó  đòi  hỏi  phải  tăng  cường hiệu  lực  và  hiệu  quả  của  việc  kiểm  tra,  giám  sát  và  kiểm  soát quyền  lực  trong  quá  trình  đổi  mới  hệ  thống  chính  trị,  thực  hiện dân  chủ  nói  chung  và  vấn  đề  kiểm  tra,  giám  sát  việc  thực  hiện quyền lực nói riêng. Một mặt, đây là vấn đề về hiệu quả và năng lực lãnh đạo, điều hành của hệ thống chính trị: cần phải tạo dựng 

và hoàn thiện một cơ chế chính trị, cơ chế quyền lực luôn luôn có 

Trang 22

thể  được  kiểm  soát  trong  quỹ  đạo  phục  vụ  lợi  ích  của  đất  nước, của  nhân  dân,  đủ  năng  lực  nắm  bắt,  phản  ánh  và  thỏa  mãn  các nhu  cầu  đa  dạng  của  nhân  dân,  xã  hội,  bảo  vệ  một  cách  có  hiệu quả  quyền  và  lợi  ích  hợp  pháp  của  công  dân.  Mặt  khác,  cơ  chế chính trị và cơ chế quyền lực đó cần được giám sát và kiểm soát, tăng  cường  khả  năng  “miễn  dịch”  đối  với  tệ  quan  liêu,  tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác. 

2. Mối quan hệ quyền lực (hệ thống chính trị) và xã hội – cơ sở  phương pháp luận của vấn đề dân chủ trực tiếp 

2.1. Mối quan hệ giữa quyền lực và xã hội dưới lăng kính xã hội học 

Theo lý thuyết hệ thống, quyền lực được xem xét như là một thực thể của cả hệ thống xã hội. Nhà xã hội học người Mỹ Talcott Parsons viết: “Chúng ta có thể định nghĩa quyền lực như một khả năng  gây  ảnh  hưởng  thực  tế  đối  với  các  quá  trình  khác  nhau  trong hệ thống”1. Từ đó, T. Parsons coi quyền lực là một bộ phận của một hệ thống lớn các cơ chế kiểm soát xã hội. Trong vai trò đó, quyền lực được sử dụng để các thành tố của hệ thống xã hội thực hiện các trách nhiệm của mình, đạt được các mục đích của mình, 

mà trước hết là các mục đích chung của cộng đồng xã hội, các giá trị tổng thể và kết nối xã hội. Trong trường hợp có chống đối việc thực hiện các mục đích và giá trị đó thì cần phải loại bỏ sự chống đối  đó  thông qua  việc  áp  dụng  các  chế  tài. Giá trị  của quyền  lực chính là ở việc thực hiện các chức năng nêu trên. 

Theo  lý  thuyết  hệ  thống  về  quyền  lực  thì  quyền  lực  là  một thực thể được thiết chế hóa và có sức mạnh trong toàn bộ cơ cấu 

xã hội đã được phân tầng, một sự phân tầng xuất phát từ các giá trị xã hội. Vì vậy, quyền lực luôn dựa trên nền tảng các giá trị và các định hướng giá trị của xã hội. 

Trang 23

xã hội trong xã hội với tính cách là một hệ thống lớn. 

Nội dung và vai trò của quyền lực chính trị thể hiện qua hệ thống 

các chức năng của quyền lực chính trị trong xã hội, bao gồm: a/ Quyền lực chính trị xác định các mục tiêu phát triển của xã hội, lựa chọn các ưu tiên phát triển của xã hội; 

b/ Quyền lực chính trị đảm bảo sự hợp tác và kết nối của các lực lượng và tầng lớp xã hội; chịu trách nhiệm duy trì trật tự và sự toàn vẹn của quốc gia; 

Thứ nhất, quyền lực là một dạng quan hệ, trong đó luôn luôn 

có chủ thể và khách thể cụ thể. Đó là quá trình thể hiện ý chí và lợi ích của chủ thể trong mối liên hệ với khách thể. Không có một thứ quyền  lực  chung  chung  mà  không  có  chủ  thể  và  khách  thể  hoặc đối tượng của quyền lực. Kết luận này liên quan đến vấn đề bản chất của quyền lực chính trị: quyền lực của ai, do ai và đối với ai? 

Thứ hai, quá trình thực hiện quyền lực chính trị diễn ra dưới 

mọi hình thức tác động có chủ định của chủ thể đối với khách thể. 

Đó là quá trình biến ý chí và lợi ích của chủ thể quyền lực chính trị thành hiện thực thông qua việc tác động nhằm thay đổi ý thức và hành vi của đối tượng bị tác động, từ những biện pháp cứng rắn nhất đến những phương pháp, hình thức, thủ đoạn chính trị khác 

Trang 24

nhau, trong đó vấn đề lợi ích mà trước hết là lợi ích của khách thể chịu  tác  động  luôn  luôn  là  tâm  điểm  của  toàn  bộ  quá  trình  tác động mang tính quyền lực. Thực hiện quyền lực chính trị là một quá trình thể hiện, ghi nhận, xử lý, đánh giá các vấn đề lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích của nhóm xã hội và của các tầng lớp xã hội. 

Thứ ba, để làm được điều đó, bản thân quyền lực chính trị và 

hệ thống chính trị phải được coi là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội. Quyền lực chính trị phải được đặt trong mối liên hệ với xã hội trong mối tương tác với môi trường xã hội, thể hiện được chức năng liên hệ trong một hệ thống. 

Từ  nhận  thức  như  trên  về  quyền  lực  chính  trị  và  hệ  thống chính trị, có thể thấy một mối liên hệ tự nhiên giữa một bên là các thiết chế chính trị, các quy phạm, thể chế của chúng với một bên khác 

là xã hội, môi trường xã hội. 

Lãnh đạo, quản lý, với tính chất là chức năng của các thiết chế của hệ thống chính trị, là quá trình và phương pháp phản ánh mối quan hệ đó. Xử lý mối quan hệ này là biểu hiện tập trung nhất của 

năng lực và hiệu quả và quản lý của hệ thống chính trị. 

Để giải thích cho quan điểm tiếp cận này về hiệu quả hoạt động của các thiết chế hệ thống chính trị, cần trở lại với quan điểm tiếp cận 

hệ  thống  chính  trị  như  là  một  hệ  thống  quan  hệ  giữa  nó  với  môi trường  xã  hội. Nhà xã hội học Mỹ  D.  Easton hình  dung hoạt  động của hệ thống chính trị thông qua hệ thống các “đầu vào” và các “đầu ra” của hệ thống chính trị. Nhờ có mối liên hệ với xã hội mà đầu vào của hệ thống chính trị chính là xuất phát từ xã hội. Đó là các nhu cầu 

xã hội, thái độ của xã hội,  sự ủng hộ, hỗ trợ và tiếp sức hay là thái độ bàng quan, không ủng hộ từ phía các lực lượng xã hội. 

Các  yêu  cầu  và  nhu  cầu  luôn  luôn  được  đặt  ra  cho  các  thiết chế quyền lực từ phía xã hội. Đó có thể là: 

‐ Yêu cầu liên quan đến sự phân bổ nguồn lợi, lợi ích, các dịch  

vụ công cộng. 

Trang 25

‐ Yêu cầu về xử lý chính sách và bảo đảm sự hoạt động bình thường  cho  xã  hội  (chẳng  hạn  chính  sách  bảo  hộ  hàng  hóa,  bảo đảm an ninh và an toàn xã hội v.v ) 

‐ Yêu cầu về tự do và bình đẳng xã hội (ví dụ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do đi lại, tự do kinh doanh v.v ) Các yêu cầu từ phía xã hội chính là mạch sống của quyền lực chính  trị,  tạo  nên  nguồn  kích  thích  hoạt  động  và  đồng  thời  đó cũng là nội dung tổ chức thực hiện các chức năng quyền lực của 

hệ thống chính trị. Thiếu chúng, các thiết chế chính trị sẽ thiếu đi lý do 

để tồn tại như là chủ thể của các quan hệ chính trị. 

Sự ủng hộ, hỗ trợ và tiếp sức từ phía xã hội đối với hệ thống chính  trị  thể  hiện  qua  các  trạng  thái  của  xã  hội  mà  biểu  hiện  là mức  độ  tuân  thủ  chính  sách  và  pháp  luật,  mức  độ  tham  gia  vào đời sống chính trị; độ tin cậy đối với các quyết sách, lòng tin của dân chúng đối với nhà cầm quyền; sự ủng hộ về kinh tế (nộp thuế, thực hiện các nghĩa vụ công dân v.v ) đối với Nhà nước. 

D. Easton đã mô tả quá trình đó bằng sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 1) 

Trang 27

và  xã  hội  trọng  tâm  là  “đầu  vào”  và  quá  trình  xử  lý  nó  của  hệ thống chính trị. Đây là một quá trình hết sức phức tạp. Bởi vì “đầu vào”, với tính cách là nơi thể hiện các nhu cầu xã hội, chứa đựng một  lượng  thông  tin  hết  sức  đa  dạng,  phức  tạp.  Đó  là  một  khối lượng các thông tin đa chiều, phản ánh nhiều nhóm lợi ích và nhu cầu xã hội, có khi khác nhau và thậm chí trái chiều nhau, phản ánh các  khuynh  hướng  tư  tưởng,  ý  thức  hệ,  quan  điểm  xã  hội,  quan điểm chính trị, những đòi hỏi, động cơ xã hội và động cơ chính trị khác nhau. 

Chính  vì  vậy,  các  thiết  chế  của  hệ  thống  chính  trị  trong  quá trình vận hành phải xây dựng được những cơ chế ghi nhận và xử 

lý  thông  tin  về  nhu  cầu  và  đòi  hỏi  xã  hội.  Cơ  chế  đó  bao  gồm nhiều  khâu  hợp  thành  với  những  khu  vực  hoạt  động  liên  quan mật thiết với nhau. Sơ đồ dưới đây (Sơ đồ 2) mô tả một cách chi tiết  về  sự  hiện  diện  của  các  khu  vực  nói  trên  trong  cơ  chế  về  sự liên hệ hệ thống chính trị với xã hội. Đó là: 

Khu  vực  của  sự  chuyển  hóa  các  nhu  cầu  xã  hội  khác  nhau thành các đòi hỏi về chính trị. Tại khu vực này, cần có những nỗ lực nhằm ghi nhận hoặc ngược lại, phủ nhận các yêu cầu, làm cơ 

sở cho sự chuyển hóa đó. Sự thừa nhận được giải mã trong “cổng mở”, sự phủ nhận được thể hiện trong “cổng đóng” của hệ thống. 

Cả  hai  “cổng”  đều  phải  thực  sự  biểu  hiện  sự  quan  tâm  và  nhạy bén về chính trị của các thiết chế quyền lực. 

a/ Khu vực tạo ra động lực cho sự phát triển tính tích cực chính trị, nâng cao ý thức chính trị của các thành viên xã hội. b/ Khu  vực  xử  lý,  điều  hòa  các  lợi  ích,  phối  hợp  các  đối tượng và nguồn lực của xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội. c/ Khu  vực  ra  các  quyết  sách  chính  trị,  hoạch  định  chính sách và pháp luật. 

d/ Khu  vực  bảo  đảm  thực  thi  các  quyết  sách,  chính  sách  và pháp luật. 

Trang 28

Sơ đồ 2: Sự vận hành của hệ thống chính trị trong mối liên hệ với xã hội 

Sự tương tác giữa việc ra quyết sách và nhu cầu xã hội

Theo D.Easton: A system analysis of political life N.Y, 1965, p.74 Chú thích sơ đồ:

tr.22  Kênh  điều  hòa,  phối  hợp,  tạo  đồng  thuận  lợi  ích  và  yêu  cầu  chính trị 

I: Kênh chuyển hóa các yêu cầu (sau khi được xử lý) thành các quyết  sách chính trị. 

O: Đưa quyết sách vào thực tiễn (thi hành quyết sách) 

D:  Khu  vực  chuyển  hóa  các  nhu  cầu  xã  hội  thành  các  yêu  cầu  về  chính trị 

S, T, U, V, W: Các kênh chuyển tải yêu cầu chính trị, trong đó:  S: Cổng ngăn chặn, giới hạn 

Trang 29

U: Các kênh xử lý, phân loại yêu cầu để chuyển tải đến khu vực xử lý R 

Qua việc tiếp cận cách nhìn nhận như trên của các nhà xã hội học hiện đại về quá trình hoạch định về chính trị của các thiết chế 

hệ thống chính trị, có thể rút ra những kết luận sau đây: 

Thứ  nhất,  hệ  thống  chính  trị  và  các  thiết  chế  của  hệ  thống 

chính trị luôn luôn tồn tại và hoạt động dưới ảnh hưởng và áp lực của các nhu cầu xã hội và do đó, chúng tồn tại và hoạt động không 

vì mục đích tự thân mà luôn luôn bị quy định bởi đòi hỏi khách quan và sự phát triển của xã hội. 

Thứ  hai,  để  tiếp  nhận  và  xử  lý  tốt  các  nhu  cầu,  đòi  hỏi  phức 

tạp  và  đa  dạng  của  xã  hội,  nhiệm  vụ  của  các  thiết  chế  thuộc  hệ thống chính trị là nỗ lực một cách khách quan nhằm chuyển hóa 

và  định  hướng  nhu  cầu  xã  hội  thành  các  lợi  ích  và  yêu  cầu  về chính trị. Không chính trị hóa các nhu cầu xã hội nếu không cần thiết và đồng thời phải kịp thời chuyển hóa các đòi hỏi và nhu cầu 

xã  hội  thành  các  yêu  cầu  chính  trị  khi  cần  thiết,  vì  vậy  cần  nhận biết các yêu cầu chính trị trong vô số các nhu cầu xã hội. Các thiết chế của hệ thống chính trị cần có năng lực làm việc đó. 

Thứ  ba,  hệ  thống  chính  trị  phải  được  vận  hành  thông  suốt 

trong  từng  khâu,  từng  bộ  phận  và  trong  cả  hệ  thống.  Sự  ách  tắc nào ở bất kỳ khâu nào đều có thể dẫn đến làm mất khả năng vận hành và thực hiện chức năng của cả hệ thống. 

Thứ tư, việc tiếp nhận nhu cầu, đòi hỏi, xử lý nhu cầu và đòi hỏi, 

biến chúng thành các yêu cầu chính trị hay không, nhận diện các yêu cầu chính trị, sàng lọc chúng để đưa lên thành quyết sách, đường lối, chủ trương, pháp luật, thể chế là những khâu hết sức phức tạp, đòi hỏi tính khoa học, tính khách quan, dân chủ, quyết định sự thành bại của 

hệ thống chính trị, đòi hỏi năng lực cao của hệ thống chính trị. 

Đến lượt nó, năng lực của hệ thống chính trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, trước hết phải kể đến những tố chất vốn 

Trang 30

có  của  hệ  thống  chính  trị.  Đó  là  tính  mở.  Tính  mở  của  các  thiết  chế chính trị tạo ra sự liên hệ mật thiết giữa chúng với nhau và của toàn bộ 

hệ thống chính trị với đời sống xã hội. Tính mở tạo nên mối liên hệ dân chủ trong mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong của các thiết chế chính trị, tăng cường khả năng tiếp nhận thông tin từ bên ngoài hệ 

Tuy nhiên, chính trị học hiện đại trên cơ sở những thành tựu của các khoa học quản lý và khoa học tự nhiên đã chú trọng đến tính thể chế của các quan hệ cộng đồng mà xã hội học cũng đã xác nhận.  Xã  hội  học,  bắt  đầu  từ  E.Durkheim,  M.  Weber  đến G.Lasswell,  T.  Parsons,  D.Easten  đều  nói  đến thể  chế như  là  lĩnh vực  các  quan  hệ.  Về  sau,  chẳng  hạn  như  nhà  xã  hội  học  người Pháp  Moris  Duverger  đã  phát  triển  thêm  quan  điểm  này,  nhấn mạnh hạt nhân mang tính hình thức trong khái niệm thể chế. Ông viết:  “Thể  chế  chính  trị  thể  hiện  mô  hình  các  quan  hệ  của  con người trong đó ghi nhận các mối liên hệ cụ thể và vì thế có tính ổn định,  bền  vững”.2  Thể  chế  chính  trị  là  đặc  trưng  của  quyền  lực chính trị về mặt hình thức, là “luật chơi” chung của xã hội. 

Tính chất xã hội là tính đặc trưng chung của quyền lực, trên cơ 

sở đó mà hình thành quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị có thể chuyển hóa thành quyền lực nhà nước trong những trường hợp nhất 

1

 Simon G, Philosophy of Democratic Government, L 1993, p.19. 

2 M.Duverger, Les Constitutions en France, Paris, 1957, p.105.

Trang 31

định,  còn  quyền  lực  nhà  nước  luôn  luôn  là  quyền  lực  chính  trị  và mang trong mình nó yếu tố xã hội tự thân. Một ví dụ đặc trưng khi quyền lực xã hội (của nhân dân) chuyển thành quyền lực chính trị rồi sau đó chuyển hóa thành quyền lực nhà nước là Ủy ban cách mạng lâm thời của Mặt trận Việt Minh thành lập năm 1945 ở Việt Bắc. Theo quan điểm của các nhà chính trị học và luật học, quyền 

lực chính trị và quyền lực nhà nước phải mang trong mình nó tính 

ý  chí:  ý  chí  của  chủ  thể  quyền  lực.  Ý  chí  đó  có  thể  được  biểu  thị 

(bằng  tuyên  ngôn,  bằng  Hiến  pháp,  các  đạo  dụ,  chiếu  chỉ,  bằng pháp luật v.v ) hoặc không được biểu thị (vì không phải lúc nào cũng cần thiết) nhưng trong mọi trường hợp quyền lực là ý chí và bản thân quyền lực hoặc các thiết chế đại diện cho nó phải có năng lực  thực  hiện  ý  chí  đó,  sẵn  sàng  thể  hiện  được,  biểu  thị  được  và thực hiện được ý chí đó. 

Ngoài những đặc tính chung của quyền lực xã hội và quyền lực  chính  trị,  quyền  lực  nhà  nước  có  đặc  trưng  riêng  của  nó  là 

quyền lực công. 

Quan  điểm  về  quyền  lực  cũng  có  nền  tảng  lý  luận  từ  học thuyết  nổi  tiếng  về  Khế  ước  xã  hội  của  nhà  tư  tưởng  của  cách mạng  tư  sản  Pháp  J.J.  Rouseau  (1712‐1778).  Học  thuyết  của  J.J. Rouseau có hai nội dung chủ đạo là vấn đề quyền lực nhân dân 

và tính thống nhất, không chia sẻ của quyền lực nhà nước. Ở phần này, chúng ta đề cập đến nội dung thứ nhất trong học thuyết của nhà tư tưởng vĩ đại này. Đó là học thuyết về nguồn gốc mang tính khế ước của Nhà nước và quyền lực nhà nước. 

Là  nhà  tư  tưởng  Khai  sáng  và  triệt  để  chống  chủ  nghĩa 

chuyên chế phong kiến, trong tác phẩm “Luận bàn về nguồn gốc và 

cơ sở của sự bất bình đẳng giữa người với người”, J.J. Rouseau đã xây 

dựng học thuyết của mình trên nền tảng về chế độ tư hữu. Theo 

đó, Nhà nước ra đời từ trong lòng xã hội có sự chiếm hữu tư nhân đối với tài sản. Và Nhà nước chính là sự liên kết của những sở hữu chủ  để  tự  bảo  vệ  mình  và  rồi  sau  đó  bảo  vệ  lợi  ích  của  những 

người khác. Về sau, trong tác phẩm nổi tiếng Về khế ước xã hội hay 

Trang 32

các nguyên tắc của quyền lực chính trị, J.J. Rouseau đã đưa luận điểm 

về  sự  liên  kết  của  những  người  sở  hữu  thành  học  thuyết  về  khế ước xã hội. Theo học thuyết này, nhiệm vụ chủ yếu của Khế ước là xác  lập  một  tổ  hợp  (association)  và  thông  qua  đó  bằng  nỗ  lực chung  mà  bảo  vệ,  che  chở  tính  mạng  và  tài  sản  của  từng  thành viên  của  tổ  hợp  đó.  Tổ  hợp  là  sự  kết  hợp  thống  nhất  của  mọi người, nhưng mỗi thành viên là độc lập, vẫn tồn tại như trạng thái ban đầu và hoàn toàn tự do và thuộc về chính mình. 

J.J. Rouseau cho rằng, tư tưởng về chế độ dân chủ đại diện là sản phẩm của giai đoạn sau của quá trình phát triển tư tưởng về khế ước 

xã  hội,  ông  coi  tư  tưởng  đó  là  trái  với  quan  điểm  về  tính  không chuyển nhượng và không chia sẻ của quyền lực nhà nước. Thậm chí, ông còn cho rằng, dân chủ đại diện trái với bản chất của con người, là sản phẩm của chế độ phong kiến bất công và phi lý vì trong chế độ 

đó,  con  người  bị  hạ  nhục,  bị  tước  đi  phẩm  giá  và  chính  danh  của mình. Làm gì có ai đại diện cho con người trong các chế độ đó. 

Như vậy, theo J.J. Rouseau và các nhà tư tưởng của học thuyết Khế ước về nguồn gốc của quyền lực nhà nước thì chế độ dân chủ đại diện và sản phẩm của nó là chế định đại biểu nhân dân là một sản phẩm bất đắc dĩ của quá trình phát triển quyền lực nhà nước, khi nó phải được triển khai trên một phạm vi rộng lớn, phức tạp, khi mà, theo như J.J. Rouseau, tình cảm đối với đất nước của con người đã nguội lạnh, lòng vị kỷ, sự xâm chiếm và lạm dụng chính quyền đã trở nên phổ biến. Nó phi tự nhiên, vì “các đại biểu của nhân dân không là nhân dân và không thể đại diện cho nhân dân, 

họ chỉ là những người được nhân dân ủy quyền và những quyết định của họ không được nhân dân trực tiếp thông qua, đều không 

có hiệu lực, thậm chí không phải là luật”. 

Chính  trên  cơ  sở  quan  điểm  này  mà  khi  nói  đến  chế  độ  đại nghị  được  coi  là  hoàn  hảo  nhất  là  chế  độ  đại  nghị  ở  Anh,  J.J. Rouseau đã nói một cách chua chát như sau: “Nhân dân Anh 

tự cho mình là tự do, nhưng họ đã nhầm lẫn một cách cay đắng! 

Họ chỉ tự do trong lúc họ đi bầu các ông nghị, bà nghị. Nhưng khi 

Trang 33

các  vị  ấy  đã  trúng  cử  rồi  thì  nhân  dân  trở  thành  nô  lệ  của  họ, người dân không là gì hết đối với họ!” 1. 

Học thuyết về Khế ước xã hội có mối liên hệ với lý thuyết trước 

nó là lý thuyết về trạng thái tự do tự nhiên của cá nhân con người. Đại  diện  tiêu  biểu  của  lý  thuyết  đó  là  nhà  tư  tưởng  Anh  J.  Locke (1632‐1704). Ông kịch liệt bác bỏ chế độ quân chủ tuyệt đối và học thuyết cho rằng đây là hình thức nhà nước duy nhất trên thế giới vì 

nó không phù hợp với xã hội công dân, do vậy không thể là một cách thức của một chính quyền dân sự. Theo J. Locke, “để có thể bảo vệ được cuộc sống an toàn, bảo đảm được các quyền và tự do của con người, Nhà nước không thể là gì khác ngoài một sự tự nguyện hợp nhất của mọi người vào một cộng đồng chính trị thống nhất, một sự hợp nhất được hình thành và hoạt động không thể trên cái gì khác ngoài sự đồng thuận và chỉ thông qua đồng thuận”2. 

Ngay từ lúc ra đời, học thuyết của J. Locke, của J.J.Rouseau đã trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp tư sản non trẻ ở Tây Âu và Bắc  Mỹ  trong  việc  giành  quyền  lực  chính  trị  từ  tay  giai  cấp  phong kiến,  dần  dần, học thuyết đó đã có  sức lan tỏa  rộng  lớn, mặc  dù ở những khía cạnh nhất định nó đã tỏ rõ sự hạn chế về lịch sử và máy móc. Ngày nay, ý nghĩa chính trị ‐ tư tưởng và giá trị thực tiễn của thuyết Khế ước về nguồn gốc của quyền lực nhà nước được xem xét 

từ yêu cầu của việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính trị của nhân dân,  chống  lạm  quyền,  tiếm  quyền  từ  phía  cá  nhân  này  hay  nhóm người khác, đặc biệt là trong vấn đề chống tha hóa quyền lực. 

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tính chất công của quyền lực Nhà nước đảm bảo rằng, dù xuất phát điểm quyền lực đó đại diện cho giai cấp nào, tầng lớp nào thì quyền lực nhà nước cũng phải  gánh  vác  vai  trò  “người  trọng  tài”  điều  hòa  lợi  ích  xã  hội, 

1 Trích theo: Rossollillo, Popular Sovereignity and The World Federal People as its  Subject. The Federalist, Pavia, 1995, p.181. 

2 J. Locke, Khảo luận thứ hai về chính quyền, NXB Tri thức, Hà Nội, 2007, trang 19‐20. 

Trang 34

phục  vụ  lợi  ích  chung  của  mọi  tầng  lớp  nhân  dân,  bảo  đảm  sự đồng  thuận  xã  hội.  Ở  nghĩa  đó,  quyền  lực  nhà  nước  khác  với quyền lực chính trị, vì quyền lực chính trị luôn luôn mang màu sắc 

xã hội và có tính giai cấp rất rõ nét. 

Ở nghĩa đó, quyền lực nhà nước có tính khách quan và có vị trí độc lập tương đối trong hệ thống các thiết chế xã hội như kinh 

tế,  chính  trị,  văn  hóa  v.v.  C.Mác  đã  từng  chỉ  ra  tính  chất  khách quan của Nhà nước, coi đó như là một hoạt động quản lý các lợi ích công, là một chức năng xã hội mà qua đó các thành viên của xã hội được phân ra thành những người quản lý và những người bị quản lý (người nắm quyền lực và người thuộc quyền). Theo ông, quyền lực của Nhà nước cũng chính là cơ sở cho việc hình thành các quan hệ chính trị và quan hệ quyền lực, các chế định, các quy phạm, các vai trò và chức năng mang tính quyền lực. 

Tính độc lập so với kinh tế và tính chuyên môn của hoạt động quyền lực dẫn đến chỗ “sự tồn tại của pháp luật và của Nhà nước 

đã đặt ý chí của giai cấp vào việc đã rồi trong nhiều trường hợp”.1 

Vì vậy, với tính cách là quyền lực công, quyền lực nhà nước mang  tính  thống  nhất  cao,  phản  ánh  ý  chí  xã  hội  của  nhân  dân thuộc nhiều tầng lớp và thành phần xã hội. Đó là tính thống nhất của  quyền  lực  nhà  nước  về  mặt  xã  hội,  về  mặt  chính  trị.  Chẳng hạn, trong khuôn khổ của chế độ chính trị đa đảng của một nước 

tư sản thì dù đảng (về chính trị) nào cầm quyền (tức Nhà nước) thì đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại cũng đều nhất quán và chỉ 

có  thể  điều  chỉnh  có  mức  độ  nhất  định  về  mặt  chiến  lược,  chiến thuật mà thôi. Tính nhất quán về xã hội và chính trị của quyền lực nhà  nước  vừa  là  biểu  hiện  của  quyền  lực  công  ‐  quyền  lực  nhà nước, vừa là biểu hiện của bản chất giai cấp, tính chất xã hội của quyền lực nhà nước. Bản chất đó chỉ mất đi hoặc thay đổi trong kết quả của một cuộc cách mạng xã hội mà thôi. 

1  Xem:  C.Mác.  Phê phán  Cương  lĩnh Gô‐ta,  C.Mác  và Ph.Ăng ghen,  Toàn tập, 

tập 19, tr.26 (tiếng Nga). 

Trang 35

Tính chất quyền lực công tạo ra tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Đó là quyền lực của cả xã hội được tổ chức về mặt Nhà nước. Về nguyên  tắc, nó  không thể bị  chia ra  thành quyền lực nhà nước của giai cấp này, của tầng lớp kia; nó cũng không thể (lại một lần nữa cần nhấn mạnh: về nguyên tắc!) chịu sự chi phối của nhóm 

xã  hội  này  hay  nhóm  xã  hội  khác.  Tính  thống  nhất  của  quyền  lực công thể hiện ở sự thống nhất về nội dung, mục đích, về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Nói khác đi, một quốc gia không thể có hai thứ quyền lực nhà nước hoặc có những quyền lực hoạt động theo những  mục  đích  khác  nhau,  kể  cả  đó  là  các  bang  trong  một  Nhà nước liên bang. Việc phân chia và tồn tại các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp vẫn đòi hỏi các cơ quan đó của quyền lực nhà nước hoạt động trên cùng những đường lối, mục tiêu quốc gia, không làm mất đi tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Phân quyền chỉ là một nguyên tắc tổ chức ‐ pháp lý của quyền lực nhà nước. 

Từ  những  hiểu  biết  trên  đây  về  nguồn  gốc  ‐  chủ  quyền  của quyền  lực nhà  nước  ‐  tính  chất  thống  nhất  của  quyền  lực  công  – quyền  lực  nhà  nước,  chúng  ta  thấy  một  vấn  đề  quan  trọng  được đặt ra là: Làm thế nào để các lợi ích nhóm, lợi ích bộ phận không lấn lướt lợi ích chung của nhân dân trong chính sách và đường lối hoạt động của Nhà nước với tính cách là tổ chức quyền lực công? Làm  thế  nào  để  Nhà  nước  được  nhân  dân  ủy  quyền  không  lạm dụng quyền của nhân dân? Làm thế nào để phòng ngừa và ngăn chặn những hành vi tiếm quyền, đoạt quyền của nhân dân nhằm mưu cầu lợi ích riêng, hay lợi ích của một bộ phận xã hội? 

Đó là những mấu chốt của vấn đề hôm nay về quyền lực nhà nước ở tất cả các quốc gia. 

Trước  hết  đó  là  vấn  đề  về  tha  hóa  quyền  lực.  Nguyên  nhân chủ yếu của hiện tượng này là vì lợi ích giai cấp, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, nhưng không chỉ dừng lại ở đó. 

Do tính ủy thác, quyền lực nhà nước được thực thi bởi một 

hệ thống các thiết chế quyền lực. Đó là những cơ quan đại diện, người  đại  diện  và  bộ  máy  nhà  nước.  Chính  vì  vậy,  vấn  đề  về 

Trang 36

năng lực thực thi quyền lực, tính hợp pháp, uy tín và tính chính đáng  của  các  cơ  quan  quyền  lực  nhà  nước  và  của  những  người đại diện luôn luôn là vấn đề trung tâm của quyền lực nhà nước, 

là những điểm nhấn quan trọng trong các học thuyết và tư tưởng chính trị ‐ pháp lý, là tâm điểm của mọi cuộc cải cách chính trị và thể chế nhà nước. 

2.3. Tính chính đáng của quyền lực và vấn đề dân chủ 

Đây là khái niệm chỉ tính hợp pháp, nhưng không mang nội dung pháp lý và chủ yếu không nói về mặt pháp lý, thậm chí có 

trường  hợp  trái  với  pháp  luật,  nhằm  biểu  thị  trạng  thái  thực  chất 

của  quyền  lực,  không nhất  thiết  phải  được  biểu  thị  bằng  văn  bản. 

Khi nói về bản chất của tính chính đáng của quyền lực nhà nước, nhà  nghiên  cứu  người  Ý  F.Rossollillo  đã  định  nghĩa  như  sau: 

“Tính chính đáng ‐ đó là khi các thành viên của tập thể, của cộng đồng  ý  thức  rằng,  ngoài  các  lợi  ích  riêng  tây  mà  ai  cũng  có  và thường là khác nhau và có khi mâu thuẫn trong một xã hội dân sự thì còn tồn tại những lợi ích chung; Nhà nước là người thể hiện lợi 

ích  chung  đó,  và  khi  đó  người  ta,  trong  đa  số  của  họ,  ủng  hộ  Nhà 

nước,  các  thiết  chế  của  Nhà  nước.  Trong  trường  hợp  này,  họ  ý thức được rằng, sự liên kết của họ thành Nhà nước là định hướng chủ đạo duy nhất đúng. Nhờ đó, tính chính đáng là phương cách 

để  khắc  phục  xung  đột  xã  hội  và  nội  chiến”1.  Như  vậy  nó  gần nghĩa với khái niệm uy tín trong cách nói ở Việt Nam. 

Tính chính đáng của quyền lực nhà nước được thể hiện trong một tiến trình nhận thức và biến nhận thức thành động lực cho hoạt động thực  tiễn,  cho  tổ  chức  và  phương  thức  hoạt  động  của  các  thiết  chế quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước, là con đường dẫn đến tính hợp  pháp  của  hoạt  động  chính  trị,  hoạt  động  nhà  nước.  Tính  chính đáng bao gồm các khía cạnh, hay các yếu tố quan trọng sau đây: 

1  F. Rossollillo, sách đã dẫn, tr.151. 

Trang 37

chức và hoạt động của các thiết chế quyền lực nhà nước so với kỳ vọng và mong đợi của họ. 

b/ Nhận thức về mặt tâm lý của số đông, về năng lực và sự tận 

tụy của những người đại diện cho quyền lực nhà nước. 

c/ Nhận thức về mặt tâm lý của số đông về yếu tố đạo đức của những người lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, về sự công bằng trong các quyết sách của Nhà nước. 

d/  Ý  thức  của  số  đông  nhân  dân  về  tính  hợp  pháp  trong  tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. 

Nói một cách khái quát nhất, một quyền lực nhà nước là chính đáng khi trong con mắt của nhân dân (ít nhất là của đa số), trong lòng người dân, chính quyền nhà nước, các thiết chế và những công chức 

và người lãnh đạo tỏ ra phù hợp với quan niệm và mong đợi của họ 

về một chính quyền cần có. Những cách quan niệm ấy thường không gắn với yếu tố pháp lý, thậm chí ít khi lấy pháp luật làm cơ sở. 

Cơ  sở  chủ  yếu  cho  nhận  thức  về  tính  chính  đáng  của  quyền lực  nhà  nước  trước  hết  là  các  điều  kiện  kinh  tế,  chính  trị,  xã  hội của đất nước và trạng thái tinh thần của xã hội và theo đó là trạng thái tâm lý cá nhân và tâm lý xã hội. 

Yếu  tố  trung  tâm  của  sự  nhận  thức  về  tính  chính  đáng  của quyền  lực  nhà  nước  là  lòng  tin  của  mọi  người  rằng  đời  sống  vật chất và tinh thần của họ và của đất nước nói chung có liên quan đến 

sự ủng hộ của họ đối với nhà nước, rằng nhà nước đang bảo đảm cho họ và đại diện được lợi ích của họ, chính quyền là của họ và vì 

họ. Như vậy, tính chính đáng có mối quan hệ mật thiết với vấn đề lợi ích. Do đó, vấn đề tính chính đáng của quyền lực nhà nước có nội dung rất gần gũi với vấn đề tha hóa quyền lực, khi người dân cảm nhận có sự gắn bó hay thờ ơ với quyền lực nhà nước. 

Tuy nhiên, cần thấy rõ sự tương đối của tính chính đáng của nguồn lực nhà nước. 

Trang 38

Như đã nêu ở trên, tính chính đáng của quyền lực có động cơ về lợi ích. Thế nhưng, trong một xã hội thì lợi ích của các tầng lớp, nhóm 

xã hội là không giống nhau, trong khi nguồn lực của đất nước là hữu hạn, thêm vào đó là sự tác động và áp lực từ nhiều phía của các nhóm lợi ích trong quá trình hoạt động và thực hiện chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kết quả là không phải khi nào lợi ích của nhóm này hay khu vực khác trong xã hội cũng được thỏa mãn. Có khi Nhà nước thỏa mãn được lợi ích của đa số, và đa số đó lại rất khác nhau trong từng thời kỳ, ở từng quốc gia. Có thể, tầng lớp dân nghèo là bộ phận 

đa số ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển; cũng có thể bộ phận  đa  số  của  xã  hội  là  tầng  lớp  trung  lưu,  chẳng  hạn  ở  các  nước công nghiệp phát triển; ở nhiều nước chậm phát triển với chế độ độc tài hoặc tham nhũng thao túng thì chính quyền chỉ làm việc để thỏa mãn lợi ích của một thiểu số cầm quyền hoặc lợi ích của một khu vực, của dòng tộc, của giáo phái v.v. nhất định nào đó. Vì vậy, có thể nói rằng, tính chính đáng của quyền lực nhà nước không thể có hiệu lực phổ quát,nói khác đi, không thể hoặc rất hiếm khi mà quyền lực nhà nước bảo đảm tính chính đáng tuyệt đối. 

Hệ quả tất yếu của một quyền lực nhà nước được coi là chính 

đáng và chỉ số uy tín đối với dân chúng, là sự thừa nhận của dân 

chúng  đối  với  quyền  của  cơ  quan  nhà  nước  lãnh  đạo  hay  điều hành  họ;  sự  ưng  thuận,  phục  tùng,  chấp  nhận  hoặc  ủng  hộ  các quyết  sách  và  pháp  luật  của  cơ  quan  quyền  lực  nhà  nước.  Đó chính là cơ sở cho việc đạt được hiệu lực và hiệu quả quản lý và điều hành, hiệu quả sử dụng quyền lực. 

Chính  vì  vậy,  mục  tiêu  của  bất  kỳ  thiết  chế  quyền  lực  nào cũng muốn có được sự chính đáng nhằm duy trì nền tảng tồn tại bền vững của mình. 

Tính  chính  đáng  của  quyền  lực  nhà  nước  được  dân  chúng biểu thị bằng nhiều cách khác nhau: biểu lộ bằng tình cảm, ý nghĩ 

và  hành  động,  thông  qua  các  hoạt  động  như  mít  tinh,  xuống đường,  thông  qua  các  kết  quả  bầu  cử,  trưng  cầu  dân  ý;  biểu  thị qua các cuộc thăm dò dư luận v.v  

Trang 39

sự là kết quả của lao động lãnh đạo quên mình, của tài năng, trí tuệ 

và bản lĩnh của những người cầm quyền vì nhân dân, vì đất nước mà không mưu cầu đặc quyền, đặc lợi cho mình. Ở nghĩa đó, cùng với 

sự hòa mình với quần chúng nhân dân, sự đối thoại chân tình, thẳng thắn và cởi mở là chìa khóa cho sự chính đáng và uy tín lâu bền của một chế độ chính trị và quyền lực nhà nước. Đối thoại, biết lắng nghe những ý kiến phản biện, những quan điểm trái chiều, biết điều chỉnh 

ở những mức độ cần thiết quyết định đã đưa ra do có các ý kiến và quan điểm phê phán v.v. được coi là phương châm hoạt động chủ đạo của các cơ quan lãnh đạo và quản lý, của người lãnh đạo và tổ chức, thể hiện năng lực cầm quyền của một đảng chính trị. 

3. Dân chủ trực tiếp theo Hiến pháp năm 2013 

3.1. Chủ quyền nhân dân và vai trò của dân chủ trực tiếp 

Ở Việt Nam, xuất phát từ truyền thống và đạo lý nhân nghĩa của dân tộc, trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử của các phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, trên nền tảng và với sự phát triển chủ nghĩa Mác ‐ Lênin và các giá trị tư tưởng tiến bộ của của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã trước sau như một khẳng định bản chất của quyền lực chính trị và Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ rất sớm, tư tưởng đó đã được Hồ Chí Minh thể hiện một cách cô đọng và đầy đủ như sau: “Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử ra”1. Tư tưởng đó, như vậy, đã khẳng định quan điểm mà C.Mác đã tiên đoán trước đây về sự chuyển hóa Nhà  nước  từ  trạng  thái  “nhân  dân  bị  quản  lý”  sang  trạng  thái  “tự quản của nhân dân”, đã gắn quyền lực của nhân dân với dân chủ. 

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, T.8, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.563. 

Trang 40

Người nói: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực 

sự tham gia vào công việc của Nhà nước”. 

Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là kết tinh trí tuệ và văn minh nhân loại, là thành quả đấu tranh bền 

bỉ của nhân dân. Tư tưởng đó đã chuyển hóa, phát triển từ quan điểm,  học  thuyết  trong  các  cuộc  tranh  luận  học  thuật  và  quan điểm  thành  các  chế  định  dân  chủ  và  pháp  quyền  được  ghi  nhận trong các Hiến pháp, pháp luật và trong tổ chức thực hiện quyền lực. Đó là chủ nghĩa lập hiến trong lý luận và trong thực tiễn. Đó 

là sự ghi nhận, sự thừa nhận điều kiện tiên quyết cho một chính quyền  hợp  pháp  và  chính  đáng:  khi  chính  quyền  đó  được  hình thành  và  hoạt  động  trên  cơ  sở  sự  đồng  thuận  của  nhân  dân. Những hoạt động, những tổ chức do Nhà nước tiến hành sẽ bị coi 

là không hợp pháp, “không có thẩm quyền” (J.Locke) nếu không 

có sự ưng thuận của nhân dân. 

Có  thể  nói  rằng,  sự  ra  đời  của  các  bản  Hiến  pháp,  sự  khẳng định tôn trọng Hiến pháp đã trở thành một nguyên tắc xuyên suốt của  tư  tưởng  Nhà  nước  pháp  quyền  bắt  đầu  từ  việc  thừa  nhận quyền  thiêng  liêng  bất  khả  xâm  phạm  của  con  người  và  trách nhiệm ràng buộc bởi pháp luật của Nhà nước đến sự khẳng định quyền lực của nhân dân như là lá chắn cho việc bảo vệ quyền con người. Nguyên tắc chủ đạo của chế độ pháp quyền là nguyên tắc 

về  sự  tối  thượng  của  Hiến  pháp,  là  thể  hiện  sự  khẳng  định  chủ quyền  của  nhân  dân,  quyền  của  nhân  dân  kiểm  soát  Nhà  nước. Nhà nước chịu sự ràng buộc của Hiến pháp là chịu sự ràng buộc của  Nhân  dân.  Quyền  của  nhân  dân  đối  với  Nhà  nước  là  quyền của  chủ  nhân,  quyền  thực  hiện  khả  năng  kiểm  soát  và  giám  sát  người được giao quyền, người được ủy quyền. Đó là một nguyên 

lý chắc chắn không thể nghi ngờ hoặc tranh cãi. Nếu không phải như vậy thì thử hỏi làm sao có được những quy định có tính cách mạng  trong  các  bản  Tuyên  ngôn  và  các  bản  Hiến  pháp  với  nội 

Ngày đăng: 04/07/2016, 15:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  trên  cho  thấy  trong  khi  trưng  cầu  ý  dân  và  bãi  miễn  đại  biểu  dân  cử  được  quy  định  trong  tất  cả  các  bản  hiến  pháp  thì  hai  hình  thức  dân  chủ  trực  tiếp  khác  là  sáng  kiến  công  dân - MỘT số vấn đề lý LUẬN, THỰC TIỄN về dân CHỦ TRỰC TIẾP, dân CHỦ cơ sở TRÊN THẾ GIỚI và ở VIỆT NAM
ng trên  cho  thấy  trong  khi  trưng  cầu  ý  dân  và  bãi  miễn  đại  biểu  dân  cử  được  quy  định  trong  tất  cả  các  bản  hiến  pháp  thì  hai  hình  thức  dân  chủ  trực  tiếp  khác  là  sáng  kiến  công  dân (Trang 80)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w