1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung

11 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 119,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hãy cùng tìm hiểu đề tài “Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chun

Trang 1

BÀI LÀM

Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật về Hộ tịch thì việc kết hôn của nam, nữ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn do pháp luật quy định Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đã

và đang diễn râ tương đối phổ biến và tồn tại như một hiện thực khách quan của xã hội Hiện tượng này bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, đạo đức của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc,…

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nam nữ khi xác lập quan hệ vợ chồng mà có đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ được nhà nước bảo hộ Việc đăng ký kết hôn chính là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân, gia đình Vậy trường hợp nam, nữ chung sống mà không

có đăng ký kết hôn thì quyền và lợi ích của họ sẽ được giải quyết như thế nào? Hãy

cùng tìm hiểu đề tài “Hãy xác định quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung” để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này.

I Lý luận chung

1 Quyền nhân thân

Điều 24 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể hiểu, quyền nhân thân là thứ quyền

để bảo vệ cái “danh” của mỗi con người, bao gồm nhiều khái niệm danh dự, danh tiếng, danh hiệu, thanh danh, bút danh … Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, quyền

tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với các biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả

2 Quyền tài sản

Theo BLDS (Điều 188), quyền tài sản là quyền định giá được bằng tiền và

có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Trước đó, Điều

172 quy định rằng quyền tài sản là một loại tài sản, được đặt bên cạnh tiền và phân biệt với vật có thực (được hiểu là vật hữu hình)

Trang 2

3 Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản trong pháp luật hôn nhân và gia đình.

Theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, khi nam nữ được cơ quan đăng ký kết hôn ghi nhận việc kết hôn vào sổ kết hôn và trao giấy chứng nhận kết hôn thì quan hệ hôn nhân gữa họ phát sinh, các bên kết hôn có các quyền và nghĩa

vụ vợ chồng theo quy định của pháp luật Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp là chứng cứ viết xác nhận các bên kết hôn là vợ chồng trước pháp luật

Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền nhân thân, các nghĩa vụ và quyền tài sản, trong đó nghĩa vụ và quyền nhân than là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng Xuất phát từ mục đích của việc xác lập quan hệ hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, do đó, Luật hôn nhân và gia đình khi điều chỉnh quan hệ giữa vợ

và chồng đã dựa trên nguyên tắc tiến bộ - bình đẳng Nguyên tắc đó thể hiện trong các quy định về nghĩa vụ và quyền giữa vợ và chồng

a. Về quyền và nghĩa vụ nhân thân :

- Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quý trọng, chăm sóc, giúp

đỡ lẫn nhau;

- Vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình

- Vợ chồng phải tôn trọng các quyết định liên quan đến quyền nhân thân của

vợ, chồng

- Vợ, chồng có thể đại diện cho nhau trước pháp luật

b. Về quyền và nghĩa vụ tài sản:

- Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng;

- Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng;

- Quyền thừa kế tài sản của vợ và chồng

Như vậy, có thể thấy, nam nữ khi kết hôn hợp pháp sẽ được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ nhân thân, các quyền và nghĩa vụ tài sản theo quy định của pháp luật

II Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn khi họ mong muốn chấm dứt việc sống chung

1 Các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn.

Trang 3

Trong thực tế đời sống xã hội hiện nay, việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn diễn ra rất phổ biến, đã và đang tồn tại như một hiện thực khách quan của xã hội

Quan điểm lập pháp của nhà nước ta là nam nữ khi xác lập quan hệ vợ chồng mà có đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân của họ sẽ được nhà nước bảo hộ Ngược lại, trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận họ là vợ chồng Tuy nhiên, Đảng và nhà nước ta cũng nhận định, việc giải quyết vấn đề nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống như vợ chồng không thể quá cứng rắn, cần phải giải quyết một cách linh hoạt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người sống chung và của con chung giữa họ Vì vậy, quan điểm của nhà nước ta là cần căn cứ vào tính phù hợp với pháp luật của việc sống chung và thời điểm nam nữ chung sống để công nhận hay không công nhận quan hệ vợ chồng giữa họ

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, có thể thấy, nhà nước ta đã xác định có 3 trường hợp chung sống khác nhau:

- Trường hợp thứ nhất : Nam nữ tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng không

đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987(ngày luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam có hiệu lực) thì được pháp luật công nhận là vợ chồng (còn gọi là hôn nhân thực tế) Những người này có đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ với nhau theo quy định của pháp luật

- Trường hợp thứ hai : Nam nữ tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng không

đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi thì pháp luật không công nhận là vợ chồng Do vậy nếu trong thời gian chung sống mà các bên mâu thuẫn nên yêu cầu ly hôn thì tòa án thụ lý vụ án để giải quyết và tuyên

bố không công nhận các bên chung sống là vợ chồng Tuy nhiên, pháp luật cũng nhận định, việc chung sống của nam nữ trong trường hợp này là không trái pháp luật

vì có đăng ký kết hôn hay không là quyền của mỗi cá nhân Nhà nước ta chỉ khuyến khích việc đăng ký kết hôn để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bởi giấy chứng nhận đăng ký kết hôn chính là cơ sở pháp lý bảo về mỗi cá nhân trong quan hệ hôn nhân và gia đình của mình khi các quyền và lợi ích này bị xâm phạm

- Trường hợp thứ ba : Nam nữ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của

Luật hôn nhân và gia đình mà chung sống như vợ chồng là vi phạm pháp luật, chủ

Trang 4

yếu là các trường hợp: nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn chung sống như vợ chồng với nhau; người bị cấm kết hôn cố tình chung sống như vợ chồng với người khác; những người bị cấm kết hôn với nhau nhưng cố tình chung sống như vợ chồng với nhau,… Đối với các trường hợp này thì cần phải có biện pháp chế tài thích hợp và buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật Đồng thời, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm mà các bên chung sống có thể bị xử phạt

vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

2 Quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản khi mong muốn chấm dứt việc sống chung của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng

ký kết hôn.

Đăng ký kêt hôn là sự kiện làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp

là sự ghi nhận quan hệ vợ chồng của nhà nước đối với hai bên nam nữ, là cơ sở pháp

lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình chung sống mà có phát sinh tranh chấp Việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn đã vô hình chung làm hạn chế đi quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân các bên đương sự trong trường hợp phát sinh tranh chấp từ quá trình chung sống của họ

Theo quy định khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn”.

Tại khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Việc kết hôn

phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn”.

Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tổ chức đăng ký kết hôn

như sau: “Khi tổ chức đăng ký kết hôn phải có mặt hai bên nam, nữ kết hôn Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên”.

Trang 5

Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

“a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

b)Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu

ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

c) Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng, nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết”.

Như vậy, có thể thấy, theo quy định của pháp luật, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận

là vợ chồng Trong trường hợp hai bên đương sự có yêu cầu ly hôn, Tòa án tiếp nhận

vụ án và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của hai bên được giải quyết theo quy định tại khoản 2, khoản

3 Điều 17 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật:

“2 Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

3. Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các

Trang 6

bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.”

Cụ thể:

a. Quyền và nghĩa vụ nhân thân:

Nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng Vì vậy, các quan hệ nhân thân do pháp luật quy định đối với vợ chồng không phát sinh đối với họ Duy chỉ có những quan hệ nhân thân liên quan con cái là có thể phát sinh trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ

Khoản 2 Điều 17 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: “Quyền lợi của con được giải quyết

như trường hợp cha mẹ ly hôn.” Điều đó có nghĩa là, các bên chung sống như vợ

chồng mà không đăng ký kết hôn, khi chấm dứt quan hệ chung sống có quyền và có nghĩa vụ phải thực hiện các quy định của pháp luật liên quan đến con cái, quy định

cụ thể từ Điều 92 đến Điều 94 luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Đó là:

- Các bên nam nữ sau khi chấm dứt quan hệ chung sống vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên

bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Hai bên thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ

đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con Và về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác ( theo Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000)

- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi chấm dứt quan hệ chung sống của các bên nam nữ được thực hiện trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con

và phải tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.(theo Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000)

Trang 7

- Sau chấm dứt quan hệ chung sống, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó

b Quyền và nghĩa vụ tài sản

Khoản 3 Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Tài sản được giải

quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thoả thuận của các bên; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.” Nguyên tắc giải quyết tài sản trong

trườn hợp này cũng tương tự như nguyên tắc chia tài sản trong trường hợp ly hôn giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình Theo đó:

- Việc chia tài sản khi chấm dứt quan hệ chung sống là do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó

- Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc:

+ Tài sản chung của hai bên về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này

+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không

có tài sản để tự nuôi mình;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Tài sản chung của hai bên được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch

Trang 8

- Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của hai bên là do hai bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

Ngoài ra, trường hợp các bên nam nữ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn có đất và nhà ở thuộc sở hữu chung, khi muốn chấm dứt quan hệ chung sống có thể phân chia quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 97 và ci nhà ở thuộc sở hữu chung theo quy định tại Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

III Bình luận – Kiến nghị

Nhiều nước trên thế giới hiện nay coi các cuộc hôn nhân là một dạng hợp đồng với rất nhiều những trường hợp chưa muốn đăng ký kết hôn nhưng lại muốn sống chung với nhau (sống thử) “Việc sống thử xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu của 2 bên Có thể, họ chưa muốn ràng buộc hoặc cũng có thể họ muốn tìm hiểu hơn

về nhau nên có nhu cầu chung sống một thời gian Thực tế xã hội cũng đã và đang tồn tại rất nhiều “cặp” chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn Việc nam nữ chung sống mà không đăng ký kết hôn có những mặt tích cực cũng như tiêu cực Tuy vậy, có thể thấy rằng tình trạng này chủ yếu mang những yếu tố tiêu cực,

để lại nhiều hậu quả xấu hơn là những hệ quả tích cực

Khi nam nữ chung sống mà không đăng ký kết hôn, chưa có sự ràng buộc về luật pháp, trách nhiệm thì người ta có thể dễ dàng bỏ nhau, hậu quả sẽ vô cùng nặng

nề, mang lại hậu quả không tốt, ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của xã hội

Luật Hôn nhân - Gia đình Việt Nam năm 2000 quy định các trường hợp chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn thì không được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng Tuy vậy, pháp luật lại chưa có các quy định cụ thể về hậu quả pháp lý liên quan nhân thân, tài sản và con cái giữa các bên nên đã khiến nảy sinh không ít vấn đề phức tạp

Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do nhận thức của người dân về vấn đề hôn nhân gia đình còn hạn chế Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đăng ký kết hôn để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Đây cũng là trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể quần chúng, nhất là hội phụ nữ, Đoàn thanh niên ở địa phương thôn, bản, xã phường đối với việc tuyên truyền, giáo dục Luật hôn nhân và gia đình cho người dân Bên cạnh đó cũng phải kể đến các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng chưa thực sự rõ ràng, các chế tài xử lý cũng có nhiều điểm chưa hợp lý, cần phải bổ sung, sửa chữa,…

Trang 9

Để hạn chế tình trạng nam nữ chung sống mà không đăng ký kết hôn hạn chế những rắc rối trong các vấn đề nhân thân và tài sản của các đương sự khi muốn chấm dứt quan hệ chung sống, thiết nghĩ, chúng ta cần thực hiện cho tốt một số các biện pháp sau:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật hôn nhân gia đình đến với quần chúng nhân dân, đặc biệt là đối với giới trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước, giúp họ ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình trong việc đăng ký kết hôn để họ tự giác chấp hành tốt các quy định của pháp luật;

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương, các ban, ngành, các đoàn thể trong việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật hôn nhân gia đình cho nhân dân;

- Nâng cao mức phạt vi phạm, xây dựng các chế tài nghiêm khắc hơn để hạn chế tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn Truyền tải các nội dung đó một cách rõ ràng trong luật để người dân tiện tìm hiểu, theo dõi

và thực hiện;

- Xây dựng các quy định cụ thể về hậu quả pháp lý liên quan nhân thân, tài sản và con cái giữa các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn;

Hôn nhân là kết quả của một quá trình tìm hiểu, chấp thuận gắn kết cuộc sống giữa nam và nữ Nếu chấp thuận sống thử, hôn nhân thực tế giữa nam và nữ không đăng ký kết hôn sẽ dễ trở thành phong trào xấu, mang lại hậu quả không tốt, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của xã hội Vấn đề giải quyết hậu quả pháp

lý của các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn khi

họ muốn chấm dứt chung sống cũng đang là một vấn đề cần được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước Để giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả, cần phải có những quy định thiết thực, cụ thể nhằm nâng cao hơn nữa trình độ hiểu biết luật pháp của người dân, nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của bộ máy quản lý nhà nước

và các tổ chức xã hội, đặc biệt là nâng cao hơn nữa chất lượng của hệ thống pháp luật Việt Nam, nhất là trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước ta hiện nay

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hôn nhân và gia

đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009;

2 TS Ngô Thị Hường, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt

Nam, Nxb GD Việt Nam, Hà Nội, 2010;

3 Luật hôn nhân và gia đình việt Nam năm 2000;

4 Nghị quyết của quốc hội số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 về

việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

5. www.baomoi.com

MỤC LỤC Trang

Ngày đăng: 30/01/2016, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w