Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ
Trang 1Danh mục Trang
Đề bài 1
1 Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm
hay là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ? (1 điểm) 1
2 H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không?
Tại sao? (2 điểm) 3
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với
hành vi buôn lậu của Y được thực hiện dưới hình thức
hành động hay không hành động? (2 điểm) 5
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo
hành vi đánh bạc của H và H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên
đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có phải
chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm) 6 Tài liệu tham khảo 8
Trang 2Đề bài: Bài 2
H là cán bộ hải quan làm việc tại cửa khẩu tỉnh Q Một lần H kiểm tra hàng nhập khẩu vào Việt Nam thì phát hiện số lượng hàng vượt quá rất nhiều so với số lượng theo hóa đơn Chủ hàng là Y đã gọi H ra một chỗ trao đổi riêng Y đưa cho H một chiếc phong bì trong có chứa 10 triệu đồng và nhờ H bỏ qua cho
số hàng bị vượt quá so với hoá đơn H nhận tiền và đồng ý cho Y mang hàng đi
Hỏi:
1 Số tiền Y đưa cho H là đối tượng tác động của tội phạm hay là phương
tiện phạm tội của tội đưa hối lộ? (1 điểm)
2 H có phải là đồng phạm với Y về tội buôn lậu không? Tại sao? (2
điểm)
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn
lậu của Y được thực hiện dưới hình thức hành động hay không hành động? (2 điểm)
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc
của H và H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của
Y thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)
Bài làm:
1 Số tiền Y đưa cho H là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ Tội đưa hối lộ ược quy định tại Điều 289 Bộ luật hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 như sau:
“1 Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:
A) Có tổ chức;
B) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
C) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
D) Phạm tội nhiều lần;
Đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; E) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười
ba năm đến hai mươi năm:
A) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;
Trang 3B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:
A) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.
6 Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi
bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
Muốn xác định được số tiền Y đưa cho H trong vụ buôn lậu nêu
trên có phải là phương tiện phạm tội của tội đưa hối lộ hay không, trước hết, ta
cần phải hiểu: thế nào là phương tiện phạm tội?
“Phương tiện phạm tội là những đối tượng được chủ thể của tội
phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của mình.” (Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, 2011, tr.119)
Trong Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS), tội đưa hối lộ (Điều 289) là tội có dấu hiệu phương tiện phạm tội trong cấu thành tội phạm cơ bản Cụ thể, Điều 289 BLHS đòi hỏi phương tiện
phạm tội phải là những giá trị vật chất: “Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có
giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.” - Khoản 1 Điều 289 BLHS.
Y đã sử dụng số tiền 10 triệu đồng để thực hiện hành vi đưa hối lộ.
Số tiền 10 triệu đồng là một giá trị vật chất cụ thể có giá trị lớn hơn hai triệu đồng Như vậy, có thể khẳng định số tiền đó là phương tiện phạm tội của tội
đưa hối lộ
(“Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của
tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.” – Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, 2011, tr.94 Đối tượng
tác động của tội đưa hối lộ là trật tự quản lí hành chính, là hoạt động bình thường của chủ thể Trong trường hợp nêu trên, hành vi đưa hối lộ của Y đã tác
Trang 4động đến hành xử của H Nhiệm vụ của H khi phát hiện tội buôn lậu của Y phải
là bắt giữ, lập biên bản, tịch thu số hàng trái phép Nhưng hành vi đưa hối lộ của Y đã làm biến dạng cách xử sự của H – người có chức vụ, quyền hạn H đã
bỏ qua tội buôn lậu của Y, trái với cách xử sự thông thường mà H có nghĩa vụ, nhiệm vụ phải thực hiện Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp nêu trên không phải là số tiền Y đưa cho H mà chính là cách hành
xử của H đối với tội buôn lậu của Y)
2 H là đồng phạm với Y về tội buôn lậu.
Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 BLHS như sau:
“1 Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Hàng hoá, tiền việt nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196,
230, 232, 233, 236 và 238 của bộ luật này;
b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá;
c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Vật phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu
Trang 5đ) Hàng cấm có số lượng rất lớn;
e) Thu lợi bất chính lớn;
g) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác;
h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
i) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
k) Phạm tội nhiều lần;
l) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Vật phạm pháp có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng; b) Hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn;
c) Thu lợi bất chính rất lớn;
d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Vật phạm pháp có giá trị từ một tỷ đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Muốn xác định H có phải là đồng phạm của Y về tội buôn lậu nêu trên
hay không, trước hết ta phải hiểu thế nào là đồng phạm?
Điều 20 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”
Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi phải có hai dấu hiệu:
-Có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm;
-Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý)
Có thể thấy trường hợp của Y và H thỏa mãn cả hai dấu hiệu nói trên Y
Trang 6đóng vai trò người thực hành, thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội
phạm của tội buôn lậu: “Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu
năm.” - Khoản 1 Điều 289 BLHS Trong khi đó, H là người giúp sức cho Y
thực hiện hành vi buôn lậu của mình (“Người giúp sức là người tạo những điều
kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.” – Khoản 2 Điều 20
BLHS H đã khắc phục trở ngại lớn nhất trong hoạt động buôn lậu của Y khi bỏ
qua số hàng bị vượt quá so với hóa đơn ) Hậu quả của tội phạm buôn lậu trong vụ án nói trên là kết quả chung do hoạt động của cả Y và H đưa lại Nếu
Y không có hành vi buôn lậu thì cũng không có hành vi giúp sức của H, do đó, hậu quả sẽ không xảy ra Tương tự, nếu Y có hành vi buôn lậu nhưng H không
có hành vi giúp sức cho Y, Y sẽ không thể thực hiện “trót lọt” tội phạm và hậu quả cũng không thể xảy ra
Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Xét trong vụ án nêu trên, cả Y và H đều biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội (buôn lậu là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và được quy định cụ thể trong BLHS Y biết điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện
Để thực hiện đến cùng hành vi, Y đã đưa hối lộ cho H với mục đích nhờ H bỏ qua cho hành vi của mình Trong khi đó, là cán bộ hải quan, H chắc chắn ý thức được mức độ nguy hiểm của tội buôn lậu mà Y đang phạm phải cũng như hậu quả sẽ xảy ra của hành vi giúp Y thực hiện đến cùng tội phạm Như vậy, cả H
và Y đều thỏa mãn dấu hiệu lí trí – một phần của dấu hiệu lỗi cố ý) Mặt khác,
về ý chí, cả H và Y cùng mong muốn hoạt động chung (Y đưa hối lộ cho H, biến H thành đồng phạm giúp mình thực hiện đến cùng tội buôn lậu còn H đồng ý nhận tiền và trở thành đồng phạm của Y, giúp Y thực hiện trót lọt tội phạm) Y mong muốn hậu quả của tội buôn lậu xảy ra còn H cũng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh
Như vậy, có thể khẳng định H là đồng phạm của Y về tội buôn lậu
3 Hành vi của H bỏ qua không xử lý theo pháp luật đối với hành vi buôn lậu của Y được thực hiện dưới hình thức không hành động.
Như đã xác định ở trên, H đóng vai trò người giúp sức trong tội buôn lậu của Y Thông thường, hành vi giúp sức được thực hiện dưới dạng hành động nhưng cũng có thể có trường hợp được thực hiện dưới dạng không hành động Trong trường hợp của H, H là người có nghĩa vụ pháp lí phải ngăn chặn, xử lí
hành vi buôn lậu của Y nhưng H đã cố ý không hành động (H bỏ qua, đồng ý
cho Y mang hàng đi) Hành vi của H qua đó đã loại trừ trở ngại khách quan ngăn cản việc thực hiện tội phạm của Y, tạo điều kiện cho Y thực hiện hoàn thành tội buôn lậu Có thể khẳng định, hành vi của H được thực hiện dưới hình
Trang 7thức không hành động.
4 Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H và H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp nêu trên, H sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu (với vai trò đồng phạm giúp sức) và có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Về tội buôn lậu, việc H bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y dù vì bất cứ
lí do nào cũng đồng nghĩa với việc H trở thành đồng phạm của Y về tội buôn lậu như đã phân tích ở trên
Về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Điều 281 BLHS quy định như sau:
“1 Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến
ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.
4 Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”
Lí do H bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y trong trường hợp này hoàn toàn xuất phát từ động cơ cá nhân (H không muốn hành vi đánh bạc của mình bị phát giác, sợ bị xử lí kỷ luật) Để che giấu hành vi sai trái của mình, H
đã phạm phải sai lầm lớn hơn, gây hậu quả nghiêm trọng hơn Trước sự đe dọa của Y, H hoàn toàn có quyền chủ động trong việc chấp nhận hoặc không chấp nhận thực hiện ý muốn của Y – bỏ qua cho hành vi buôn lậu H đã chọn chấp nhận và lợi dụng quyền hạn của một cán bộ hải quan để tiếp tay cho hành vi buôn lậu dù biết hành vi này có thể sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Từ những
Trang 8phân tích trên, có thể khẳng định: H hoàn toàn phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này
Tội buôn lậu, đưa hối lộ, nhận hối lộ đều là những tội phạm còn khá phổ biến trong xã hội, thậm chí đang ngày càng trở nên tinh vi và biến hóa khôn lường dưới nhiều hình thức khác nhau Nếu không nắm vững kiến thức cũng như hiểu biết thực tế, người làm công tác an ninh, tư pháp có thể bỏ qua hoặc xử lí thiếu chính xác những loại tội phạm nói trên, nhất là tội đưa và nhận hối lộ - loại tội phạm liên quan mật thiết đến những cá nhân có chức vụ, quyền hạn Phải xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội mới có thể khắc phục được
tệ nạn buôn lậu, đưa và nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cũng như các loại tội phạm khác, qua đó góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước vững mạnh, giàu đẹp hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập I,
Nxb CAND, Hà Nội, 2009;
2.BLHS của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999;
3.Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009;