Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không4. Bởi vì: Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày một phát triển, cùng với sự phát triển đó thì đời sống của con người cũng ngày được nâng cao Tuy nhiên ta cũng không thể phủ nhận một thực
tế là xã hội ngày càng phát triển thì số lượng tội phạm ngày càng gia tăng, trong
đó phải kể đến các tội phạm về sở hữu như tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội trộm cắp tài sản,…không chỉ gia tăng về số lượng mà thủ đoạn phạm tội cũng ngày một đa dạng, xảo quyệt và tinh vi hơn Để phần nào làm rõ về thực trạng cũng như những kiến thức có liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu, em xin chọn tình huống số 06 làm đề tài cho bài tập học kỳ của mình:
C có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của K, tài sản chiếm đoạt có
giá trị 30 triệu đồng Hành vi phạm tội của C được quy định tại khoản 1 điều 133 BLHS C bị đưa ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù Anh (chị) hãy xác định:
1 Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm
tại khoản 3 điều 8 BLHS?
2 Tội cướp tài sản (điều 133 BLHS) là tội có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao?
3 Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?
4 Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
5 Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS?
Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng Bởi vì:
Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự quy định: “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
Trang 2thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Luật hình sự Việt Nam phân tội phạm ra thành 4 nhóm tội phạm khác nhau:
tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 3 Điều 8 BLHS quy định: “ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây
nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.
Theo định nghĩa này, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu
hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí Nếu như tôi phạm nói chung có dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội là tính nguy hiểm cho xã hội và có dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí là tính phải chịu hình phạt thì các nhóm tội phạm cũng có những dấu hiệu đó, vì đều là tội phạm nhưng với những nội dung cụ thể khác nhau Tính nguy hiểm cho xã hội được cụ thể hóa ở tội ít nghiêm trọng là tính gây nguy hại không lớn cho xã hội; ở tội nghiêm trọng
là tính gây nguy hại lớn cho xã hội; ở tội rất nghiêm trọng là tính gây nguy hại rất lớn cho xã hội và ở tội đặc biệt nghiêm trọng là tính gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội Tương ứng và phù hợp với bốn mức độ nguy hiểm cho xã hội đã được phân hóa như vậy cũng có bốn mức độ cao nhất của khung hình phạt: Đến 3 năm tù; đến 7 năm tù; đến 15 năm tù và trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Trong hai dấu hiệu phân biệt các nhóm tội phạm này với nhau, dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội quyết định dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí Sự xác định dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí biểu hiện ở mức cao nhất của khung hình phạt chỉ là kết quả đầy đủ của quá trình đánh giá đầy đủ và toàn diện của các nhà
Trang 3làm luật về sự cần thiết khách quan của các biện pháp trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Khi đã được xác định, khung hình phạt trở thành dấu hiệu có tính độc lập tương đối để phân biệt các nhóm tội phạm với nhau Như vậy, để phân loại tội phạm thì ta sẽ căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định trong BLHS
Theo tình huống trên, C có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của K có trị giá 30 triệu đồng C bị Tòa án kết án 7 năm tù về tội cướp tài sản theo khoản 1
điều 133 BLHS Khoản 1 điều 133 BLHS quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt
tù từ ba năm đến mười năm” Theo đó, ta có thể thấy mức cao nhất của khung
hình phạt đối với tội cướp tài sản của C là đến mười lăm năm tù Như vậy, căn cứ vào khoản 3 điều 8 BLHS thì loại tội mà C thực hiện thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng
2 Tội cướp tài sản (điều 133 BLHS) là tội có cấu thành vật chất hay hình thức? Tại sao?
Tội cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức Bởi vì:
*) Cơ sở lí luận:
CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm
cụ thể được quy định trong luật hình sự
Có nhiều cách để phân loại CTTP Nhưng dựa vào đặc điểm cấu trúc của dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức
- CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
- CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội
Điểm khác nhau giữa CTTP vật chất và CTTP hình thức ở chỗ nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP Việc xác định loại tội nào có CTTP vật chất hay có CTTP hình thức phải dựa vào quy định của luật, tránh quan niệm cho rằng nếu có hậu quả
Trang 4xảy ra thì tội phạm đang xem xét có CTTP vật chất hay ngược lại, nếu hành vi phạm tôi chưa gây ra hậu quả thì tội có CTTP hình thức Việc xây dựng loại tội nào có CTTP cơ bản là CTTP vật chất hay CTTP hình thức là xuất phát từ cơ sở khách quan sau:
- Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định thì CTTP thường được xây dựng là CTTP hình thức
- Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà đòi hỏi phải có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì CTTP thường được xây dựng là CTTP vật chất
*) Theo Điều 133 BLHS ta chỉ thấy dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy
hiểm cho xã hội: “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc
hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”.
Mặt khác, những hành vi như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức
khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội
- Dùng vũ lực: là hành vi mà người phạm tội tác động vào nạn nhân như đấm, đá, bóp cổ, bắn, đâm, chém, nhét giẻ vào miệng, trói,…Hành vi này có thể được sử dụng đối với người quản lí tài sản hoặc bất cứ người nào mà người phạm tôi cho là sẽ cản trở hành vi lấy tài sản của mình Hành vi dùng vũ lực có thể không gấy ra thương tích, gây thương tích hoặc có thể dẫn đến chết người, tuy nhiên những hậu quả này phải xảy ra ngoài ý muốn của người phạm tội
- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: là hành vi dùng lời nói hay hành động nhằm đe dọa người bị hại rằng nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay tức khắc
- Các hành vi khác: là những hành vi không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc như dùng thuốc mê, thuốc ngủ, làm cho nạn nhân lâm vào trạng thái hôn mê, không còn khả năng chống cự
Trang 5Cả 3 hành vi trên dù được thực hiện thế nào đều dẫn đến kết quả là người bị
tấn công “ lâm vào tình trạng không thể chống cự được ”, thể hiện tính nguy
hiểm cho xã hội Vì thế, tội cướp tài sản có CTTP hình thức
3 Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?
Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản Giai đoạn thực hiện tội phạm là tội phạm hoàn thành
*) Cơ sở lí luận:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
- Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó
- Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội
- Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong CTTP Tội phạm có CTTP vật chất hoàn thành khi người phạm tội đã gây ra hậu quả của tội phạm Tội phạm có CTTP hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi phạm tội Ở những loại tội này, dấu hiệu hành vi có thể chỉ là một hành vi nhưng cũng có thể bao gồm nhiều hành vi khác nhau
*) Theo khoản 1 điều 133 BLHS có mô tả về hành vi khách quan để cấu thành tội cướp tài sản mà không nhắc tới hậu quả là tài sản đã bị người phạm tội chiếm giữ hay chưa, vì vậy hậu quả xảy ra là người bị hại bị chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội nên tội cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức Hậu quả của tội phạm chỉ là dấu hiệu định khung hình phạt hoặc
chỉ là tình tiết để xem xét khi quyết định hình phạt Vì vậy, hành vi dùng vũ lực
chiếm đoạt tài sản mà C thực là phù hợp với hành vi khách quan đã được mô tả trong khoản 1 điều 133 BLHS Do vậy, dù C không chiếm đoạt được tài sản thì C vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản
Trang 6Mặc dù C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì đây cũng không được coi là C đã phạm tội ở giai đoạn chưa đạt, bởi vì việc chiếm đoạt tài sản không thành là nằm ngoài ý muốn chủ quan của C và hành vi sử dụng
vũ lực để chiếm đoạt tài sản của C xảy ra trước khi có hành động cản trở hành vi phạm tội đó Như vậy, hành vi của C đã hoàn thành tại thời điểm C sử dụng vũ lực để đe dọa K mà C không cần biết có hành động nào sẽ cản trở hành vi phạm tội của mình hay không, hay giai đoạn thực hiện tội phạm là phạm tội hoàn thành
4 Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Bởi vì:
*) Cơ sở lí luận:
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất ngu hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (điều 12BLHS) và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (điều 13 BLHS)
Điều 68 BLHS năm 2009 quy định:“ Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác nhau của Phần chung của
Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.
*) Nếu C mới tròn 14 tuổi thì theo Điều 68 BLHS, độ tuổi của C thuộc vào
độ tuổi của người chưa thành niên hay C là người chưa thành niên Điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự :
“ 1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm.
Trang 72 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ”.
C mới tròn 14 tuổi nên theo khoản 2 Điều 12 BLHS thì C chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Theo tình huống trên, C có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của K, tài
sản chiếm đoạt có giá trị 30 triệu đồng C bị đưa ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm
tù về tội cướp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, loại tội mà C thực hiện thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng và lỗi của C là lỗi cố ý
Như vậy, Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
5 Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Bởi vì:
*) Cơ sở lí luận:
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó
Chuẩn bị phạm tội bao gồm các hành vi khác tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm Trong thực tế hành vi chuẩn bị phạm tội có thể thể hiện ở một số dạng như: chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tôi; chuẩn bị kế hoạch phạm tội; thăm dò địa điểm phạm tội; thăm dò, làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại; loại trừ trước những trở ngại khách quan Tuy nhiên, những hành
vi đó chưa xâm hại trực tiếp đến quan hệ xã hội là khách thể trực tiếp của tội định thực hiện và riêng hành vi chuẩn bị chưa thể gây ra được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nên so với phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành thì chuẩn
bị phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp nhất
Theo luật hình sự Việt Nam, không phải hành vi chuẩn bị phạm tội nào cũng
bị truy cứu trách nhiệm hình sự Người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách
Trang 8nhiệm hình sự nếu tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 17 BLHS)
*) Trong trường hợp này, C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ Về mặt khách quan, C đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội Mặc dù, hành vi phạm tội của C mới đang dừng ở giai đoạn chuẩn bị, chưa trực tiếp làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động của tội phạm, đó là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Nhưng với tính chất là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, hành vi chuẩn bị phạm tội của C hợp thành thể thống nhất với hành vi thực hiện tội phạm là hành vi dùng vũ lực đe dọa để chiếm đoạt tài sản của K Như vậy hành vi chuẩn bị phạm tội của C đã thể hiện được tính nguy hiểm cho xã hội Về mặt chủ quan, việc hành vi phạm tội của C dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị là do nguyên nhân ngoài ý muốn, còn bản thân C vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng
Điều 17 BLHS quy định về chuẩn bị phạm tội: “ Chuẩn bị phạm tội là tìm
kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện”.
C phạm tội cướp tài sản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, loại tội mà C thực hiện thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng Do vậy, căn cứ vào điều 17 BLHS cùng với những dấu hiệu về mặt khách quan và chủ quan của hành vi phạm tội của C, ta có thể kết luận là dù C mới chỉ chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
C KẾT LUẬN Các tội xâm phạm sở hữu tài sản là những hành vi nguy hiểm cho xã hội Qua việc nghiên cứu về các tội xâm phạm sở hữu, nhà nước đã có nững hình phạt trừng trị thích đáng đối với loại tội phạm này, nâng cao chế tài, chú trọng giáo dục pháp luật Trong đó, tội cướp tài sản không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà nhiều trường hợp còn gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của chủ sở hữu Bởi vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm này là trách nhiệm của toàn xã hội
Trang 9MỤC LỤC
Trang
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
1 Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại
khoản 3 Điều 8 BLHS? 1
2 Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình
thức? Tại sao? 3
3 Nếu C mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy
cứu TNHS về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm? 5
4 Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không?
Tại sao? 6
5 Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu
TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? 7
C KẾT LUẬN 8
Trang 10DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2009;
2 BLHS của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009)
3 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học bộ luật hình sự - Phần các tội phạm
(Tập2): Các tội xâm phạm sỏ hữu, Nxb TPHCM, 2004 - 2006
4 Nguyễn Ngọc Hoà, Mô hình luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội,
2008