Nội dung của các đề tài này, dưới nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau, trên mức độ ít nhiều có đề cập đến việc thực hiện chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của từng ngàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MÃ SỐ: LH-2017-38/ĐHL-HN
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Khoa
Thư ký đề tài: ThS Trần Thị Thu Hương
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
“Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”
Những người tham gia nghiên cứu đề tài:
1 TS Nguyễn Văn Khoa - Chủ nhiệm đề tài
2 ThS Trần Thị Thu Hương -Thư ký đề tài
3 PGS.TS Nguyễn Mạnh Tường -Thành viên
4 PGS.TS Lê Thanh Thập -Thành viên
5 TS Ngọ Văn Nhân -Thành viên
6 ThS Võ Văn Hà -Thành viên
7 ThS,NCS Phạm Quý Đạt -Thành viên
Trang 3Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
(Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Văn Khoa)
Trang
1
Chuyên đề 1: Những vấn đề lý luận về đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ thẩm
phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở việt nam hiện nay
(PGS.TS Lê Thanh Thập-PGS.TS Nguyễn Mạnh Tường ThS,NCS Phạm Quý Đạt) 57
1.1 Khái niệm đội ngũ Thẩm phán và xây dựng đội ngũ Thẩm phán 57 1.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp và xây dựng đội
Chuyên đề 2: Chủ trương và quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ thẩm phán
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở việt nam hiện nay
(ThS Võ Văn Hà - TS Nguyễn Văn Khoa) 103 2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán 103 2.2 Quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán 118
Chuyên đề 3: Kết quả đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ thẩm phán đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp ở việt nam hiện nay (TS Ngọ Văn Nhân) 139 3.1 Kết quả Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán 139 3.2 Hạn chế Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán 159
ngũ thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở việt nam hiện nay
(TS Nguyễn Văn Khoa) 172
Bài báo đăng tạp chí nội chính liên quan đến đề tài 221
Trang 41
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
“Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”
Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Văn Khoa
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất kỳ hình thức tổ chức bộ máy nhà nước nào, dù theo chế độ phân quyền hay tập quyền, thì tư pháp vẫn được coi là một bộ phận cấu thành quyền lực công, thể hiện quyền uy của Nhà nước đối với xã hội cũng như năng lực bảo vệ công lý V.I.Lênin đã từng khẳng định: Một nền tư pháp tồi, xã hội sẽ phải trả một giá đắt Luận điểm này cho thấy, công tác tư pháp luôn giữ vai trò quan trọng trong các phương diện hoạt động của Nhà nước.Trong Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ IV vào tháng 2 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyền góp
phần mình thực hiện chế độ pháp trị, giữ vững và bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta Đồng thời, ngăn ngừa, trừng trị những kẻ âm mưu, phá hoại chế độ, phá hoại lợi ích của nhân dân”(1)
Công tác tư pháp nói chung và xét xử nói riêng trong tiến trình cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó chú trọng đến công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong sạch, vững mạnh Đội ngũ Thẩm phán đã có bước phát triển mới về chất lượng
và số lượng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX)
về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” nhận định “Đội ngũ cán bộ tư
pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một
(1) Bộ Tư pháp-Viện khoa học pháp lý (1995), Một số bài nói và bài viết của các lãnh tụ Đảng và Nhà nước ta về Ngành tư pháp, Đặc san Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội, tr.10
Trang 52
bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp”(2) Từ đó dẫn tới một số tình trạng oan, sai làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mại quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia còn bất cập, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với đội ngũ Thẩm phán còn hạn chế Đó là chưa kể yêu cầu xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực xét xử cũng rất đặc thù, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, đạo đức của Đảng cầm quyền Thực tế cho thấy, nếu như tham nhũng trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp gây nhức nhối trong xã hội thì tham nhũng trong lĩnh vực tư pháp thường bị đánh giá thiếu đạo đức hơn nhiều lần, do nó làm thay đổi cán cân công lý, đụng chạm đến những quyền tư pháp của con người Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, việc xây dựng được một đội ngũ Thẩm phán có trình độ, có năng lực toàn diện và phẩm chất tốt để giải quyết tốt những yêu cầu xét xử do công cuộc cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một yêu cầu bức thiết Đến nay, vẫn còn thiếu những nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho những giải pháp thực sự rõ ràng, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện cải cách tư pháp Đặc biệt với cơ chế quản lý cán bộ theo các ngành hiện nay, bảo đảm đồng bộ hóa về chất lượng Thẩm phán là điều rất khó thực hiện Trong khi đó, nâng cao chất lượng xét xử, trước hết và đột phá phải bắt đầu từ chất lượng Thẩm phán Muốn thực hiện đạt kết quả tốt nhất, rất cần phải nghiên cứu có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán để có một cách nhìn toàn diện về thành công, hạn chế, đề xuất giải pháp có thể vận dụng vào thực tiễn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Chính vì vậy, tác giả
chọn đề tài “Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Hà Nội, tr.1
Trang 63
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu trong nước
2.1.1 Nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán Tác giả Đào Xuân Tiến trong bài viết “Đào tạo thẩm phán”, Tạp chí
Nghiên cứu Lập Pháp, số 10, 2002 đã khái quát năng lực, trình độ chuyên môn của các thẩm phán Tác giả nêu lên thực trạng công tác đào tạo thẩm phán trước năm 2002 còn chồng chéo, nhiều cơ sở đào tạo do nhiều cơ quan quản lý khác nhau; đưa ra hướng đổi mới như xây dựng chương trình, đào tạo lại đội ngũ thẩm phán về chuyên môn nghiệp vụ và bổ sung những kiến thức ngoại ngữ, tin học; kiến thức về sở hữu trí tuệ; tập trung các cơ sở đào tạo thành một mối
Phạm Mạnh Hùng với bài viết “Về vấn đề đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức
danh tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, số 22, 2011 đã phân tích tính đặc
thù của đào tạo nguồn để bổ nhiệm đối với các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên; có so sánh với công tác đào tạo của một số nước; đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá của các ngành như đào tạo Thẩm phán cần giao cho ngành toà án đảm nhiệm và Kiểm sát viên do ngành kiểm sát thực hiện Phan Chí Hiếu
trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiệm thu năm 2012: “Cơ sở lý luận
và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” đã nêu lên cơ sở lý luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các
chức danh tư pháp đến năm 2020 Trên cơ sở đó, đề tài khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có
chức danh tư pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến thực trạng đội ngũ Thẩm phán còn
thiếu về số lượng; cơ cấu đội ngũ thẩm phán chưa đảm bảo; chất lượng đội ngũ thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, trình độ ngoại ngữ tin học; đạo đức thẩm phán Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, trình phê duyệt và tổ chức thực thi Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020, trong đó đội ngũ Thẩm phán là một bộ phận Một số
đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Học viện Tư pháp năm 2000 với đề tài:
“Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn thẩm phán”; năm
2006: “Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách tư pháp”
Trang 74
Toà án nhân dân tối cao năm 2004 với đề đề tài: “Đào tạo thẩm phán của Tòa
án nhân dân tối cao” Nội dung của các đề tài này, dưới nhiều góc độ, cách tiếp
cận khác nhau, trên mức độ ít nhiều có đề cập đến việc thực hiện chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của từng ngành và chủ yếu đi sâu khái quát thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tư pháp nói chung và đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán Song, do quy mô và tính chất là đề tài cấp cơ sở, hoặc do phạm vi nghiên cứu riêng của từng ngành, nên các đề tài không thể triển khai một cách toàn diện và sâu sắc
- Công trình nghiên cứu về công tác tuyển chọn, bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán Trường Đại học Luật Hà Nội trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
năm 2003: “Điều tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp
lý đối với sự phát triển của đất nước thế kỷ XX” đã tập trung điều tra việc sử
dụng cử nhân luật sau khi tốt nghiệp đại học, trong đó ngành luật là một lĩnh vực lớn Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá tình hình sử dụng cán bộ pháp lý sau khi tốt nghiệp đại học, không nghiên cứu chuyên sâu sự lãnh đạo của Đảng về xây
dựng đội ngũ Thẩm phán Nguyễn Văn Huyên trong đề tài nghiên cứu khoa học
cấp bộ nghiệm thu năm 2010: “Xây dựng cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia đáp
ứng yêu cầu cải cách Tư pháp” đã làm rõ cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia, lợi
thế cũng như vai trò của thi tuyển tư pháp quốc gia trong mối quan hệ với các yêu cầu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong bối cảnh cải cách tư pháp và đổi mới giáo dục đại học hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về thi tuyển đào tạo các chức danh tư pháp, Thẩm phán, trên cơ sở tổng kết, đánh giá khả năng áp dụng vào mô hình tuyển sinh đào tạo cán bộ tư pháp và Thảm phán ở Việt Nam; tổng kết một cách toàn diện về thực trạng công tác tuyển sinh để đào tạo các chức danh tư pháp, Thẩm phán tại Học viện Tư pháp từ trước đến nay Tác giả làm rõ cơ sở thực tiễn và sự cần thiết phải xây dựng kỳ thi tuyển
tư pháp quốc gia; xây dựng mô hình thi tuyển tư pháp quốc gia, trong đó xác định rõ đối tượng dự thi, nội dung thi tuyển, hình thức thi tuyển, Hội đồng thi tuyển tư pháp quốc gia; làm rõ các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi mô hình thi tuyển này trên thực tế
Trang 85
- Nghiên cứu về xây dựng phẩm chất đạo đức đội ngũ Thẩm phán Trương
Thị Hoà trong bài viết “Cải cách tư pháp và việc nâng cao đạo đức nghề
nghiệp, trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ quan tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 4, 2006 đã nêu lên thực trạng của hoạt động tư pháp như pháp luật không rõ ràng, minh bạch tạo điều kiện cho tham nhũng; thực tiễn xét xử qua quá nhiều cấp, chưa tuân thủ đúng nguyên tắc hai cấp xét xử Tác giả khẳng định: Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của cán bộ tư pháp nói chung và Thẩm phán nói riêng là bộ phận quan trọng trong nội dung cải cách
tư pháp Các biện pháp để nâng cao như cải tiến chương trình đào tạo gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp; tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ Thẩm phán Hoàng Văn Linh trong
bài viết “Một số suy nghĩ về đạo đức nghề nghiệp của thẩm phán trong cải cách
tư pháp hiện nay”, Tạp chí Nghề Luật, số 3, 2007 đã đưa ra quan niệm về đạo
đức người Thẩm phán và nhấn mạnh đến việc xây dựng những phẩm chất đạo đức người Thẩm phán như: Luôn đề cao ý thức bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công lý và công bằng xã hội; tận tâm phục vụ nhân dân; phẩm chất
về giao tiếp với công việc và đồng nghiệp; có lối sống lành mạnh, liêm chính, có
ý thức tổ chức kỷ luật, thường xuyên bồi duỡng nhân cách Học viện Tư pháp
trong cuốn“Đạo đức Nghề luật”, Nhà xuất bản Tư pháp, 2011 là kết quả hợp tác
giữa Học viện Tư pháp của Việt Nam với Dự án phát triển tư pháp và sự tham gia từ cơ sở (JUDGE), tư vấn biên soạn bởi GS.TREVOR C.W.FARROW và tài trợ bởi CIDA, đã khái quát đặc điểm của nghề luật nói chung, đặc điểm nghề của các đội ngũ cán bộ tư pháp như thẩm phán Các tác giả đã đưa ra kinh nghiệm của một số nước như Canađa, Trung Quốc, Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức, Hoa Kỳ trong việc xây dựng quy tắc đạo đức và ứng xử trong
thực tiễn, xét xử của đội ngũ Thẩm phán Nguyễn Hoà Bình với bài viết “Xây
dựng quy tắc đạo đức Thẩm phán, tăng cường liêm chính tư pháp”, Tạp chí
Cộng sản, số 909 (7/2018) đã đưa ra những nội dung về xây dựng quy tắc đạo đức Thẩm phán và cần tăng cường sự liêm chính đối với đội ngũ Thẩm phán
2.1.2 Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán
Trang 9vụ hội nhập quốc tế; xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn về đào tạo
cán bộ tư pháp Nguyễn Văn Huyên trong bài “Nghiên cứu một số quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tuyển chọn cán bộ tư pháp”, phần 1, 2, Tạp
Chí Nghề Luật số 3, số 4, 2010 có nêu lên các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta như: việc tuyển chọn cán bộ tư pháp và Thẩm phán là nhiệm vụ gắn liền với yêu cầu kiện toàn và đối mới hệ thống các cơ quan tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, Thẩm phán đảm bảo về chất lượng đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp quốc gia và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Tuyển chọn cán bộ tư pháp, Thẩm phán phải dựa trên các tiêu chuẩn nghiệp vụ trong đó có các tiêu chí cơ bản: có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuyển chọn cán bộ tư pháp, Thẩm phán phải bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch khách quan, công bằng, đồng thời nghiên cứu từng bước mở rộng nguồn cán bộ
tư pháp thực hiện luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ tư pháp một cách hợp lý
Tuyển chọn cán bộ tư pháp, Thẩm phán cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế và vận dụng phù hợp trong điều kiện cụ thể của nước ta
- Nghiên cứu về sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán Trần
Đức Lương trong bài“Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, 11, 2002
đã nêu lên nhiều quan điểm mang tính chỉ đạo của nguyên thủ quốc gia cải cách
tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về một số nhiệm trọng tâm công tác tư pháp năm 2002 Từ góc độ thiết chế Chủ tịch nước có vai trò
điều phối, phối hợp giữa lĩnh vực tư pháp với lập pháp và hành pháp, bài viết
Trang 107
cũng đề ra những bước đi và phương thức thực hiện cải cách tư pháp trong những năm tiếp theo; nhấn mạnh đến tăng cường công tác lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ tư pháp, Thẩm phán coi đó là khâu đột phá trong cải cách tư pháp
Trần Huy Liệu với bài “Những quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp ở Việt
Nam”, Tạp Chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/167, 2010 đã nêu lên các quan điểm
chỉ đạo của Đảng trong thực hiện cải cách tư pháp nói chung và xây dựng đội ngũ Thẩm phán nói riêng như: phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với quá trình đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và phát huy sức mạnh của quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, các cơ quan tư pháp đặt dưới sự giám sát của cơ quan dân cử và nhân dân; kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc những thành tựu đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với đất nước; tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với bước đi vững chắc; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các
cơ quan tư pháp
- Nghiên cứu về kết quả bước đầu thực hiện chủ trương của Đảng trong
xây dựng đội ngũ Thẩm phán Nguyễn Đình Lục với bài viết “Sau ba năm thực hiện chiến lược cải cách tư pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 139-140,
2009 có nhiều nỗ lực phân tích, đánh giá tình hình bước đầu thực hiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán sau ba năm kể từ khi có Nghị quyết 49 Với nhận định: Đội ngũ Thẩm phán đã có sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng và có cố gắng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quá trình cải cách tư pháp như đã đào tạo và đào tạo lại đội ngũ Thẩm phán về chuyên môn nghiệp vụ, cả
về giáo dục bồi dưỡng phẩm chất và đạo đức nghề nghiệp, bài viết này nhìn vấn
đề khá lạc quan, dù trên thực tế khó khăn, lực cản còn rất lớn
2.2 Nghiên cứu ngoài nước
- Nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp Tác
giả người Thái Lan (Quốc tịch Mỹ) Thaveeporn Vassavakul có công trình
“Sectoral Politics and Strategies for State and Party Building from the VII to the VIII Congresses of the Vietnamese Communist Party (1991-1996), in “Doi
Trang 118
Moi: Ten Years after the 1986 Party Congress” (“Lĩnh vực chính trị và chiến lược xây dựng đảng và Nhà nước từ Đại hội VII đến Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991-1996), trong: “Đổi mới: Mười năm sau Đại hội VI”)”, Adam Fforde ed, Canberra: Department of Political and Social Change,
Australian National University, 1997 Công trình đã trình bày tiến trình đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu từ Đại hội VI với những quyết định trọng đại bắt đầu từ đổi mới tư duy, rồi kế đến đổi mới các lĩnh vực khác Các đợt tiến hành xây dựng, chỉnh đốn đảng đã đưa lại nhiều kết quả quan trọng để cấu trúc lại bộ máy lãnh đạo ở cả cấp trung ương và địa phương, tăng quyền cho địa phương, mở rộng sự tham gia của cán bộ trẻ trong bộ máy lãnh đạo, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp
và tư pháp Tác giả cho rằng hiện tượng Đảng làm thay Nhà nước đã khắc phục
được phần nào sau 10 năm tiến hành đổi mới (1986 -1996)
- Nghiên cứu về chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tác giả người Úc Pip Nicholson trong
bài “Vietnamese Jurisprudence: Informing Court Reform” in Asian Socialism
and Legal Change: the Dynamics of Vietnamese and Chinese Reform, (John Gillespie and Pip Nicholson eds), [“Pháp luật Việt Nam: Tác động tới cải cách
toà án” trong cuốn Chủ nghĩa xã hội châu Á và sự thay đổi pháp lý: Động lực cải
cách của Việt Nam và Trung Quốc (Tác giả John Gillespie và Pip Nicholson), Asia Pacific Press, Canberra, 2005 đưa ra một số nhận xét đáng lưu
ý Tác giả đã khái quát hoá quá trình ra đời và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; những tác động của Nghị quyết 08-NQ/TW đến các cơ quan tư pháp của Việt Nam, nhấn mạnh đến tính độc lập của toà án
và thẩm phán Nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là Thẩm phán có trình độ, có năng lực, phẩm
chất đáp ứng đòi hỏi của cải cách toà án Việt Nam
- Nghiên cứu về ảnh hưởng của mô hình toà án của Liên Xô đối với Việt Nam Tác giả Nicholson Pip “Borrowing court systems: the experience of Socialist Vietnam”, [Sự vay mượn hệ thống toà án: Kinh nghiệm xây dựng chủ
Trang 129
nghĩa xã hội của Việt Nam], Published Leiden; Boston: Martinus Nijhoff
Publishers, 2007 đã khái quát lịch sử hệ thống toà án Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống tòa án của Liên Xô và Việt Nam, nguyên nhân của sự tương đồng và sự khác biệt đó Từ đó Việt Nam đã áp dụng kinh nghiệm của Liên Xô trong xây dựng hệ thống toà án
Tác giả cho rằng lịch sử của hệ thống tòa án Việt Nam từ năm 1945 đến năm
2005 ảnh hưởng rõ nét bởi mô hình của Liên Xô và mang một bản sắc riêng biệt
Do vậy, đội ngũ Thẩm phán cũng được xây dựng theo mô hình này
2.3 Đánh giá kết quả các công trình đạt được và những vấn đề đề tài cần nghiên cứu làm rõ
Tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đề đề tài cho thấy, các công trình dưới các góc độ khoa học và trên nhiều bình diện khác nhau đã nghiên cứu đi sâu luận giải, làm rõ một số vấn đề sau:
- Làm rõ được sự cần thiết và vai trò của công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
- Luận chứng được thực trạng và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán như công tác đào tạo, bồi
dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, chính sách cán bộ
- Khái quát được sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán, đặc biệt là nhận diện một số phương thức lãnh đạo đặc thù của Đảng đối với lĩnh vực xét xử-một lĩnh vực đòi hỏi tôn trọng tính độc lập trong hoạt động tư pháp
- Làm rõ một số quan điểm chủ trương, quá trình thực hiện của Đảng, kết quả bước đầu về xây dựng đội ngũ Thẩm phán gắn với cải cách tư pháp
Kết quả của các công trình nêu trên rất có ý nghĩa cho triển khai nghiên cứu Đề tài này, đặc biệt là các kế thừa về cách tiếp cận, phương pháp và một số
tư liệu-tài liệu.Tuy nhiên, các công trình trên đều chưa đề cập có hệ thống và
đầy đủ về các quan điểm, chủ trương, cũng như sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ Thẩm phán
Trang 1310
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác lãnh đạo và xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ những vấn đề lý luận về Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Phân tích và làm rõ chủ trương của Đảng và quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Đánh giá kết quả thực hiện và hạn chế Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng và xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng của đề tài là Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về thời gian: Tập trung từ giai đoạn sau khi có Nghị quyết 08 năm 2002
và Nghị quyết 49 năm 2005 về cải cách tư pháp cho đến nay
- Không gian: Nghiên cứu trong phạm vi cả nước, song, tập trung nghiên
cứu và khảo sát một số cơ quan đơn vị liên quan trực tiếp đến công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán như Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương; Ban Nội chính Trung ương; Toà án nhân dân Tối cao; một số toà án ở địa phương và một
số cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán như Học Viện Tư pháp, Học viện Toà án, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội…
Trang 1411
- Nội dung: Đề tài tập trung Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán
trên các mặt công tác: đào tạo, bồi dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm; thực hiện
chính sách đối với đội ngũ Thẩm phán
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về tư pháp gắn với xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, về cán bộ và công tác cán bộ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc và kết
hợp chặt chẽ hai phương pháp đó Đồng thời còn sử dụng một số phương pháp phổ dụng khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm sáng tỏ những vấn đề đề tài đặt ra cần giải quyết
Trang 1512
NỘI DUNG
1 Những vấn đề lý luận về Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
1.1 Khái niệm Thẩm phán và xây dựng đội ngũ Thẩm phán
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến Thẩm phán
Để luận giải khái niệm Thẩm phán, trước hết cần làm rõ khái niệm tư
pháp, theo Từ điển Tiếng Việt, tư pháp là việc xét xử các hành vi phạm pháp và
các vụ kiện tụng trong nhân dân Từ điển Bách khoa Việt Nam, tư pháp được
giải thích theo nghĩa rộng hơn, đó là chỉ các cơ quan tòa án, việc xét xử các hành
vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân; hoạt động của các cơ
quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án Từ điển Luật học định
nghĩa, tư pháp là công việc tổ chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật Như vậy, tư pháp
là thiết chế xã hội nhằm duy trì, bảo đảm sự công bằng, bảo vệ nền công lý
Quyền tư pháp, được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa hẹp là quyền xét xử của toà án;
theo nghĩa rộng là bao gồm quyền xét xử của toà án cũng như hoạt động bảo vệ pháp luật của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tôn
trọng và duy trì nền công lý Cơ quan tư pháp, căn cứ vào các văn bản pháp luật
về tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước cũng như các văn kiện của Đảng, cơ quan tư pháp bao gồm toà án nhân dân; viện kiểm sát nhân dân; cơ quan điều tra; cơ quan thi hành án Những cơ quan này thực hiện các hoạt động theo trình
tự tố tụng Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện quyền tư pháp, bao gồm các hoạt điều tra; hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố; hoạt động xét xử; hoạt động thi hành án Trong đó, hoạt động xét xử
của toà án là trung tâm của quá trình hoạt động tư pháp Cải cách tư pháp là việc
tiến hành những cải cách trên lĩnh vực tư pháp nhằm xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Chức danh tư pháp là tên gọi thể hiện
vị trí chuyên môn, cấp bậc, chức năng đặc thù công việc của những người
thường xuyên và trực tiếp tiến hành hoạt động tư pháp Cán bộ tư pháp là
Trang 1613
những công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm để giao giữ một nhiệm vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ quyền hạn trong việc thực hiện quyền tư pháp và trực tiếp tham gia hoạt động khởi tố điều tra, điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án
- Thẩm phán là ngạch công chức thuộc cơ quan tòa án, đồng thời thẩm
phán cũng là một chức danh nhà nước, trong hệ thống cơ quan tư pháp Thẩm phán là chức danh tư pháp thể hiện vị trí chuyên môn, cấp bậc, quyền hạn nhiệm vụ trong hệ thống tòa án nhân dân các cấp Điều 67, Luật tổ chức Toà án nhân dân bổ sung, sửa đổi năm 2014 quy định: Thẩm phán là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình
độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được
giao
- Thẩm phán là những người làm công việc xét xử chuyên nghiệp, được
tuyển chọn theo một quy trình chặt chẽ, làm việc thường xuyên trong cơ quan
tòa án, thực hiện nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước
1.1.2 Xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Xây dựng đội ngũ thẩm phán là một quá trình trang bị hệ thống và
toàn diện kỹ năng nghiệp vụ xét xử và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh liên quan đến công tác cán bộ như quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng;
tuyển chọn, bổ nhiệm; luân chuyển; bố trí, sử dụng; quản lý, đánh giá; chính sách cán bộ
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng là quá trình tác động đến Thẩm phán lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống bao gồm đào tạo kiến thức pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ; đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học, kiến thức khác Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán bao gồm nội dung, chương trình, giáo trình, phương pháp, hình thức, giáo viên, cơ sở vật chất, cơ sở đào tạo
Trang 1714
- Công tác bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán là việc giao cho một người có đủ điều kiện theo pháp luật giữ chức vụ trong bộ máy cơ quan toà án bằng quyết định của Chủ tịch nước để làm nhiệm vụ xét xử nhân danh nhà nước Bổ nhiệm
là việc làm mang tính chất quyền lực nhà nước của người giữ chức vụ nhất định
để góp phần kiện toàn và củng cố bộ máy nhà nước, đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả và hiệu lực trên thực tế Điều 7 Luật cán bộ, công chức 2008 quy định “Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật”
Công tác bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán tuân theo quy định chặt chẽ của pháp luật trên cơ sở đủ điều kiện, tiêu chuẩn
- Chính sách cán bộ đối với đội ngũ Thẩm phán là hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ Thẩm phán đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng Chính sách cán bộ bao gồm: chính sách đào tạo-bồi dưỡng, chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, chính sách đảm bảo lợi ích và động viên tinh thần cán bộ
1.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán
1.2.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội
- Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử chứng minh và được xã hội thừa nhận như một tất yếu lịch sử Hiến pháp năm 2013, Điều 4 đã quy định rõ:
“Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: Ở nước ta, không có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản thì không có độc lập dân tộc, không có quyền làm chủ thực sự của nhân dân, không có nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, không thể thực hiện được công bằng xã hội Lúc bình thường, vai trò lãnh đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn, vai trò đó lại càng quan trọng hơn
Trang 1815
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII năm 1991 thông qua, trong đó đã xác định Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chủ trương, đường lối, chính sách, đó là định hướng về chính trị; lãnh đạo bằng công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát và bằng hoạt động gương mẫu của các
tổ chức Đảng và các đảng viên Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch và các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển) thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, bằng đường lối, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của các tổ chức Đảng và đảng viên
1.2.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nhằm bảo đảm hoạt động của các cơ quan tư pháp theo đúng đường lối chính trị, kiên định đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ theo luật định, duy trì và bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa,
vì sự công bằng, dân chủ và nghiêm minh trong tổ chức thi hành pháp luật
Trang 1916
- Đảng lãnh đạo công tác tư pháp có nội dung toàn diện: lãnh đạo về chính trị, tư tưởng; về tổ chức, cán bộ; về định hướng công tác Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp thông qua việc định ra các nguyên tắc, quan điểm lớn làm cơ sở xây dựng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; vạch ra đường lối, định hướng trong các lĩnh vực hoạt động của các cơ quan tư pháp
1.2.3 Vai trò của Đảng đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán thông qua hoạch định chủ trương đường lối, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra giám sát, qua vai trò đảng viên và
tổ chức đảng cơ quan toà án gồm các mặt: quy hoạch, luân chuyển; đào tạo, bồi
dưỡng; tuyển chọn, bổ nhiệm, sử dụng, quản lý; chính sách đối với đội ngũ thẩm
phán Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán là một quá trình nhằm trang
bị hệ thống và toàn diện kỹ năng nghiệp vụ và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nguồn để bổ nhiệm vào các cơ quan toà án
- Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán là xây dựng về chuyên môn
nghiệp vụ, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận để bổ nhiệm vào các cơ quan xét xử
- Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán để thực hiện chuyên môn hóa, chuẩn xác chuyên môn nghiệp vụ, nên luôn gắn với đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp như tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp
và nhu cầu phát triển của xã hội
- Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán mang tính đặc thù và tính nghề nghiệp cụ thể như không chỉ cung cấp các kiến thức kỹ năng về nghiệp vụ xét xử mà còn bao gồm các kiến thức, pháp luật chuyên ngành, đạo đức nghề nghiệp bản lĩnh chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
- Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thẩm phán xuất phát từ yêu cầu của công tác tư xét xử luôn đòi hỏi công chức phải tuân theo trình tự thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định và sự chủ động sáng tạo trong việc triển khai nhiệm vụ, áp dụng chính xác pháp luật vào thực tiễn sinh động
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ Thẩm phán
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền tư pháp nhân dân
Trang 20cơ bản về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp: nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, có sự tham gia của đại diện nhân dân vào việc xét xử của Tòa án, Tòa án xét xử công khai
1.3.2 Thẩm phán trước hết là những người tuyệt đối trung thành với Đảng
và Nhà nước
- Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, lòng trung thành với cách mạng là phẩm chất đầu tiên cần có của người Thẩm phán Bởi vì, nền công lý mà hoạt động tư pháp của chúng ta phụng sự là nền công lý của nhân dân, nhiệm vụ hàng đầu của nó là bảo vệ các thành quả của cách mạng và của nhân dân
- Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động
Tính chất quan trọng của pháp luật với tư cách là một công cụ thực hiện chuyên chính vô sản đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân lao động
- Lòng trung thành, tận tuỵ với lý tưởng cách mạng, công lý và chân lý khách quan luôn luôn có mẫu số chung là lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của nhân dân Đó cũng là thước đo hoạt động của các cơ quan và phẩm chất năng lực của đội ngũ Thẩm phán
1.3.3 Thẩm phán là những người có phẩm chất đạo đức, học thức và bản lĩnh cách mạng
- Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức người cách mạng, nhất là đội ngũ Thẩm phán không phải là cái gì cao siêu, khó hiểu mà đó là những phẩm chất như:
“nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường” Điều này đúng với đội ngũ Thẩm phán, khi mà hàng ngày, hàng giờ phải giải quyết những vấn đề phải, trái, đúng, sai
Để đạt được điều đó phải “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính Mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý” Hoạt động xét
Trang 21- Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng và không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều Người khẳng định muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng trong thực tế, người trí thức cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình, phải khiêm tốn, chớ kiêu ngạo, phải ra sức làm việc thực tế
1.3.4 Thẩm phán là người có tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và tình thương
- Đội ngũ Thẩm phán cần nội bộ đoàn kết từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, làm gương cho nhân dân Người nhấn mạnh đoàn kết là lực lượng của chúng ta Vì vậy, ngành toà án muốn khắc phục khó khăn thì phải đoàn kết nhất
trí thật sự Đội ngũ Thẩm phán muốn đoàn kết thật sự thì phải dựa trên lập
trường vững vàng, tư tưởng sáng suốt, nội bộ dân chủ, giúp đỡ nhau học tập tiến
bộ, thật thà phê bình, tự phê bình
- Người cho rằng tinh thần trách nhiệm là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp
trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn vượt mọi khó khăn, làm cho thành công
1.3.5 Thẩm phán là người “Công minh, chính trực, khiêm tốn, thận trọng, khách quan” và “phụng công thủ pháp, chí công vô tư”
- “Công minh” là sự công bằng, sáng suốt Trong quá trình thực hiện
công vụ, đội ngũ Thẩm phán phải đối diện với những áp lực và cám dỗ từ những yếu tố tinh thần, tình cảm, vật chất, nếu không đủ bản lĩnh, mất đi sự sáng suốt có thể đưa ra những quyết định, kết luận thiếu chính xác dẫn đến
Trang 2219
việc không đảm bảo sự nghiêm minh và công bằng của luật pháp, khiến cho công lý không được thực thi
- “Chính trực” là bản tính ngay thẳng, cương trực, có ý chí, đã quyết nói
và làm rồi không bao giờ hối tiếc; luôn đứng về lẽ phải, bênh vực và bảo vệ cái đúng; trung thành với lý tưởng, có niềm tin vững chắc
- “Khiêm tốn” là luôn đánh giá đúng bản thân mình, không tự mãn, tự kiêu,
phấn đấu học hỏi để cầu tiến bộ không cho mình là hơn người, hơn đời, biết tôn trọng ý kiến người khác, lắng nghe ý kiến tập thể
- “Thận trọng” là làm việc có đắn đo, suy tính cẩn thận trong hành động để
tránh sai sót; thận trọng mà không chậm trễ, phải đáp ứng được yêu cầu công việc; suy nghĩ kỹ để đảm bảo giữ vững đúng chủ trương, đường lối
- “Khách quan” là không phụ thuộc vào ý chí và nhận thức chủ quan của
một cá nhân nào, mà phải biết chấp nhận, giải quyết vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh cụ thể, phải lắng nghe các ý kiến; cần linh hoạt, nhạy bén, sẵn sàng đối phó với những bất ngờ xảy đến Người cũng nhấn mạnh làm việc phải xem xét hoàn
cảnh kỹ càng, quyết đoán, dũng cảm
- “Phụng công” nghĩa là tôn thờ lẽ công bằng, tôn thờ công lý, không thiên
lệch; là phải biết trách nhiệm của mình được Nhà nước và nhân dân giao cho quyền thực thi pháp luật, làm việc để phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân
-“Thủ pháp” là phải hiểu và nắm chắc luật pháp, là giữ gìn, bảo vệ pháp
luật, không vì lý do gì mà bẻ cong, làm trái pháp luật; cần phải thực thi pháp luật
cho rõ ràng, minh bạch, khách quan
-“Chí công, vô tư” theo đúng quy định của pháp luật; là hết mực công tâm;
là không vì lợi ích riêng tư nào Muốn “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”
thì trước hết người cán bộ tư pháp phải có bản lĩnh, có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và cái tâm trong sáng
1.4 Yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp đối với công xây dựng đội ngũ Thẩm phán
1.4.1 Yêu cầu quá trình dân chủ hoá và xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán
Trang 2320
- Xu thế dân chủ, pháp quyền là một tất yếu, là mục tiêu thiên niên kỷ mà nhân loại hướng tới với những hy vọng lớn nhất Ở nước ta, từ khi đổi mới, Đảng ta xác định xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
- Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa có một số đặc trưng chung của nhà nước pháp quyền vừa có đặc trưng riêng của nước ta mang đậm tính dân tộc và nhân đạo được thể hiện ở một số điểm sau: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn luôn xác định mục tiêu cao nhất của mình là vì con người; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước mà mọi quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan nhà nước do mình trực tiếp bầu ra; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mà ở đó các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thống nhất và có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền đó; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do một đảng duy nhất lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam
- Những vấn đề xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và yếu kém và đặt ra cho công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán là cấp thiết, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
trong sạch vững mạnh, thật sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.4.2 Yêu cầu cải cách tư pháp đối với công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Yêu cầu về số lượng, chất lượng đội ngũ Thẩm phán
- Yêu cầu bảo đảm tính độc lập xét xử; đề cao nguyên tắc tranh tụng tại toà án và hội nhập quốc tế
Trang 2421
- Yều cầu về phẩm chất chính trị của đội ngũ Thẩm phán, bao gồm là quan
điểm, tư tưởng, nhận thức và lập trường của một người về giai cấp, về Đảng, về lý
tưởng xã hội chủ nghĩa
- Yêu cầu về phẩm chất đạo đức của đội ngũ Thẩm phán, ngoài những chuẩn mực đạo đức chung của một công chức nhà nước là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức kỷ luật, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm Họ cần lĩnh hội đầy đủ các chuẩn mực đạo đức khác theo yêu cầu đặc thù nghề nghiệp tính công bằng, khách quan, vô tư trong hoạt động công vụ,
chuẩn mực ứng xử trong giao tiếp, lương tâm trách nhiệm nghề nghiệp
- Yêu cầu về năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán Xây dựng đội ngũ Thẩm phán, ngoài những tri thức cơ bản, tri thức pháp luật chuyên ngành được đào tạo và đã được tiêu chuẩn hóa, về tri thức và phương pháp cần phải được hệ thống lại Đồng thời phải cập nhật, bổ sung tri thức mới về pháp luật nội dung chuyên sâu như: sỡ hữu trí tuệ, kiến thức cơ bản về thương mại và tranh chấp thương mại quốc tế, xung đột pháp luật, tin học, ngoại ngữ Đặc biệt chú trọng rèn luyện các kỹ năng nghiệp vụ như: kỹ năng áp dụng pháp luật, phát hiện vấn đề, đánh giá chứng cứ, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, kỹ năng điều khiển
thẩm vấn phiên tòa, kỹ năng soạn thảo các quyết định tố tụng
1.5 Công tác đào tạo, bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.5.1 Mô hình đào tạo trước khi bổ nhiệm Thẩm phán
- Nhật Bản Việc đào tạo nguồn các chức danh thẩm phán được thực hiện
tại Viện nghiên cứu và đào tạo pháp luật trực thuộc Tòa án tối cao Nhật Bản.Tất
cả học viên học tại Viện đều phải trải qua kỳ thi tư pháp quốc gia, được tổ chức vào tháng 5 , kết thúc vào tháng 11 hằng năm với hai vòng thi: vòng 1 kiểm tra các kiến thức văn học, lịch sử, địa lý (người đã học khóa cơ bản 2 năm được miễn vòng 1); vòng 2 kiểm tra các môn luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự Những người chưa có bằng luật cũng có thể dự thi vào Viện Tuy nhiên, thông thường những người thi đỗ đều đã tốt
nghiệp đại học luật ở các trường đại học Hội đồng tiến hành các kỳ thi gồm các
Trang 2522
thành viên của Tòa án tối cao, Bộ Tư pháp và Liên đoàn luật sư quốc gia Giúp việc cho Hội đồng là Ban thư ký do Bộ Tư pháp thành lập Giám khảo là các thẩm phán, luật sư và công tố viên do các cơ quan chỉ định Các luật sư làm việc
tại các cơ sở đào tạo lớn cuãng được mời tham gia Ban giám khảo Việc áp dụng
chương trình đào tạo chung thống nhất cho các chức danh trong thời gian 1 năm
4 tháng, trong đó có 3 tháng học lý luận, 1 năm đào tạo thực tế (6 tháng ở tòa án,
3 tháng ở Viện kiểm sát, 3 tháng ở văn phòng luật sư), sau đó về Viện nghiên cứu đào tạo thêm 3 tháng nghiệp vụ trước khi thi tốt nghiệp ra trường Theo hệ thống đào tạo tư pháp mới áp dụng từ năm 2006, học viên sau khi tốt nghiệp các trường luật sẽ tham dự kỳ thi quốc gia vào Học viện theo khóa đào tạo 1 năm, trong đó 8 tháng đào tạo thực tế và các vấn đề cụ thể, 2 tháng đào tạo thực tế lựa chọn và 2 tháng đào tạo chung Sau khi ra trường khoảng 7 năm 4 tháng hoặc 8 năm 4 tháng họ có thể được bổ nhiệm chức danh tư pháp độc lập Tuy nhiên, phần lớn học viên theo nghề luật sư bởi vì hằng năm số lượng tuyển chọn làm
thẩm phán, công tố viên không nhiều
- Hàn Quốc Viện nghiên cứu và đào tạo tư pháp Hàn Quốc, thành lập từ
năm 1971, trực thuộc Tòa án tối cao Hàn Quốc, là cơ sở đào tạo thẩm phán duy
nhất của Hàn Quốc Việc đào tạo được áp dụng mô hình đào tạo của Nhật Bản
Học viên phải trải qua kỳ thi quốc gia rất khó, trung bình một thí sinh phải thi 7 lần mới được vào học.Viện áp dụng Chương trình đào tạo 2 năm chia thành 4 kỳ: (1) Kỳ 1: học lý thuyết gồm: xét xử dân sự, xét xử hình sự, thực hành kiểm sát và bào chữa; 82 giờ học về dịch vụ cộng đồng (công việc tình nguyện 12 giờ
và tư vấn pháp luật 72 giờ); (2) Kỳ 2: học lý thuyết và chương trình thực tập (4 tháng trước khi kết thúc kỳ 2); (3) Kỳ 3: Chương trình thực tập tại tòa án, viện kiểm sát và văn phòng luật sư; (4) Kỳ 4: học chung theo định hướng nghề và đạo đức nghề nghiệp trước khi ra trường Học viên tham gia tư vấn pháp luật miễn phí trên trang mạng và 82 giờ bắt buộc tham gia các công việc phục vụ cộng đồng
- Bungari Đào tạo thẩm phán tại Bunga-ri được tiến hành tại Học viện tư
pháp quốc gia, trực thuộc Hội đồng tư pháp tối cao, một cơ quan độc lập gồm 25 thành viên (3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm; 11 ủy viên do Quốc hội bầu
từ các luật sư, giáo sư, nhà nghiên cứu luật; 11 thành viên do tòa án cử) Học
Trang 2623
viện được thành lập năm 2003 trên cơ sở Trung tâm đào tạo thẩm phán, một tổ chức phi chính phủ do hiệp Hội thẩm phán và công tố viên lập ra Hội đồng quản trị Học viện tư pháp quốc gia gồm 7 thành viên, trong đó 4 thành viên đại diện cho Hội đồng tư pháp tối cao và 3 thành viên đại diện của Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng quản trị là Chánh án tòa án tối cao Tham gia giảng dạy là các thẩm phán, công tố viên, điều tra viên, cán bộ nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn, chủ yếu là giảng viên biệt phái và giảng viên thỉnh giảng Sau khi trải qua
kỳ thi quốc gia, các thí sinh được đào tạo chung chương trình bắt buộc ban đầu 6 tháng để thi tuyển vào mỗi loại chức danh thẩm phán, công tố viên, điều tra viên Hình thức đào tạo tập trung, nội dung mang tính thực tiễn cao, các kỹ năng đều được dạy theo quy trình, mô hình hóa Ngoài ra, mỗi năm các chức danh tư pháp phải tham gia 4-5 khóa đào tạo thường xuyên từ 3-5 ngày) để cập nhật pháp luật và kinh nghiệm xét xử các loại án mới theo chuyên đề
- Secbi Đào tạo thẩm phán ở Sécbi được tiến hành tại Trung tâm đào tạo
tư pháp, do Bộ Tư pháp và Hiệp hội thẩm phán thành lập năm 2001 Trung tâm
là cơ sở tổ chức các khóa đàot ạo cơ sở, đào tạo chuyên sâu, đào tạo thường xuyên và các chương trình tăng cường kỹ năng nghề nghiệp cho các chức danh
tư pháp của Secbi Đồng thời giới thiệu các chuẩn mực hiện hành của hệ thống
tư pháp và tòa án quốc tế, các quy định về thể chế quốc tế cho các thẩm phán, công tố viên và các công chức tư pháp khác Trung tâm còn điều hành diễn đàn hợp tác giữa đại diện chủ chốt của hệ thống tư pháp, chính phủ, những người hành nghề luật…Trong tương lai gần, trừ các chương trình cho các chức danh tư pháp Trung tâm sẽ thiết kế chương trình đào tạo mang tính thương mại cho các luật gia sau khi tham dự các kỳ thi tư pháp và các chuyên gia trong hệ thống tòa
án, hòa giải viên, công chứng viên, luật sư
- Thái Lan Việc đào tạo thẩm phán được thực hiện tại Học viện Tư pháp
thuộc Cơ quan quản lý tòa án Thái Lan - một cơ quan độc lập với Tòa án tối cao thực hiện (từ năm 2000 Thái Lan tiến hành cải cách tư pháp đã thành lập ra cơ quan độc lập quản lý tòa án) Học viện tư pháp thực hiện việc đào tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán, với thời gian 12 tháng (4 tháng đào tạo lý thuyết, 8 tháng đào tạo kỹ năng xét xử tại các tòa án; đào tạo công tố viên mới được tuyển dụng sau khi thi đỗ kỳ thi công chức với thời hạn không dưới 1 năm
Trang 2724
- Pháp, muốn trở thành thẩm phán tòa án tư pháp phải trải qua kỳ thi đầu
vào và được đào tạo tại Trường thẩm phán quốc gia (là đơn vị hành chính - sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp) Trường tổ chức đào tạo thẩm phán tư pháp (không đào tạo thẩm phán hành chính) theo một chương trình chung thống nhất kéo dài
31 tháng, trong đó: 7 tháng học tại trường gồm lý thuyết, đối thoại, làm việc nhóm, nghiên cứu hồ sơ tình huống, tọa đàm, diễn án; thực tập tại tòa án 14 tháng; thực tập tại văn phòng luật sư 2 tháng; thực tập tại các cơ quan khác 3 tháng; hoặc chuyên ngành 5 tháng Việc tuyển chọn đào tạo nguồn các chức danh nêu trên được thực hiện thông qua 3 kỳ thi: Kỳ thi thứ nhất dành cho sinh viên mới tốt nghiệp đại học luật không quá 27 tuổi; kỳ thứ hai dành cho các công chức nhà nước có nguyện vọng làm thẩm phán, công tố viên, đã có thời gian công tác ít nhất 4 năm, không quá 46 tuổi 5 tháng tính đến ngày dự thi; kỳ thứ ba dành cho tất cả các đối tượng có nguyện vọng thành thẩm phán, công tố viên không quá 40 tuổi, có 8 năm công tác trở lên trong ngành nghề chuyên môn thuộc khu vực tư Bên cạnh đó trường còn hình thức cử tuyển cho 3 loại đối tượng: (1) từ 27 đến 40 tuổi, có bằng đại học luật và 4 năm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, kinh tế hoặc xã hội; (2) có bằng tiến sỹ luật và một bằng đại học khác; (3) có bằng đại học luật và 3 năm giảng dạy, nghiên cứu ở cơ sở đào tạo luật Muốn trở thành luật sư, người có bằng cử nhân luật phải qua đợt kiểm tra đầu vào và học chương trình đào tạo 1 năm tại Trường đào tạo luật sư (do Hiệp hội luật sư quản lý) Kết thúc khóa học thi tốt nghiệp ra trường lấy chứng chỉ về đăng ký làm tại các văn phòng luật sư
- Rumani Đào tạo thẩm phán được tiến hành tại Học viện tư pháp quốc
gia (thành lập năm 1992), là một đơn vị tự quản, có tư cách pháp nhân, chịu sự quản lý của Hội đồng tư pháp quốc gia (gồm 19 thành viên gồm 9 thẩm phán, 5 công tố viên, 3 thành viên đương nhiên là Chánh án tối cao, Viện trưởng Viện công tố, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, 2 thành viên do các tổ chức xã hội bầu và được Thượng viện phên chuẩn Chánh án tối cao làm chủ tịch Hội đồng) Những người tốt nghiệp đại học luật muốn trở thành thẩm phán, công tố viên phải qua
kỳ thi quốc gia vào Học viện học 2 năm (1 năm học lý thuyết, 1 năm thực tập tại tòa án, viện công tố) Sau khi thi đỗ tốt nghiệp kết thúc khóa học học viên được nhận làm tập sự tại tòa án, viện công tố trong thời hạn 6 năm Nếu thi vượt kỳ
Trang 2825
thi năng lực sẽ được bổ nhiệm làm thẩm phán, công tố viên Bên cạnh đó, công chứng viên, tư vấn viên pháp luật, luật sư, cán bộ pháp lý nếu có 5 năm kinh nghiệm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm làm thẩm phán, công tố viên nhưng phải qua một khóa tập huấn 6 tháng tại Học viện tư pháp quốc gia
1.5.2 Mô hình đào tạo luật sư để lựa chọn bổ nhiệm Thẩm phán
- Liên Bang Đức, không có cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp mà việc
đào tạo được tiến hành với hình thức học thực tế và sau đó phải trải quan kỳ thi
sát hạch quốc gia Để trở thành thẩm phán, công tố viên, luật sư tranh tụng,
công chứng viên, trước hết phải được Bộ Tư pháp cấp giấy chứng nhận chính
thức là luật sư tư vấn Giấy chứng nhận này chứng minh họ đã vượt qua kỳ thi sát hạch quốc gia Quá trình đào tạo chia thành hai giai đoạn: giai đoạn bắt buộc (6 tháng thực tập tại tòa dân sự; 3 tháng thực tập tại tòa hình sự hoặc văn phòng công tố; 5 tháng thực tập tại cơ quan hành chính cấp huyện và 2 tháng tại cơ quan chính quyền bang hoặc liên bang; 4 tháng thực tập tại văn phòng luật sư);
giai đoạn không bắt buộc 4 tháng tại cơ quan lập pháp hoặc văn phòng luật sư, văn phòng công chứng, nhà tù…Hệ thống này khác với Hoa Kỳ và các nước theo hệ thống thông luật ở chỗ chỉ luật sư tư vấn (solicitor) mới được bổ nhiệm thẩm phán, công tố viên, ngược lại ở Hoa Kỳ và các nước theo hệ thống thông pháp thì luật sư tranh tụng (barristers) mới được lựa chọn bổ nhiệm làm thẩm
phán, công tố viên
- Vương quốc Anh (gồm cả Anh, xứ Wales và Bắc Ailen) Tất cả thẩm phán xuất thân từ các luật sư lâu năm (tối thiểu hành nghề 7 năm) và có kinh
nghiệm, đòi hỏi rất thành thạo hành nghề luật sư và có uy tín cao trong giới luật
Quá trình đào tạo luật sư phân biệt rất rõ giữa luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng Đối tượng đào tạo cơ bản là cử nhân luật, với chương trình 3 năm (1 năm đào tạo kỹ năng, 2 năm đào tạo thực tế tại các hãng luật) Những người chưa có bằng cử nhân luật cũng có thể học chương trình này nhưng phải qua một khóa học chính quy 1 năm để lấy chứng chỉ cử nhân luật hoặc chứng chỉ chuyên môn chung Để trở thành luật sư tranh tụng, ngoài việc lấy các chứng chỉ nêu trên, ứng viên phải trở thành thành viên của một trong 4 tổ chức của luật sư, sau đó tham gia khóa đào tạo nghề luật sư tranh tụng 1 năm chính quy hoặc 2 năm
Trang 2926
không chính quy để hoàn thành Tiếp đó phải tham gia 12 lần dự các tiệc chiêu đãi, những buổi hoạt động nghề nghiệp khác mới được chính thức kết nạp Hiệp hội Luật sư phải tìm kiếm và tham gia các khóa đào tạo mang tính “tập sự” lên đến 1 năm rất tốn kém do các luật sư hành nghề trực tiếp hướng dẫn kỹ năng dự phiên tòa, tìm kiếm các luận điểm pháp lý, soạn thảo văn bản làm việc với tòa
án Sau 6 tháng học việc, luật sư học việc được xuất hiện tại tòa án và có thể xử
lý công việc được giao Tuy nhiên, sau 1 năm học viên mới có thể thực sự hành nghề và được chấp nhận có vị trí trong nhóm hội Luật sư hành nghề, tích lũy kinh nghiệm có thể đăng ký thi tuyển làm thẩm phán, công tố viên Việc tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán được thực hiện bởi Hội đồng bổ nhiệm thẩm phán, một cơ quan độc lập được Bộ Tư pháp bảo trợ Các ứng viên đăng ký trực tuyến trên cơ sở thông báo nhu cầu thẩm phán của Tòa án tối cao để Hội đồng xem xét các tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các vị trí còn thiếu (do thẩm phán về hưu hoặc
lý do khác)
- Cộng hòa Ailen Các thẩm phán được bổ nhiệm từ các luật sư giỏi, có
thâm niên hành nghề từ 10 năm trở lên đối với tòa án cấp huyện và 12 năm trở
lên đối với tòa án các cấp còn lại Ở Ailen, luật sư được chia thành hai loại: luật
sư tư vấn và luật sư tranh tụng Các luật sư tranh tụng được đào tạo bởi Đoàn luật sư Ailen, sau đó được ghi danh vào Đoàn luật sư này đồng thời, phải đăng
ký tập sự 1 năm tại Thư viện luật và tòa án dưới sự hướng dẫn của luật sư tranh tụng có kinh nghiệm Khi hoàn thành tập sự ứng viên có thể tham gia tranh tụng tại phiên tòa Các luật sư tranh tụng khác luật sư tư vấn là phải hoạt động độc lập với danh nghĩa cá nhân, không được mở văn phòng hoặc công ty Khác hàng
liên hệ với luật sư tranh tụng thông qua luật sư tư vấn của mình Hội đồng tuyển
chọn thẩm phán gồm 13 thành viên: Chủ tịch là Chánh án tối cao; 5 thẩm phán đại diện các cấp tòa từ tối cao xuống cấp hạt; 1 thành viên là luật sư tranh tụng;
1 thành viên là luật sư tư vấn do Hội đồng luật sư tranh tụng và Hiệp hội luật gia
đề cử và 5 công dân có thể là giáo sư hoặc người bình thường Hội đồng có mối
liên hệ trách nhiệm và được sự bảo trợ của Bộ Tư pháp
- Hoa Kỳ Hoa Kỳ là nước theo hệ thống thông luật, không có chương
trình đào tạo thẩm phán mà chỉ có chương trình bồi dưỡng thẩm phán đã được
bổ nhiệm ở cấp bang và cấp liên bang Việc đào tạo ở Hoa Kỳ không chia ra
Trang 3027
thành 2 bậc lý thuyết và thực tế giống như Nhật Bản, Đức, Pháp…mà chỉ gồm một chương trình chung tại một trường luật (law school) được Liên đoàn luật sư công nhận Học viên vào học phải có Bằng cử nhân về xã hội hoặc kỹ thuật hoặc tương đương và trải qua kỳ thi đầu vào Người học xong trường luật phải học tiếp 3 năm để hoàn tất 52 chứng chỉ cho các khóa tự chọn, viết luận văn, khi
hoàn thành sẽ có bằng hành nghề luật Các thẩm phán đều được lựa chọn từ các
luật sư danh tiếng, có kinh nghiệm và đủ thời gian hành nghề theo quy định, do
các hiệp hội luật sư giới thiệu
- Úc Giống như Hoa Kỳ và các quốc gia theo hệ thống thông luật như
Hoa Kỳ, Vương quốc Anh (Úc là nước thuộc khối Liên hiệp Anh), tất cả các thẩm phán đều được bổ nhiệm từ luật sư giỏi nghề, có phẩm chất tốt, có thời
gian và kinh nghiệm hành nghề, do Hiệp hội luật sư giới thiệu
- Braxin Hệ thống tư pháp Braxin quy định muốn trở thành thẩm phán,
công dân trong độ tuổi từ 23 đến 45, phải tốt nghiệp trường luật, đã có ít nhất
hai năm hành nghề luật và vượt qua kỳ thi tuyển công khai làm thẩm phán với
hai hình thức là phỏng vấn và thi viết Thẩm phán Braxin được phân loại theo
thâm niên và công trạng nghề nghiệp, làm việc suốt đời đến khi nghỉ hưu
- Achentina Để trở thành Thẩm phán của toà án bắt buộc phải là luật sư
(một số tỉnh có thể không là luật sư, nhưng điều kiện tiêu chuẩn chung phải là luật sư) Thẩm phán ở Achentina được chia thành 3 cấp (ba bậc): người đủ tiêu chuẩn để được bổ nhiệm làm Thẩm phán cấp 1 phải có ít nhất là 6 năm làm luật sư; Thẩm phán cấp 2 và cấp 3 là 8 năm làm luật sư Tuổi tối thiểu để bổ nhiệm Thẩm phán liên bang là 31 tuổi Bộ Tư pháp tham gia vào quá trình tuyển chọn
và bổ nhiệm thẩm phán, trong đó có trách nhiệm phỏng vấn kiểm tra kiến thức chung về pháp luật của người dự thi Bộ Tư pháp cũng có vai trò trong việc chuẩn hóa các tiêu chuẩn của thẩm phán, đề xuất các quy định về tiêu chuẩn
thẩm phán mới
1.5.3 Mô hình vừa đào tạo chung, vừa đào tạo riêng để bổ nhiệm Thẩm phán
- Trung Quốc Đào tạo chức danh tư pháp, trong đó có đội ngũ Thẩm phán
ở Trung Quốc rất đa dạng: Bộ Tư pháp có Trung tâm đào tạo cán bộ tư pháp cao cấp và Trung tâm đào tạo luật sư; Tòa án tối cao có Trường thẩm phán quốc gia
Trang 3128
Trung tâm đào tạo cán bộ tư pháp cấp cao thuộc Bộ Tư pháp đào tạo bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ cho thẩm phán cho các địa phương thuộc Đại lục, Hồng
Kông, Ma Cao, Đài Bắc Việc đào tạo bỗi dường cho thẩm phán còn được thực
hiện bởi các trường luật và trường chính pháp
- Hungari Đào tạo thẩm phán được thực hiện tại Học viện tư pháp, là cơ
quan chịu sự quản lý của Cơ quan quản lý tòa án quốc gia Những người có bằng đại học luật, sau khi qua kỳ thi sát hạch tại Học viện tư pháp sẽ được nhận làm việc thực tập tại tòa án 3 năm Trong thời gian đó học phải hoàn thành các môn luật chuyên môn sâu tùy thuộc lĩnh vực đảm nhiệm của thẩm phán Sau khi có chứng chỉ sẽ làm thư ký tòa án trong vòng 1 năm và phải hoàn thành 4 khóa nghiệp vụ mỗi khóa 1 tuần tại Học viện tư pháp Những người tốt nghiệp sẽ được bổ nhiệm làm thẩm phán nếu còn chỗ trống, bổ nhiệm lần đầu 3 năm , nếu
đủ năng lực sẽ được bổ nhiệm làm thẩm phán đến 70 tuổi
1.5.4 Những kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Coi các chức danh Thẩm phán là một nghề đặc thù đòi hỏi trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao Do đó phải được đào tạo cơ bản về pháp luật và đặc biệt phải qua khóa đào tạo nghề trong nhà trường Áp dụng hình thức thi tuyển
để lựa chọn học viên đào tạo chức danh Thẩm phán Mở rộng đối tượng được tham dự kỳ thi và có những quy định nghiêm ngặt về điều kiện dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia như: bằng cấp, thâm niên công tác, độ tuổi Sau khi được bổ nhiệm chức danh Thẩm phán trong quá trình công tác phải thường xuyên được đào tạo lại và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ
- Nội dung chương trình đào tạo đội ngũ Thẩm phán phải luôn gắn liền với
hoạt động nghề nghiệp Quá trình đào tạo áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại để tăng tính độc lập, sáng tạo tích cực của học viên
- Xây dựng tiêu chuẩn chức danh Thẩm phán cụ thể cho từng công việc
trong bộ máy nhà nước, để làm cơ sở cho việc đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, quy
hoạch, đánh giá và là chuẩn mực để rèn luyện phấn đấu của đội ngũ Thẩm phán
Trang 3229
- Thực hiện thi tuyển vào chức danh Thẩm phán Quá trình thi tuyển được tiến hành bảo đảm nguyên tắc công bằng, minh bạch công khai, khách quan
- Có chế độ đãi ngộ xứng đáng, khen thưởng và kỷ luật thích đáng đối với
người được bổ nhiệm chức danh Thẩm phán Tôn vinh, khích lệ sự phấn đấu và nâng cao vai trò trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán trong xã hội
2 Chủ trương và quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán
2.1.1 Quá trình hình thành chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán
- Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, các cơ quan xét xử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ trong mỗi thời kỳ của cách mạng Hoạt động của đội ngũ Thẩm phán và mô hình tổ chức của cơ quan toà án trong kháng chiến chống thực dân Pháp và trong những năm đầu xây dựng miền Bắc sau hòa bình lập lại được, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội sau năm 1975 xây dựng theo các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng khởi xướng
công cuộc đổi mới toàn diện Đảng đã chủ trương đổi mới công tác cán bộ nói chung gắn liền với quá trình cải cách và hoàn thiện bộ máy của Nhà nước Đại hội VI coi trọng việc Thẩm phán khi xét xử phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và các cấp ủy đảng, từ trên xuống dưới, phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế, tăng cường cán bộ có phẩm chất và năng lực cho lĩnh vực pháp chế, và kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) chủ trương tăng cường
hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật Đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp luật làm tốt nhiệm vụ
- Hội nghị Trung ương hai khoá VII (11/1991) lần đầu tiên chủ trương đổi
Trang 3330
mới chế độ bầu cử Thẩm phán thành chế độ bổ nhiệm
- Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 18/3/1994 của Ban Bí thư về “Sự lãnh đạo của
Đảng đối với việc tuyển chọn, bổ nhiệm thẩm phán tòa án nhân dân, thẩm phán tòa án quân sự các cấp” Chỉ thị khẳng định việc quy định thẩm phán tòa án các cấp do Chủ tịch nước bổ nhiệm thay cho chế độ bầu hoặc cử thẩm phán là sự đổi mới quan trọng nhằm thực hiện thống nhất tiêu chuẩn thẩm phán, nâng cao vị trí người thẩm phán trong hệ thống chính trị của Nhà nước
- Hội nghị Trung ương tám khoá VII (1/1995) chủ trương đề cao trách
nhiệm của người ra lệnh và thừa hành đối với việc xét xử oan sai, đồng thời
minh oan công khai, thoả đáng đối với người bị xét xử sai, bảo đảm quyền công dân đúng pháp luật
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đề cập rõ hơn về nội
dung xây dựng đội ngũ Thẩm phán như phải có phẩm chất chính trị và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch, vững mạnh
- Hội nghị Trung ương ba khoá VIII năm 1997 đã chủ trương xây dựng đội
ngũ Thẩm phán trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức và có nǎng lực chuyên môn Lập quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng Thẩm phán theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn cụ thể
- Chỉ thị số 53-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21/3/2000 về “Một số công
việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000” Trong
đó, nhấn mạnh đến các vấn đề như xây dựng, kiện toàn đội ngũ Thẩm phán nhất
là cấp huyện để chuẩn bị việc tăng thẩm quyền xét xử cho toà án cấp huyện; xây dựng, ban hành các quy chế công tác cho từng loại Thẩm phán; thực hiện việc rà soát đội ngũ Thẩm phán và xử lý nghiêm minh đối với người có sai phạm, sa sút
về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; nghiên cứu chế độ bồi dưỡng cho Thẩm phán, với mức phụ cấp thoả đáng, phù hợp với chất lượng và khối lượng công việc
Trang 3431
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) nhấn mạnh đến
yêu cầu nâng cao tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán trong xét xử không để xảy ra những trường hợp oan, sai trong tố tụng
2.1.2 Sự phát triển chủ trương của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
2.1.2.1 Quan điểm định hướng của Đảng về xây dựng ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
- Nghị quyết 08/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và ngày 02/06/2005, Bộ
Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Đảng đã đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức của
Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán Các quan điểm định hướng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cải cách tư pháp như sau
- Mục tiêu bao trùm và xuyên suốt trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp, mà trọng tâm là hoạt động xét
xử, được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao
- Công tác tư pháp phải quán triệt nguyên tắc thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; giữ vững bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
- Nhiệm vụ của công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Trang 3532
- Lực lượng thực hiện cải cách tư pháp là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tư pháp Các cơ quan tư pháp phải dựa vào nhân dân để hoạt động, đồng thời phải là lực lượng nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp
- Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; gắn với đổi mới công tác lập pháp, cải cách hành chính
- Cải cách tư pháp phải kế thừa truyền thống pháp luật dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng xu thế phát triển của xã hội trong tương lai
- Cải cách tư pháp phải được tiến hành khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc
- Hệ thống Toà án được tổ chức theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp và chủ trương chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố và tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra
- Coi trọng và đề cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tư pháp khi thực hiện
các hoạt động tố tụng và cần thể chế hoá thành các văn bản pháp luật để thực thi
- Quan điểm về xây dựng đội ngũ Thẩm phán trước yêu cầu mới như đề
cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ, tiến tới thi tuyển đối với một số chức danh cán bộ tư pháp, trong đó có đội ngũ Thẩm phán
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đến Đại hội lần thứ XII của Đảng đã tiếp tục bổ sung, phát triển các quan điểm định hướng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán cho phù hợp với những yêu cầu và tình hình mới
Trang 3633
- Nghị quyết Trung ương 7 khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán
bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ, tháng 6 năm 2018 đã có những quan điểm chỉ đạo chiến lược về công
tác cán bộ, thẩm phán là một bộ phận, do đó, mục tiêu tổng quát xây dựng đội
ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh
phúc Nghị quyết Trung ương 7 khoá XII xác định mục tiêu cụ thể xây dựng đội
ngũ cán bộ đến năm 2020: (1) Thể chế hoá, cụ thể hoá Nghị quyết thành các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ; (2) Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực;
kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên; (3) Đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương; (4) Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm và rà soát, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ các cấp gắn với kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Đến năm 2025: (1) Tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; (2) Cơ bản bố trí bí thư cấp uỷ cấp tỉnh không là người địa phương và hoàn thành ở cấp huyện; đồng thời khuyến khích thực hiện đối với các chức danh khác; (3) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định.Đến năm 2030: (1) Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng; (2) Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ
2.1.2.2 Chủ trương về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán
- Chủ trương về công tác đào tạo luật cho đội ngũ Thẩm phán Sắp xếp lại
việc đào tạo cử nhân luật tập trung vào hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; thống nhất chương trình, giáo trình đào tạo, bảo đảm các sinh viên sau khi tốt nghiệp phải có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt và nắm vững kiến thức pháp luật Tiếp tục đổi mới nội
Trang 3734
dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật Thành
Phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật
- Chủ trương về đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán Đổi mới công tác đào tạo cán bộ chức danh Thẩm phán theo hướng phải có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo chức danh Nghiên cứu xây dựng đề án thành lập cơ quan thống nhất đầu mối đào tạo nghề nghiệp cho cán bộ có chức danh tư pháp và nghiên cứu khoa học tư pháp Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn
về đạo tạo cán bộ tư pháp Bồi dưỡng cán bộ tư pháp theo hướng cập nhật các
kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì
công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Chủ trương về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán theo yêu cầu hội nhập quốc tế Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo cán bộ tư pháp Nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, về đào tạo cán bộ tư pháp, về đấu tranh phòng, chống tội phạm, về giải quyết các loại hình tranh chấp trên cơ sở bảo đảm độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp
vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực
2.1.2.3 Chủ trương về tuyển chọn, bổ nhiệm đội ngũ Thẩm phán
- Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của các cán bộ tư pháp Nghiên cứu tiến tới thực hiện việc thi sát hạch trước khi
bổ nhiệm và quy định thời hạn bổ nhiệm các cán bộ có chức danh tư pháp; cải tiến thủ tục bổ nhiệm theo hướng gọn, kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai
- Có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp Mở rộng nguồn để bổ nhiệm vào các chức danh
tư pháp, không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn là các luật gia, luật sư Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các
Trang 3835
chức danh tư pháp.Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn
2.1.2.4 Chủ trương về thực hiện chính sách đối với đội ngũ Thẩm phán
- Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp Tăng cường kiểm tra, thanh tra và có cơ chế thanh tra, kiểm tra
từ bên ngoài đối với hoạt động của các chức danh tư pháp
2.2 Quá trình thực hiện xây dựng đội ngũ Thẩm phán
2.2.1 Quá trình thực hiện công tác đào tạo luật cho đội ngũ Thẩm phán
- Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng các cơ sở đào tạo thành những cơ sở trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật Các trường đại học luật đã
bám sát tiêu chí của trường trọng điểm đào tạo đại học theo quy định của pháp luật, đồng thời có tính đến đặc thù của hoạt động đào tạo cán bộ về pháp luật;
dựa trên cơ sở tổng kết về tổ chức, hoạt động đào tạo cán bộ về pháp luật, các trường ra sức tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, đổi mới nội dung và phương pháp, cơ chế quản lý, coi trọng hợp tác quốc tế trong đào tạo Do vậy, các cơ quan tư pháp và Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo các trường xây dựng các đề án như Đề án “Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”; Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp” Các đề án đã bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp Do vậy, ngày 04 tháng 04 năm 2013, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 549-QĐTTg về phê duyệt Đề án “Xây
dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”
- Về thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo luật
Một số cơ sở áp dụng chương trình đào tạo tiên tiến như Trường Đại học Luật Hà Nội có Chương trình đại học chất lượng cao ngành Luật, Chương trình đào tạo ngành Luật Thương mại quốc tế, ngành Luật Kinh tế, chuyên ngành tiếng Anh pháp lý; Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh chuyển sang đào tạo đa ngành, trong đó ngành được mở rộng đầu tiên là Quản trị - Luật và
Trang 3936
mở thêm các chuyên ngành khác như Quản trị kinh doanh, Cử nhân ngôn ngữ Anh - chuyên ngành Anh văn pháp lý từ năm 2013; mở các chuyên ngành khác
phục vụ nhu cầu xã hội như Chương trình đào tạo Chất lượng cao ngành Luật,
nhóm chuyên ngành Thương mại - Dân sự - Quốc tế; Chương trình đào tạo Chất lượng cao ngành Luật, nhóm chuyên ngành Hành chính - Tư pháp; Chương trình đào tạo Chất lượng cao ngành Luật, tăng cường tiếng Pháp; Chương trình đào tạo Chất lượng cao ngành Luật, tăng cường tiếng Nhật,…); Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội đã mở mã ngành đào tạo mới như thạc sĩ về luật biển và quản lý
biển, thạc sĩ luật nhân quyền Một số môn học mang tính mới như: Pháp luật kinh doanh bất động sản, Pháp luật về hoạt động xuất nhập khẩu, Pháp luật đầu
tư, Pháp luật kinh doanh chứng khoán, Pháp luật kinh doanh bảo hiểm; Pháp luật về phòng chống tham nhũng… được một số trường đưa vào chương trình giảng dạy Các cơ sở đào tạo luật đã nhanh chóng chuyển từ phương pháp truyền thống sang áp dụng các hình thức, phương pháp mới như phương pháp sư phạm tương tác, làm việc nhóm, tình huống, phiên tòa mẫu… được áp dụng vào quá trình đào tạo nhằm tăng tính tương tác, giúp sinh viên, học viên nắm bắt nhanh
chóng, đầy đủ kiến thức trong nội dung chương trình đào tạo
- Về thực hiện xây dựng giáo trình, học liệu phục vụ đào tạo tạo luật
Tính đến năm 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội có 56 bộ giáo trình cho tất cả các môn học bắt buộc và tự chọn, được xây dựng công phu theo quy trình,
có hệ thống sách tham khảo, chuyên khảo và sách hướng dẫn như Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Bình luận Bộ luật dân sự, Luật hình sự quốc tế Có giáo trình được biên soạn bằng tiếng Anh và tiếng Việt như Giáo trình Luật thương mại quốc tế Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh xây dựng đủ giáo trình cho các môn học bắt buộc, các lớp đào tạo chất lượng cao và hệ thống học liệu phong phú với 71.134 bản tài liệu bằng tiếng Việt và 5.602 bản tài liệu tiếng nước ngoài Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội có 50 đầu giáo trình và hệ thống 9.810 đầu sách chuyên khảo và tham khảo, 85 loại báo, tạp chí tiếng Việt
và 40 loại báo, tạp chí tiếng nước ngoài; sử dụng chung tại cơ sở dữ liệu của Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội khoảng 200.000 tên sách với gần 1.000.000 bản; khoảng 3.000 tạp chí và nhiều tài liệu khác Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội bên cạnh việc sử dụng các giáo trình, tài liệu của các
Trang 4037
trường có uy tín đã có 7 giáo trình được xuất bản và đã nghiệm thu 7 giáo trình khác Đại học Luật - Đại học Huế đã bảo đảm giáo trình, tài liệu cho 90% học phần gồm 30 đầu sách, nhiều tài liệu tham khảo, trong đó có một số tài liệu nước ngoài Khoa Luật - Đại học Cần Thơ sử dụng 02 nguồn giáo trình chính do giảng viên của khoa biên soạn và một số giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
- Về thực hiện xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên đào tạo luật
Đội ngũ giảng viên, giáo viên được xây dựng, phát triển và kiện toàn nhanh chóng Đã thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên Số lượng giảng viên, giáo viên ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có trình độ sau đại học ngày càng cao, nhiều giảng viên, giáo viên được phong học hàm giáo sư, phó giáo sư, có khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ thông dụng như tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức…,
có công trình được công bố trên các tạp chí nước ngoài
2.2.2 Quá trình thực hiện đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn nghiệp
vụ cho đội ngũ Thẩm phán
- Thực hiện chủ trương thành lập cơ quan đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, ngày 18/11/2003, Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 1269/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thành lập
Học viện Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Ngày 08 tháng 11 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
2083/QÐ-TTg phê duyệt Ðề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp”
- Về thực hiện đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán Học viện Tư pháp đã xây dựng và thực
hiện nhiều chương trình đào tạo áp dụng cho các chức danh khác nhau như Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử 12 tháng Học viện Tòa án có các Chương trình: đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, đào tạo, bồi dưỡng thư ký tòa án, đào tạo, bồi dưỡng thẩm tra viên và chương trình bồi dưỡng Hội thẩm nhân dân
Trong đó, chương trình đào tạo thẩm phán là 6 tháng, đào tạo thư ký tòa án là 01