1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân tỉnh yên bái đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở việt nam

90 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 656,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm thứ hai: Những công trình nghiên cứu về TAND ở các góc độ như: Đề tài cấp Bộ do TS Trịnh Hồng Dương làm Chủ nhiệm: “Vị trí vai trò và chức năng của TAND trong bộ máy Nhà nước qua c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁ P

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan

Hà Nội - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 01 tháng 01 năm 2013

H oàng M ạnh H ùng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

***** -Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tâm, nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Minh Đoan đã giúp em hoàn thành tốt luận văn này

Em cũng xin được cảm ơn bà Chánh án, bà Trưởng phòng Tổ chức – Cán

bộ, lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái; ông Chánh án, lãnh đạo và toàn thể cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái là nơi em công tác đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa học và luận văn

Nhân dịp này, cho phép em gửi lời cảm ơn đến các thầy, các cô trong bộ môn Lý luận nhà nước và Pháp luật, khoa Sau đại học – trường Đại học Luật Hà Nội, các cá nhân và tổ chức khác đã giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 01 năm 2013

Học viên

Hoàng M ạnh Hùng

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙN G TRON G LUẬ N VĂ N

Trang 5

M ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM 10

1.1 Khái quát chung về tổ chức và hoạt động của tòa án nhân tỉnh ở Việt Nam .10 1.1.1 Vị trí, chức năng và thẩm quyền của tòa án nhân dân tỉnh .10 1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của tòa án nhân tỉnh 16 1.2 Cải cách tư pháp ở Việt Nam và những yêu cầu đòi hỏi đối vớ i tổ chức và họat động của tòa án nhân dân tỉnh 21 1.2.1 Cải cách tư pháp ở Việt Nam - một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay 21 1.2.2 Những yêu cầu của cải cách tư pháp liên quan đến tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân tỉnh 23 1.3 Nội dung, cách thức, lộ trình đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân tỉnh theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt nam 27 1.4 Ý nghĩa của việc đổi m ới và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân tỉnh ở Việt Nam 32

Chương II THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TAND TỈNH YÊN BÁI THEO YÊU CẦU CẢ I CÁCH TƯ PHÁP 35

2.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái 35 2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái theo yêu cầu cải cách tư pháp 41 2.3 Những kết quả đổi mới đã đạt được và những tồn tại, hạn chế,

nguyên nhân 45

Chương III QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ

HOẠT ĐỘNG CỦA TAND TỈNH YÊN BÁI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 58

Trang 6

3.1 Quan điểm tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái hiện nay 58 3.2 Một số giải pháp tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái hiện nay 65 3.2.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án 65 3.2.2 Cần lựa chọn xây dựng một mô hình Tòa án phù hợp, tăng cường tính độc lập cho Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp 66 3.2.3 Phải tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án một cách hợp lý, tránh hình thức, chạy theo số lượng 69 3.2.4 Trong hoạt động xét xử của Tòa án phải tuyệt đối trung thành với Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, công bằng xã hội 70 3.2.5 Kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức ngành Tòa án theo hướng tinh giản, hiệu quả, bố trí sắp xếp nhân sự một cách hợp lý, sử dụng nhân sự đúng người đúng việc, đúng sở trường; đồng thời có chính sách phù hợp

để thu hút đội ngũ những người có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt phục vụ cho sự phát triển của ngành 72 3.2.6 Hoàn thiện hơn nữa tổ chức và hoạt động của Hội thẩm nhân dân .73 3.2.7 Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, đồng bộ, phù hợp, khả thi, dễ hiểu và dễ tiếp cận làm cơ s ở pháp lý trong hoạt động xét xử của Tòa án 74 3.2.8 Tăng cường đưa ra xét xử lưu động các vụ án 76

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, cùng với sự cải cách mạnh mẽ của bộ máy Nhà nước, vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Điều đó được thể hiện trong các văn kiện Đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) qua các kỳ Đại hội như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, các Nghị quyết TW 3 và Nghị quyết TW 7 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X Đặc biệt, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã khẳng định, “trong những năm qua…công tác tư pháp đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế x ã hội chủ nghĩa, phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới, phần lớn cán bộ làm công tác tư pháp giữ vững phẩm chất chính trị, có tinh thần trách nhiệm và hoàn thành nhiệm vụ [1.tr1] Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”

Nhận thức rõ điều này, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã tích cực đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Tuy nhiên quá trình này diễn ra còn chậm, chưa đồng bộ và toàn diện, hoạt động xét

xử của Tòa án chưa phản ánh kịp với diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm

và các quan hệ pháp luật khác Cụ thể: Chất lượng xét xử của tòa án nhân dân (TAND) các cấp vẫn còn thấp, tình trạng kết tội oan sai cho người vô tội, án tồn đọng kéo dài gây bức xúc cho nhân dân vẫn còn chiếm tỷ lệ cao Bên cạnh đó đội ngũ Thẩm phán vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng vẫn tồn tại; cơ

sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan tư pháp còn thiếu thốn, nghèo nàn

Trang 8

và lạc hậu Những tồn tại trên được Đảng ta chỉ rõ trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI là: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu cả về phẩm chất và năng lực, quá trình “cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp ch ưa ch ính xác, án tồn đọng, án bị hủy, bị sửa còn nhiều”

Tỉnh Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc có diện tích: 688,64 ha; dân

số 752.922 người Cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án tỉnh Yên Bái hiện nay gồm: TAND tỉnh Yên Bái có 05 Tòa chuyên trách, 03 phòng giúp việc và 9 TAND cấp huyện Toàn ngành TAND tỉnh Yên Bái có 130 công chức, trong đó có 100 người có trình độ đại học Trong những năm qua, cùng với ngành Tòa án toàn quốc, TAND tỉnh Yên Bái đã không ngừng nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Chất lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước, góp phần giải quyết tốt các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và tại ngành Tòa án nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đó là:

Chất lượng công tác tư pháp nói chung, chất lượng xét xử nói riêng chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự…và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhi ều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạ o đức và trách nhiệm nghề nghiệp Bênh cạnh đó, vẫn còn tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm trong điều tra, giam, giữ, truy tố, xét xử…, các bản án bị hủy, cải sửa

Trang 9

lớn do lỗi chủ quan Mặc dù các bản án sai sót không nhiều nhưng ảnh hưởng không tốt đến uy tín của Thẩm phán, tính công bằng, công lý của Tòa án; xâm hại đến quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp

Mặt khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng đa dạng phức tạp, liều lĩnh, táo bạo với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong nhiều lĩnh vực; không chỉ xâm phạm an ninh quốc gia, tính mạng sức khỏe, danh dự nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn xu ất hiện nhiều loại tộ i phạm mới trong quản lý kinh tế, tin học, trật tự hành chính, bảo vệ môi trường… Đặc biệt tội phạm có tổ chức hoạt động dưới dạng các băng nhóm xã hội đen, tội phạm về ma túy, tham nhũng, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, trong thời gian gần đây đã và đang gây ra những tác hại nghiêm trọng về an ninh trật tự và đời sống xã hội

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng Tòa án thực sự là cơ quan bảo

vệ công lý, công bằng, lẽ phải và quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mỗi người dân trước nguy cơ bị xâm hại trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức khác, cũng như từ chính các cơ quan tiến hành tố tụng Cùng với đó, góp phần duy trì t rật tự

xã hội và tạo môi trường ổn định, lành mạnh, thuận lợi cho cuộc sống của người dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng trong việc cần thiết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, xuất phát từ những đòi h ỏi của công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước, để góp phần xây dựng Tòa án tương xứng với vị trí, vai trò của nó trong bối cảnh chủ trương Việt Nam xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, tác giả

chọn đề tài:“Đổi mới tổ chức và họat động của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu cải cải cách tƣ pháp ở Việt Nam” để làm đề tài luận văn

Trang 10

thạc sĩ của mình Nghiên cứu này mong muốn góp phần làm phong phú thêm cơ

sở và lý luận cho việc xây dựng ngành Tòa án tỉnh Yên Bái ngày một hoàn thiện

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

TAND với vị trí là bộ phận quan trọng trong bộ máy Nhà nước, có vai trò

to lớn trong việc giữ gìn trật tự pháp luật, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa(XHCN), bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân nên được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, chủ trương cải cách đổi mới để ngày một hoàn thiện hơn Để đáp ứng yêu cầu đó của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về phương diện lý luận và phương diện thực tiễn của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả, nhằm góp phần thực hiện đổi mới TAND Có thể chia các công trình nghiên cứu theo các nhóm sau đây:

Nhóm thứ nhất: Những công trình nghiên cứu về hệ thống tư pháp, thực

trạng và phương hướng cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam, trong đó có đề cập đến TAND: Đề tài cấp Bộ do Nguyễn Văn Thảo làm Chủ nhiệm: “Năm mươi năm ngành tư pháp Việt Nam” Mã số 96-98.035; sách tham khảo: “Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp bách của khoa học về nhà nước

và pháp luật”- NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1997 do GS TSKH Đào Trí

Úc làm chủ biên; “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp”, Hà Nội, năm 2001- Đề tài cấp Bộ do PGS TS Hoàng Thế Liên làm Chủ nhiệm ; sách tham khảo: “Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, do TS Lê Minh Thông chủ biên, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2001; phát biểu của Chủ tịch nước Trần Đức Lương: “Đẩy mạnh cải cách tư pháp đáp ứng y êu cầu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, Báo Nhân Dân ngày 26/3/2002; bài viết: “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ: Một số vấn đề chung”, PGS TSKH

Lê Cảm, Tạp chí Khoa học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, số 3 năm 2003; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây

Trang 11

dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, TS Trần Huy Liệu, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2003

Nhóm thứ hai: Những công trình nghiên cứu về TAND ở các góc độ

như: Đề tài cấp Bộ do TS Trịnh Hồng Dương làm Chủ nhiệm: “Vị trí vai trò và chức năng của TAND trong bộ máy Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng ở Việt Nam” Mã số 95-98.048/ĐT quyển 1 năm 1996 Hà Nội năm 1996; bài viết: “Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư p háp” TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí TAND số 5 năm 2001; sách tham khảo: “Một số vấn đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở nước CHXHCN Việt Nam” do TS Lê Minh Thông chủ biên, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Bài viết: “Cải cách hệ thống Toà án trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của TSKH Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2002, Hà Nội, năm 2002 ; Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Thành Dương: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, năm 2002…

Những công trình nghiên cứu này đã đánh giá tương đối đầy đủ về hệ thống tư pháp ở Việt Nam trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, đã khái quát được sự hình thành và phát triển của TAND qua các gi ai đoạn cách mạng, luận

về cải cách tư pháp mà ở đó đưa ra nhiều kiến nghị có ý nghĩa để đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND

Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của các công trình ở nhóm thứ nhất là hệ thống tư pháp ở nước ta, trong đó TAND được đề cập như là một bộ phận của hệ thống này, cho nên những nội dung về Toà án như tổ chức, hoạt động, thẩm quyền mới được nghiên cứu ở phương diện chung nhất, chưa được đề cập một cách đầy đủ và sâu sắc Bên cạnh đó, những giải pháp được các tác giả đưa ra còn mang tính tổng quát cho cả hệ thống tư pháp chứ không ph ải dành riêng cho cải cách Tòa án Còn các công trình nghiên cứu ở nhóm thứ hai đề cập trực tiếp đến hệ thống TAND ở những khía cạnh cụ thể như: “Vị trí, vai trò, chức năng

Trang 12

của TAND trong bộ máy Nhà nước qua các giai đoạn cách mạng”, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” Hầu hết các

đề tài, chuyên đề bài viết được thực hiện từ trước khi có Nghị quyết 49 - NQ/TW của Bộ Chính trị, do đó những kiến nghị, giải pháp được cá c tác giả đưa ra đến nay không còn hoặc còn rất ít tính thời sự

Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam Do đó, ở luận văn này, tác giả nghiên cứu đề tài theo hướng hệ thống và toàn diện hơn để góp phần thực hiện thành công cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cũng như giữ vững sự ổn định về

an ninh, chính trị, trật tự an tòan xã hội và phát triển kinh tế trên tỉnh nhà

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mặt lý luận, đánh giá một cách có căn cứ khoa học về tổ chức, hoạt động và thực trạng của TAND tỉnh Trên cơ sở đó và dựa vào những quan điểm, phương hướng cải cách tư pháp của Đảng để đề xuất những giải pháp tối ưu nhằm góp phần hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Để thực hiện mục đích trên, luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Làm rõ về mặt lý lu ận những vấn đề như: N ội dung, cách thức, lộ trình đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

ở Việt Nam

- Phân tích, đánh g iá to àn diện qu á trình hình th ành phát triển, th ực trạng

tổ chức, hoạt động, thẩm quyền, hoạt động xét xử và thực trạng đội ngũ cán bộ của TAND tỉnh Yên Bái, những yêu cầu đòi hỏi về tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh trong tiến trình cải cách tư pháp

Trang 13

- Từ những quan đ iểm, phương hướng cải cách tư pháp của Đ ảng, N hà nước ta, luận văn đi sâu phân tích những thuận lợi và khó khăn, những kết qủa đổi mới đã đạt được về tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái theo yêu cầu cải cách tư pháp; đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện về tổ chức, hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp

4- Đ ối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lĩnh vực đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái trên cơ sở lý luận và thực tiễn

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn vị trí, vai trò chức năng, thẩm quyền của TAND theo quy định pháp luật hiện hành, làm sáng tỏ những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của TAND Đồng thời luận văn nghiên cứu thực trạng về tổ chức, hoạt động và đội ngũ cán bộ của TAND tỉnh Yên Bái để có cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở để xác định các quan điểm, phương hướng, nội dung, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện TAND tỉnh Yên Bái theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

5- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước ta về cải cách tư pháp nói chung, cải cách hệ thống TAND nói riêng… Luận văn được nghiên cứu dựa trê n cơ sở các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND và các văn bản pháp luật khác qui định về tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của TAND

Trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác- Lê-nin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp

Trang 14

với phương pháp khảo sát thực tiễn để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về cơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễn của TAND tỉnh Yên Bái, được thể hiện

ở những nội dung cơ bản sau đây:

- Luận văn đ i sâu phân tích, làm rõ những v ấn đề khái quát chung về tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh ở Việt Nam Từ đó đưa ra những luận cứ quan trọng góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vị trí, vai trò của TAND tỉnh

Y ên Bái

- Luận văn phân tích, đánh giá toàn diện, có hệ thống về thực tiễn tổ chức, hoạt động, cách thức, lộ trình đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay Từ đó xác định rõ những kết quả đã đạt được, đánh giá những hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái

- Luận văn đ ã hệ thống đầy đủ và tổng hợp các quan đ iểm của Đ ảng v à Nhà nước về cải cách tư pháp nói chung và cải cách TAND trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở đó, xác định phương hướng, đề xuất các giải pháp, kiến nghị về đổi mới tổ chức và hoạt động TAND tỉnh Yên Bái, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần quan trọng vào việc làm sáng

tỏ những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vị trí, vai trò của TAND nói chung và TAND tỉnh Yên Bái nói riêng trong bộ máy Nhà nước, về vai trò

“trung tâm” của Toà án trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ t ích cực công cuộc đổi mới

Trang 15

Bằng việc phân tích , đánh giá những thuận lợi và khó khăn, kết quả đổi mới đã đạt được, thực trạng tổ chức, hoạt động của TAND tỉnh Yên Bái, luận văn góp phần khẳng định tính tất yếu khách quan của việc cần thiết đổi mới tổ chức và hoạt động TAND tỉnh Yên Bái theo tinh thần cải cách tư pháp; góp phần xây dựng các cơ quan tư pháp trong sạch vững mạnh, hiệu quả hoạt động ngày một nâng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Những kết luận, kiến nghị đề xuất trong luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hệ thống đồng bộ các giải pháp nhằm cải cách hệ thống TAND tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay Luận văn là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đà o tạo khoa học pháp lý và cho những người quan tâm tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND tỉnh Yên Bái

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương

Trang 16

1.1.1 Vị trí, chức năng và thẩm quyền của tòa án nhân dân tỉnh

* Vị trí của tòa án nhân dân tỉnh

Với chức năng xét xử, TAND tỉnh có vị trí đặc biệt quan trọng so với các

cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp ở cấp tỉnh nói riêng, được thể hiện qua những điểm sau:

Thứ nhất, TAND tỉnh xét xử nhân danh Nhà nước, căn cứ và o pháp luật hiện hành của Nhà nước để đưa ra những phán quyết thể hiện trực tiếp ý chí của Nhà nước, của nhân dân đối với từng vụ việc cụ thể Ý chí đó phải được thể hiện bằng những quyết định mang tính chất pháp lý cao, đánh giá khách quan bản chất sự việc cụ thể và được thể hiện dưới hình thức là bản án hay quyết định của tòa án Như vậy, hoạt động xét xử của TAND tỉnh phản ánh một cách trực tiếp

và sâu sắc bản chất của Nhà nước, ý chí của nhân dân

Thứ hai, thông qua hoạt động xét xử của mình, TAND tỉnh thực hiện được việc kiểm tra hành pháp của các cơ quan Nhà nước, quyền công dân, quyền con người, hơn nữa là còn góp phần bảo vệ cho trật tự xã hội được an toàn, ổn định, phát triển lành mạnh và bền vững

Ở nước ta, trong giai đoạn hiện nay, TAND tỉnh có vị trí trung tâm trong việc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp ở cấp tỉnh với chức năng tổ chức và tiến hành hoạt động xét xử là một trong những quan điểm cơ bản định hướng hoạt động cải cách tư pháp đã được khẳng định trong Nghị quyết số 49/NQ -TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp n ước ta đến năm

2020 Tuy nhiên, trong thực tế, việc luật hóa những quan điểm của Đảng vào pháp luật mới đang được Nhà nước ta triển khai từng bước, theo một lộ trình

Trang 17

cụ thể Do vậy, vị trí của TAND tỉnh trong bộ máy Nhà nước cũng như trong hệ thống cơ quan xét xử ở Việt Nam cũng từng bước được xác định, được biểu hiện ngày một rõ nét hơn

Theo các quy định trong Hiến pháp 1992 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, của hệ thống

cơ quan xét xử thì địa vị pháp lý của TAND tỉnh chịu sự tác động của các nhóm quan hệ cơ bản như sau:

- M ột là, quan h ệ giữa TA N D tỉnh với các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan tư pháp ở tỉnh

Trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở tỉnh, TAND tỉnh có vị trí trung tâm, thông qua hoạt động xét xử của Tòa án sẽ đánh giá tính đúng đắn các hành vi pháp

lý của cơ quan điều tra, hành vi, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân(VKSND) có đúng quy định pháp luật hay không T rên cơ sở đó, TAND tỉnh đưa ra phán quyết đúng đắn để cơ quan thi hành án thực hiện hoạt động thi hành

án Ở mối quan hệ bên trong này, hoạt động xét xử của tòa án là hoạt động trung tâm, là hoạt động thể hiện tập trung nhất bản chất của quyền lực tư pháp

- H ai là, mối quan hệ giữa TA N D tỉnh với các cơ quan quyền lực khác Trên cơ sở nguyên tắc hiến định "quyền lực Nhà nước thống nhất và thuộc

về nhân dân "và các nguyên tắc "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa(CHXHCN) Việt Nam'' [29, tr.41], TAND tỉnh có sự phụ thuộc vào Quốc hội, bởi vì: Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền ban hành ra các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của tòa án, các quy tắc tố tụng của tòa án Ngoài ra Quốc hội còn c ó ảnh hưởng gián tiếp đến TAND tỉnh đó là Quốc hội bầu và bãi nhiệm chức Chánh án TAND tối cao, có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với vị trí này Quan trọng hơn nữa là Quốc hội quyết định ngân sách hằng năm của ngành tòa án

Cũng trên nguyên tắc "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương"[29, tr.64], để đảm bảo thống nhất quyền lực Nhà nước ở địa phương,

Trang 18

TAND tỉnh được tổ chức theo đơn vị hành chính và chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Chánh án TAND tỉnh phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác và chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp

- Ba là, mối quan hệ giữa TA N D tỉnh với TA ND tối cao và TA ND huyện Với tư cách là một trong ba cấp Toà án theo địa giới hành chính (cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương) và theo hai cấp theo thẩm quyền xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm), TAND tỉnh là một trong các cơ quan tư pháp ở cấp tỉnh (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án), có vị trí trung gian giữa TAND huyện và TAND tối cao Về mặt tổ chức TAND tỉnh có vị trí như là cơ quan "cấp dưới' trực tiếp của TAND tối cao và là cơ quan "cấp trên" trực tiếp của TAND huyện Chánh án TAND tối cao có quyền hạn bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, Chánh

án, Phó Chánh án; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm v à cán

do sự tác động từ phía V KSND tỉnh thông qua quyền giám sát hoạt động xét xử của tại phiên tòa Những đặc điểm về vị trí của TAND tỉnh trong bộ máy Nhà nước, trong hệ thống cơ quan xét xử đã ảnh hưởng đến hoạt động của TAND tỉnh, đặc biệt là phán quyết của Tòa án trong quá trình g iải quyết vụ việc

* Chức năng của Toà án nhân dân tỉnh

Điều 97 Hiến pháp năm 1959, Điều 128 Hiến pháp năm 1980, Điều 128 Hiến pháp năm 1992 đều qui định TAND tối cao, các TAND địa phương là những

cơ quan xét xử của Nhà nước ta Trên cơ sở các qui định nêu trên, các đạo luật về

tổ chức TAND các năm 1960, 1981, 1992 và 2002 đều khẳng định lại chức năng

Trang 19

xét xử của cơ quan Toà án Xuất phát từ địa vị pháp lý của Toà án, trên cơ sở các qui định của pháp luật, nhất là các qui định của các đạo luật về tổ chức Toà án và các đạo luật về tố tụng, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chức năng xét xử của Toà

án là chức năng xuyên suốt, thống nhất trong suốt quá trình ra đời và phát triển của Toà án Tuy nhiên, về phạm vi chức năng xét xử của Toà án thì có những thay đổi theo hướng tăng hơn về phạm vi các lo ại việc được giao cho Toà án xét xử Ban đầu, các TAND, trong đó có TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự, dân sự (hiểu với nghĩa là các vụ án về dân sự liên quan đến tranh chấp về tài sản và những tranh chấp về nhân thân phi tài sản, các vụ án về hôn nhân gia đình) Sau đó, trên cơ sở các Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án về kinh tế (năm 1993), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án về lao động (năm 1994), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (năm 1996), Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993) và sau đó là Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2004, các Toà án được giao thêm có thẩm quyền xét xử các vụ án kinh tế (sau khi có Bộ luật TTDS 2004 thì gọi là vụ án kinh doanh, thương mại), lao động, hành chính và giải quyết đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (đối với Toà án cấp tỉnh) Với

tư cách là một trong các cấp của hệ thống Toà án, TAND tỉnh có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính thuộc thẩm quyền theo qui định của pháp luật

Bên cạnh chức năng xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền, theo qui định của pháp luật tố tụng, TAND tỉnh còn có trách nhiệm trong một số hoạt động thi hành

án hình sự, dân sự Cụ thể như việc ra quyết định thi hành án hình sự, hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, xét giảm hình phạt hoặc thời gian thử thách của

án treo, xét miễn chấp hành hình phạt, ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình v.v…

Trang 20

* Thẩm quyền của Toà án nhân dân tỉnh

Với chức trách là cơ quan Nhà nước có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và giải quyết các việc khác theo qui định của pháp luật, thẩm quyền của TAND nói chung và của TAND tỉnh nói riêng thực chất là thẩm quyền xét xử các vụ án Phân định thẩm quyền xét xử của Toà án là một trong các nội dung của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND Theo từ điển Luật học thì “thẩm quyền xét xử là sự phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các Toà án với nhau Việc phân định thẩm quy ền xét xử căn cứ vào những dấu hiệu nhất định và tính chất của từng vụ án cụ thể; thẩm quyền xét xử theo loại việc, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ hoặc theo địa phương, thẩm quyền xét xử theo vụ án có liên quan với nhau” Đối với vấn đề thẩm quyền của TAN D tỉnh, pháp luật điều chỉnh nội dung thẩm quyền giữa Toà án cấp tỉnh với Toà án cấp huyện, cấp tỉnh này với cấp tỉnh khác và TAND tối cao

Vấn đề thẩm quyền xét xử của Toà án cấp tỉnh là một nội dung phức tạp vì

nó có liên quan đến thẩm quyền xét xử đối v ới các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật qua các thời kỳ khác nhau, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn tư pháp cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ, thẩm phán…

- Theo pháp lu ật hiện hành th ì thẩm quyền củ a TA N D cấp tỉnh đ ược qui định như sau:

+ Theo Điều 28 Luật Tổ chức TAND năm 2002 và khoản 2 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) qui định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử:

Sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng; sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử; phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật củ a Toà án cấp dướ i bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có

Trang 21

hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật

tố tụng; giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật

+ Theo Điều 34 BLTTDS 2004, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND huyện; hoặc sơ thẩm những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huy ện quy định tại điều 33 BLTTDS mà TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

BLTTD S 2004 qui định TA N D cấp tỉnh có thẩm quy ền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Khoản 1 Điều 33 của Bộ luật này; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 2 6, 28, 30 và 32 của

Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Khoản 2 Điều 33 của Bộ luật này; tranh chấp, yêu cầu quy định tại Khoản 3 Điều 33 của Bộ luật này; sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

+ Theo Luật Tố tụng hành chính thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, V ăn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, TAND tối cao, VKSND tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng các cơ quan đó mà người khởi kiện là

cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ với Toà án; khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan chức năng thuộc một trong các cơ quan Nhà nước quy định tại Điều 30 và quyết định hành chính, hành vi h ành chính của cán bộ, công chức của các cơ quan chức năng đó mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ

Trang 22

với Toà án; khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính củ a cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ với Toà án và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó; khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trên cùng lãnh thổ với Toà án đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó Khiếu kiện quyết định của Chủ tịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cùng lãnh thổ với Toà án giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của đoàn luật sư; khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại

về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà người khởi kiện là cá nhân có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc người khởi kiện là cơ quan, tổ chức có trụ sở trên cùng lãnh thổ vời Toà án; khiếu kiện quyết định hành ch ính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều

30 mà Toà án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân tỉnh

Với tư cách là một trong các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, TAND nói chung và TAND tỉnh nói riêng tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc chung đã được Hiến pháp ghi nhận như nguyên tắc Đảng lãnh đạo (Điều 4 Hiến pháp 1992), nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6), nguyên tắc phá p chế xã hội chủ nghĩa (Điều 120) Với chức năng riêng của mình so với các cơ quan Nhà nước khác, TAND còn được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc đặc thù

Với tư cách là một cấp trong hệ thống tổ chức của TAND, TAND cấp tỉnh

tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của TAND Cụ thể là các nguyên tắc sau đây:

- N guyên tắc Toà án xét xử đ ảm bảo mọ i công dân b ình đẳng trước ph áp luật

Đây là nguyên tắc hiến định được qui định tại Điều 52 Hiến pháp 1992 Luật Tổ chức TAND 2002 đã thể chế nguyên tắc này tại Điều 8, với nội dung qui

Trang 23

định: Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị

xã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi khi xét xử, Toà án (Hội đồng xét xử) chỉ căn cứ vào các qui định của pháp luật (có hiệu lực chung với tất cả mọi người), trên cơ sở các chứng cứ khách quan, có cân nhắc đến các yếu tố riêng của vụ việc xét xử để đưa ra các phán quyết khách quan, công bằng Những yếu tố riêng được Toà án cân nhắc khi xét xử cũng phải là những yếu tố đã được pháp luật dự liệu và q ui định như hoàn cảnh địa điểm, thời gian và đặc điểm nhân thân riêng của đương sự và vụ việc tranh chấp v.v…

- N guyên tắc việc xét xử của Toà án có H ội thẩm nhân dân th am gia; khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán

Đây là một nguyên tắc đã được ghi nhận trong Điều 129 Hiến pháp 1992 Điều 4 Luật Tổ chức TAND 2002 đã qui định vấn đề này Theo nguyên tắc đó, khi xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính thì trong thành phần Hội đồng xét xử có sự tham gia của các Hội thẩm (Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân) Đây là thành phần đại diện cho dư luận xã hội khi xem xét các khía cạnh của vụ việc, góp phần bảo đảm việc xét xử có lý và

có tình Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao trình độ pháp lý, trình độ ch uyên môn cho các Hội thẩm thì điều quan trọng, người Hội thẩm phải là người đại diện, nói được tiếng nói đại diện cho dư luận xã hội tại nơi và thời điểm xảy ra vụ án Cũng vì vậy, chúng tôi cho rằng không nên quá quan tâm về vấn đề trình độ pháp lý và trình độ chuyên môn của H ội thẩm, h ay nói cách kh ác là không nên “Thẩm phán hoá” Hội thẩm Với nguyên tắc hai cấp xét xử, sự tham gia của Hội thẩm trong Hội đồng xét xử là bắt buộc trong trình tự xét xử sơ thẩm và mang tính tuỳ nghi (khi thấy cần thiết) trong Hội đồng xét xử phúc thẩm Để đảm bảo khách quan, pháp luật đã qui định, khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, nói cách

Trang 24

khác là Hội thẩm có quyền độc lập so với Thẩm phán Pháp luật về tố tụng đã cụ thể hoá nội dung này bằng cách qui định, khi các thành viên Hội đồng xét xử nghị

án, biểu quyết về từng vấn đề cụ thể của vụ án thì các Hội thẩm phải biểu quyết trước (với mục đích để hạn chế việc Hội thẩm biểu quyết theo Thẩm phán) Cũng chính vì Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán nên khi xét xử, mặc dù Thẩm phán

là người chủ toạ phiên toà nhưng Hội thẩm phải và có quyền tham gia vào tất cả các trình tự, thủ tục xét xử tại phiên toà

- N guyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và H ội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tại Điều 130 Hiến pháp 1992 và được cụ thể hoá tại Điều 5 Luật Tổ chức TAND 2002 Nguyên tắc này qui định khi xét xử, giữa các thành viên Hội đồng xét xử (Thẩm phán và Hội thẩm) và mỗi thành viên Hội đồng xét xử đều có quyền độc lập với nhau và chỉ tuân theo pháp luật Cho dù Chánh án hoặc Phó Chánh án là một thành viên Hội đồng xét xử thì khi đó, Chánh án hoặc Phó Chánh án cũng chỉ là một người có quyền độc lập với thành viên khác, không có quyền “ra lệnh” hay “chỉ đạo” thành viên khác trong Hội đồng xét xử Thẩm phán chủ toạ cũng chỉ quyền điều hành phiên toà là có tính riêng so với các thành viên khác nhưng không có quyền tố tụng cao hơn thành viên khác trong Hội đồng xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị tác động bởi bất cứ áp lực nào từ phía các cơ quan Đảng, chính quyền hoặc sự can thiệp của bất cứ cá nhân nào Khi xét xử, các thành viên Hội đồng xét xử có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật chứ không chịu sự chỉ đạo, điều hành của Toà

án cấp trên Khi xét xử, ngoại trừ bị tác động và chi phối bởi “giới hạn của việc xét xử” (ở trình tự xét xử sơ thẩm) và “phạm vi xét xử phúc thẩm”, các thành viên trong Hội đồng xét xử không bị phụ thuộc bởi những quan điểm, những luận cứ của Viện kiểm sát Các thành viên Hội đồng xét xử có quyền phán xét độc lập trên

cơ sở pháp luật và chứng cứ, trên cơ sở đó, họ ban hành các quyết định pháp lý giải quyết vụ án

Trang 25

Việc qui định nguyên tắc này trong các bản Hiến pháp có sự thay đổi về ngôn ngữ diễn đạt nhưng sự thay đổi đó phản ánh sự thay đổi về nh ận thức nội dung của nguyên tắc trên Hiến pháp năm 1959 qui định dưới hình thức câu chữ

là “Toà án độc lập”, còn các bản Hiến pháp về sau thì đều qui định là “Thẩm phán và Hội thẩm” xét xử độc lập Sự thay đổi đó nói lên rằng, nguyên tắc này không chỉ thể hiện tính độc lập của “Toà án” khi xét xử (độc lập với các cơ quan khác) mà điều quan trọng là nhấn mạnh tính độc lập của từng thành viên Hội đồng xét xử với những tác động “bên ngoài” và với thành viên khác trong cùng Hội đồng

- Nguyên tắc Toà án xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo

Trang 26

- Nguyên tắc khi xét xử, Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Nguyên tắc này được qui định tại Điều 132 Hiến pháp 1992 và Điều 9 Luật Tổ chức TAND 2002 Nguyên tắc này qui định trong quá trình xét xử, quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự luôn được bảo đảm, thể hiện qua việc bị cáo có quyền tự mình mời người bà o chữa cho mình Nếu người bào chữa được mời không vi phạm qui định về những trường hợp không được bào chữa thì Toà án phải chấp nhận người bào chữa do bị cáo mời Trong một số trường hợp đặc biệt, nếu bị cáo không mời người bào chữa thì Toà án (cơ quan tiến hành tố tụng nói chung) phải mời người bào chữa cho bị cáo Trong các quan hệ pháp luật tố tụng khác, các đương sự được bảo đảm quyền bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, do vậy họ có quyền tự mình bảo vệ (viện dẫn chứng cứ, cung cấp chứng cứ, tài liệu, tranh luận khi xét xử, khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Toà án theo qui định của pháp luật tố tụng); hoặc có quyền nhờ người khác (luật sự, người đại diện hợp pháp…) đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Toà án phải tôn trọ ng các quyền của đương sự

- Nguyên tắc Toà án xét xử theo hai cấp

Nguyên tắc này được qui định rõ tại Điều 11 Luật Tổ chức TAND 2002, Điều 20 Bộ luật TTHS 2003, Điều 17 Bộ luật TTDS 2004 Nội dung nguyên tắc này qui định Toà án thực hiện chế độ hai cấp x ét xử: Cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm Vụ án được đưa ra xét xử ở cấp sơ thẩm: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo bản án và quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật, vụ án sẽ được đưa ra xét xử lại ở cấp phúc thẩm Sau khi xét

xử phúc thẩm, bản án và quyết định của Toà án sẽ có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành Việc qui định Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử là nhằm

Trang 27

bảo đảm hạn chế những trường hợp xét xử thiếu khách quan, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử của Toà án

Ngoài những nguyên tắc nói trên, trong tổ chức và hoạt động, Toà án còn thực hiện theo một số nguyên tắc khác như nguyên tắc về dùng tiếng nói, chữ viết trong tố tụng là tiếng Việt, chữ Việt; đồng thời cho phép bị cáo và các đương sự dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; nguyên tắc giám đốc việc xét xử…

1.2 Cải cách tƣ pháp ở Việt Nam và những yêu cầu đòi hỏi đối với tổ chức và họat động của Tòa án nhân dân tỉnh

1.2.1 Cải cách tƣ pháp ở Việt Nam - một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Có thể nói, cải cách tư pháp là một trong các vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, vì vậy trong các văn kiện của các kỳ đại hội của Đảng, trong nhiều nghị quyết chuyên sâu hoặc không chuyên sâu về tư pháp đều đề cập đến các yêu cầu cải cách tư pháp Có những văn kiện, nghị quyết đề cập đến tổ chức và hoạt động của từng cơ quan tư pháp Cũng có nhiều văn kiện, nghị quyết đề cập đến tổ chức và hoạt động chung của các cơ quan tư pháp; đặt ra các yêu cầu, mục tiêu, n guyên tắc, nhiệm vụ và các biện pháp tổ chức thực hiện cải cách tư pháp, tiêu biểu như các văn kiện: Nghị quyết số 08 -NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết

số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Đây là những văn kiện quan trọng, có giá trị định hướng cho công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo các nghị quyết của Đảng đặt ra

và đòi hỏi phải nhận thức thống nhất một số vấn đề lý luận cơ bản sau đây:

Trang 28

- Về phạm vi nội hàm của khái niệm “tư pháp”: Nếu xét đơn thuần về lý luận, khái niệm “tư pháp” hiện đang được hiểu theo các nghiã khác nhau Có quan điểm nhận thức theo nghĩa hẹp, cho rằng khái niệm” tư pháp” được nêu trong chủ trương cải cách tư pháp chỉ hiểu là cải cách tổ chức và hoạt động của Toà án, với tư cách là cơ quan tư pháp trọng tâm (theo qui định về cơ quan tư pháp của Hiến pháp 1946); còn các cơ quan tố tụng khác chỉ là cơ quan hỗ trợ trong hoạt động tư pháp của Toà án Có quan điểm lại cho rằng khái niệm “tư pháp” trong chủ trương cải cách tư pháp được hiểu là tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp- cơ quan tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà

án, Cơ quan thi hành án Tuy nhiên, nếu bám theo các nội dung được đề cập đến trong Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp nói trên thì khái niệm “tư pháp” được nêu với nội hàm rộng hơn, bao gồm cả những vấn đề về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tố tụng, về hoàn thiện pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan tố tụng, cả những vấn đề về pháp luật, tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp Tất nhiên, khi đề cập đến khái niệm “tư pháp” trong phạm vi luận văn này, tác giả nhận thức theo qui định trong nội dung của các văn kiện của Đảng

về cải cách tư pháp; có tập trung vào nội dung qui định của pháp luật về tổ chức

và hoạt động của TAND cấp tỉnh và tương đương

- Về mục tiêu của cải cách tư pháp: Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã xác định rõ mục tiêu của cải cách tư pháp là “xây dựng nền t ư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp, mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” Có thể xác định đây là mục tiêu chung của cải cách tư pháp Đối với từng nhiệm vụ cải cách tư pháp lại có những mục tiêu cụ thể riêng Ví dụ như nhiệm vụ xây

Trang 29

dựng Toà án cấp sơ thẩm khu vực là nhằm mục tiêu tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính

Việc xác định đúng đắn mục tiêu của cải cách tư pháp, trong đó có mục tiêu chung, lâu dài và mục tiêu cụ thể, trước mắt có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, xác định rõ bản chất dân chủ, đổi mới, nhấn mạnh tính hiệu quả củ a cải cách tư pháp Cải cách tư pháp không phải là để tạo ra một sự thay đổi, khác biệt về hình thức mà điều quan trọng là nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tư pháp Vì thế, những thay đổi về tổ chức và hoạt động tư pháp

mà không nhằm nâng cao chất lượng và trên thực tiễn không đạt được mục tiêu này thì không phải là cải cách tư pháp

1.2.2 Những yêu cầu của cải cách tƣ pháp liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh

Nghị quyết 49 -NQ/TW của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định các nhiệm vụ cải cách tư pháp như sau:

- Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục

tố tụng tư pháp Với tư cách là một cơ quan có chức năng xét xử các vụ án hình

sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh dựa trên nhiều loại qui phạm pháp luật ở nhiều loại văn bản qui phạm pháp luật khác nhau Trong đó có những văn bản thuộc về luật nội dung như pháp luật hình sự, dân sự và có những văn bản thuộc về luật tố tụng (luật về trình tự, thủ tục) như Bộ luật TTHS Bộ luật TTDS, Luật Tố tụng hành chính …Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và các luật có liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Toà án cấp tỉnh nói riêng là nhiệm vụ cải cách tư pháp quan trọng Đồng thời đòi hỏi việc hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh cũng phải được tiến hành đồng bộ, bảo đảm tính thống nhất giữa các đạo luật

Trang 30

Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, Nghị quyết 49 xác định các yêu cầu

cụ thể đặt ra có liên quan đến tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh như:

+ Hoàn thiện pháp luật hình sự, trong đó có định hướng “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội”, cụ thể là nhấn mạnh xu hướng xây dựng pháp luật hình sự theo hướng giảm hình phạt tù,

mở rộng áp dụng hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ với một số loại tội phạm; hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…Những định hướng này cho thấy xu hướng những loại việc thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp cấp huyện sẽ tăng hơn Gần đây, với việc ban hành Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 mới được Quốc hội thông qua năm 2009 cho thấy rõ xu hướng này

+ Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết khiếu kiện hành chính tại Toà án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân với cơ quan công quyền trước Toà án;

Nhiệm vụ này cho thấy xu hướng tăng hơn những loại việc khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, trong đó có Toà án cấp tỉnh Điều đó cho thấy dự báo xu hướng các loại việc khiếu kiện hành chính tại Toà án, trong đó có Toà án cấp tỉnh cũng sẽ tăng hơn so với trước

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ

máy các cơ quan tư pháp Đây là một nhiệm vụ cải cách tư pháp nặng nề, có

liên quan trực tiếp tới tổ chức và hoạt động của Toà án cấp tỉnh Những vấn đề đặt ra trong khi thực hiện nhiệm vụ này như: Xác định lại tổ chức hệ thống Toà

án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; tổ chức Toà án sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp tỉnh; liên quan đến đó là tổ chức lại Toà án cấp phúc thẩm, cấp thượng thẩm và Toà án tối cao Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà

Trang 31

Những yêu cầu nêu trên đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cho tổ chức, hoạt động của Toà án cấp tỉnh, nhất là vấn đề mô hình tổ chức Toà án sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm; mối quan hệ về chức năng, thẩm quyền giữa Toà

án sơ thẩm khu vực với các cấp Toà án thuộc hệ thống như với Toà án cấp phúc thẩm, Toà thượng thẩm; quan hệ về chức năng và trình tự, thủ tục tố tụng với các cơ quan tiến hành tố tụng khác cùng cấp như với Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự; vấn đề cơ chế bảo đảm quyền giám sát của cơ quan dân cử (Hội đồng nhân dân) và giám sát của nhân dân với tổ chức và hoạt động của Toà án cấp tỉnh.Vấn đề bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử của Toà án… Ngoài ra, đặt trong xu thế tăng thẩm quyền xét xử cho Toà

án cấp huyện với đầy đủ tất cả các loại vụ việc thì cơ cấu tổ chức nội bộ của Toà án cấp huyện (hoặc Toà án sơ thẩm khu vực) có giữ như hiện nay hay cần phải thành lập các Toà chuyên trách thuộc Toà án cấp huyện?

- Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp Nhiệm vụ cải cách tư pháp

này tuy không trực tiếp tác động, ảnh hưởng tới tổ chức và hoạt động của Toà

án cấp tỉnh nhưng nó có ý nghĩa hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử của Toà án nói chung Khi các tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp như giám định, luật sư, công chứng… ngày được nâng cao, hoàn thiện thì sẽ có tác động tới chất lượng và hiệu quả công tác xét xử

- Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững

mạnh Đây là một nhiệm vụ cải cách tư pháp có ý nghĩa quan trọng tới tổ chức

và hoạt động của TAND nói chung và Toà án cấp tỉnh nói riêng Trong thực tế, TAND cấp tỉnh vẫn thường được n hận thức là nơi rèn luyện, học tập kinh nghiệm xét xử cho những cán bộ, thẩm phán mới bổ nhiệm Việc rèn luyện trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm với cán bộ Toà án và các Thẩm phán, dù ở cấp nào vẫn luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng nhưng với cán bộ , Toà án cấp tỉnh lại có một ý nghĩa riêng, bởi lẽ Toà án cấp tỉnh là nơi gần dân,

là cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, là nơi có thẩm

Trang 32

quyền xét xử phần lớn các vụ việc tranh chấp pháp lý và các vụ án hình sự Đặc biệt, trong xu hướng cải cách tư pháp với việc xây dựng mô hình Toà án phúc thẩm thì việc đào tạo, rèn luyện cán bộ càng đòi hỏi cấp bách; kèm theo đó là đòi hỏi giải quyết các vấn đề về chính sách cán bộ đối với Toà án cấp tỉnh

- Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền

làm chủ của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp Nhiệm vụ cải cách tư pháp

này cũng đặt ra những vấn đề thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh Đặc biệt là khi chúng ta đặt vấn đề đó trong điều kiện sẽ thành lập c ác Toà án phúc thẩm Những vấn đề ấy đặt ra yêu cầu xem xét lại cơ chế giám sát của cơ quan dân cử với tổ chức và hoạt động của Toà án

- Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động tư pháp Đặt trong các yêu cầu

và nhiệm vụ cải cách tư pháp khác đối với Toà án c ấp tỉnh, việc thực thi nhiệm

vụ này cũng không đơn giản, đặt ra một số vấn đề cần giải quyết Xây dựng cơ

sở vật chất cho Toà án cấp tỉnh không đơn giản chỉ là vấn đề xây dựng trụ sở, nhà công vụ và trang bị các phương tiện làm việc mà còn đặt ra vấn đề xâ y dựng mô hình sơ sở vật chất của TAND cấp tỉnh như thế nào? Có phải đơn giản

là xây dựng một trụ sở mới cho một Toà án phúc thẩm trong một tỉnh hoặc hai tỉnh? Mô hình đó như thế nào để đáp ứng nhiệm vụ và thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm của Toà án cấp tỉnh (hoặc của Toà án phúc thẩm)?

- Hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp Đây

cũng là một vấn đề thực tiễn đặt ra trong cải cách tư pháp đối với Toà án cấp tỉnh Với những thay đổi về tổ chức Toà án cấp tỉnh, nhất là với những nơi tổ chức Toà án phúc thẩm thì mô hình, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác xét xử của Toà án có thay đổi gì? Có hay không một mô hình mới về sự lãnh đạo của Đảng với tổ chức và hoạt động của Toà án cấp tỉnh là mô hình cấp uỷ Đảng ngành dọc?

Trang 33

Đó là những vấn đề đặt ra trong cải cách tư pháp có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Toà án cấp tỉnh mà chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ, quán triệt sâu sắc, đánh giá những vấn đề đặt ra để giải quyết trong quá trình hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh

1.3 Nội dung, cách thức, lộ trình đổi m ới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh theo yêu cầu cải cách tƣ pháp ở Việt nam

Cải cách tư pháp nói chung, cải cách Toà án nói riêng là những nhiệm

vụ quan trọng trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng như: Nghị quyết Trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết Trung ương 3 và 7 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Đặc biệt, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” có đề ra nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án theo hướng: “Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ t hẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; TAND tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Việc thành lập Toà chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực Đổi mới tổ chức TAND tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành” Để triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Toà án, TAND tối cao đã và đang khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Đề án tổng thể về thành lập Toà án sơ thẩm khu

Trang 34

vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tối cao Cùng với đó, đặt ra mục tiêu, nguyên tắc, phương hướng, nội dung, từng bước đi và phân công trách nhiệm trong việc xây dựng, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức lại hệ thống Toà án theo yêu cầu của cải cách tư pháp

Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị, 63 TAND tỉnh thành trong cả nước cùng ngành tư pháp đã thực hiện tốt lộ trình giao thẩm quyền xét xử mới cho các TAND cấp huyện Lộ trình đến cuối năm 2009 tất cả đơn vị TAND cấp huyện trong cả nước đã được giao thẩm quyền xét xử mới Việc triển khai thực hiện thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, trong thực tế, cần phải đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề cụ thể như: Xác định nguyên tắc thành lập; vị tr í và

mô hình; nhiệm vụ, thẩm quyền; tên gọi; tiêu chí thành lập và xác định số lượng; cơ cấu tổ chức; biên chế; cán bộ và cơ sở vật chất; mối quan hệ với các

cơ quan công tố và điều tra; mối quan hệ giữa các cấp Toà án; sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử; về việc bầu Hội thẩm nhân dân; quản lý về tổ chức đối với các Toà án; đưa ra các giải pháp và phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện Mặt khác cần hoàn thiện pháp luật, cụ thể là sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Toà án năm 2002, Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự…để hoạt động của Toà án đi vào trọng tâm là cơ quan thực hiện chức năng chính là xét xử, độc lập trong xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, theo đúng tinh thần cải cách tư pháp

* Về Toà án phúc thẩm

- Nguyên tắc thành lập, sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của

cơ quan dân cử Toà án cấp phúc thẩm được tổ chức theo khu vực trên địa bàn của một tỉnh là vấn đề được đặt ra trong quá trình xây dựng Đề án Tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy có nhiều nước như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật

Trang 35

Bản thành lập Toà án phúc thẩm trên địa bàn của nhiều tỉnh Theo tinh thần của Nghị Quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, Toà án cấp phúc thẩm sẽ được thành lập theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành ch ính, do vậy có thể thành lập Toà án cấp này theo khu vực trên một số tỉnh hoặc theo đơn vị hành chính cấp tỉnh Việc tổ chức Toà án cấp phúc thẩm theo mỗi cách trên có những ưu và nhược điểm riêng Nếu tổ chức Toà phúc thẩm theo khu vực thì có ưu điểm là giảm được đầu mối, tạo điều kiện tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, công chức Toà án cấp phúc thẩm Theo cách này thì có nhược điểm là khó xác định được cấp uỷ Đảng nào lãnh đạo, chỉ đạo và cũng khó xác định được Hội đồng nhân dâ n tỉnh nào giám sát hoạt động của Toà án phúc thẩm Phương án thành lập Toà án phúc thẩm theo đơn vị hành chính cấp tỉnh tuy không giảm được đầu mối Toà án cấp phúc thẩm so với Toà án cấp tỉnh như hiện nay nhưng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định cấp uỷ Đảng và cơ quan dân cử thực hiện việc lãnh đạo và giám sát đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án phúc thẩm Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta có nguyên tắc tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử, nên theo chúng tôi có thể tổ chức Toà án phúc thẩm theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, mỗi Toà án phúc thẩm có quản hạt tư pháp được giới hạn theo phạm vi địa giới hành chính như Toà án cấp tỉnh hiện nay

- Vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của tòa án phúc thẩm

Toà án phúc thẩm được xác định là vị trí trung tâm và độc lập trong hệ thống cơ quan xét xử của Nhà nước CHXHCN Việt Nam Toà án phúc thẩm chịu sự quản lý của TAND tối cao nhưng lại có quyền quản lý các Toà án sơ thẩm khu vực theo sự phân cấp của TAND tối cao Theo Nghị quyết số 49/ NQ-

TW của Bộ Chính trị, Toà án phúc thẩm không còn chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm, Chánh án Toà án cấp này cũng không còn chức năng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và chủ trì các phiên họp của Uỷ ban Thẩm phán Toà án cấp

Trang 36

phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm khu vực khi có kháng cáo, kháng nghị Thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ

án của Toà án cấp phúc thẩm sẽ được xác định trên nguyên tắc những vụ án nào không thuộc thẩm quyền của Toà án cấp sơ thẩm khu vực thì thuộc thẩm quyền của Toà án phúc thẩm Dự kiến các vụ án lớn trọng điểm về hình sự, các vụ án dân sự có đương sự hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài, các vụ việc khiếu nại đối với các quyết định hành chính liên quan đến chống bán phá g iá, cạnh tranh không lành mạnh trong khuôn khổ của WTO sẽ giao thẩm quyền xét xử cho Toà án cấp phúc thẩm

- Về sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân Đảng bộ TAND cấp tỉnh trực thuộc tỉnh uỷ hoặc thành uỷ Thường trực tỉnh

uỷ, thành uỷ, thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phối hợp với TAND tối cao trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm lãnh đạo Toà án sơ thẩm khu vực và Toà án cấp phúc thẩm; Chánh án TAND khu vực báo cáo công tác trước TAND cấp tỉnh; Chánh án T AND cấp tỉnh báo cáo công tác của Toà án mình và Toà án sơ thẩm khu vực trước Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

- Bảo đảm nguyên tắc độc lập của Tòa án, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật

Đây là nguyên tắc nền tảng cho hoạt động tư pháp n ói chung và của TAND tỉnh nói riêng Một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa không thể thiếu một nền tư pháp độc lập, vì tính tối thượng của pháp luật chỉ có thể thực hiện được khi có các vị Thẩm phán áp dụng pháp luật một cách độc lập Độc lập xét xử để đảm bảo cho môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh chỉ khi đó các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài mới thực sự yên tâm đầu tư kinh doanh Mặt khác, việc độc lập trong xét xử cũng góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống tham nhũng

Trang 37

* Để đảm bảo nguyên tắc này cần phải giải quyết các vấn đề sau:

- M ột là, Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp vào hoạt động xét xử hay có những sự tác động tới sự độc lập của Tòa án

- Hai là, hạn chế tới mức thấp nhất hoặc không còn sự ảnh hưởng, sự can thiệp của cơ quan Nhà nước, cán bộ viên chức Nhà nước can thiệp vào hoạt động xét

* Đổi mới nhiệm kỳ của Thẩm phán

Theo quy định pháp luật hiện hành thì nhiệm kỳ của Thẩm phán hiện nay là

5 năm tính từ thời gian bổ nhiệm Tuy thời gian này không phải là ngắn nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế

Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu v à thay đổi theo hướng

bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời (không kỳ hạn) Hướng này sẽ tạo ra một số thuận lợi: Không phải tổ chức tuyển chọn, bổ nhiệm nhiều lần đối với một Thẩm phán, mặt khác tạo điều kiện cho Thẩm phán yên tâm công tác, độc lập xét xử mà không

sợ ảnh hưởng tới sự bổ nhiệm lại như hiện nay

Thực tế đã có nhiều nước trên thế giới hiện nay như Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp…đã áp dụng chế độ bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời trừ khi họ tự nguyện chuyển công tác, vì lý do sức khỏe mà không đảm nhiệm được công việc , đến tuổi nghỉ hưu hay vi phạm pháp luật

Trang 38

1.4 Ý nghĩa của việc đổi m ới và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tỉnh ở Việt Nam

Thẩm quyền xét xử của mỗi Toà án hiện đang được xác định vừa theo lãnh thổ, vừa theo tính chất các vụ việc và thủ tục giải quyết, xét xử các vụ án vẫn còn tình trạng cấp ủy Đảng can thiệp sâu, can thiệp "thô bạo" vào quá trình giải quyết

án của Tòa án, dẫn đến một số phán quyết của Tòa án không đảm bảo tính khách quan, vô tư, dẫn đến việc công lý chưa được thực thi Theo quy định của pháp luật

tố tụng thì TAND tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm

và tái thẩm Điều này không thể hiện đúng, chính xác tính chất hoạt động, vai trò,

vị trí của Toà án mỗi cấp quy định trong hệ thống Toà án Trên thực tế, mặc dù đã từng bước tăng thẩm quyền xét xử cho các TAND cấp huyện nhưng các TAND tỉnh vẫn phải giải quyết số lượng không nhỏ các vụ án (thụ lý xét xử 45.821 vụ, bao gồm sơ thẩm 18.683 vụ, phúc thẩm 26.739 vụ và giám đốc thẩm, tái thẩm 399

vụ - số liệu năm 2007); trong đó những vụ việc theo thủ tục sơ thẩm mà lẽ ra phải được xét xử, giải quyết ở Toà án cấp huyện với tư cách là Toà án sơ thẩm trong hệ thống Toà án Ngoài ra các bản án, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của TAND tỉnh, về mặt lý thuyết và cả trên thực tế vẫn có thể bị huỷ bởi TAND tối cao nên làm hạn chế ý nghĩa pháp lý của chế định giám đốc thẩm,tái thẩm

Về số lượng cán bộ tính đến thời điểm tháng 3/2008 TAND tỉnh có 3264 người, trong đó có 998 Thẩm phán Trên thực tế, nếu tính theo định mức xét xử hiện nay quy định đối với Toà án tỉnh tổng số lượng án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng án hàng năm là trên 15% Bên cạnh vấn đề lo ngại không chỉ dừng ở việc chất lượng giải quyết án còn thấp, tỷ lệ án hủy, sửa, oan sai do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử vẫn còn chiếm tỷ lệ cao Ngoài ra vấn đề về trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán cũng đang được đặt ra trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế do trình độ, năng lực của đội ngũ Thẩm phán về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn nhiều hạn chế

Trang 39

Từ một số tồn tại, bất cập cơ bản nêu trên, việc đổi mới tổ chức hoạt động của TAND tỉnh có ý nghĩa góp phần làm trong sạch nền tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử, hạn chế tối đa án hủy, cải sửa, oan sai do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử, tinh giản biên chế cán bộ và giảm số lượng trụ sở làm việc theo hướng gọn, nhẹ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, thuận lợi cho nhân dân đến Tòa án tham gia

tố tụng cũng như yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ Bên cạnh đó, sẽ hạn chế tối đa sự can thiệp của cấp ủy Đảng vào họat động xét xử của Tòa án, giảm áp lực cũng như số lượng án đối với TAND tối cao Với những ý nghĩa cơ bản này thì việc đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND tỉnh không những góp phần hoàn thiện tổ chức, hoạt động của ngành Tòa án nói riêng mà còn làm hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước nói chung trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

* Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đổi mới tổ chức và họat động của TAND tỉnh ở Việt Nam:

- V ề nhận th ức: Q uá trình lịch sử hình thành và phát triển hệ thống Tòa án kể từ khi Cách mạng tháng Tám thành công đến nay, tổ chức và hoạt độn g của TAND tỉnh về cơ bản mang tính ổn định và mang nét truyền thống, việc đổi mới tổ chức

và hoạt động trong giai đoạn hiện nay đã có tác động không nhỏ đến ý thức, nhận thức của toàn Đảng, toàn dân ta Trên thực tế có rất nhiều những quan điểm, ý kiến khác nhau nhưng về cơ b ản được thể hiện theo hai hướng sau: Thứ nhất là g iữ nguyên mô hình tổ chức và hoạt động Tòa án như hiện nay, thứ hai là đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án theo mô hình thành lập Tòa án khu vực theo định hướng cải cách tư pháp (NQ /49) Vấn đề nhận thức sâu rộng, đầy đủ về tính cấp thiết cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND cấp tỉnh theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay là hết sức quan trọng.Nếu nhận thức đúng, kịp thời sẽ góp phần để việc đổi mới này diễn ra theo đúng lộ trình mà Đảng ta đã đề

ra và ngược lại Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao cho mọi người nhận

Trang 40

thức được, hiểu được tầm quan trọng và cần thiết phải đổi mới tổ chức, hoạt động của Tòa án tỉnh (Tòa phúc thẩm)

- V ề tính chất pháp lý: Tổ chức và hoạt động của TA N D tỉnh hiện nay cơ b ản dựa trên quy định của Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức TAND 2002 và các Bộ luật Tố tụng, văn bản pháp luật khác Việc đổi mới tổ chức

và hoạt động của TAND tỉnh cần phải sửa đổi, hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan làm cơ sở pháp lý Hoàn thiện pháp luật là một việc làm cũng hết sức nan giải và tốn kém, cần có thời gian và lộ trình phù hợp, như vậy mới đem lại hiệu quả cao

- V ề cơ sở vật ch ất kỹ thuật: Thực hiện đề án xây dựng Tòa phú c th ẩm, ở một số tỉnh cần xây trụ sở mới, đầu tư thêm trang thiết bị cho hoạt động của Tòa án Đây cũng là một yếu tố tài chính ảnh hưởng không nhỏ đến lộ trình đổi mới tổ chức và họat động của TAND tỉnh

- Công tác tổ chức cán bộ: V iệc đổ i mớ i nêu trên cũng cần sắp xếp lại cán bộ, quy hoạch lại cán bộ Đào tạo mới, đào tạo lại cán bộ có đủ trình độ nghiệp vụ, đủ phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu của cải cách tư pháp

Ngày đăng: 29/03/2018, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w