1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại trường đại học luật đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

400 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 400
Dung lượng 38,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt N am , có thể thấy rõ nội dung chương trình giảng dạy còn nhiều lý thuyết, thiếu tính thực tiễn; hệ thống giáo trình, học liệ

Trang 1

BỘTƯÊHẮl' *

V?ỆN KHOA HOC ?W/> '1 A>:

% ị Á r K Ệ * ĩ £ B Ọ Ọ C Ạ P B Ộ

Trang 2

YÊU CÀU CẢI CÁCH T ư PHÁP

TRUNG TÂM THÔNG TIN THỤ VIỆN Ị TBUỠN6 DẠI HỌC LUẬT HÀ M Ộ iị

PHÒNG c o c - ■

ThS Nguyễn Thị Bích Hồng

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

M ỤC LỤC

PHẦN MỞ Đ Ầ U 1

PHẦN BÁO CÁO PHÚC T R ÌN H 6

Phần thứ nhất: NHẬN THỨC CHUNG VÈ T Ă N G CƯỜNG TÍN H THỰC TIỄN TRONG ĐÀO TẠO c ử NHÂN LUẬT 17• • •

1 Nhận diện tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật 17

1.1 Tính thực tiên trong đào trong đào tạo cử nhân luật 17

1.2 Các nội dung cấu thành của tính thực tiễn trong đào trong đào tạo cử nhân luật 25

2 Yêu cầu tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật 26

2.1 Đổi mới giáo dục đại học và các yêu cầu đặt ra cho hoạt động đào tạo cử nhân luật 26

2.2 Chiên lược cải cách tư pháp và yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo cán bộ pháp luật 32

3 Những yếu tố tác đông tới viêc trang bi tính thưc tiễn trong đào taon •/ ■ o • O i I o • cử nhân luật 38

3 ỉ Các yếu tổ chủ quan 3g 3.2 Cácỳếu tổ khách quan 40

4 Kinh nghiệm trang bị kiến thức thực tiễn trong đào tạo cử nhân• o • ■ “ ■ luật ở một số nước trên thế g ió i 41

4.1 Đào tạo kiến thức chuyên m ôn 42

4.2 Trang bị kỹ năng nghề nghiệp 46

Phần thứ hai: T H ự C TRẠNG TRANG BỊ K IÉ N THỨC T H ự C TIỄN TRONG ĐÀO TẠO c ử NHÂN LUẬT TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI • » • 53

1 Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn trong nội dung chương trình đào tạo cử nhân luật 56

1.1 Những ưu điểm 57

1 2 Những hạn chế, tồn tạ i 60

1.3 Nguvên nhân của những hạn chế, tồn tại 64

2 Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn trong giáo trình và các học liệu khác tại Trường Đại học Luật Hà N ội 67

2.1 Những ưu điêm 67

2 2 Những hạn chế, tồn tại 68

• 2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 70

3 Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn thông qua phương pháp

Trang 4

đào tạo tại Trường Đại học Luật Hà Nội 71

3.1 Những ru điêm 72

3.2 Những nạn chế, tồn tại và nguyên nhân 73

4 Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn thông qua đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Luật Hà Nội 74

4.1 Những ru điểm 75

4.2 Những nạn chế, tồn tại và nguyên nhân 76

5 Thực trạng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội trong việc trang tị kiến thức thực tiễn cho sinh viên 77

5 ỉ Những m điểm 78

5.2 Những nạn chế, tồn tại 79

5.3 Những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 80

6 Thực trạng các hoạt động ngoại khoá tại Trường Đại học Luật Hà Nội 81

6.1 Những ru điểm 82

6.2 Những nạn chế, tồn tại 88

6.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 89

7 Thực trạng các hoạt động thực hành luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội ’ 91

7.1 Thực Vạng hoạt động thực hành luật trong các môn học thuộc chương trìnn đào tạo cử nhân luật 91

7.2 Thực trm g thực hành luật trong hoạt động của các tổ chức chỉnh trị, xã hội 94

7.3 Thực trm g hoạt động thực hành luật tại Trung tâm Tư vấn pháp luật Trường Đại học Luật Hà N ội 97

Phần thứ ba: QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP TẢNG CƯỜNG TÍNH THựC TIỄN TRONG ĐÀO TẠO c ử NHÂN LUẬT TẠITRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI • • • • • • 101

1 Quan điím, mục tiêu tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tii Trường Đại học Luật Hà Nội 101

1.1 Quan đ ể m 101

1.2.M ụctiê i 106

2 Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội 108

2.1 Các gici pháp tăng cường tính thực tiễn trong nội dung chương trình đào tạo cử rhân luật 108

2.2 Các già pháp tăng cường tỉnh thực tiễn trong giảo trình và các học liệukhảc 116 2.3 Các giá pháp đổi mới phương pháp đào íạo và đánh giả kết quả học

7

Trang 5

tập của sinh viên nhằm tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân

luật 119

2.4 Các giải pháp kiện toàn đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu câu trang bị kiến thức thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật 126

2.5 Các giải pháp nâng cao tính thực tiên trong hoạt động ngoại khoá, thực tập, thực hành luật của sinh viên 129

2.6 Các giải pháp hoàn thiện cơ sở vật chất đảm bảo tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân ỉuật 133

3 Tổ chức thực hiện 135 3.1 Xây dựng, trình phê duyệt Đ e á n 135

3.2 Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước 135

3.3 Phăn công trách nhiệm cho các đơn vị, cá nhân thực hiện Đề á n 136

3.4 Tăng cường phối kết hợp giữa Trường Đại học Luật Hà Nội với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức hành nghề tư pháp, các doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo 142

3.5 Kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết kết quả thực hiện Đề á n 142

3.6 Bảo đảm tài chính cho việc thực hiện Đe á n 142

CÁC CHUYÊN ĐẺ NGHIÊN cứu 143

Chuyên đề ỉ: Đổi mới giáo dục đại học và những yêu cầu đặt ra đối với hoạt động đào tạo cử nhân luật nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư p h á p 144

Chuyên đề 2: Quan điểm, mục tiêu tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà N ội 162

Chuyên đề 3: Tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật: Nhận diện các nội dung cấu thành và những yếu tố tác động 177

Chuyên để 4: Kinh nghiệm trang bị kiến thức thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật ở một số nước trên thế giới 190

Chuyên đề 5: Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn trong nội dung chương trình đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội và những giải pháp 208

Chuyên đề 6: Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn trong hệ thống giáo trình và các học liệu khác tại Trường Đại học Luật Hà Nội và những giải pháp 225

Chuyên đề 7: Thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn thông qua phương pháp đào tạo và đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Trường Đại học Luật Hà Nội và những giải pháp đổi m ới 243

Chuyên đề 8: Thực trạng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Luật Hà Nội và những giải pháp kiện toàn đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu trang bị • kiến thức thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật 269

Trang 6

Chuyên đề 9: Thực trạng các hoạt động ngoại khóa, thực tập tại Trường

Đại học Luật Hà Nội và những giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu q u ả

hoạt động 288

Chuyên đề 10: Thực trạng các hoạt động thực hành luật tại Trường Đ ại học Luật Hà Nội - Những giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả h oạt động 303

Phụ lục 1: Các Mẩu phiếu khảo sát trưng cầu ý kiến 323

Phụ lục 1A: Mấu phiếu trưng cầu ý kiến sổ ỉ (dành cho giảng viên) 324

Phụ lục 1B: Mầu phiếu trưng cầu ỷ kiến sổ 2 (dành cho sinh viên) 329

Phụ lục 1C: Mau phiếu trưng cầu ỷ kiến sổ 3 (dành cho người sử dụng lao động) 335

Phụ lục 2: Bảng kết quả khảo sát trưng cầu ý kiến 338

Phụ lục 2A: Kết quả trưng cầu ý kiến dành cho giảng viên 339

Phụ lục 2B: Kết quả ừ-img cầu ý kiến dành cho sinh viên 351

Phụ lục 2C: Kết quả trưng cầu ỷ kiến dành cho ngưởỉ sử dụng lao động 365

Phụ lục 3: Báo cáo tổng hợp kết quả khảo sát trưng cầu ý kiến 373

Phụ lục 3A: Báo cáo xử lý, phân tích sổ liệu khảo sát đổi với giảng viên (Phịẹụsố Ị 374

Phụ lục 3B: Báo cảo xử lý, phân tích số liệu khảo sát đổi với sinh viên (Phỉểusổ2) 380

Phụ lục 3C: Báo cáo xử lỷ, phân tích số liệu khảo sát đổi với người sử dụng lao động (Phiếu số 3 ) 387

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 393

4

Trang 7

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA T H ựC HIỆN ĐÈ ÁN • •

I

BAN CHỦ N H IÊM ĐÈ ÁN •

- Chủ nhiệm Đề án: TS Vũ Thị Lan Anh

- Thư ký Đề án: TS Vũ Văn Cương

ThS Nguyễn Thị Bích Hồng

II CÁC TÁC GIẢ CHUYÊN ĐÈ

1 TS Phan Chí Hiếu Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 1

2 TS Trần Quang Huy Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 2

3 TS Vũ Thị Lan Anh Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đê 3 và chuy<

đề 10

5 TS Nguyễn Tuyết Mai Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 5

6 TS Vũ Văn Cương Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 6

7 TS Đỗ Ngân Bình Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 7

8 TS Trần Anh Tuấn Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 8

9 ThS Trần Ngọc Định Trường Đại học Luật Hà Nội Chuyên đề 9

Trang 8

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

ĐÈ ÁN K HO A HỌC CÁP BỘ■ •

“CÁC GIẢI PHÁP TẢNG CƯỜNG TÍNH T H ự C TIỄN T R O N G ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT TẠI TRƯ ỜNG Đ ẠI HỌC LUẬT HÀ N Ộ I ĐÁP

ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH T Ứ PH Á P”

I S ự CẦN TH IÉT XÂY DƯ NG ĐÈ ÁNm

Trong những năm gần đây, giáo dục đại học ở Việt nam đã đạt được những thành tựu nổi bật Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã ghi nhận thực trạng: “Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ” Tuy nhiên, Nghị quyết chỉ rõ: “Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ

và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sông và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá

kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”.

Như vậy, việc đào tạo nặng về lý thuyết, coi nhẹ thực hành đang là vấn

đề nổi cộm của cả nền giáo dục đại học, trong đó có đào tạo cử nhân luật Điều không thể phủ nhận là trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đào tạo cử nhân luật luôn có vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực có trình độ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Những năm gần đây, hoạt động giảng dạy ở các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam đã bước đầu gắn lý luận với thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn, kết quả đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam chưa thực sự đáp ứng kỳ vọng của người học, người tuyển dụng lao động và của xã hội nói chung Hầu hết sinh viên luật tốt nghiệp ra trường, kể cả sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi, cho có nắm vững lý thuyết cũng như các quy định của pháp luật thì vẫn rất lúng túng khi áp dụng các kiến thức đó để giải qũyết các công việc cụ thể theo yêu cầu thực tế Các nhà tuyển dụng chưa thực sự mặn mà với sinh viên mới tốt nghiệp đại học có trình độ cử nhân luật do họ chưa đáp ứng ngay yêu cầu của công việc, có quá ít kiến thức thực tiễn Như vậy, có một khoảng cách đáng kể giữa “đầu ra” của sinh viên luật và nhu cầu của xã hội đối với họ Để khắc phục điêu đó, sinh viên cần được trang bị các kiến thức thực tiễn ngay từ khi còn đang ngồi trên giảng đường đại học

6

Trang 9

Xuất phát từ thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật ở Việt N am , có thể thấy rõ nội dung chương trình giảng dạy còn nhiều lý thuyết, thiếu tính thực tiễn; hệ thống giáo trình, học liệu chưa đầy đủ, mang nặng tính hàn lâm và thiếu tính thực tế; phương pháp đào tạo và đánh giá kết quả học tập chưa khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên; các hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành khá ít ỏi, chưa hiệu quả và không theo kịp yêu cầu thực tiễn Đe khắc phục tình trạng này, cần tìm ra những giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu được trang bị kiến thức thực tiễn, được “học đi đôi với hành” của sinh viên luật Việc trang bị kiến thức thực tiễn và rèn luyện những kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên luật sẽ giúp sinh viên luật được các nhà tuyển dụng chào đón sau khi tốt nghiệp, đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần củng cố và tăng thêm uy tín của các

cơ sở đào tạo luật nói chung và của Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng Điều này cũng phù hợp với mục tiêu giáo dục đại học được quy định trong Luật Giáo

dục đại học năm 2012 là: “Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức

chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, cỏ kỹ năng thực hành cơ bản, cổ khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vẩn đề thuộc ngành được đào tạo ”

Việc tăng cường trang bị kiến thức thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật là một trong những giải pháp thực hiện Nghị quyết TW số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết 49 đã đặt ra

nhiệm vụ “Tiếp tục đổi món nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào

tạo cản bẹ nguồn của chức danh tư pháp theo hưởng cập nhật các kiến thức mới

về chỉnh ừị, pháp luật, kinh tế, xã hội, cỏ kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN” Trước yêu cầu cải cách tư pháp, một trong những nhiệm vụ

trọng tâm zủa công tác đào tạo cử nhân luật là nâng cao tính thực tiễn trong hoạt động đào '.ạo cử nhân luật tại Việt Nam để cung ứng cho xã hội những cử nhân luật không chỉ có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng nghề nghiệp mà còn có kiến thức 'hực tiễn và có khả năng làm việc thực tế

Chhh vì thế, việc xây dựng Đề án “Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tr pháp” là rất cần thiết trong bối cảnh thực hiện chủ trương đổi mới toàn diiện ịiáo dục đại học theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI và chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ở Việt Nam Việ; xây dựng Đề án càng có ý nghĩa khi Thủ tướng Chính ban hành

Quyết địm số 549/QĐ-TTg ngày 4/4/2013 phê duyệt Đề án tổng thể “Xây dựng

trường Đ ậ học Luật Hà Nội và Trường Đ ại học Luật Thành p h ổ Hồ Chỉ Minh thành c á cfrường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật

Trang 10

Việc thực hiện các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật mà Đề án đưa ra sẽ giúp sinh viên của Trường Đại học Luật Hà Nội được tăng cường tiếp cận thông tin pháp lý, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với thực tiễn áp dụng pháp luật, rèn luyện được những kỹ năng cơ bản ban đầu của người làm nghề luật thông qua các hoạt động thực tiễn trong và ngoài nhà trường bằng nhiều cách khác nhau Qua đó, khi ra trường, các tân cử nhân luật sẽ không thấy bỡ ngõ khi làm việc thực tế, có thể bắt tay vào làm việc thực tiễn và biết cách giải quyết các tình huống mà thực tiễn đặt ra.

Bằng cách đó, chất lượng “đầu ra” của Trường Đại học Luật Hà Nội được nâng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và tiến tới thị trường khu vực; sinh viên tốt nghiệp của Trường được các nhà tuyển dụng chào đón nồng nhiệt hơn và từ đó, góp phần củng cố và tăng thêm uy tín đào tạo của Nhà trường Việc hai trường đại học của Việt Nam (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) lọt vào danh sách top 200 trường đại học hàng đầu châu Á, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội lọt vào danh sách top 300 theo Bảng xép hạng đại học QS World University Rankings vừa công bố năm

2014 là sự cổ vũ lớn lao cho nền giáo dục đại học của Việt Nam Chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng rằng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo nói riêng sẽ góp phần xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm quốc gia về đào tạo cán bộ pháp luật, hướng tới mục tiêu Trường lọt vào danh sách các trường luật hàng đầu của khu vực Đông Nam Á và Châu Á

II TÌNH H ÌNH NGHIÊN c ứ u

ở các cơ sở đào tạo đại học khác, vấn đề giảng dạy có sử dụng tình huống (phương pháp tình huống) được một số tác giả quan tâm như ThS Vũ Thế Dũng (Khoa Quản lý Công nghiệp, trường Đại học Bách khoa, thành phố Hồ Chí Minh) với bài viết “Nghiên cứu tình huống trong giảng dạy đại học”1, tác giả Bích Ngọc (Khoa Luật, Trường Đại học cần Thơ) - “Dạy học thực tiễn”2, tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội) - “Case Study: Sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống trong dạy học giáo dục học”3 v ấ n đề tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo đại học nói chung hoặc trong một ngành cụ thể đã từng được bước đầu nghiên cứu, ví dụ, NCS., ThS Phan Thanh Hải (Đại học Duy Tân) có bài viết “Những giải pháp để nâng cao tính thực tiễn trong quá trình đào tạo đại học hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong bối cảnh hội

Trang 11

nhập”4, ThS Nguyễn Thanh Bình (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) viết tham luận hội thảo với tiêu đề “Giải pháp nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo đại học ngành tài chính”5 Tuy nhiên, đây chỉ là các bài nghiên cứu ngắn ở dạng tham luận tại các cuộc hội thảo, chủ yếu liệt kê một số giải pháp, hoàn toàn chưa làm rõ các vấn đề lý luận có liên quan.

Liên quan đến khía cạnh tính thực tiễn trong hoạt động đào tạo, Trường Đại học Luật Hà Nội đã có một số hoạt động nghiên cứu Một số công trình

nghiên cứu khoa học cấp trường đã được nghiệm thu như: Đề tài “Nghiên cứu

việc giảng dạy bằng phương pháp sử dụng tình huống trong đào tạo các môn học của Khoa Pháp luật Kinh tế" (2005) do TS Lưu Bình Nhưỡng làm chủ

nhiệm; Đề tài “Xây dựng và sử dụng các tình huống pháp luật trong giảng dạy

luật học” (2009) do TS Nguyễn Văn Tuyến làm chủ nhiệm Tuy nhiên, những

đề tài này mới chỉ đề cập tới một phương pháp giảng dạy là phương pháp sử

dụng tình huống (có thể là tình huống phát sinh từ thực tiễn) Đề tài “X â y dựng

và sử dụng hồ sơ vụ việc thực tiễn trong giảng dạy và học tập môn học Luật thương mại tại Trường Đại học Luật Hà N ộ i” (2010) do TS Vũ Thị Lan Anh

làm chủ nhiệm đề cập tới một giải pháp tăng tính thực tiễn trong đào tạo là sử dụng hồ sơ các vụ việc thực tiễn đã được biên tập để phục vụ giảng dạy một môn học cụ thể

Năm 2012, Đe tài "Nghiên cứu các giải pháp tăng cường tỉnh thực tiễn

trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà N ộ i” do TS Vũ Thị

Lan Anh làm Chủ nhiệm được thực hiện và đã được nghiệm thu, nhưng Đề tài mang tính nghiên cứu, trong khuôn khổ đề tài cấp cơ sở chỉ tập trung vào những vấn đề chung nhất về những giải pháp tăng cường tính thực tiễn; chưa có điều kiện thực hiện khảo sát rộng rãi các đối tượng giảng viên, sinh viên và người sử dụng lao động; chưa tổ chức hội thảo, tọa đàm để lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia Hơn nữa, Đe tài được thực hiện trong thời điểm chưa có Nghị

quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI): "về đổi

mới căn bản, toàn diện giảo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hỏa trong điều kiện kinh tế thị trường định hưởng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tể", đồng thời chưa đặt ra vấn đề tăng cường tính thực tiễn trong

đào tạo cử nhân luật đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49- NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 Vì thế, Đe án sẽ kế thừa một số kết quả nghiên cứu của Đe tài này, đồng thời giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn mà Đề tài chưa nghiên cứu, đặc biệt tập trung vào cơ sở

4 Phan Thanh Hài Những giải pháp đề nâng cao tính thực tiễn trong quá ưình đào tạo đại học hiện nay nhàm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong bối cảnh hội nhập.

Nguồn: http://kketoan.duytan,edu.vn/Client/Gochoctap/DocumentDetail.aspx?id=167&lang=VN

5 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Ngân hàng - Tài chính Kỷ yeu Hội thảo “Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020” Hà Nội, 6/2010.

Trang 12

thực tiễn để xây dựng những luận cứ của Đề án cũng như chỉ ra các biện pháp cụ thể tổ chức thực hiện Đề án.

III THỰC TRẠNG TRANG BỊ K IÉN THỨC T H ự C T IỄ N CH O SINH VIÊN TẠI TRƯ ỜNG ĐẠI H Ọ C LUẬT HÀ NỘI

Trường Đại học Luật Hà Nội đã bước đầu có một số biện pháp nhằm trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên thông qua các hoạt động đào tạo, chủ yếu là các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động chuyên môn mang tính tự phát của các giảng viên và bộ môn Việc trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội mới dừng lại ở chủ trương chung của N hà trường, chưa được cụ thể hóa bằng các tiêu chí, nhiệm vụ của các đối tượng tham gia hoạt động đào tạo Vì thế, việc trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên chưa được thực hiện thường xuyên, đều đặn và có hệ thống Theo đánh giá của nhiều

cơ quan sử dụng lao động, các cử nhân tốt nghiệp Trường Đại học Luật Hà Nội

ít biết đến những vấn đề pháp lý mang tính thời sự; ít quan tâm đến đời sống pháp lý đang diễn ra trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; hiểu biết khá mơ hồ về chính những cơ quan pháp luật, kể cả cơ quan chủ quản của Trường là Bộ Tư pháp; thiếu những kỹ năng cơ bản của người làm nghề luật

Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến:

(i) Quá trình đào tạo tại Trường chưa có nhiều tính thực tiễn Điều này thể hiện trong tất cả các yếu tố cấu thành của quá trình đào tạo, từ nội dung chương trình, giáo trình, học liệu, phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá kết quả học tập đến các hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành của sinh viên

(ii) Đội ngũ giảng viên thiên về lý thuyết, chưa có nhiều hoạt động thực tiễn; vì thế, xã hội chưa đánh giá cao các hoạt động thực tiễn của họ

(iii) Sinh viên còn thiếu ý thức hoặc chưa được hướng dẫn cách tự trang

bị cho mình những kiến thức thực tiễn; chưa xác định được mục tiêu học tập và

có định hướng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội

IV QUAN ĐIẺM, MỤC TIÊU CỦA ĐÈ ÁN

1 Quan điểm:

Việc tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại

học Luật Hà Nội phải quán triệt các quan điểm lớn sau đây:

1.1 Bám sát các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đồi mới giáo dục đại học, đào tạo nguồn nhân lực pháp luật phục

vụ công cuôc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, cải cách tư pháp và hội

nhập quốc tế

Trang 13

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006), trên cơ sở đánh giá tổng quát thực trạng giáo dục-đào tạo qua hai mươi năm đối mới, đã đề ra chủ

trương: "Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gẳn đào tạo với sử

dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cẩu lao động, phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất ỉà chuyên gia đầu ngành” Đây là định hướng

quan trọng cho việc đổi mới giáo dục, đào tạo đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhận định: “Chất lượng giáo dục

và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của

xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cẩu giảo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giảo dục cỏn bất cập” Từ đó, Báo cáo chính trị đề ra phương hướng

đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo là: “Thực hiện đồng bộ các giải

pháp phát ừ-iển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giảo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giảo dục lý tưởng, giáo dục tì-uyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sổng, năng lực sảng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ỷ thức trách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ giảo viên đủ về sổ lượng, đáp ứng yêu cầu vê chất lượng”.

Thể chế hóa đường lối của Đảng về giáo dục, đào tạo, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, trong đó nêu rõ:

"Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tỉnh thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ;

lựa chọn khâu đột phả, lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển rõ rệt Việc mở rộng quy mô phải đi đôi với nâng cao chất lượng; thực hiện công bằng xã hội phải đi đôi vón đảm bảo hiệu quả đào tạo; phải tiến hành đổi mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến phương pháp dạy và học, phương thức đánh giả kết quả học tập; liên thông giữa các ngành, các hình thức, các ừình độ đào tạo ” Từ quan điểm nêu trên, Nghị quyết đề ra mục tiêu:

“Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoả đất nước, hội nhập kinh tể quốc tế và nhu cầu học tập của ỉĩhân dân Đến năm 2020 giáo dục đại học của Việt Nam đạt trình độ tiên tiến

Trang 14

trong khu vực và tiêp cận trình độ tiên tiên trên thê giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Như vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo đại học nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển đất nước trong thời kỳ mới là chủ trương nhất quán và xuyên suốt được thể hiện trong các văn kiện của Đảng cũng như các văn bản pháp quy của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới công tác đào tạo đại học nói chung cũng như trong từng lĩnh vực đào tạo cụ thể

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm

2020 chỉ đạo: phải “bảo đảm sổ lượng và chất lượng nguồn nhân lực cản bộ

công chức làm công tác pháp ỉuật ", Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nhấn mạnh: “Tiếp tục

đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bỗ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kỉnh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đẩu tranh vỉ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.

1.2 Bám sát các yêu cầu của xã hội về chất lượng đào tạo cử nhân luật,

đáp ứng đòi hỏi của người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Đào tạo cử nhân luật cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ về pháp luật Muốn sản phẩm đào tạo - các cử nhân luật được xã hội chấp nhận thì trước tiên toàn bộ quá trình đào tạo phải hướng tới nhu cầu xã hội, bám sát các yêu cầu của xã hội đối với chất lượng đầu ra của sản phẩm đào tạo Nhu cầu xã hội thể hiện rõ nét nhất ở những đòi hỏi của người sử dụng lao động đối với các

cử nhân luật trong khối các cơ quan nhà nước; khối các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp; khối các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài; khối doanh nghiệp trong nước

1.3 Việc tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội p h ả i phù hợp với đặc thù của Trường, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật

Việc xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật được quy định tại Nghị quyết 49/NQ-TW ngày '02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Quyết định số

549/QĐ-TTg ngày 4/4/2013 phê duyệt Đe án tổng thể “Xảy dựng trường Đại

12

Trang 15

học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thành các

trường trọng điểm đào tạo cản bộ về pháp luật”.

Trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng Trường Đại học Luật Hà N ội thành

trường trọng điểm là phải tạo ra sự phát triển mang tính đột phá về chất lượng và

quy mô đào tạo cán bộ về pháp luật, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên vững

mạnh Một trong những giải pháp quan trọng xây dựng Trường Đại học Luật Hà

Nội thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật là tăng cường trang bị

kiến thức thực tiễn cho sinh viên luật nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội, yêu cầu cải

cách tư pháp và hội nhập quốc tế

1.4 Tham khảo một cách chọn lọc kỉnh nghiệm đào tạo cử nhân luật của

các nước trên thế giới cỏ nền đào tạo luật mang tính thực tiễn cao và phù hợp

với điều kiên Viêt Nam.• •

2 Muc tiêu của Đề án

Đe án hướng tới mục tiêu tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử

nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội thông qua hệ thống các giải pháp

mang tính đồng bộ, tính khả thi cao và các biện pháp tổ chức thực hiện các giải

pháp đó trên thực tế, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật, cung

cấp nguồn nhân lực có chất lượng, có năng lực thực tiễn cho các cơ quan Nhà

nước, các tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập

quốc tế

V ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ ÁN

- Đối tượng nghiên cứu của đề án là các chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước, các văn bản pháp luật về đào tạo đại học và thực tiễn hoạt động

đào tạo cử nhân luật ở Trường Đại học Luật Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở hoạt động đào tạo cử nhân luật hệ chính

quy của Trường Đại học Luật Hà Nội (không bao gồm hệ đào tạo vừa học vừa

làm, đào tạo sau đại học) Đây là đối tượng đào tạo chủ yếu của Trường Đại học

Luật Hà Nội - những đối tượng chưa có kinh nghiệm làm việc và sẽ trở thành

nguồn nhân lực quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam

VI NỘI DUNG NGHIÊN cứu CỦA ĐẺ ÁN

1 "V T _ 1 _ ■ £> r _ Ã 4 Ã 1 A 1•> ^ A X , _ 1 Ạ 1 A ^

Nghiên cứu những vân đê lý luận nên tảng vê đào tạo cử nhân luật và

tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật

2 Đánh giá thực trạng sử dụng các biện pháp nhằm đưa thực tiễn vào đào

tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội Cụ thể là:

- Khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp đang bước đầu được triển

khai tại Trường Đại học Luật Hà Nội hướng tới mục đích nâng cao tính thực tiễn

Trang 16

trong đào tạo cử nhân luật ở những nội dung sau: nội dung chương trình các môn học, giáo trình và học liệu, phương pháp đào tạo và đánh giá kết quả học tập, hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành của sinh viên lu ật

- Trên cơ sở các kết quả khảo sát, tiến hành đánh giá về những thành công, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân tại sao công tác đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội hiện nay còn ít tính thực tiễn để làm cơ sở đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội

3 Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước có nền đào tạo luật mang tính thực tiễn cao, điển hình của hai dòng họ pháp luật lớn trên thế giới là common law và civil law Thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của các cơ

sở đào tạo luật ở Mỹ, Ú c trong việc tổ chức dạy-học và thực hành luật, đề án

sẽ đưa ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp phù họp, có tính khả thi trong điều kiện thực tế của Việt Nam để đề xuất ứng dụng trong đào tạo cử nhân luật nhằm nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo

4 Đề xuất các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật, bao gồm sử dụng hiệu quả các biện pháp đang áp dụng và bổ sung những biện pháp mới Cụ thể là:

- Nhóm các giải pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn trong nội dung chương trinh đào tạo cử nhân luật;

- Nhóm các giải pháp nhằm tăng cường tính thực tiễn trong giáo trình và các học liệu khác;

- Nhóm các giải pháp đổi mới phương pháp đào tạo và đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhằm tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật;

- Nhóm các giải pháp kiện toàn đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu về thực tiễn trong đào tạo sinh viên luật;

- Nhóm các giải pháp nhằm nâng cao tính thực tiễn trong hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành luật của sinh viên;

- Nhóm các giải pháp hoàn thiện cơ sở vật chất đảm bảo tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật

VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu, KỸ THUẬT sử DỤNG

Đề án được thực hiện dựa trên hệ thống những quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục đại học, gắn lý thuyết với thực tiễn Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu và triển khai đề án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp được sử dụng trong việc

14

Trang 17

nghiên cứu, thực hiện đề án gồm: phương pháp khảo sát thực tiễn và đánh giá, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh v v Cụ thể như sau:

Phương pháp khảo sát được sử dụng để khảo sát 3 nhóm đối tượng là giảng viên luật, sinh viên luật và người sử dụng lao động để thấy rõ được thực trạng trang bị kiến thức thực tiễn trong Trường Đại học Luật Hà Nội, có đáp ứng được yêu cầu của người học và người sử dụng lao động hay không, cũng như làm rõ những yêu cầu từ phía người tuyển dụng đối với lực lượng cử nhân luật mới ra trường

Phương pháp đánh giá sẽ được thực hiện sau khi các tác giả chuyên đề thu thập thông tin, các cuộc khảo sát được tiến hành và có các số liệu tổng hợp Việc đánh giá sẽ sử dụng phương pháp tư duy logic, khách quan và nhận thức khoa học để đưa ra những nhận xét có độ tin cậy cao Đây là một trong các cơ sở thực tiễn quan trọng để tìm kiếm các giải pháp khả thi phục vụ hướng nghiên cứu của

Đề án

Phương pháp so sánh được sử dụng để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa đào tạo luật ở một số nước điển hình về đào tạo luật có tính thực tiễn

và đào tạo luật ở Việt Nam để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Phương pháp phân tích, tổng hợp được áp dụng nhằm tập hợp, phân tích các thông tin có được về cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận, kinh nghiệm các nước, kinh nghiệm các trường đào tạo nghề luật để xây dựng các giải pháp phù hợp,

có tính khoa học và khả thi nhằm nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật, hướng tới đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị

VIII L ự c LƯỢNG THAM GIA NGHIÊN c ứ u

Các cộng tác viên tham gia nghiên cứu đề án là những giảng viên của Trường Đại học Luật Hà Nội và chuyên gia của Bộ Tư pháp - những người đang trực tiếp tham gia công tác giảng dạy hoặc tư vấn pháp luật trong Nhà trường (Có danh sách kèm theo)

IX QUÁ TRÌNH NGHIÊN c ứ u ĐÈ ÁN

Sau khi ký hợp đồng nghiên cứu khoa học với Viện Khoa học pháp lý -

Bộ Tư pháp, Chủ nhiệm đề án đã đưa ra các yêu cầu về hình thức và nội dung các chuyên đề Các cộng tác viên đã góp ý kiến, cùng Chủ nhiệm đề tài thống nhất cách thức thực hiện đề tài và phân công nghiên cứu các chuyên đề cụ thể Các cộng tác viên viết các chuyên đề hầu hết đều là những giảng viên đã nhiều năm công tác tại Trường, ỉà những người trực tiếp giảng dạy, cố vấn học tập cho sinh viên nên có nhiều trải nghiệm thực tế đào tạo tại Trường, tại Khoa, bộ môn ọủa mình Khó khăn lớn nhất là hầu như không có tài liệu để tham khảo các vấn

Trang 18

đề lý luận về tính thực tiễn trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo cử nhân luật nói riêng, cũng như việc xây dựng các tiêu chí về tính thực tiễn.

Ban Chủ nhiệm Đề án đã tiến hành khảo sát, trưng cầu ý kiến của 301 người gồm 3 nhóm đối tượng là giảng viên luật, sinh viên luật và người sử dụng lao động với cơ cấu thành phần trong từng nhóm phù hợp để có được kết quả khảo sát khách quan, mang tính đại diện cao nhất Kết quả khảo sát được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng SPSS 16 nên có độ chính xác cao Những kết quả khảo sát được sử dụng trong các chuyên đề làm cơ sở thực tiễn cho những đánh giá, đề xuất của các tác giả Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên thường xuyên trao đổi với nhau để cùng làm rõ những vấn đề còn khúc mắc

Để phục vụ cho việc nghiên cứu Đề án, sau khi có các chuyên đề nghiên cứu, Ban Chủ nhiệm Đe án tổ chức một hội thảo khoa học để lấy ý kiến góp ý của các chuyên gia về các chuyên đề và các vấn đề còn vướng mắc Sau khi tổ chức hội thảo, Ban Chủ nhiệm đề án triển khai viết Báo cáo phúc trình Đề án dựa trên kết quả nghiên cứu các chuyên đề

X KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÈ ÁN

Kết quả nghiên cứu của Đe án bao gồm:

1 Báo cáo phúc trình Đề án “Các giải pháp tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”;

2 10 chuyên đề nghiên cứu;

3 Các Phụ lục bao gồm:

- Phụ lục 1: Các Mầu Phiếu khảo sát trưng cầu ý kiến

+ Phụ lục 1A: Mầu Phiếu trưng cầu ý kiến số 1 (dành cho giảng viên)

+ Phụ lục 1B: Mầu Phiếu trưng cầu ý kiến số 2 (dành cho sinh viên)+ Phụ lục 1C: Mẩu Phiếu trưng cầu ý kiến số 3 (dành cho người sử dụng lao động)

- Phụ lục 2: Bảng kết quả khảo sát trưng cầu ý kiến

+ Phụ lục 2A: Kết quả trưng cầu ý kiến dành cho giảng viên+ Phụ lục 2B: Kết quả trưng cầu ý kiến dành cho sinh viên+ Phụ lục 2C: Kết quả trưng cầu ý kiến dành cho người sử dụng lao

- Phụ lục 3: Báo cáo tổng hợp kết quả khảo sát

16

Trang 19

Phần thứ nhất

NHẬN THỨC CHUNG VÈ TĂNG CƯỜNG TÍNH T H ự C TIỄN TR O N G

ĐÀO TẠO C Ử NHÂN LUẬT

1 NHẬN DIỆN TÍNH T H ự C TIỄN TRONG ĐÀO TẠO c ử NH Â N LUẬT

1.1 Tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật

1.1.1 Khải niệm thực tiễn và mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

Muốn nhận diện tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật thì trước hết phải làm rõ nội hàm của khái niệm “tính thực tiễn” Thuật ngữ “thực tiễn ” theo tiếng Hy Lạp cổ là Practica, có nghĩa là hoạt động tích cực Cùng với thời gian, thuật ngữ “thực tiễn” được phát triển và hiểu theo các góc độ khác nhau

Xét dưới góc độ ngôn ngữ học, thực tiễn là “những hoạt động của conngười, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho

sự tồn tại của xã hội”6.• t •

Xét dưới góc độ triết học, thực tiễn là một phạm trù triết học Theo quan điểm của chủ nghĩa M ác - Lê Nin, thực tiễn là những hoạt động vật chất cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổ biến của xã hội loài người, là phương thức chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới, nhằm mục đích cải tạo thế giới Không có hoạt động thực tiễn thì bản thân con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được7 Thực tiễn tồn tại dưới ba hình thức, đó là hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động cải tạo chính trị - xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học

Như vậy, có thể hiểu thực tiễn là những hoạt động của con người dưới các hình thức khác nhau nhằm mục đích cải tạo tự nhiên - xã hội

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức Chính thực tiễn đã cung cấp cho nhận thức của con người những hiểu biết về thế giới, vì thế, mọi tri thức của con người suy cho cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Mọi tri thức khoa học, mọi

lý luận chỉ có ý nghĩa đích thực khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, nghĩa là được vận dụng vào sản xuất vật chất, vào cải tạo xã hội và vào thực nghiệm khoa học nhằm phục vụ con người8 Bên cạnh đó, thực tiễn còn là tiêu chuẩn, là thước đo chân lý Dựa vào thực - “ ~ĩĩ~ĩ 1 ^ —ĩ-minh chân lý, kiểm1- -1-s- 1' 1-•* -

Trang 20

nghiệm sự đúng đắn của các tri thức khoa học của mình9 Như vậy, các tri thức bắt nguồn từ thực tiễn và phải được thực tiễn kiểm nghiệm “Suy cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn” 10.

Thực tiễn luôn được đặt cạnh lý luận Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm mang tính riêng lẻ Để nắm được mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng, con người phải khái quát những tri thức kinh nghiệm thành lý luận

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, lý luận là “hệ thống những tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn”11 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trcng quá trình lịch sử”12 Lý luận mang tính trìu tượng và khái quát cao, vì thế có thể mang lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật, tính tất yếu của cac sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan

Lý luận có vai trò vô cùng to lớn đối với hoạt động thực tiễn Lý luận khoa học thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và thay đổi chính thực tiễn Lý luận xuất phát từ thực tiễn và quay trở lại chỉ đạo thực tiễn Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi

đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn “Phải coi ừọng lý luận, nhưng không được

cường điệu vai trò của lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời lý luận và thực tiễn”13 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học “Thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” 14

Tóm lại, lý luận là hệ thống các tư tưởng, khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh khái quát những vấn đề sinh động của thực tiễn, do thực tiễn quy định, phụ thuộc vào thực tiễn, nhưng lại có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, có thể tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

1.1.2 Mục tiêu của giáo dục đại học và yêu cầu về tính thực tiễn

9 V.I Lé Nin Toàn tập N X B Tiến bộ, M, 1981, T.29, tr.203.

10 Bộ Giáo dục và Đào tạo Giáo trình Triết học Mác - Lênin NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 298.

11 Viện Ngôn ngữ học Sđd, tr 544-545.

12 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr.497.

13 Hội đằng trung ương chi đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tường Hồ Chí Minh Giáo trình Triết học Mác - Lênin NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 363.

14 Hồ Chí Minh Sđd, tr 496.'

18

Trang 21

Mục tiêu giáo dục chính là những kiến thức, năng lực, phẩm chất mà một nền giáo dục nói chung hay một cấp học, ngành học cụ thể phải cung cấp cho người học Nền giáo dục có thực hiện được mục tiêu giáo dục hay không chính

là tiêu chí đánh giá chất lượng nền giáo dục đó Giáo dục đại học có mục tiêu riêng, khác biệt với đào tạo các trình độ khác Luật Giáo dục đại học năm 2012

xác định giáo dục đại học có mục tiêu chung là “Đ ào tạo người học có phẩm

chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát ữiển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình

độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp,

thích nghi với môi trường làm việc; có ỷ thức phục vụ nhản dân” (điểm b,

Khoản 1 Điều 5)

Như vậy, để đạt được mục tiêu chung, giáo dục đại học phải thực hiện các nhiệm vụ sau: (i) đào tạo kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp; (ii) đào tạo hệ thống kỹ năng thực hành nghề; (iii) đào tạo năng lực nghiên cứu, sáng tạo và thích nghi; (iv) giáo dục phẩm chất, đạo đức

Bên cạnh mục tiêu chung, giáo dục đại học có mục tiêu cụ thể là “Đào tạo

trình độ đại học để sinh viên cỏ kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lỷ, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng ỉàm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào

tạo” (điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Giáo dục đại học) Đây là các mục tiêu cụ thể

liên quan chủ yếu đến trình độ chuyên môn của người tốt nghiệp đại học Đối

chiếu với các quy định của Luật Giáo dục đại học, sinh viên tốt nghiệp đại học

cần phải đáp ứng các yêu cầu chuyên môn sau: (i) có kiến thức chuyên môn toàn

diện cùng những nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội; (ii) có kỹ năng thực hành

ở mức cơ bản; (iii) có năng lực giải quyết vấn đề thuộc ngành đào tạo; (iv) có

khả năng làm việc độc lập và sáng tạo trong ngành đào tạo

Để đạt được mục tiêu cụ thể của giáo dục đại học, các cơ sở đào tạo đại

học cần xác định nhiệm vụ cụ thể của mình Những nhiệm vụ trước hết phải gắn

liền với việc trang bị những kiến thức chuyên môn cũng như những kiến thức

toàn diện khác, trang bị kỹ năng thực hành để sinh viên phát triển năng lực

chuyên môn

Theo quan điểm lý luận dạy học đại học, hệ thống tri thức trong giáo dục

đại học bao gồm:

Những sự kiện khoa học, những tri thức phản ánh những đối tượng, sự

vật, hiện tượng, quá trình hoạt động đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống

- Những lý thuyết, học thuyết khoa học, những khái niệm, những phạm trù, những quy luật, quy tắc, Đó là những tri thức lý thuyết phản ánh kết quả

Trang 22

của quá trình khái quát hóa, hệ thống hóa, tổng hợp hóa, những tư tưởng, những quan điểm của nhân loại về một lĩnh vực khoa học nào đó.

- Những tri thức thực hành bao gồm những tri thức về cách thức hành động, cơ sở lý luận của việc hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

- Những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học nói chung, phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu khoa học nói riêng Đó là điều kiện để phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy học ở trường đại học

- Những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo: Đó là cơ sở của những hoạt động sáng tạo của con người như phát hiện những tình huống mới trong các điều kiện quen thuộc, tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang tình huống mới; tìm tòi, phát hiện những yếu tố mới nảy sinh, những cấu trúc mới của đối tượng đang nghiên cứu Trên cơ sở đó tìm ra những phương án giải một bài toán, một tình huống phức tạp và biết xây dựng, lựa chọn cho mình phương thức giải độc đáo nhất, hiệu quả nhất

- Những tri thức đánh giá: Đó là những hiểu biết có liên quan tới khả năng nhận xét, phân tích, phê phán, đánh giá những quan điểm, những lý thuyết, những học thuyết Những tri thức này giúp sinh viên có cách nhìn bao quát hơn, có nhận thức sâu sắc hơn, đúng đắn hơn trên cơ sở nhận xét, đánh giá, phê phán theo chủ quan Điều đó giúp sinh viên có thể mở rộng tầm nhìn, khả năng

đi sâu một vấn đề và bồi dưỡng óc phê phán, năng lực phân tích, đánh giá” 15

Như vậy, hệ thống tri thức mà người sinh viên tiếp nhận trong quá trình đào tạo đại học rất đa dạng, từ những tri thức khoa học tới những ừi thức thực tiễn, thực hành, kinh nghiệm Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu tiếp thu tri thức khoa học hiện đại, sinh viên cần có những công cụ phục vụ cho việc lĩnh hội những tri thức khoa học như: ngoại ngữ, logic học, tin học, phương pháp lu ận

Căn cứ vào hệ thống tri thức nêu trên, có thể thấy nhóm tri thức gồm những lý thuyết, học thuyết khoa học, những khái niệm, những phạm trù, những quy luật, quy tắc và những tri thức mang tính lý thuyết cơ bản khác chính là những tri thức lý luận Còn tri thức thực tiễn bao gồm các loại tri thức gắn liền với những sự kiện khoa học, những tri thức phản ánh những đối tượng, sự vật, hiện tượng, quá trình hoạt động đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống; tri thức thực hành, kỹ năng; kinh nghiệm hoạt động sáng tạo (phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề) gắn liền với thực tiễn

Các tri thức sinh viên lĩnh hội được thông qua con đường nhận thức Nhận

thức ở bậc cao sẽ hình thành tư duy Theo Từ điển tiếng Việt, tư duy là “Giai

15 PGS TS Hà Thế Truyền Lý luận về quá trình dạy học đại học Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên tnrờng đại học, cao đảng Học viện Quản lý giáo dục, Hà N ội, 9/2009, tr 183-184.

2 0

Trang 23

đoạn cao của quả trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tỉnh quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phản đoán và suy /ý” 16 Từ những kiến thức được ghi nhớ đến hình thành tư duy là bước phát

triển cao của nhận thức

Khi sinh viên được trang bị đầy đủ những tri thức, những công cụ khoa học cần thiết, cộng thêm khả năng linh hoạt, sáng tạo của cá nhân do bẩm sinh hoặc do tự rèn luyện, với ý thức tự học, họ sẽ có khả năng thích ứng với công việc sau này, tức là có khả năng “thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới, yêu cầu mới” 17 hay còn gọi là khả năng thích nghi với môi trường mới

Như vậy, tri thức thực tiễn luôn là một bộ phận cấu thành của hệ thống tri thức mà giáo dục đại học cần cung cấp cho người học Tính thực tiễn được hiểu

là “cớ ỷ thức coi trọng thực tiễn trong các hoạt động'M Vì thế, tính thực tiễn

trong nền giáo dục đại học được thể hiện ở việc nền giáo dục đó có ý thức coi trọng việc cung cấp các tri thức thực tiễn cho người học, coi trọng thực tiễn trong mọi hoạt động giáo dục, đào tạo của mình

1.1.3 Nội hàm tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật

Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định về tính thực tiễn trong giáo dục đại học nói chung, cũng như trong đào tạo cử nhân luật nói riêng Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày 02/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện

giáo dục đại học của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 nêu rõ: “£>ỠZ mới giáo dục

đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả và đồng bộ; lựa chọn khâu đột phá, lĩnh vực ưu tiên và cơ sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển rõ rệt” Tuy nhiên, Nghị quyết không giải thích thế nào là tính thực tiễn.

Trong bối cảnh chưa hề có chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung vào vấn đề tính thực tiễn trong giáo dục đại học19, để làm rõ nội hàm của tính thực tiễn trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo cử nhân luật nói riêng, cần bám sát Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục đại học năm 2012

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư

pháp đên năm 2020 nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào

tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến

Trang 24

thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, cỏ phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đẩu

_ 7 7 ^ 7 ? y* 1 / 1 > IS< 1 A • 1 7

tranh vì công lý, báo vệ pháp chê xã hội chú nghĩa

Luật Giáo dục đại học năm 2012 quy định: “Đào tạo trình độ đ ạ i học để

sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nẳm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vẩn đề thuộc ngành được đào tạo.”

Mới đây, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ ra thực trạng của hệ thống giáo dục V iệt Nam

là đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Từ đó,

Nghị quyết xác định quan điểm chỉ đạo “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ

chủ yếu trang bị kiến thức sang phát friển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lý ỉuận gắn với thực tiễn” Đồng thời, trong số

các giải pháp đổi mới giáo dục, đào tạo, Nghị quyết chú trọng “tăng thực hành,

vận dụng kiến thức vào thực tiễn ”, “Chú trọng phát Men năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành” Tuy Nghị quyết không đề cập trực tiếp về tính thực tiễn,

nhưng xuyên suốt toàn văn Nghị quyết là quan điểm đề cao các năng lực cánhân (như năng lực làm việc và sáng tạo, năng lực tự học, tự làm giàu kiếnthức ), kỹ năng thực hành và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đối với giáo dục đại học; đồng thời Nghị quyết chỉ rõ đào tạo đại học phải gắn với nhu cầu sử dụng của nền kinh tế - xã hội và của người sử dụng lao động

Xét dưới góc độ giáo dục học, kết quả đào tạo thể hiện qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Vì thế, tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật thể hiện ở năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp Đối chiếu với các văn bản nêu trên, chúng tôi thấy tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật thể hiện ở việc đào tạo sinh viên có những năng lực sau đây:

(ỉ) Các năng lực nhận thức (chuyên môn):

- Có hiểu biết về thực tiễn các quy định pháp luật hiện hành và đang trong

quá trình xây dựng;

- Có hiểu biết về thực tiễn áp dụng pháp luật (của các cơ quan hành pháp,

tư pháp, các tổ chức, doanh nghiệp )■

- Có khả năng vận dụng kiến thức pháp luật phục vụ hoạt động nghề nghiệp;

22

Trang 25

- Có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra thuộc chuyên môn đào tạo.

(iỉ) Các năng lực vận hành (kỹ năng):

- Có kỹ năng nghề nghiệp cơ bản và biết vận dụng kỹ năng để giải quyết

vấn đề thực tiễn;

- Có năng lực làm việc độc lập, sáng tạo

Để đạt được tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật, cần tiến hành nhiều cách thức khác nhau Hiệu quả của tính thực tiễn có thể là trực tiếp (ví dụ cập nhật thông tin pháp lý, các sự kiện pháp lý mang tính thời sự để có được những hiếu biết thực tiễn), hoặc có thể là gián tiếp, phải thông qua hàng loạt các biện pháp, cách thức (ví dụ rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp )

Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, năng lực làm việc của cử nhân luật ngày càng có ý nghĩa quan trọng Sinh viên trước hết phải có khả năng vận dụng kiến thức pháp luật phục vụ hoạt động nghề nghiệp Chỉ nắm được các quy định pháp luật cũng như thực tiễn là chưa đủ, sinh viên phải biết vận dụng những quy định đó vào thực tiễn Đe có khả năng này, sinh viên phải được thực hành, tức là tập làm để biết làm và có thể làm được một cách độc lập Bước đầu, sinh viên cần bắt chước (qua quan sát, tự mình cố gắng lặp lại một hành vi nào đó một cách m áy móc), sau đó, biết thao tác, tức là biết tự làm theo chỉ dẫn Sau khi đã thao tác nhiều lần, hành vi sẽ trở nên chuẩn hóa thành kỹ năng (thành thạo mà không cần hướng dẫn) và có thể phối hợp nhiều kỹ năng Kỹ năng nghề nghiệp cơ bản không chỉ là các kỹ năng chuyên môn mà còn bao gồm các kỹ năng mềm khác như kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng giao tiếp nghề nghiệp

Ở mức độ cao hơn, sinh viên cần có năng lực phát hiện và giải quyết vấn

đê thực tiễn đặt ra thuộc chuyên môn đào tạo Qua quá trình học (nhận thức) và thực hành, khả năng nhận thức của sinh viên có thể được nâng lên bậc cao hơn,

đó là hình thành tư duy Khi có tư duy, tức là sinh viên có khả năng phát hiện ra bản chất của vấn đề, có khả năng phán đoán và suy lý, biết phân tích, tổng hợp, đánh giá, khi đó họ có thể phát hiện vấn đề và dùng các kiến thức của mình để giải quyết vấn đề chuyên môn

ở mức độ cao nhất, năng lực của sinh viên thể hiện ở khả năng làm việc độc lập và sáng tạo, tức là có khả năng hoạt động nghề nghiệp một cách độc lập, làm chủ các kiến thức và sáng tạo trong giải quyết công việc Tổng hòa các năng lực nhận thức, năng lực vận hành, cộng thêm các phẩm chất nhân văn (tức là

Trang 26

năng lực xã hội như năng lực hợp tác, thuyết phục, quản lý ) sẽ tạo nên sản phẩm đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Theo chúng tôi, để đạt được tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật, sinh viên cần được trang bị những kiến thức thực tiễn bằng các con đường chủ yếu sau:

(i) Trong quá trình đào tạo, cập nhật cho sinh viên các sự kiện pháp luật, thực tiễn pháp lý đang diễn ra trong mọi lĩnh vực pháp luật, trong các hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; của các tổ chức, doanh nghiệp,

cá nhân ;

(ii) Sinh viên được cung cấp tri thức gắn với nhu cầu thực tế của xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và của người sử dụng lao động;

(iii) Sinh viên được thực hành luật bằng nhiều cách thức khác nhau, để từ

đó có được những kỹ năng nghề nghiệp cơ bản;

(iv) Sinh viên được rèn luyện tư duy nghề nghiệp để có thể tự học, tự trau dồi kiến thức thực tiễn

Bên cạnh đó, còn có thể có nhiều cách thức khác nhau để đạt tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật của Trường Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong quá trình đào tạo cử nhân luật, tính lý luận và tính thực tiễn là hai mặt không thể tách

rời của hoạt động đào tạo Tính lý luận có vai trò nền tảng, tạo cơ sở vững chắc

để sinh viên tiếp nhận kiến thức trong quá trình đào tạo đại học cũng như khi hành nghề sau khi tốt nghiệp Những tri thức lý ỉuận - nền tảng của hoạt động nghề nghiệp sẽ theo người học suốt đời Vì thế, nhiệm vụ đầu tiên của đào tạo

cử nhân luật là phải trang bị tri thức lý luận vững chắc cho sinh viên để họ sẵn sàng thích nghi với bất cứ thay đổi nào của luật thực định Luật thực định có thể thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào ý chí nhà nước của giai cấp cầm quyền (đối với nhà nước XHCN là ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động)20 Lý luận sẽ giúp sinh viên lý giải được tại sao lại có sự thay đổi đó, có thể đánh giá luật thực định và đề xuất giải pháp hoàn thiện luật thực định Tuy nhiên, cần nhận thức rõ lý luận không phải là việc giải thích luật thực định

Bên cạnh đó, công tác đào tạo cử nhân luật đồng thời phải mang tính thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, gắn với nhu cầu thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn Một trong những thước đo rõ ràng nhất của tính thực tiễn là sản phẩm đào tạo có đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hay không

Trường Đại học Luật Hà Nội đã ban hành Quyết định số 1701/QĐ- ĐHLHN ngày 17/08/2011 quy định về chuẩn đầu ra của sinh viên hệ chính quy

20 Trường Đại học Luật Hà N ội Giáo trình Lí luận nhà nước và pháp luật GS TS Lê Minh Tâm, PGS TS Nguyễn Minh Đoan (Chủ biên) N X B Công an nhân dân, Hà N ội, 2011, ừang 396.

24

Trang 27

Mọi yêu cầu của chuẩn đầu ra đều hướng tới nhu cầu thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn, để sinh viên tốt nghiệp có thể làm tốt các công việc theo yêu cầu thực tiễn Đây cũng chính là cam kết chất lượng đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội trước xã hội, trước những đơn vị sử dụng lao động Căn cứ chuẩn đầu ra, có thể thấy rằng, một cử nhân luật khi tốt nghiệp ra trường phải nắm vững kiến thức cơ bản và chuyên ngành pháp luật, có khả năng áp dụng pháp luật để xử lý được các vấn đề pháp lý đang diễn ra, có kỹ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề pháp luật21 Khi tham khảo Chuẩn đầu ra của một số cơ sở đào tạo luật khác, chúng tôi thấy rằng yêu cầu về chuẩn đầu ra đối với cử nhân luật của các

cơ sở đào tạo khá tương đồng

Để có cơ sở thực tiễn cho Đe án, chúng tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến của những người sử dụng lao động thuộc các khối cơ quan khác nhau: cơ quan nhà nước chuyên về pháp luật, cơ quan Nhà nước khác, doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ pháp lý Kết quả khảo sát cho thấy yêu cầu của các nhà tuyển dụng đối với cử nhân luật khá rõ ràng mà trước hết, cử nhân luật phải có kỹ năng vận dụng kỉén thức pháp luật đáp ứng công việc (65,2%) Tuy nhiên, đối với người

sử dụng lao động, kiến thức và kỹ năng làm việc khác của cử nhân luật lại có ý nghĩa quan trọng hơn (51,5%) so với khả năng cập nhật và giải quyết các vấn đề pháp lý tại cơ quan (48,5%) Điều đó cho thấy để đáp ứng yêu cầu thực tế của người sử dụng lao động, cử nhân luật rất cần có kiến thức toàn diện chứ không chỉ đơn thuần là kiến thức và kỹ năng chuyên môn Đối chiếu với chuẩn đầu ra của Trường Đại học Luật Hà Nội, chúng tôi thấy rằng về cơ bản, cử nhân luật tốt nghiệp ra trường có thể đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng Chỉ có điều cần phải có các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo sinh viên tốt nghiệp luôn đạt chuẩn đầu ra

1.2 Các nội dung cấu thành của tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật

Nền đào tạo luật có tính thực tiễn là nền đào tạo luôn có ý thức coi trọng thực tiễn trong các nội dung cấu thành của hoạt động đào tạo như nội dung chương trình đào tạo; giáo trình và các học liệu khác; phương pháp đào tạo; phương pháp kiểm tra và đánh giá; đội ngũ giảng viên; các hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành Vì thế, tính thực tiễn thể hiện ừong từng nội dung này quyết định tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật của mỗi cơ sở đào tạo cụ thể Nói một cách khác, tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật phụ thuộc vào tính thực tiễn trong nội dung chương trình đào tạo; hệ thống giáo trình và các học liệu khác; phương pháp đào tạo; phương pháp kiểm tra và đánh giá; các hoạt động ngoại khóa, thực tập, thực hành; và trên hết phụ thuộc vào đội ngũ giảng

31 Xem: TS Trần Quang Huy Chương trình đào tạo cử nhân luật và sự cần thiết phải đào tạo kỹ năng cơ bản nghề luật Tài liệu Hội thảo khoa học cấp khoa “Xây dựng chương trình giảng dạy kỹ năng cơ bàn nghề luật” Trường Đại học Luật Hà Nội Hà Nội, 30/10/2012 "

Trang 28

v iê n - n h ữ n g n g ư ờ i c ó v a i trò q u an trọ n g tro n g v iệ c n â n g c a o ch ấ t lư ợ n g đ à o

tạo

Chính vì thế, Đề án đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật ở từng nội dung nêu trên Kết quả đánh giá ở mỗi nội dung cho phép đánh giá tổng thể hoạt động đào tạo cử nhân luật đã có tính thực tiễn hay chưa? Từ đó, những đề xuất tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật của Trường được đưa.ra nhằm hướng tới mục đích nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo để Trường luôn luôn giữ vững vị trí là ngọn cờ đầu trong đào tạo cử nhân luật tại Việt Nam

Tuy nhiên, để đánh giá tính thực tiễn, chúng tôi cho rằng cần đánh giá dựa trên yếu tố định tính chứ không phải định lượng Căn cứ để đánh giá tính thực tiễn chính là những biểu hiện của tính thực tiễn (hay còn gọi là các tiêu chí của tính thực tiễn) như phần trên đã trình bày

2 YÊU CẦU TĂNG CƯỜNG TÍNH TH ựC TIỄN TRONG ĐÀO TẠO c ử NHÂN LUẬT

2.1 Đổi mới giáo dục đại học và các yêu cầu đặt ra cho hoạt động đào tạo

cử nhân luât*

2.1.1 Đổi mới giáo dục đại học - yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay

Giáo dục là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, phương thức nhận thức đúng đắn từ người dạy sang người học Giáo dục đại học với ý nghĩa là giáo dục bậc ba (giáo dục sau phổ thông) là một bậc giáo dục không bắt buộc nhưng ngày càng trở nên phổ biến hơn và được coi là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng và coi giáo dục đại học là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực

Hai mục tiêu cấp thiết đang được đặt ra đối với hệ thống giáo dục đại học

trên thế giới nói chung và giáo dục đại học của Việt Nam nói riêng là: Thứ

nhất, giáo dục đại học phải góp phần đào tạo nhân lực cho đất nước, hoạt động

giáo dục đại học phải tạo ra các tri thức mới, công nghệ mới phục vụ yêu cầu

phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, quân sự của quốc gia; Thứ hai, giáo dục đại

học phải đào tạo người học có phẩm chất đạo đức tốt Đe đạt được hai mục tiêu nói trên, một trong các yêu cầu cơ bản đối với hệ thống giáo dục đại học hiện nay là phải đảm bảo cung ứng một nền giáo dục hữu ích về mặt kinh tế và xã hội, cũng như sáng tạo ra tri thức và thúc đẩy sự đổi mới Giáo dục đại học phải

là sự giáo dục tư duy độc lập cho mỗi cá nhân, là sự tiếp thu chủ động, sáng tạo tri thức của người học chứ không đơn thuần là sự truyền thụ kiến thức của người dạy

26

Trang 29

Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6, vấn đề đổi mới giáo dục đại học đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Dấu mốc đầu tiên trong công cuộc đổi mới về giáo dục, đào tạo tại Việt Nam là Hội nghị hiệu trưởng đại học tại Nha Trang năm 1987 vói bốn tiền đề đổi mới được thông qua Nhờ đó, giáo dục đại học của Việt Nam tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: Gia tăng số lượng trường đại học và sinh viên đại học; phát triển mạnh đội ngũ giảng viên trong các cơ sở đào tạo đại học; triển khai mạnh mẽ chủ trương đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội; hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng có nhiều bước tiến đáng kể; hoạt động họp tác quốc tế đạt nhiều kết quả cụ thể, đã mở ra nhiều cơ hội cho hợp tác và phát triển giáo dục đại học22.

Tuy vậy, giáo dục đại học của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế như chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chưa đảm bảo, số lượng cán bộ khoa học nhiều nhưng công tác nghiên cửu khoa học vẫn không phát triển; chưong trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm23; hoạt động giáo dục đại học nặng về lý thuyết, còn xa rời thực tiễn, một số nội dung chương trình đã dần trở nên lạc hậu với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội; tình trạng thiếu thông tin, thiếu tài liệu nghiên cứu đang ừở nên phổ biến; phương pháp dạy và học còn lạc hậu, chỉ tập trung vào truyền đạt kiến thức cho người học mà chưa phát huy được tư duy phê phán và khả năng giải quyết vấn đề cho người học; đội ngũ giảng viên đại học chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế

Như vậy, giáo dục đại học của Việt Nam thời kỳ đổi mới đã có nhiều thay đổi tích cực từ hình thức đến nội dung đào tạo Tuy nhiên, giáo dục đại học hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực của xã hội Do vậy, để có thể cải tiến và thúc đẩy tốc độ phát triển giáo dục đại học, Nhà nước cần tiếp tục tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để thực hiện hoạt động đổi mới giáo dục đại học

2.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới toàn diện giảo dục đại học

và các yêu cầu đặt ra cho hoạt động đào tạo trình độ đại học luật

Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) đã thông qua Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hỏa và nhiệm vụ đến năm 2000 (Nghị quyết số 02-NQ/HNTW)

về những hạn chế, yếu kém của nền giáo dục, đào tạo nước nhà, Nghị quyết số 02-NQ/HNTW đã chỉ rõ: “Giáo dục - đào tạo nước ta còn yếu kém bất

22 http://www.gdtd.vn/channeL/2741/200910/GD-dai-hoc-Viet-Nam-Thanh-tuu-thach-thuc-va-giai-phap-

1912949/

23 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đàng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI cùa Đàng Cộng sản Việt Nam.

Trang 30

cập cả về quy mô, cơ cấu, và nhất là về chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh

tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, trong đó một hạn chế “đáng quan tâm nhất” là “Chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngoại ngữ

và thể lực của đa số học sinh còn yếu ở nhiều học sinh ra trường, khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống còn hạn chế số đông sinh viên tốt nghiệp chưa có khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trong ngành nghề và công nghệ ( ) Đào tạo chưa gắn với sử dụng”

Nghị quyết cũng chỉ ra các nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, trong đó có nguyên nhân: “Nội dung giáo dục - đào tạo vừa thừa vừa thiếu, nhiều thành phần chưa gắn với cuộc sống”; “Giáo dục - đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và xã hội Hoạt động giáo dục - đào tạo chưa gắn mật thiết với các hoạt động sản xuất và nghiên cứu khoa học”

v ề định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghị quyết số 02-NQ/HNTW đã nhấn mạnh phải

“Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” Một tư tường chỉ đạo

quan trọng và rất mới ở thời điểm đó được đề ra: “Phát triển giáo dục - đào tạo

gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi trọng cả 3 mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”

Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về giáo dục đào tạo, ngày

02 tháng 12 năm 1998 Quốc hội thông qua Luật Giáo dục (Luật số 11/1998/QH10) Qua một số lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 2005, 2009), Luật Giáo dục vẫn giữ vững một trong những tính chất, nguyên lý giáo dục là

“Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”24

Để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học, ngày 18/6/2012, Quốc hội

đã thông qua Luật Giáo dục đại học Luật Giáo dục đại học có hiệu lực thi hành

từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, gồm 7 chương, 73 điều, quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giáo dục đại học, hoạt động đào tạo, hoạt động

24 Điều 3 Luật Giáo dục số 11/1998/QH10 ngày 02 tháng 12 năm 1998 ; Điều 3 Luật Giáo dục số 38/2005/Q H 11 ngày 14 thảng 06 năm 2005

28

Trang 31

khoa học và công nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, giảng viên, người học, tài chính, tài sản của cơ

sở giáo dục đại học và quản lý nhà nước về giáo dục đại học Luật giáo dục đại học đã quy định 4 vấn đề mới cơ bản về giáo dục đại học tại Việt N am gồm: Phân tầng đại học, xã hội hóa giáo dục đại học, quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học và kiểm soát chất lượng đào tạo Trong đó, quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học là vấn đề được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong các quy định của Luật Luật Giáo dục đại học với nhiều tư tưởng, nội dung mới đã góp phần khắc phục nhiều hạn chế, bất cập của giáo dục đại học, đồng thời tạo cơ sở pháp

lý quan trọng cho quá trình đổi mới hệ thống giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển nước ta

Tiếp tục phát triển tính chất, nguyên lý giáo dục đã được quy định nhất quán trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học đã quy định cụ thể hơn về mục tiêu chung của giáo dục đại học là: (i) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; (ii) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân v ề mục tiêu cụ thể của hoạt động đào tạo trình độ đại học, điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Giáo dục đại học quy định: “Đào

tạo trình độ đại học để sinh viên cỏ kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, cỏ khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo” Điều 12 Luật Giáo dục đại học về Chính sách của Nhà nước về phát triển

giáo dục đại học tiếp tục nhấn mạnh: “Gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai

ứng dụng khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở giảo dục đại học với tỏ chức nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp” (Khoản 4 Điều 12).

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Tuy nhiên, những đổi mới giáo dục đào tạo ừong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; một số chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp vẫn còn thấp so với yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

Trang 32

Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ XI đã xác định: "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục

theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoả, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân".

Với mục tiêu tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa

XI) đã thông qua Nghị quyết "Ve đổi mới căn bản, toàn diện giảo dục và đào

tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hỏa trong điều kiện kinh tế thị frường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" (Nghị quyết số 29-

NQ/TW)

Nghị quyết số 29-NQ/TW đã chỉ ra nhiều hạn chế, yếu kém trong giáo dục và đào tạo của đất nước ta, trong đó nhấn mạnh một điểm hạn chế “cốt tử”

của giáo dục nước nhà là: “Chất lượng, hiệu quả giảo dục và đào tạo còn thấp

so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giảo dục nghề nghiệp” và “Đào tạo thiếu gẳn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giảo dục đạo đức, lổỉ sống và

kỹ năng làm việc v ề quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết số 29-NQ/TW nhấn

mạnh: “Học đi đôi với hành; lý luận gan với thực tiễn; giảo dục nhà trường kết

hợp với giảo dục gia đình và giáo dục xã hội ” và “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ

Nghị quyết đặt ra mục tiêu tổng quát là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh

m ẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hom công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sảng tạo của mỗi cá n h â n “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; cỏ cơ cấu và phương thức giảo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đàm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn

7 ' _ J • ^ - 1 7 / 7 /I 7 7 7 r 7 I 7 / \ 1 /1 7 * " i / 7 í / • ?

hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quôc tẽ hệ thông giáo dục và đào tạo ”,

30

Trang 33

Để đạt được mục tiêu đổi mới giáo dục, Nghị quyết đã đưa ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn và hết sức chú trọng đến các giải pháp gắn hoạt động giáo dục đào tạo với thực tiễn để thực hiện mục tiêu như:

- Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù họp với lứa tuổi, trình độ

và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn;

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học ;

- Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới;

- Đánh giá két quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc;

- Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp ( ) Coi sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo

Những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết số 29-NQ/TW

là những tư tưởng chỉ đạo quan trọng để cả hệ thống chính trị, Chính phủ, ngành Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành hữu quan và từng cơ sở đào tạo đổi mới mạnh mẽ hoạt động của mình nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, trong đó có hoạt động đào tạo trình độ đại học, góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Trang 34

2.2 Chiến lược cải cách tư pháp và yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả

đào tạo cán bộ pháp luật

2.2.1 Chiến lược cải cách tư pháp và chủ trương của Đảng, Nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp luật

Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm trong các giai đoạn phát triển của Cách mạng Việt Nam, nhờ đó, đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta, trong đó

có đội ngũ cán bộ tư pháp không ngừng lớn mạnh, đáp ứng các nhiệm vụ được giao trong từng thời kỳ Chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ được hình thành

do nhiều yếu tố tác động, trong đó hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giữ vai trò quan trọng

Trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật, các Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 48-NQ/TW), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm

2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyêt sô 49-NQ/TW) đêu khăng định tâm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ pháp luật trong sạch, vững mạnh, trong đó chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo các chức danh

Nghị quyết số 08-NQ/TW chỉ rõ phải “xây dựng đội ngũ cản bộ tư pháp

trong sạch, vững mạnh Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của cán bộ tư p h á p ” Nghị quyết số 48-NQ/TW cũng đặt ra

nhiệm vụ “Bảo đảm sổ lượng và chất lượng nguồn nhân lực cản bộ công chức

ỉàm công tác pháp luật ", Nghị quyết số 49-NQ/TW còn nhấn mạnh: “Đạo tạo

đủ sô lượng cản bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về 'TĩrứTvực tư pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dãn Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực Để nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật, Nghị quyết số 49-NQ/TW chỉ

đạo: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán

bộ nguôn cua các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp,

bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chỉnh trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, cỏ phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” Để đạt được mục tiêu này, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đặt ra

nhiệm vụ: “Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật

32

Trang 35

thành phổ Hồ Chỉ Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.

Các viện dẫn trên thể hiện rất rõ chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về

hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp luật, cán bộ tư pháp Thứ nhất, Đảng

ta luôn đề cao tầm quan trọng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, coi hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp của cải cách tư

pháp, cải cách pháp luật Thứ hai, mục tiêu xuyên suốt đối với hoạt động đào

tạo, bồi dưỡng là nâng cao chất lượng, hiệu quả, mở rộng quy mô, chú trọng giáo dục đạo đức nghề nghiệp, trang bị kỹ năng hành nghề thành thục theo chức

danh Thứ ba, tập trung đầu mối đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp, tạo

tiền đề cho việc thực hiện các chủ trương về mở rộng tranh tụng, mở rộng nguồn

bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên từ luật sư, luật gia, luân chuyển giữa các chức danh tư pháp

2.2.2 Những yêu cầu tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo cản bộ pháp luật

Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật, cải cách tư pháp đang đặt ra cho hoạt động đào tạo cán bộ pháp luật những yêu cầu và nhiệm vụ hết sức nặng nề

2.2.2.1 Yêu cầu về sổ ỉượng

Theo thống kê của Bộ Nội vụ thì hiện nay nước ta có gần 400.000 cán bộ, công chức hành chính làm việc tại các cơ quan nhà nước, từ trung ương tới các địa phương Nếu tính riêng cán bộ trực tiếp làm công tác pháp luật ở các cơ quan nhà nước thì vẫn thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng, v ề đội ngũ cán bộ trong ngành Tư pháp: hiện cả nước có khoảng 9.000 người làm việc trong ngành Tư pháp (Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp cấp huyện) Theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP) thì trong từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc ủ y ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải có tổ chức pháp chế hoặc công chức pháp chế chuyên trách Theo Nghị định này, công chức pháp chế phải có trình độ cử nhân luật trở lên (Điều 12) Tuy vậy, trên thực tế, số lượng cán bộ được đào tạo về chuyên ngành luật trong các cơ quan hành chính Nhà nước hiện nay còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn Một số Bộ, ngành ở Trung ương và các cơ quan chuyên môn ở địa phương chưa thành lập tổ chức pháp chế, thậm chí chưa bố trí được cán bộ pháp chế chuyên trách

Trang 36

Đôi với ngành Toà án: Theo Báo cáo công tác đào tạo, bôi dưỡng cán bộ

có chức danh tư pháp ngành Toà án nhân dân phục vụ Phiên họp điều trần của

Ưỷ ban Tư pháp của Quốc hội Khoá XII vào ngày 10/3/2011 (Báo cáo số 17/TANDTC-TCCB ngày 17/01/2011) thì đến thời điểm 01/10/2010 ngành Toà

án mới có 4.763 Thẩm phán (Thẩm phán tối cao 111 người, Thẩm phán cấp tỉnh 1.073 người, Thẩm phán cấp huyện 3.579 người), trong khi đó ngành Toà án cần khoảng 7.500 Thẩm phán, 7.500 Thư ký và Thẩm ừa viên với tổng biên chế của toàn ngành ước tính khoảng 17.000 người Như vậy, so với biên chế hiện có thì cần tăng thêm khoảng 3.500 người, trong đó số Thẩm phán cần tăng thêm khoảng 2.000 người Với số lượng án phải giải quyết như hiện nay thì ngành Toà án phải “bổ sung thêm 1.000 người/năm, trong đó cần 450 Thẩm phán và

550 Thư ký, cán bộ khác”

Đối với ngành Kiểm sát: Theo Báo cáo số 649/VKSTS-V9 ngày 14/3/2011 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thì ngành Kiểm sát “mỗi năm cần tuyển dụng mới khoảng 1.500 công chức theo biên chế được giao và thay thế người nghỉ hưu”

Đối với ngành Thi hành án dân sự: với tổng biên chế các cơ quan thi hành

án dân sự trong cả nước là trên 8.000 người, trong đó có 3.135 Chấp hành viên, hiện nay ngành Thi hành án dân sự đang trong tình ừạng quá tải Theo kết quả

nghiên cứu và khảo sát, đến năm 2015, số lượng biên chế của Hệ thống tổ chức

thi hành án dân sự cần đạt khoảng 11.000 người, trong đó phải bổ nhiệm thêm 3.000 chấp hành viên thì mới có thể đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới Trong những năm tiếp theo cần bổ sung mỗi năm khoảng 5% tổng biên chế (500 người/năm)

Đối với đội ngũ luật sư: Kế hoạch số 900/ƯBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 21/3/2007 về thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW đã đặt chỉ tiêu phát triển đội ngũ luật sư đạt từ 18.000 đến 20.000 luật sư vào năm

2020 Ngày 05/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, trong đó xác định mục tiêu tổng quát là: Phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2020 có từ 18.000 đến 20.000 luật sư, hành nghề chuyên sâu theo lĩnh vực pháp luật Như vậy, tính đến năm 2020, chúng ta phải phát triển thêm khoảng từ 9.000 đến 11.000 Luật sư

Đối với đội ngũ Công chứng viên: hiện nay, cả nước có hơn 600 công chứng viên đang làm việc tại 244 phòng công chứng nhà nước và văn phòng công chứng25 Để phát triển mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng nhất là văn phòng công chứng trong phạm vi toàn quốc, bảo đảm các quận, huyện đều

25 Đề án Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tồ chức hành nghề cồng chứng ở Việt Nam đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ).

Trang 37

có từ 1 đến 4 văn phòng công chứng thì từ nay đến 2015 cần phải đào tạo bổ sung khoảng 800 công chứng viên và đến năm 2020 cần đào tạo bổ sung khoảng 1.800 công chứng viên.

Đội ngũ chấp hành viên cũng cần bổ sung thêm khoảng 3.000 người để đáp ứng yêu cầu công việc

Bên cạnh đó, công tác tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng đòi hỏi phải đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến từng người dân và tăng, cường dân chủ ở cơ sở, góp phần làm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Do vậy, một mặt, đội ngũ cán bộ trong các cơ quan dân cử, các tổ chức, đoàn thể thuộc Mặt trận Tổ quốc (như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ ) từ Trung ương đến cơ sở cũng cần nắm vững kiến thức pháp luật Mặt khác, để giữ vững ổn định chính trị - xã hội thì các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng dân cư phải được giải quyết kịp thời, tránh để bùng phát thành những xung đột lớn Muốn làm được điều này thì đội ngũ hoà giải viên cơ sở, cán bộ thôn, bản cũng cần được trang bị kiến thức pháp luật Nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân cũng đồng nghĩa với việc tăng cường công tác thanh tra, giám sát của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước Đội ngũ thanh tra nhân dân, hội thẩm nhân dân các cấp cũng cần được tăng cường kiến thức và nghiệp vụ pháp luật để hoàn thành tốt trọng trách giám sát mà nhân dân giao phó

Nhu cầu cán bộ pháp luật đối với các doanh nghiệp cũng rất lớn Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, hoạt động kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững và tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và luật lệ thương mại quốc tế Ngày 28/05/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nêu rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp phải chủ động bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế hoặc thuê luật sư tư vấn để giúp doanh nghiệp thực thi pháp luật Ước tính, nếu mỗi doanh nghiệp lớn có một bộ phận pháp chế và mỗi doanh nghiệp dân doanh có một cán

bộ pháp chế hoặc chuyên gia tư vấn pháp luật thì số lượng cán bộ pháp luật cần tăng thêm để đáp ứng nhu cầu nêu trên cũng rất đáng kể

Cùng với sự giao lun và hội nhập quốc tế, hàng nghìn tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới, hàng trăm tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài cũng

mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ở nước ta Những đơn vị, tổ chức này cũng có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực pháp luật trong quá trình triển khai hoạt động tại Việt Nam Ngoài ra, hàng nghìn tổ chức chính trị, tổ chức chính

Trang 38

trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đon vị sự nghiệp trong nước cũng có nhu cầu sử dụng cán bộ pháp luật thường xuyên hoặc bán thường xuyên.

Để đáp ứng những nhu cầu trên đây thì phải tăng nhanh quy mô đào tạo cán bộ pháp luật

2.2.2.2 Yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật

Cùng với nhu cầu tăng cường về số lượng, nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ về pháp luật cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết Thời gian qua, do phải đáp ứng yêu cầu trước mắt về nguồn nhân lực cho xã hội, cùng với những hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình và phương pháp đào tạo nên chất lượng đào tạo cán bộ về pháp luật ở nước ta còn hạn chế

Hầu hết các cơ sở đào tạo chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức pháp luật

cơ bản cho người học, chưa có điều kiện đào tạo chuyên sâu, đào tạo hướng nghiệp và rèn luyện kỹ năng thực hành Kết quả là phần lớn cán bộ pháp luật chỉ

đủ năng lực để thực thi những nhiệm yụ thông thường của công chức, viên chức

mà chưa có khả nẵng xử lý những vấn đề pháp lý phức tạp nảy sinh trong thực Ĩĩễri.' Việc rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên luật cũng chưa được chú trọng đúng mức Nhiều sinh viên khi ra công tác chưa phát huy được năng lực và kiến thức đã được trang bị, chậm thích ứng với thực tiễn

Để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế thì chất lượng nguồn cán bộ pháp luật cần phải được tăng cường một cách toàn diện Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ pháp luật hiện nay là phải có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ pháp luật; có kiến thức ngoại ngữ và tin học; có khả năng thực hành; có kỹ năng làm việc nhóm, có năng lực và bản lĩnh hội nhập

Bên cạnh đó, cần phải xây dựng đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp luật đạt \ trình độ khu vực và thế giới để tham mưĩTgĩũprCHĩnh phủ trong việc hoạch định ị chiến lược phát triển kinh tể - xã hội và hội nhập quốc tế, xây dựng và thực thi 1 chính sảch pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi họp pháp của Nhà nước, tổ j

chức, doanh nghiệp và công dân Việt Nam trong các tranh chấp có yếu tố nước I

ngoài Đây là trọng trách to lớn đang đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ về ị pháp luật, đòi hỏi công tác này phải được cải tô mạnh mẽ, toàn diện trong những năm tới nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước và đòi hỏi của xã hội

2.2.2.3 Yêu cầu trang bị các kỹ năng nghề nghiệp và đào tạo nghề

Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, các ngành trong khối các cơ quan tư pháp Trung ương đã có

36

Trang 39

nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Trường Cao đẳng kiểm sát thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Trường Cán bộ toà án thuộc Toà án nhân dân tối cao được thành lập có nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ của ngành Mới đây Trường Cao đẳng Kiểm sát được nâng cấp thành Trường Đại học Kiểm sát còn có chức năng đào tạo trình độ đại học.

Trường Đào tạo các chức danh tư pháp thuộc Bộ Tư pháp (nay là Học viện Tư pháp), có nhiệm vụ đào tạo Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác, cấp chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ - điều kiện bắt buộc để bổ nhiệm các chức danh

tư pháp Nhìn chung, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp thời gian qua cơ bản đạt yêu cầu, góp phần tích cực trong việc xây dựng đội ngũ cán

bộ tư pháp vững mạnh để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược cải cách tư pháp của nước ta Theo đánh giá của các cơ quan sử dụng cán bộ thì các học viên tốt nghiệp được bổ nhiệm chức danh tư pháp đã phát huy tốt kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy từ quá trình đào tạo, có phương pháp và kỹ năng làm việc khoa học, tác nghiệp khá chính quy, bài bản, rút ngắn thời gian làm quen với công việc, tự tin hơn trong thực hiện nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên, việc đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ pháp luật phải được thực hiện một cách bài bản, từ đào tạo các kỹ năng cơ bản trong trường đại học đến đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu tại cơ sở đào

tạo nghề Thực tế cho thấy chất lượng đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chưa đáp

ứng được yêu cầu các cơ quan sử dụng cán bộ đặt ra Trong số các nguyên nhân của tình trạng này, có thể kể đến một số nguyên nhân như: đội ngũ giảng viên dạy kỹ năng còn mỏng, phương pháp sư phạm, kỹ năng nghề của một số giảng viên chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu của đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; ở cơ sở đào tạo cử nhân luật chưa có giáo trình kỹ năng, cơ sở đào tạo nghề có giáo trình kỹ năng nhưng một số nội dung trong giáo trình, tài liệu còn

ít tính kỹ năng; việc rèn luyện kỹ năng theo hướng “cầm tay, chỉ việc” chưa nhiều; việc thực tập cũng chưa được quan tâm đúng mức; cơ sờ vật chất, trang thiết bị giảng dạy, học tập chưa tương xứng với nhu cầu mở rộng quy mô đào tạo, cũng như việc áp dụng các phương pháp đặc trưng của đào tạo kỹ năng

Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tiến hành các biện pháp đồng bộ để tăng

số lượng, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đang tiến hành sâu rộng trên phạm vi toàn quốc, trong đó cần chú trọng việc đào tạo các năng lực thực hành, kỹ năng nghê nghiệp cho người học Việc đào tạo các năng lực thực hành và kỹ năng nghề cần phải được tiến hành ngay trong giai đoạn đầu tiên của quá trình đào tạo cán bộ pháp luật, đó là giai đoạn đào tạo cơ bản tại trường đại học để các cử nhân luật tương lai được làm quen với thực tiễn và việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, được thực hành để rèn luyện các kỹ năng cơ bản của nghề luật Đen

Trang 40

khi chuyển sang giai đoạn học nghề tại các cơ sở đào tạo nghề, với các kỹ năng

cơ bản đã được trang bị làm nền tảng, các cử nhân luật có thể sẵn sàng tiếp thu

và tập trung vào những kỹ năng chuyên sâu về một chức danh tư pháp c ụ thể

Chính vì thế, trong giai đoạn đào tạo cử nhân luật rất cần thiết phải tăng cường khả năng tiếp cận thực tiễn cho sinh viên, tăng cường khả năng thực hành

áp dụng pháp luật và rèn luyện các kỹ năng cơ bản của người hành nghề luật Nói một cách khác, quá trình đào tạo cử nhân luật phải mang tính thực tiễn, gắn với nhu cầu thực tiễn để sản phẩm đào tạo quay trở về phục vụ thực tiễn

3 NHỮNG YẾU TÓ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC TRANG BỊ KIÉN THỨC

Để hoạt động đào tạo cử nhân luật có tính thực tiễn, có nhiều cách thức khác nhau phải được tiến hành đồng thời Ví dụ, để sinh viên có hiểu biết về thực tiễn các quy định pháp luật hiện hành và đang xây dựng, trong quá trình học tập tại Trường, ở mỗi lĩnh vực luật, sinh viên phải nắm được các quy định pháp luật hiện hành, nhưng đồng thời phải được cập nhật những văn bản pháp luật có liên quan đang trong quá trình xây dựng, sửa đổi và dự kiến được ban hành Muốn đạt được điều đó, trước hết bản thân sinh viên phải chủ động tìm hiêu, học hỏi Bên cạnh đó, giảng viên cũng có vai trò rất quan trọng trong việc giới thiệu, định hướng, hướng dẫn cho sinh viên học và tự học, tự trau dồi kiến thức Muốn có kiến thức thực tiễn thì cả người học vả người dạy phải chủ động chiếm lĩnh Con người chính là yếu tố chủ quan Nhưng chỉ có yếu tố chủ quan thì chưa đủ, các yếu tố khách quan cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc tăng cường tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật Các yếu tố đó là chính sách của Nhà nước, của Nhà trường, yêu cầu của xã hội, của người sử dụng lao động Xuất phát từ định hướng này, chúng tôi thấy rằng những yếu tố tác động tới tính thực tiễn trong đào tạo cử nhân luật bao gồm các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan

3.1 Các yếu tố chủ quan

Thực tế cho thấy yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định Trong quá trình dạy - học đại học, có sự tham gia của hai đối tượng chủ yếu là giảng viên và sinh viên

- Giảng viên:

Khi giáo dục đại học chuyển từ cách tiếp cận lấy giảng viên làm trung tâm sang lấy sinh viên làm trung tâm thì vai trò của người giảng viên cũng có nhiều thay đổi Vai trò của giảng viên không đơn giản chỉ là người thầy, người gịới thiệu, người truyền đạt kiến thức, áp đặt lên sinh viên nội dung và phương pháp học tập, mà giờ đây còn là người tạo điều kiện, cố vấn, điều phối, hướng

38

Ngày đăng: 11/03/2019, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w