1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG NHẬP MÔN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

42 220 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 271,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước Là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực Nhà nước, là tổng thể vềthể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việchằng ngà

Trang 1

BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I KHÁI NIỆM QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Muốn hiểu được khái niệm quản lý hành chính nhà nước chúng ta cần tìm hiểu cáckhái niệm sau:

1 Quản lý

Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm phát huy, điều hành , hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướngđến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan

2 Quản lý nhà nước

Là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực Nhà nước, là tổng thể vềthể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việchằng ngày c ủa nhà nước, do các cơ quan nhà nước ( lập pháp, hành pháp, tư pháp) có

tư cách pháp nhân công pháp ( công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạmpháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giaotrong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân

Nhà nước quản lý chính sách bằng pháp luật Còn hành chính nhà nước là “ hành pháptrong hành động” là thực thi pháp luật trong quản lý, điều hành mọi lĩnh vực đời sốngcuẩ đất nước

Từ nhưng phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lý nhànước, trong đó cơ quan quyền lực nhà nước tác động lên đối tượng quản lý ( cơ quan,

tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đốingoại, quản lý nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện

=> Quản lý hành chính nhà nước: là việc tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản

lý điều hành các lĩnh vưc đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật

II ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN HÀNH CHÍNH

a) Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Nguồn gốc và bản chất của một nhà nước bắt nguồn từ bản chất chính trị của chế độ xãhội dưới sự lãnh đạo của một chính đảng Dưới chế độ tư bản, nhà nước sẽ mang bảnchất tư sản, còn dưới chế xã hội do Đảng cộng sản lãnh đạo thì nhà nước mang bảnchất của giai cấp vô sản Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, Đảng nào cầm quyền sẽđứng ra lập Chính phủ và đưa người của đảng mình vào các vị trí trong Chính phủ.Các thành viên của Chính phủ là các nhà chính trị (chính khách) Nền hành chính lại

Trang 2

được tổ chức và vận hành dưới sự lãnh đạo, điều hành của Chính phủ, vì vậy dù muốnhay không, nền hành chính phải lệ thuộc vào hệ thống chính trị, phải phục tùng sự lãnhđạo của đảng cầm quyền.

Mặc dù lệ thuộc vào chính trị, song nền hành chính cũng có tính độc lập tương đối vềhoạt động chuyên môn nghiệp vụ và kỹ thuật hành chính

Ở nước ta, nền hành chính nhà nước mang đầy đủ bản chất của một Nhà nước dân chủ

xã hội chủ nghĩa “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" dựa trên nền tảng củaliên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng cộngsản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nằm trong hệ thốngchính trị, có hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị – xãhội giữ vai trò tham gia và giám sát hoạt động của Nhà nước, mà trọng tâm là nềnhành chính

b) Tính pháp quyền

Với tư cách là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, nền hành chính nhà nước được

tổ chức và hoạt động tuân theo những quy định pháp luật, đồng thời yêu cầu mọi côngdân và tổ chức trong xã hội phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Đảm bảo tínhpháp quyền của nền hành chính là một trong những điều kiện để xây dựng Nhà nướcchính quy, hiện đại, trong đó bộ máy hành pháp hoạt động có kỷ luật, kỷ cương

Tính pháp quyền đòi hỏi các cơ quan hành chính, công chức phải nắm vững qui địnhpháp luật, sử dụng đúng quyền lực, thực hiện đúng chức năng và thẩm quyền trongthực thi công vụ Mỗi cán bộ, công chức cần chú trọng vào việc nâng cao uy tín vềchính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực thực thi để phục vụ nhân dân Tính phápquyền của nền hành chính được thể hiện trên cả hai phương diện là quản lý nhà nướcbằng pháp luật và theo pháp luật Điều đó có nghĩa là, một mặt các cơ quan hành chínhnhà nước sử dụng luật pháp là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mang tínhbắt buộc đối với các đối tượng quản lý; mặt khác các cơ quan hành chính nhà nướccũng như công chức phải được tổ chức và hoạt động theo pháp luật chứ không được tự

do, tuỳ tiện vượt lên trên hay đứng ngoài pháp luật

c)Tính phục vụ nhân dân

Hành chính nhà nước có bổn phận phục vụ sự nghiệp phát triển cộng đồng và nhu cầuthiết yếu của công dân Muốn vậy, phải xây dựng một nền hành chính công tâm, trongsạch, không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, không đòi hỏi người được phục vụ phải trảthù lao Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạt động của hànhchính nhà nước với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Bản chất của nhà nước ta là nhà nước dân chủ XHCN Tôn trọng và bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của công dân là tư tưởng chủ đạo trong xây dựng, thực hiện hệ thống thểchế hành chính ở nước ta Cơ quan hành chính và đội ngũ công chức không được quanliêu, hách dịch, không được gây phiền hà cho người dân khi thi hành công vụ

d) Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ

Trang 3

Nền hành chính nhà nước được cấu tạo gồm một hệ thống định chế tổ chức theo thứbậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới các địa phương, trong đó cấp dưới phụctùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên Mỗicấp hành chính, mỗi cơ quan, công chức hoạt động trong phạm vi thẩm quyền đượctrao để cùng thực hiện tốt chức năng hành chính Tuy nhiên, để hạn chế việc biến nềnhành chính thành hệ thống quan liêu, thì xác lập thứ bậc hành chính cũng tạo ra sựchủ động sáng tạo, linh hoạt của mỗi cấp, mỗi cơ quan, công chức hành chính để đưapháp luật vào đời sống xã hội một cách hiệu quả.

e) Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao

Hoạt động hành chính của các cơ quan thực thi quyền hành pháp là một hoạt động đặcbiệt và cũng tạo ra những sản phẩm đặc biệt Điều đó được thể hiện trên cả phươngdiện nghệ thuật và khoa học trong quản lý nhà nước Muốn nâng cao hiệu lực, hiệuquả hành chính nhà nước, yêu cầu những người làm việc trong các cơ quan hành chínhcần phải có trình độ chuyên môn nghề nghiệp cao trên các lĩnh vực được phân côngquản lý Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao là đòi hỏi bắt buộc đối với hoạtđộng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước và là yêu cầu cơ bản đối với nềnhành chính phát triển theo hướng hiện đại

Đối tượng tác động của nền hành chính có nội dung hoạt động phức tạp và quan hệ đadạng, phong phú đòi hỏi các nhà hành chính phải có kiến thức xã hội và kiến thứcchuyên môn sâu rộng Công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước lànhững người trực tiếp thi hành công vụ, nên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của họ cóảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc thực hiện Vì lẽ đó trong hoạt động hànhchính Nhà nước, năng lực chuyên môn và trình độ quản lý của những người làm việctrong các cơ quan hành chính Nhà nước phải được coi là tiêu chuẩn hàng đầu

Xây dựng và tuyển chọn những người vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhànước đảm bảo yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên” là mục tiêu của công tác cán bộ trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

f) Tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng

Trên thực tế, các mối quan hệ xã hội và hành vi công dân cần được pháp luật điềuchỉnh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục theo các quá trình kinh tế – xã hội.Chính vì vậy nền hành chính Nhà nước phải hoạt động liên tục, ổn định để đảm bảohoạt động sản xuất, lưu thông không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào

Tính liên tục và ổn định của nền hành chính xuất phát từ hai lý do cơ bản:

Thứ nhất, do xuất phát từ quan điểm phát triển Muốn phát triển phải ổn định, ổn định

làm nền tảng cho phát triển, vì vậy chủ thể hành chính phải biết kế thừa giữ cho cácđối tượng vận động liên tục, không được ngăn cản hay tuỳ tiện thay đổi trạng thái tácđộng

Thứ hai, do xuất phát từ nhu cầu của đời sống nhân dân Người dân luôn luôn mong

muốn được sống trong một xã hội ổn định, được đảm bảo những giá trị văn hoá trongphát triển Điều đó tạo nên niềm tin của họ vào nhà nước

Trang 4

Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng, bởi vậy ổn định ở đây chỉ mangtính tương đối, không phải là cố định, bất biến Nhà nước là một sản phẩm của xã hội,trong khi đời sống kinh tế – xã hội luôn vận động biến đổi, nên hành chính nhà nướccũng phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế để đáp ứng yêu cầu phát triển.

III CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

1 Các nguyên tắc chính trị – xã hội:

a Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nước

- Cơ sở của guyên tắc:

+ Cơ sở thực tiễn: Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của ĐCS là hạt nhân của mọithắn lợi của cách mạng nước ta

.+ Cơ sở pháp lý của nguyên tắc: Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nướcđược quy định tại Điều 4 HP năm 1992:”Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong củagiai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”

- Nội dung của nguyên tắc:

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nước biểu hiện cụ thể ở cáchình thức hoạt động của các tổ chức Đảng, cụ thể như sau:

- Đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về lĩnh vực hoạt động khác của quản lý hành chính Nhà nước

+ Các nghị quyết của cấp uỷ Đảng đưa ra các phương hướng hoạt động cơ bản tạo cơ

sở quan trọng để các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền thể chế hoávăn bản pháp luật thực hiện trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước

+ Chủ thể quản lý hành chính Nhà nước luôn căn cứ vào chủ trương, đường lối củaĐảng để quyết định những vấn đề khác nhau trong quản lý

Ví dụ: Ban hành văn bản quản lý phải dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng

- Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nước thể hiện trong công tác tổ chứccán bộ

.+ Chúng ta biết rằng công tác tổ chức cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình quản lý hành chính Nhà nước Cho nên,công tác Đảng đã bồi dưỡng những Đảng viên ưu tú có đầy đủ năng lực, phẩm chấtđạo đức gánh vác những công việc quản lý hành chính Nhà nước

+ Tổ chức Đảng đưa ra ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách những vị trí lãnhđạo của các cơ quan hành chính Nhà nước Từ đó cơ quan Nhà nước xem xét và đưa raquyết định cuối cùng

- Ngoài ra, Đảng còn sử dụng hình thức kiểm tra để lãnh đạo trong quản lý hành chínhNhà nước, như:

+ Kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt độngquản lý hành chính Nhà nước nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của các chính

Trang 5

sách mà Đảng đề ra Để từ đó khắc phục những khuyết điểm, phát huy mặt tích cựctrong công tác quản lý.

+ Thông qua công tác này, giúp tổ chức Đảng biết được tình hình thực hiện các chủtrương, chính sách do mình đề ra Trên cơ sở đó có biện pháp uốn nắn kịp thời làm chohoạt động quản lý đi theo đúng định hướng, phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích củadân tộc

- Sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính Nhà nước còn được thực hiện thôngqua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Đảng và Đảng viên

+ Đảng quản lý Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước, các nghị quyết Đảngkhông mang tính quyền lực mà chỉ có tính bắt buộc trực tiếp thi hành đối với từngĐảng viên

+ Bằng uy tín của Đảng, vai trò gương mẫu của từng Đảng viên, và bằng sự thuyếtphục của vai trò gương mẫu của Đảng viên, sự lãnh đạo của Đảng có sức mạnh to lớntrong công tác quản lý hành chính Nhà nước

b Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính Nhà nước:

- Cơ sở của nguyên tắc:

+ Bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất

cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân

+ Cơ sở pháp lý: Điều 3 – HP 92 (sửa đổi năm 2001) khẳng định: “Nhà nước bảo đảm

và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân” -> quyền đượctham gia vào quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội là qyền cơ bản của côngdân được HP ghi nhận

- Các hình thức tham gia vào QLHCNN của nhân dân lao động bao gồm:

+ Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước:

Tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước thông qua con đường bầu cử

Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác (cơ quan HCNN, cơ quankiểm sát, cơ quan xét xử) với tư cách là cán bộ công chức

Thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay măt mình vào cơ quanquyền lự nhà nước ở TW hay địa phương

+ Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội:

Điều 9 – HP: “MTTQVN và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân”

Thông qua các hình thức hoạt độn của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động, sáng tạocủa NDLĐ luôn được phát huy trong QLHCNN

+ Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở

Ví dụ: tham gia hoạt động bảo vệ ANTT, vệ sinh môi trường, tổ chức đời sống côncộng…

+ Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân trong QLHCNN

Trang 6

Điều 53 của Hiến pháp năm 1992:” Công dân có quyền tham gia thảo luận các vấn đềchung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khiNhà nước trưng cầu dân ý”.

Nhân dân có quyền tham gia vào quản lý Nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp,tham gia giải quyết những vấn đề lớn, hệ trọng có ý nghĩa trong toàn quốc cũng nhưnhững vấn đề quan trọng ở địa phương hoặc đơn vị cơ sở

c Nguyên tắc tập trung dân chủ:

- Cơ sở pháp lý của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính Nhà nướcđược quy định tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các

cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dânchủ”

+Tập trung: thâu tóm quyền lực Nhà nước vào chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạothực hiện pháp luật

+Dân chủ : là mở rộng quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể vàohoạt động quản lý Phát huy khả năng tiềm tàng của đối tượng quản lý trong quá trìnhthực hiện pháp luật

Cả hai yếu tố này phải có sự phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ với nhau, chúng có

sự qua lại phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính Nhànước Nếu tập trung mà không dân chủ sẽ tạo điều kiện cho hành vi vi phạm quyềncông dân, tệ quan liêu, hách dịch, tham nhũng phát triển Nếu không có sự lãnh đạotập trung thống nhất thì sự phát triển của xã hội sẽ trở nên tự phát Lực lượng dân chủ

sẽ bị phât tán, không đủ sức chống lại các thế lực phản động, phản dân chủ

- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính Nhà nước thể hiện ở nhữngđiểm sau:

+ Sự phụ thuộc của cơ hành chính Nhà nước vào cơ quan quyền lực Nhà nước cùngcấp:

Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thôngqua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyệnvọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Quốc hội,Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theonguyên tắc tập trung dân chủ”

Cơ quan quyền lực Nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, bãi

bỏ các cơ quan hành chính Nhà nước:

Ở trung ương: Quốc hội thành lập Chính phủ và trao quyền hành pháp cho Chính phủ

Ở địa phương: Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra (điều 123 Hiếnpháp năm 1992) và thực hiện hoạt động quản lý hành chính Nhà nước ở địa phương.Dân chủ được thể hiện rõ nét trong việc cơ quan quyền lực Nhà nước trao quyền chủđộng, sáng tạo cho cơ quan hành chính Nhà nước trong qua trình cơ quan này chỉ đạothực hiện pháp luật và các văn bản khác của cơ quan quyền lực

+ Sự phục tùng cấp dưới đối với cấp trên, địa phương đối với trung ương:

Trang 7

Có sự phục tùng đó thì cấp trên mới tập trung quyền lực Nhà nước để lãnh đạo, giámsát hoạt động của cấp dưới và của địa phương Nếu thiếu nó sẽ dẫn đến buông lỏng sựlãnh đạo, làm nảy sinh tình trạng vô Chính phủ, tuỳ tiện, cục bộ địa phương.

Cấp trung ương phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, của địa phương…góp phần pháthuy sự chủ động sáng tạo trong việc hoàn thiện nhiệm vụ được giao

+ Sự phân cấp quản lý:

Phân cấp quản lý là sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp trong

bộ máy quản lý hành chính Nhà nước

Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương tiện cầnthiết để thực hiện một cách tốt nhất mục tiêu, nhiệm vu của cấp mình

Yêu cầu của sự phân cấp quản lý:

Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt,những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển của xã hội, đảm bảo sựtập trung thống nhất của Nhà nước

Đây là biện pháp đảm bảo tập trung, tránh cho cơ quan nhà nước ở trung ương phải

ôm đồm các công việc mang tính sự vụ, thuộc về chức trách của các đơn vị ở địaphương cơ sở

Việc phân cấp quản lý hết sức phức tạp, đòi hỏi phải xem xét từ nhiều góc độ khácnhau: kinh tế, chính trị, xã hội, trình độ dân trí, trình độ quản lý của cán bộ…Có nhưvậy, mới đảm bảo cụ thể, hợp lý theo đúng quy định của pháp luật

+ Sự hướng về cơ sở:

Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính Nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vậtchất phục vụ nhân dân lao động Do vậy, phải tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế, vănhoá, xã hội hoàn thành công việc của mình

Đây là việc cơ quan hành chính Nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở quản lý tậptrung đối với các hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị KT, VH, xã hội trựcthuộc

Nhà nước có các chính sách và biện pháp quản lý một cách thống nhất và chặt chẽ về

tổ chức và hoạt động của các đơn vị cơ sở

- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương

Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương (Uỷ bannhân dân) phụ thuộc vào cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp (Hội đồng nhân dân) –quan hệ ngang, và phụ thuộc vào cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cấp trên ở cấptrực tiếp – quan hệ dọc

Cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền chuyên môn ở địa phương (sở, phòng,ban) phụ thuộc cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp(Uỷ ban nhân dân) – quan hệ ngang, và phụ thuộc vào cơ quan quản lý hành chính Nhànước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên ở cấp trực tiếp – quan hệ dọc

Mối quan hệ dọc: giúp cho cấp trên tập trung quyền lực để chỉ đạo, kiểm tra hoạt độngcủa cấp dưới

Trang 8

Mối quan hệ ngang: tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy dân chủ, phát huy thế mạnh ởđịa phương để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó.

d Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc:

- Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc trong quản lý hành chínhNhà nước được quy định tại Điều 5 của Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước thực hiệnchính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi

kỳ thị, chia rẽ dân tộc ”

- Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện:

+ Công tác đào tạo và sử dụng cán bộ:

Nhà nước có chính sách ưu tiên đối với con em vùng dân tộc ít người, giúp đỡ về vậtchất, khuyến khích về tinh thần để họ tích cực nâng cao trình độ về mọi mặt

Các cán bộ là người dân tộc thiểu số bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ nhất định trong biênchế cơ quan Nhà nước, đặc biệt là ở khu vực biên giới, rừng núi, hải đảo…

+ Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội:Đầu tư xây dựng các công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng ở các vùng dân tộcthiểu số, như: Khai thác tiềm năng kinh tế, xoá bỏ sự chênh lệch giữa các vùng, đảmbảo đời sống vật chất, tinh thần cho dân tộc ít người

Thường xuyên tổ chức, điều động phân bố lao động tới các vùng dân tộc thiểu số, như:Xây dựng vùng kinh tế mới, tạo điều kiện cho vùng dân tộc ít người phát triển, nângcao trình độ

e Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa:

- Cơ sở pháp lý của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chínhNhà nước được quy định tại Điều 12 của Hiến pháp năm 1992: “Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa…”

- Nội dung của nguyên tắc được thể hiện:

+ Hoạt động ban hành văn bản pháp luật: Đây là một hình thức hoạt động cơ bản vàchủ yếu của quản lý hành chính Nhà nước Thông qua hoạt động này, chủ thể quản lýhành chính Nhà nước có cơ sở pháp lý để thực hiện công việc của mình trong hoạtđộng QLHCNN Nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt động ban hành văn bản phápluật thể hiện:

Các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước phải được ban hành đúngthẩm quyền Nội dung của văn bản chỉ quy định hoặc giải quyết các vấn đề thuộc thẩmquyền của chủ thể được pháp luật quy định

Các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước phải có nội dung phù hợp

và thống nhất

Phải đảm bảo phù hợp với các văn bản pháp luật của cơ quan quản lý hành chính Nhànước cấp trên và của cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp Phải có nội dung phù hợpvới luật, được xây dựng trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật hay chỉ đạo thực hiệnpháp luật

Trang 9

Các văn bản pháp luật trong quản lý hành chính Nhà nước được ban hành phải đúngtên gọi và hình thức được pháp luật quy định.

+ Trong hoạt tổ chức thực hiện pháp luật: Là hoạt động tổ chức thực hiện nội dung cácvăn bản pháp luật do chủ thể quản lý hành chính Nhà nước ban hành:

Triệt để tôn trọng các văn bản pháp luật về thẩm quyền và nội dung ban hành Hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong quản lý hànhchính Nhà nước phải được tiến hành nghiêm ngặt

Phải xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật các hành vi vi phạm pháp luật trongquản lý hành chính Nhà nước

2 Nguyên tắc tổ chức- kỹ thuật:

a Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa phương:

- Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh có cùng một

cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đíchgiống nhau

Ví dụ: Cùng sản xuất một loại sản phẩm (thủy sản, nông lâm sản…) Cùng thực hiệnmột dịch vụ (Bưu chính viễn thơng, GTVT…) hoạt động sự nghiệp (y tế, gio dục )

- Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý của các đơn vị, tổ chức KT, VH, XH cócùng cơ cấu kinh tế, kỹ thuật hoặc cùng một mục đích giống nhau nhằm làm cho cácđơn vị, tổ chức phát triển một cách đồng bộ, nhịp nhàng đáp ứng được yêu cầu củaNhà nước và xã hội

- Quản lý theo chức năng là quản lý theo từng lĩnh vực nhất định của QLHCNN như

kế hoạch, tài chíh, giá cả, KHCN, lao động

Quản lý theo ngành được thực hiện dưới các hình thức, qui mô khác nhau: trên phạm

vi toàn quốc, địa phương hay cùng một lãnh thổ

- Để quản lý theo ngành đòi hỏi phải có một tổ chức đứng ra thực hiện Các Bộ đượcthành lập để quản lý một ngành hoặc nhiều ngành có liên quan trên phạm vi toàn quốc.Theo chức năng, quyền hạn của mình các Bộ, cơ quan ngang Bộ có quyền ban hànhvăn bản pháp luật để thực hiện pháp luật thống nhất trong từng ngành

- Quản lý theo địa phương là quản lý trên một phạm vi lãnh thổ nhất định theo sự phânvạch địa giới hành chính của Nhà nước Việc thực hiện quản lý ở địa phương đượcthực hiện ở 3 cấp:

+ Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

+ Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

+ Xã , phường, thị trấn

Ở địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp là cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cóthẩm quyền chung giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của cácngành phát sinh trên địa bàn của địa phương đó

- Trong quản lý hành chính Nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽvới quản lý theo địa phương Sự kết hợp này mang tính cần thiết, khách quan, bởi vì:

Trang 10

+ Mỗi đơn vị, tổ chức của một ngành kinh tế – văn hoá – xã hội… đều nằm trên lãnhthổ một địa phương nhất định.

+ Ở một địa bàn lãnh thổ nhất định, do có sự khác nhau về tự nhiên, văn hoá, xã hội…Cho nên, yêu cầu đặt ra cho hoạt động của ngành trên địa bàn lãnh thổ cũng mang nétđặc thù riêng Chính vì vậy, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phươngmới nắm bắt được tính đặc thù đó, từ đó có chính sách quản lý đúng

Ví dụ: Chính sách quản lý ở vùng trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp sẽ khác vớichính sách quản lý ở vùng phát triển về nghề biển (nuôi trồng thủy sản, đánh bắt cá).+ Nếu trách rời quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương để dẫn đến tình trạngcục bộ, khép kín, bản vị

- Sự phối hợp giữa quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương được thể hiện nhưsau:

+ Trong hoạt động quy hoạch và kế hoạch: Các Bộ và chính quyền địa phương cónhiệm trao đổi, phối hợp chặt chẽ để xây dựng, thực hiện kế hoạch, quy hoạch ngành.+ Trong chỉ đạo bộ máy chuyên môn: Các Bộ và Chính quyền địa phương phối hợphoạt động của các cơ quan quản lý chuyên môn ở địa phương nhằm phát huy khả năngcủa cơ sở vật chất-kỹ thuật ở địa phương

+ Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật đảm bảo kết cấu hạ tầng cho mọi hoạt động sảnxuất kinh doanh trong phạm vi ở địa phương, như: điện, nước, đường giao thông vậntải…

+ Ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

b Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng:

- Quản lý theo chức năng là quản lý theo lĩnh vực chuyên môn nhất định của hoạt độngquản lý hành chính Nhà nước

- Theo quy định của pháp luật, hệ thống ngành dọc có các Bộ, Sở, Phòng, Ban chuyênmôn quản lý theo chức năng Cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành cácquy định, các mệnh lên cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quyđịnh của pháp luật

- Cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ do mìnhban hành, xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành xử lý các hành vi vi phạmcác chính sách, chế độ do mình ban

Trang 11

BÀI 2: THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH

1 Khái niệm thể chế và thể chế hành chính

Thể chế bao hàm tổ chức với hệ thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điềuchỉnh sự vận hành của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Theo cách địnhnghĩa này, thể chế được hiểu theo nghĩa rộng cho mọi tổ chức, đó là cách định nghĩarộng nhất của từ “thể chế”

Cũng có thể hiểu thể chế thiên về Nhà nước hơn là các tổ chức khác Thể chế đượchiểu như là hệ thống các quy định do Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản phápluật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi vàmối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổ chức nhằm thiết lập trật tự kỷcương xã hội

Để hạn chế sự nhầm lẫn của thể chế và hệ thống pháp luật, thể chế được hiểu nhưsau: “Thể chế bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước với hệ thống quy định do Nhànước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sửdụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân,các tổ chức nhằm thiết lập kỷ cương xã hội”

Thể chế Nhà nước là toàn bộ các văn kiện pháp luật: Hiến pháp, luật, Bộ luật, vănbản dưới luật để tạo thành khuôn khổ pháp luật để Bộ máy nhà nước thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước đối với toàn xã hội, để cá nhân, tổ chức sống và làm việc theopháp luật

Thể chế hành chính Nhà nước là một hệ thống gồm Luật, các văn bản pháp quydưới luật tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan Hành chính nhà nước, một mặt làthực hiện chức năng quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như chomọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật; mặt khác là các quy định cácmối quan hệ trong hoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan vànội bộ bên trong các cơ quan Hành chính nhà nước Thể chế Hành chính nhà nước làtoàn bộ các yếu tố cấu thành Hành chính nhà nước để Hành chính nhà nước hoạt độngquản lý Nhà nước một cách hiệu quả, đạt được mục tiêu của quốc gia

2 Vai trò của thể chế trong hoạt động quản lí hành chính nhà nước

1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của nền Hành chính nhà nước

Hoạt động quản lý của các cơ quan Hành chính nhà nước là sự tác động của quyền

lực nhà nước đến các chủ thể trong xã hội: công dân và tổ chức, thể nhân hay phápnhân, công pháp hay tư pháp (công quyền) mang đặc trưng cưỡng bức kết hợp với

thuyết phục, giáo dục Hành chính nhà nước phải hợp pháp và đòi hỏi công dân, tổ

chức xã hội phải thực hiện pháp luật

– Thể chế Hành chính nhà nước với một hệ thống pháp luật (bao gồm Luật, các văn

bản pháp quy dưới Luật) do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành chính là

cơ sở pháp lý cho các cơ quan Hành chính nhà nước, các cấp thực hiện quản lý, bảođảm thống nhất quản lý Nhà nước trên phạm vi quốc gia

Trang 12

– Hệ thống văn bản luật ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, hoàn thiện Nhà nướcngày càng hướng đến một Nhà nước dân chủ hiện đại, pháp quyền với ý nghĩa đầy đủcủa nó thì tính hiệu lực của các thể chế Nhà nước và các thể chế Hành chính nhà nướcngày càng được nâng cao.

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực của pháp luật là một yếu tố đảmbảo cho hệ thống HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC quản lý tốt đất nước theo hướng Nhànước quản lý Nhà nước bằng pháp luật và mọi công dân, mọi thành phần kinh tế, mọi

tổ chức xã hội bình đẳng trước pháp luật

2 Thể chế Hành chính nhà nước là cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước.

Một trong những vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý Hành chính nhà

nước ở mọi quốc gia là vấn đề quyền lực và sự phân chia, phân công thực thi quyền

lực đó giữa các cơ quan nhà nước cũng như giữa các cấp chính quyền nhà nước Trong nhà nước C hiện đại, Hiến pháp là đạo luật cơ bản xác định những thể thứcgiành và thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước Nó quy định về thể chếchính trị, tức là tổng thể các vấn đề nguồn gốc, chủ thể và cơ chế phân bố quyền lựcgiữa các cơ quan và quyết định những thể thức liên hệ với nhau trong các mối quan hệngang dọc, trên dưới

Thể chế tổ chức bộ máy Hành chính nhà nước là một vấn đề được mọi quốc gia

trên thế giới quan tâm dựa trên những quan điểm, nguyên tắc nhất định Cách thức tổchức đó phải được thể chế hoá trong văn bản pháp luật của Nhà nước Thể chế Hành

chính nhà nước về tổ chức xác định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm

quyền, trách nhiệm cũng như các phương tiện kỹ thuật vật chất, nhân sự cho các cấp

đó hoạt động

Thể chế Hành chính nhà nước quy định sự phân chia chức năng, quyền hạn

giữa các cơ quan hành chính của Chính phủ trung ương và giữa các cấp một cách cụthể: Chính phủ trung ương, các Bộ có quyền trên những vấn đề gì; HĐND và UBND ởđịa phương có những quyền gì; mối quan hệ giữa các cơ quan của bộ máy hành chínhtrung ương và giữa trung ương với các cấp chính quyền địa phương như thế nào; thẩmquyền về việc ban hành các văn bản pháp luật như thế nào; nhiều vấn đề chi tiết khác

về tổ chức các cơ quan Hành chính nhà nước phải được quy định.

Thể chế Hành chính nhà nước càng rành mạch thì cơ cấu tổ chức của bộ máy các cơ quan Hành chính nhà nước các cấp càng rõ ràng và gọn nhẹ Thiếu các quy định

cụ thể, khoa học trong việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ trong hoạt

động quản lý Nhà nước của các cơ quan Hành chính nhà nước sẽ làm cho bộ máy Hành chính nhà nước cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéo và sẽ dẫn đến một

bộ máy hoạt động kém năng lực, kém hiệu lực và hiệu quả Vấn đề phân công, phânchia quyền hạn trong tổ chức bộ máy hành chính sẽ là cơ sở cho việc xác định:

Cơ quan Hành chính nhà nước Trung ương cần bao nhiêu Bộ, bao nhiêu đầu

mối thực hiện chức năng quản lý Hành chính nhà nước thống nhất trên tất cả lĩnh vực

Trang 13

Có bao nhiêu đơn vị chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ,huyện, quận, thị xã, xã phường và thị trấn; những căn cứ chính trị, kinh tế, xã hội vànhững tiêu chí gì để xác định số lượng và quy mô của các đơn vị hành chính lãnh thổ.Nghiên cứu phân chia một cách khoa học chức năng, quyền hạn của bộ máy hànhchính nhà nước để huy động cao nhất mọi khả năng của các chủ thể trong hoạt độngquản lý là một trong những vấn đề và là nội dung quan trọng của thể chế Hành chínhnhà nước.

3 Thể chế Hành chính nhà nước là cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan Hành chính nhà nước

Yếu tố con người trong các tổ chức nói chung và trong các cơ quan hành chínhnhà nước nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng Con người trong bộ máy đó có thểđược đặt vào các vị trí khác nhau.Về cơ bản có 3 loại:

- Những người có quyền ban hành các quyết định quản lý (các văn bản phápluật) bắt buộc xã hội , cộng đồng phải chấp nhận và thực hiện (công quyền)

- Những người trong bộ máy thực hiện chức năng tư vấn giúp cho những nhàlãnh đạo ban hành quyết định (tham mưu, giúp việc)

- Những người thực thi các văn bản pháp luật, các thể chế, các thủ tục của nềnhành chính (công lực)

Nếu như chức năng, nhiệm vụ không được xác định một cách rõ ràng, khoa họcthì khó có thể bố trí hợp lý được từng người vào các chức vụ cụ thể Thể chế hànhchính không cụ thể, khoa học sẽ không thể bố trí được cán bộ, công chức hành chínhvào đúng vị trí, những người có năng lực, có trình độ không được bố trí đúng vị trítrong khi đó có thể bày ra quá nhiều đơn vị với chức năng, nhiệm vụ chồng chéo hoặcquá vụn vặt để có đủ chỗ bố trí cán bộ một cách lãng phí

Thể chế Hành chính nhà nước được hiểu rõ, quy định cụ thể chức năng quản lý

hành chính và quyền ban hành và giải quyết các đề nghị yêu cầu, khiếu nại tố cáo củacông dân từ đó có thể xác định rõ hệ thống các hoạt động cụ thể: Ai phải làm cái gì,được trao quyền gì và phải làm như thế nào, do đó có thể bố trí được đội ngũ nhân sựhợp lý

+ Thể chế hành chính nhà nước là cơ sở để xác định mối quan hệ giữa nhà nướcvới công dân và tổ chức trong xã hội;

+ Nhà nước hiểu theo nghĩa hiện đại không có nghĩa chỉ thực hiện chức năngcai trị mà ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò dịch vụ Công chức trong bộ máy Hành

chính nhà nước không chỉ là người có quyền mệnh lệnh mà còn là “công bộc” của dân,

người đầy tớ của dân Các tổ chức và công dân đòi hỏi nhà nước ban hành các quyếtđịnh, tổ chức thực hiện các quyết định để đáp ứng các loại yêu cầu của dân

Sự quyết định mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân các tổ chức xã hội thể hiện ở

2 mặt:

- Nhà nước với tư cách quyền lực công, có chức năng tạo ra một khung pháp lýcần thiết (luật và các văn bản hệ thống lập quy) để quản lý Nhà nước, quản lý xã hội

Trang 14

Như vậy xét trên phương diện này, mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổchức xã hội mang ý nghĩa không bình đẳng, có tính bắt buộc, cưỡng bức.

- Nhà nước thể hiện quyền lực nhân dân và thực hiện dịch vụ công, có tráchnhiệm đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu chính đáng của công dân và tổ chức xã hội đã đượcpháp luật ghi nhận Mối quan hệ này, theo quan niệm nhà nước hiện đại để hiện côngdân, tổ chức xã hội là “khách hàng” của Nhà nước Yêu cầu đòi hỏi của công dân trongkhuôn khổ pháp luật nhà nước quy định bắt buộc Nhà nước phải đáp ứng Điều nàyphản ánh thực sự bản chất của Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Thể chế hành chính xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cũng phản ánhtính chất tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Nhà nước Xét về bản chất, Nhànước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Người dân có quyền

và nghĩa vụ tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước trong khuôn khổ pháp luật Mốiquan hệ giữa Nhà nước và công dân được thấm nhuần trong phương châm: “dân biết,dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” Sức mạnh và hiệu lực của thể chế hành chính phụthuộc vào việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân và các tổ chức xãhội

Ngoài ra, Thể chế hành chính nhà nước là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vican thiệp của nhà nước đối với hoạt động của các đối tượng trong xã hội;

Thể chế hành chính nhà nước là căn cứ để quản lý, điều chỉnh việc sử dụng các nguồnlực của xã hội một cách có hiệu lực và hiệu quả

3 Các yếu tố quyết định thể chế hành chính nhà nước

Thể chế hành chính nhà nước là một bộ phận của thể chế xã hội, do nhà nướcxây dựng để điều tiết các hoạt động tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước và quản lýcủa bộ máy nhà nước đối với xã hội Do đó, hệ thống thể chế hành chính nhà nướcchịu ảnh hưởng chủ yếu của các yếu tố sau:

Thứ nhất: Môi trường chính trị: Nhà nước trước hết là công cụ trong tay giai

cấp thống trị để giúp giai cấp đó thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Do đó,mọi hoạt động của nhà nước đều không thể đi ngược lại các mục tiêu chính trị Cácquy định về sự điều tiết của nhà nước đối với xã hội cũng phải phù hợp với những địnhhướng chính trị trong xã hội Chính vì vậy, những định hướng chính trị có ảnh hưởng

to lớn tới toàn bộ hệ thống thể chế nhà nước nói chung và thể chế nhà nước hành chínhnói riêng

Thứ 2: Môi trường kinh tế – xã hội: các quy định điều tiết hoạt động của các

đối tượng trong xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội Vai trò vàmức độ điều tiết của Nhà nước đối với các quá trình kinh tế – xã hội diễn ra ở cácnước khác nhau không giống nhau Sự thay đổi trong môi trường kinh tế – xã hội buộc

hệ thống thể chế hành chính nhà nước phải thay đổi theo, thích ứng với những thay đổitrong xã hội để có thể quản lý xã hội một cách hiệu quả nhất

Thứ 3: Lịch sự phát triển của quốc gia và truyền thống, văn hóa dân tộc:

Mỗi dân tộc trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đều có những đặc điểm

Trang 15

truyền thống, văn hóa riêng, không giống với các dân tộc khác Do đặc tính này màmọi quy định để điều tiết hành vi của các đối tượng trong xã hội phải được xây dựngphù hợp với các chuẩn mực chung được thừa nhận trong truyền thống , văn hóa Một

hệ thống thể chế chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát huy được những ưuđiểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải loại bỏ đi những nhượcđiểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư duy bảo thủ…

Thứ tư : Các yếu tố quốc tế: Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn phát triển không thể nằm ngoài mối liên hệ với các quốc gia khác Sự giao thoa văn hóa, tri thức và các giá trị chung của văn minh nhân loại cũng

tác động không nhỏ tới sự hình thành và phát triển của hệ thống thể chế hành chínhnhà nước Sự ràng buộc pháp lý đối với một quốc gia chấp nhận khi tham gia các cấutrúc quốc tế có ảnh hưởng to lớn tới hệ thống thể chế của quốc gia đó Ví dụ, việc ViệtNam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có ảnh hưởng lớn tới hệ thống cácquy định về thuế nhập khẩu: chúng ta không thể tự mình quyết định tỷ lệ đánh thuếnhư trước đây mà phải căn cứ vào các hiệp định đa phương được thừa nhận chungtrongWTO và những thỏa thuận chúng ta ký kết khi tham gia tổ chức này

Ngoài ra, những nhân tố khác như hoàn cảnh địa lý của một quốc gia, những thay đổikinh tế, chính trị diễn ra trên thế giới ở những mức độ khác nhau cũng gây ảnh hưởngtới các đặc điểm của thể chế Hành chính nhà nước

4 Nội dung thể chế hành chính nhà nước

- Thể chế hành chính bao gôm quyền lập quy và quyền hành chính

- Thể chế hành chính nhà nước xác định quản lý của các cơ quan hành chính nhànước trên tất cả các lĩnh vực

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý hành chính kinh tế

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý hành chính nhà nức về tài chính, tiền tệ

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý và sử dụng lực lượng lao động xã hội

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, y tế

- Thể chế hành chính nhà nước để giải quyết các vấn đề khiếu nại tố cáo

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý về an ninh, an toàn, trật tự trị an và quốcphòng

- Thể chế hành chính nhà nước để quản lý các vấn đề dân tộc và hoạt động tôn giáo

Trang 16

BÀI 3 CHỨC NĂNG, HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP

cơ quan, tổ chức phải thực hiện để khẳng định sự tồn tại của mình

Do đối tượng quản lý phong phú và không gian quản lý rộng lớn, nên hoạt độnghành chính nhà nước rất đa dạng và phức tạp Để thuận lợi cho việc thực hiện chứcnăng, các chủ thể hành chính cần phải phân định thành các nhóm hoạt động chuyênbiệt và giao cho cá nhân, bộ phận, tổ chức có chuyên môn phù hợp đảm nhận Đâychính là quá trình phân công, chuyên môn hóa lao động trong hoạt động hành chính vàkết quả là hình thành nên các chức năng hành chính Như vậy, có thể nói chức nănghành chính là sản phẩm của chuyên môn hóa và phân công lao động

Khái quát lại, chức năng hành chính nhà nước là những phương diện hoạt độngchuyên biệt của hành chính nhà nước, là sản phẩm của quá trình phân công, chuyênmôn hóa hoạt động trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp

Chức năng hành chính của mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng tùy thuộc vào địa

vị pháp lý của hệ thống hành pháp trong mối tương quan với cơ quan lập pháp và tưpháp Các chức năng hành chính đều được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật và được phân cấp cho các cơ quan hành chính nhà nước tử Trungương đến cơ sở

2 Phân loại chức năng hành chính nhà nước

a) Mục đích của phân loại chức năng:

- Phân loại chức năng hành chính là một trong những nội dung nghiên cứu chức nănghành chính Việc phân loại các chức năng hành chính là 1 hoạt động cần thiết để hiểu

rõ các nhóm, loại chức năng hành chính của cả hành chính nói chung và của từng cơquan hành chính

- Phân loại chức năng cũng là cách thức để tìm kiếm sự trùng lắp, chồng chéo của cácloại chức năng

- Bảo đảm quá trình được tiếp cận 1 cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh đối với từng

cơ quan, từng chức vụ, từng cấp hành chính trong các ngành, các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng và trực tiếp đến thiết kế bộ máy,thiết lập mối quan hệ phối hợp ngành, cấp, cơ cấu kiến trúc, kỹ năng, kỹ năng, kỹ xảo

và xây dựng phong cách, chế độ làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cho từng cấphành chính

- Tạo cơ sở khách quan cho việc xác định khối lượng công việc theo từng chức năng,xây dựng mô hình tổ chức cho từng loại cơ quan hành chính , đặc biệt mô hình tổ chức

Trang 17

bộ máy kinh tế cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ và mô hình tổ chức hành chính UBND cáccấp.

- Xem xét sự phù hợp, ăn khớp giữa chức năng, cơ cáu bộ máy hành chính giữa cáccấp, các ngành, phòng ngừa và sửa chữa có hiệu quả sự trùng lặp, chồng chéo, rắc rối,

bỏ trống, giành giật, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan hành chính nhà nước

b) Phân loại chức năng

Có nhiều cách phân loại chức năng khác nhau theo mức độ tổng quát và chi tiết.Dưới đây là một số cách phân loại cơ bản sau:

- Phân loại theo phạm vi thực hiện chức năng, có chức năng đối nội, chức năngđối ngoại

- Phân theo tính chất hoạt động có chức năng lập quy và chức năng điều hànhhành chính

- Phân chức năng hành chính theo các lĩnh vực chủ yếu: chức năng chính trị,chức năng kinh tế, chức năng văn hóa, chức năng xã hội

- Phân loại theo cấp hành chính, có chức năng hành chính trung ương (chức năngcủa chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ) và chứcnăng hành chính địa phương (chức năng của UBND và cơ quan chuyên môncác cấp)

- Phân loại theo nhóm chức năng bên trong và bên ngoài đối với hệ thống hànhchính gồm:

+ Chức năng bên trong (nội bộ): gồm các chức năng vận hành nội bộ nền hànhchính hoặc cơ quan hành chính

+ Chức năng bên ngoài: gồm có nhóm chức năng quản lý hành chính nhà nướcđối với các lĩnh vực và chức năng cung ứng dịch vụ công

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu chức năng hành chính nhà nước

Nghiên cứu chức năng hành chính nhà nước có các ý nghĩa sau:

Thứ nhất, chức năng hành chính thể hiện nội dung hoạt động của hành chính

nhà nước Do vậy, thông qua việc xem xét chức năng hành chính có thể xác định đượccác nội dung của hành chính nhà nước

Thứ hai, chức năng hành chính nhà nước là một trong những căn cứ quan trọng

nhất để thiết lập các cơ quan hành chính nhà nước và cũng là lý do chính đáng cho sựtồn tại của chủ thể hành chính nhất định

Thứ ba, bảo đảm quá trình hành chính được tiếp cận một cách bao quát, trọn

vẹn, hoàn chỉnh đối với từng cơ quan, từng chức vụ, từng cấp hành chính trong cácngành, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Thứ tư, tạo cơ sở khách quan cho việc xác định khối lượng công việc theo từng

chức năng, xác định định biên, xây dựng mô hình tổ chức cho từng loại cơ quan hànhchính, đặc biệt là mô hình tổ chức cơ quan hành chính cấp bộ, cơ quan ngang bộ và

mô hình tổ chức Ủy ban nhân dân các cấp

Trang 18

Thứ năm, nghiên cứu chức năng hành chính nhà nước giúp cho việc xác định

mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bộ máy hành chính nhà nước

Thứ sáu, bảo đảm sự phù hợp, ăn khớp giữa các chức năng của các cơ quan

trong bộ máy hành chính nhà nước; giảm thiểu sự chồng chéo hoặc bỏ trống chức năngtrong hệ thống hành chính nhà nước

Thứ bảy, nghiên cứu chức năng hành chính nhà nước để phân biệt với các chức

năng của hệ thống các cơ quan nhà nước khác như: chức năng lập pháp, chức năng tưpháp

Thứ tám, nghiên cứu chức năng hành chính nhà nước tạo cơ sở khoa học cho

việc xác định thể chế hành chính; quy chế công vụ và các chính sách phát triển nguồnnhân lực hành chính

I HÌNH THỨC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Hình thức quản lý hành chính nhà nước là những hình thức biểu hiện bên ngoàicủa hoạt động chấp hành, điều hành các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thựchiện như: ban hành các văn bản quản lý, áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp…

1.Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Văn bản QPPL là văn bản do cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theotrình tự, thủ tục luật định, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự chung được nhà nướcbảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủnghĩa

Trong quản lý hành chính nhà nước, hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật

là hình thức quản lý hành chính nhà nước quan trọng của các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước nhằm thực hiện chức năng chấp hành và điều hành

Thông qua hoạt động ban hành văn bản QPPL hành chính các chủ thể quản lý hànhchính nhà nước:

– Ấn định các quy tắc xử sự chung trong quản lý hành chính nhà nước;

– Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ quản lýhành chính nhà nước;

– Quy định những hạn chế và điều ngăn cấm;

– Quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động của chủ thể quản lý

cứ vào mục đích áp dụng, chúng ta có thể chia thành 2 nhóm lớn là:

– Những văn bản chấp hành pháp luật;

– Những văn bản bảo vệ pháp luật

Trang 19

3 Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý

Những hoạt động mang tính chất pháp lý là những hoạt động do các chủ thể quản lýHCNN tiến hành khi pháp sinh những điều kiện tương ứng được quy định trước trongcác văn bản QPPL nhưng không cần ban hành văn bản ADQPPL

Những hoạt động mang tính pháp lý bao gồm rất nhiều các hoạt động cụ thể khác nhaunhư:

– Áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn và phòng ngừa VPPL như kiểm tra giấyphép lái xe, kiểm tra tạm vắng, tạm trú…

– Đăng kí những sự kiện nhất định như đăng kí hộ tịch

– Lập và cấp một số giấy tờ nhất định như giấy phép lái xe

Tiến hành các hoạt động tổ chức thực hiện gồm các hoạt động nghiên cứu, tổng kết vàphổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng các biện pháp cụ thể nhằm ứng dụngnhững thành tựu khoa học kĩ thuật vào quản lý, tổ chức kiểm tra, điều phối hoạt động,

tổ chức hội thảo…

5 Thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật.

Là hoạt động sử dụng kiến thức nghiệp vụ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vàoquá trình quản lý hành chính nhà nước

Thực hiện những tác động về nghiệp vụ – kỹ thuật có ý nghĩa lớn trong việc nâng caohiệu suất công tác của bộ máy hành chính nhà nước, đảm bảo công tác quản lý hànhchính nhà nước dược tiến hành một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác

III PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm

– Định nghĩa: Phương pháp QLHCNNlà cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm

vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hànhchính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết

3 Những phương pháp QLHCNN

Các phương pháp QLHCNN bao gồm phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡngchế, phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế

3.1 Phương pháp thuyết phục

– Khái niệm: Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác

thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định

Nội dung của phương pháp thuyết phục:

+ Phương pháp thuyết phục do chủ thể QLHCNN sử dụng để tác động lên đối tượngquản lý nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

Trang 20

+ Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cầnthiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định.

+ Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, độngviên, hướng dẫn, chứng minh… làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành cácyêu cầu của chủ thể quản lý

3.2 Phương pháp cưỡng chế

– Khái niệm: Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước,

người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trườnghợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiệnnhững hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự dothân thể

- Nội dung của phương pháp cưỡng chế:

+ Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan nhà nước, người có thẩmquyền theo quy định của pháp luật như: cơ quan công an, ủy ban nhân dân…

+ Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cá nhân, tổ chức nhất định trongnhững trường hợp pháp luật quy định như: cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

+ Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hành cácquyết định đơn phương của chủ thể quản lý Cụ thể là buộc cá nhân, tổ chức phải thựchiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chếnhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân

– Phân loại: Có bốn loại cưỡng chế nhà nước: Cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự,

cưỡng chế kỷ luật và cưỡng chế hành chính

+ Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan có thẩm quyền áp dụngđối với những người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội

+ Cưỡng chế dân sư: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan có thẩm quyền

áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm dân sự, gây thiệt hại cho nhànước, tập thể hoặc công dân

+ Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người cóthẩm quyền áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi vi phạm kỷ luật nhànước

+ Cường chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người

có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạmhành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục đích ngăn chặnhay phòng ngừa các vi phạm pháp luật…

3.3 Phương pháp hành chính

– Khái niệm: Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức

thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnhlệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng

– Đặc điểm của phương pháp hành chính

Trang 21

+ Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đốitượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương án hành động củađối tượng quản lý.

+ Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật

Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa chủ thể quản lý do pháp luật quy định Ví dụ: Chủ tịch UBND các cấp chỉ được rachỉ thị, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khuôn khổ, chứcnăng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định

Tóm lại, phương pháp hành chính là phương thức tác động đến cá nhân, tổ chức thuộcđối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh

và sự phục tùng

3.4 Phương pháp kinh tế

– Khái niệm: Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của

các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợiích của con người

– Đặc điểm của phương pháp kinh tế

+ Đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh

tế như việc quy định chế độ thưởng, xử phạt

+ Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như: quyền tựchủ trong sản xuất, kinh doanh; chế độ hạch toán kinh tế, chế độ thưởng… nhằm tạođiều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huynăng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ

Ngày đăng: 28/02/2019, 11:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w