1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng quản lý hành chính nhà nước và quản lý nghành giáo dục và đào tạo

75 425 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 13,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lập pháp,hành pháp và tư pháp có tư cách pháp nhân công pháp công quyền tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã gia

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI GIẢNG

(Lưu hành nội bộ)

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

VÀ QUẢN LÝ NGÀNH GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

(Dành cho sinh viên ngành ĐHSP)

Tác giả: Hoàng Thị Tường Vi Nguyễn Thị Diễm Hằng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 4

VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CÔNG VỤ, VIÊN CHỨC 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 4

1.2 Giới thiệu Luật viên chức 15

1.3 Viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo (Giáo viên Trung học) 23

CHƯƠNG 2 ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 25

2.1 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay 25

2.2 Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới Giáo dục và Đào tạo 34

2.3 Các giải pháp phát triển Giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 35

CHƯƠNG 3 LUẬT GIÁO DỤC 41

3.1 Sự cần thiết phải ban hành Luật giáo dục 41

3.2 Nội dung cơ bản của Luật giáo dục 42

CHƯƠNG 4 ĐIỀU LỆ, QUY CHẾ, CÁC QUY ĐỊNH 44

CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI BẬC TRUNG HỌC 44

4.1 Điều lệ trường Trung học 44

4.2 Các quy chế, quy định về hoạt động giảng dạy ở bậc Trung học 44

4.3 Các quy chế, quy định về thanh tra, kiểm tra bậc Trung học 53

4.4 Quy chế công nhận trường Trung học đạt chuẩn quốc gia 60

CHƯƠNG 5 THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 61

5.1 Thành tựu và yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực của đất nước và tỉnh Quảng Bình 61

5.2 Cập nhật các quyết định, văn bản, chiến lược của tỉnh Quảng Bình về phát triển và thu hút nguồn nhân lực 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Quản lý HCNN và quản lý ngành Giáo dục - Đào tạo là một trong những môn học then chốt của chương trình đào tạo ở các trường Đại học Và Cao đẳng Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của sinh viên thuộc nhiều khối ngành sư phạm, chúng tôi biên soạn tập bài giảng này Trong khi biên soạn, nhóm tác giả đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhiều tài liệu hiện có trong và ngoài nước, đồng thời mạnh dạn mở rộng, bổ sung nhiều vấn đề hiện đại mang tính cập nhật như: Vấn đề quản lý, quản lý nhà nước, giải pháp, thực tiễn giáo dục địa phương… cho nên giáo trình này là tài liệu tham khảo bổ ích đối với cán bộ giảng dạy, sinh viên thuộc nhiều khối ngành ở trường Đại học và Cao đẳng

Trong quá trình biện soạn bài giảng khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp và độc giả

Xin chân thành cảm ơn

Trang 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CÔNG VỤ, VIÊN CHỨC

1.1 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1.1 Khái niệm Quản l ý hành chính nhà nước

Để nắm vững nội hàm khái niệm quản lý hành chính nhà nước chúng ta lần lượt nghiên cứu các khái niệm quan trọng sau đây:

Quản lí là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:

+ Theo góc độ chính trị – xã hội, quản lí được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Vận hành sự kết hợp này cần có cơ chế quản lí phù hợp Cơ chế đúng, hợp lí thì

xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren

+ Theo góc độ hành động, quản lí được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành

Theo C Mác, quản lí (quản lí xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá loa động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lí (con người điều khiển con người) Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, T.23, trang 480)

Từ phân tích cơ sở lí luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:

Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan

Quản lí là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lí càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú, phức tạp

1.1.1.2 Quản lí nhà nước

Quản lí nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lí của Nhà nước đối với xã hội và công dân Quản lí nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lí công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước

Trang 5

(lập pháp,hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành

vi của công dân

Cần lưu ý phân biệt hai khái niệm “Quản lí nhà nước” và “Nhà nước quản lí”:

+ “Quản lí nhà nước” là dạng quản lí xã hội thực thi quyền lực Nhà nước; dạng quản

lí này được thể hiện trong các cơ quan hành chính Nhà nước Điều 12, Hiến pháp 1992 đã ghi: “Nhà nước quản lí xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, quản lí nhà nước tương đồng với khái niệm quản lí quốc gia (Govermance), nghĩa là: quản lí nhà nước một cách hợp lí, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan

+ “Nhà nước quản lí” là nói đến các chủ thể quản lí; đó là hệ thống tổ chức của các

cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính Nhà nước

1.1.1.3 Hành chính nhà nước

Hành chính là một hoạt động xã hội rộng và rất phức tạp

Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều mang tính xã hội; các cá nhân luôn có quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Khi hoạt động có từ hai người trở lên để thực hiện một mục tiêu chung, mà nếu chỉ có một người không thể làm được, thì sẽ xuất hiện yếu tố tổ chức và quản lí hoạt động Hành chính là một dạng của sự quản lí các hoạt động

đó

Thuật ngữ “hành chính” (Tiếng Anh là Administration)

+ Theo nghĩa rộng, hành chính là sự thi hành chính sách và pháp luật của Chính phủ tức là hoạt động quản lí hành chính Nhà nước Quản lí hành chính nhà nước là một hình thức quản lí, mà chủ thể quản lí là Nhà nước Hành chính nhà nước là một bộ phận quản

lí của Nhà nước – nó là hoạt động của cơ quan hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng quyền lập quy và quyền hành chính

+ Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành chính của các cơ quan nhà nước ở địa phương như: quản lí hộ khẩu, trật tự, an ninh công cộng, quản lí công văn giấy tờ không thuộc văn bản pháp luật,… và có cả nghĩa thông thường như hỗ trợ, dịch vụ hành chính,…

Hành chính quan hệ mật thiết với quản lí, tổ chức, chính trị tạo nên các phạm trù: hành chính và quản lí, hành chính và tổ chức, hành chính và chính trị, hành chính và pháp luật

Nhà nước quản lí hành chính bằng pháp luật Còn hành chính nhà nước là “hành pháp trong hành động”, là sự thực thi pháp luật trong quản lí, điều hành mọi lĩnh vực đời sống của đất nước

Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lí nhà nước, trong đó cơ quan quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng quản lí (cơ quan,

Trang 6

tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại quản lí hành chính nhà nước do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện

1.1.1.4 Nền hành chính nhà nước

Nền hành chính nhà nước (hành chính công) là tổng thể cơ chế được cấu thành bởi

ba yếu tố sau đây:

Một là, hệ thông thể chế quản lí xã hội theo Pháp luật bao gồm: Hiến pháp, Luật,

Pháp lệnh và các văn bản, Quyết định, Nghị định, Thông tư của Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp và quản lí nhà nước Xây dựng thể chế của nền hành chính nhà nước dân chủ, thực hiện quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, thiết lập kỷ cương Nhà nước, ý thức và trật tự pháp luật, cải cách và hoàn thiện thủ tục hành chính… Xây dựng thể chế quản lí kinh tế của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí của Nhà nước và tạo sự thích nghi về thể chế trong quan hệ đối ngoại, với luật pháp và tập quán quốc tế

Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ

sở Quy định thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, mối quan hệ dọc, ngang, trung ương và địa phương Vận dụng tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp quản

lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ Các cơ quan trong hệ thống phải đủ mạnh về uy tín, năng lực và phẩm chất để phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lí nhà nước

Ba là, đội ngũ cán bộ và công chức nhà nước, chế độ công vụ và quy chế công

chức, các quy định về hệ thống ngạch, bậc, tiêu chuẩn chức danh và chế độ tiền lương, các quy chế bổ nhiệm, tuyển dụng, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng, đãi ngộ… là những cơ sở để nâng cao chất lượng công tác, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động và làm căn cứ cho đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước

Thực tế hoạt động của nền hành chính nhà nước xuất phát từ bản chất nhà nước pháp quyền, sống và làm việc theo khuôn khổ pháp luật để quản lí xã hội, đưa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, là tạo lập môi trường cho mọi tổ chức

và công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật

1.1.1.5 Quản lí hành chính Nhà nước

Bộ máy Nhà nước được cấu thành bởi ba tổ chức giữ ba quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền hành pháp là quyền chấp hành luật (lập quy), tổ chức thực hiện luật (quản lí hành chính) Hai quyền này đều tập trung vào Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, được thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật hành chính

Bộ máy hành chính Nhà nước còn được gọi là bộ máy quản lí Nhà nước

Hành pháp mang tính quyền lực chính trị (quyền lực nhà nước), còn quản lí hành chính nhà nước là “Hành pháp hành động”, là quyền thực thi quyền hành pháp Bản thân quản lí hành chính nhà nước không chỉ là chính trị, mà còn là hành chính

Trang 7

Ví dụ: Bộ trưởng có vai trò:

– Là thành viên của Chính phủ (chính trị)

– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước của một bộ, ngành hay lĩnh vực (quản lí hành chính)

Chủ tịch Ủy ban nhân dân có vai trò:

– Là thành viên của Hội đồng nhân dân bầu ra để chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân (chính trị)

– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước ở địa phương (quản lí hành chính)

Từ phân tích trên, có thể định nghĩa quản lí hành chính Nhà nước như sau:

Quản lí hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức, và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan có

tư cách pháp nhân công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lí hành chính nhà nước tiến hành bằng những văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của nhân dân

Nói một cách đơn giản hơn, quản lí hành chính nhà nước là việc tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản lí, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật

Như vậy, có thể thấy ba nội dung chính của khái niệm quản lí hành chính nhà nước:

Một là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là quyền lực nhà nước được gọi là

quyền quản lí hành chính, tức là “quyền hành pháp trong hành động”

Hai là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là hoạt động thực tiễn hàng ngày, tổ

chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định hành chính mang tính quy phạm hành chính, phục vụ cho các nhà cầm quyền, các nhà lãnh đạo và quản lí đất nước

Ba là, quản lí hành chính nhà nước, với tư cách là pháp nhân công pháp, chính là hệ

thống thiết chế tổ chức hành chính nhà nước Trong hệ thống này, đứng đầu là Chính phủ

và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước trung ương, các cấp quản lí hành chính nhà nước địa phương và các tổ chức công quyền khác có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế kỹ thuật, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, nội vụ, ngoại giao… và các hoạt động của tổ chức và công dân

1.1.2 Những quan điểm cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước

- Quan điểm 1 Xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Trang 8

Quan điểm này định hướng, chỉ đạo cho nhận thức về tư tưởng của Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhân dân là chủ thể, là người làm chủ, tổ chức, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước

- Quan điểm 2 Tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở học thuyết pháp quyền Việt Nam, có sự nghiên cứu, vận dụng có chọn lọc các mô hình tổ chức bộ máy của các nước

có thể chế dân chủ khác nhau và những biến thể của chúng Vì vậy, xâ dựng bộ máy nhà nước theo quan điểm: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Quan điểm 3 Tăng cường hơn nữa quản l xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật,

sử dụng tối đa các phương pháp giáo dục, thuyết phục, rèn luyện các phẩm chất đạo đức cho công dân

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam

1.1.3.1 Nguyên tắc nhân dân tham gia vào công việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Ở nước ta, thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã làm thay đổi chủ thể quyền lực nhà nước Nhân dân từ vị trí người nô lệ phụ thuộc bởi chế độ thuộc địa nửa phong kiến trở thành người chủ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thực hiện nguyên tắc này, Hiến pháp nước ta ghi nhận: “công dân có quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội, thảo luận, kiến nghị với nhà nước và địa phương, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý” (điều 53 Hiến pháp 1992) Đây là sự bảo đảm bằng pháp luật khả năng nhân dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã hội, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất

Hiến pháp còn ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã hội qua việc ghi nhận quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện ở địa phương (điều 54) Ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước và của các cá nhân trong bộ máy nhà nước (điều 74) Những người làm việc trong cơ quan bảo vệ pháp luật làm trái pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (điều 74)

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tạo ra những khả năng, điều kiện và phương tiện để nhân dân tham gia vào quản lí nhà nước và quản lí xã hội Trong quá trình phát triển xã hội các chức năng quản lí ngày càng đơn giản hơn và ngược lại trình độ dân trí ngày một nâng cao hơn, do vậy mọi người đều có thể làm được nó không còn là chức năng riêng của một lớp người đặc biệt nữa, chức năng quản lí sẽ được mọi người thay nhau đảm nhiệm

1.1.3.2 Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 9

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, nó được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Vai trò đó

đã được ghi nhận ở hai bản Hiến pháp gần nhất: bản Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 (đều ở điều 4)

Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương lĩnh, chiến lược, định ra các chủ trương chính sách cho hoạt động của nhà nước và toàn

xã hội để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Đảng lãnh đạo bằng tuyên truyền, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng và tổ chức, bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng Đảng xây dựng đường lối phù hợp với lợi ích của nhân dân, được nhân dân ủng hộ và thực hiện Như vậy, thực chất sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để nhà nước tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, thực hiện chức năng quản lí bằng những công cụ, biện pháp của mình

Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác cán bộ Là Đảng cầm quyền nên Đảng

ta lựa chọn những đảng viên ưu tú của mình tham gia vào các cơ quan nhà nước trước hết

là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bằng con đường giới thiệu để nhân dân lựa chọn bầu ra Vì vậy, cơ chế dân chủ cũng là thước đo uy tín và năng lực của Đảng trước

xã hội và nhân dân Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không “hoá thân thành nhà nước”, do vậy việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lí của nhà nước là yêu cầu khách quan Song, cũng cần phải đề phòng và đấu tranh chống lại những quan điểm sai lầm muốn tách Đảng ra khỏi nhà nước, cần phải cảnh giác trước bọn cơ hội và các thế lực thù địch âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lêmn, đưa đất nước đi chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội

1.1.3.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta Nguyên tắc này đã được ghi ở điều 4 các bản Hiến pháp 1959, 1980 và

1992 Nguyên tắc tập trung dân chủ chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Một nhà nước “của dân, do dân” được thể hiện từ mục đích đến tổ chức hoạt động

Bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp bao gồm ba cơ quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp Hoạt động của các cơ quan này theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nhưng ở mỗi cơ quan nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện khác nhau

Đối với Quốc hội khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng, các đại biểu thường cân nhắc đến:

– Lợi ích của cả nước khi biểu quyết lựa chọn một phương án trong nhiều phương

án được đề xuất

Trang 10

– Lợi ích của địa phương, ngành, khi biểu quyết các đại biểu không chỉ thể hiện ý chí của cả nước mà còn chú ý tới nguyện vọng của cử tri nơi đã bầu ra họ

Do những chi phối đó nên Quốc hội không có cách nào tốt hơn là biểu quyết theo nguyên tắc đa số Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội là thiểu số phục tùng đa số trong mọi trường hợp

Đối với Chính phủ: Chính phủ vừa là thiết chế làm việc với chế độ tập thể quyết

định theo đa số về những vấn đề quan trọng, vừa đề cao vai trò cá nhân của Thủ tướng Chính phủ - người quyết định những vấn đề trong điều hành công việc thường xuyên của Chính phủ Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Chính phủ vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, vừa đảm bảo sự quản lí của người đứng đầu Chính phủ

Đối với cơ quan tư pháp: Trong các hoạt động xét xử, nguyên tắc tập trung dân

chủ đòi hỏi thực hành đúng quan hệ làm việc giữa thẩm phán, hội thẩm và các thành viên khác trong hoạt động tố tụng, xác lập quan hệ giữa các cấp xét xử, quan hệ giữa các cơ quan điều tra v.v…

Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ là yếu tố đảm bảo hiệu lực quản lí của bộ máy nhà nước ta trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của các cơ quan trung ương cũng như ở địa phương

– Một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội

– Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống, từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân

Như vậy, không phải cứ có nhà nước, có pháp luật là có pháp chế, nhưng pháp luật lại đóng vai trò tiền đề, cơ sở cho một trật tự pháp chế Bởi vì pháp luật là thước đo, là tiêu chuẩn thẩm định trật tự xã hội và tình trạng pháp chế cụ thể trong từng thời kỳ Để nhận ra một xã hội có pháp chế trước hết người ta xem xét pháp luật đã có hay chưa, có đầy đủ hay không? Pháp luật được thực hiện hay chỉ là hình thức; tính xã hội của pháp luật ra sao?

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi:

– Thứ nhất, nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một cách kịp thời và có

hệ thống Nhà nước và pháp luật là hai mặt thống nhất, thống nhất giữa chủ thể và phương tiện Để nhà nước hoạt động đảm bảo nguyên tắc pháp chế, các văn bản luật và

Trang 11

các văn bản pháp quy để thi hành luật (văn bản dưới luật) phải được ban hành kịp thời và đồng bộ

– Thứ hai, các cơ quan nhà nước được lập ra và hoạt động trong khuôn khổ pháp

luật quy định về địa vị pháp lí, quy mô và thẩm quyền Nguyên tắc này không chấp nhận hai khả năng thường xảy ra ở những nơi mà tình trạng pháp chế bị vi phạm: khả năng thứ nhất là các hoạt động quản lí vượt thẩm quyền được giao, khả năng thứ hai là buông lỏng,

bỏ trống một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao

– Thứ ba, sự tôn trọng hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước Nhà nước thay

mặt nhân dân ban hành luật pháp, nhưng nhà nước cũng bị luật pháp điều chỉnh Nghĩa là: nếu cơ quan nhà nước trong hoạt động phạm sai lầm, vi phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm về những sai lầm đó trước pháp luật Nhà nước vì vậy vừa là chủ thể của luật pháp nhưng cũng vừa là đối tượng để luật pháp điều chỉnh Đây là đòi hỏi sự tôn trọng của nguyên tắc pháp chế, đồng thời thể hiện tính dân chủ của nhà nước ta, cũng là yêu cầu rất quan trọng trong quản lí hành chính, trong hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thực hiện tốt các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo cho nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân” trong tổ chức và hoạt động

1.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Theo Hiến pháp 1992 cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta gồm có: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

và tư pháp) Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

Quốc hội là cơ quan cao nhất quyết định những chính sách về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước Hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất của Quốc hội là các kỳ họp Quốc hội Đại biểu Quốc hội về nguyên tắc cũng phải hoạt động thường xuyên trong cả nhiệm kỳ, chịu sự giám sát và có thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn bất cứ lúc nào nếu tỏ ra không còn xứng đáng Quốc hội có các Hội đồng và Ủy ban Trong điều kiện hiện nay ở các Hội đồng và Ủy ban của

Trang 12

Quốc hội có một bộ phận cán bộ làm việc theo chế độ chuyên trách còn phần lớn đại biểu Quốc hội là kiêm nhiệm, phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu

Ở nước ta hiện nay, Quốc hội chưa hoạt động thường xuyên nên Quốc hội lập ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Ủy ban thường vụ Quốc hội được giao một số quyền hạn theo quy định của Hiến pháp như: quyền quyết định ra pháp lệnh do Quốc hội giao, quyền trong thời gian Quốc hội không họp phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; quyền giám sát các hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quyền đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với hiến pháp và luật… Quyền quyết định trong thời gian Quốc hội không họp tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nhà nước bị xâm lược: quyền quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ

1.1.4.2 Chủ tịch nước

Chủ tịch nước “là người đứng đầu nhà nước thay mặt nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp 1992) Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định ở điều 103 Hiến pháp 1992, theo đó người đứng đầu quốc gia là một cá nhân Chủ tịch nước ký công bố các văn bản luật pháp (của Quốc hội) và pháp lệnh (của Ủy ban thường vụ Quốc hội) nhưng Chủ tịch nước có quyền đề nghị xem xét lại pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và nếu không nhất trí thì trình ra Quốc hội quyết định Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng như xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ Với quy chế của Hiến pháp 1992 thiết chế Chủ tịch nước cùng với thiết chế Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, vừa đảm bảo tính tập thể trong việc quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong khi Quốc hội không họp, vừa đảm bảo vị trí của người đứng đầu nhà nước

1.1.4.3 Chính phủ

Theo quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất và phân công ba quyền, thì Quốc hợi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nắm quyền lập pháp Dưới quyền lực tối cao và thống nhất đó của Quốc hội là những cơ quan quyền lực nhà nước về hành pháp

và tư pháp Chính phủ là cơ quan quyền lực hành pháp cao nhất Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội Trong kỳ họp này Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng đề nghị danh sách các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn

Trang 13

Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và chịu sự giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chỉnh phủ

Theo điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ, thì thẩm quyền của Chính phủ bao gồm:

– Quyền kiến nghị lập pháp: Dự thảo các văn bản luật trình Quốc hội, và dự thảo pháp lệnh trình bày Ban Thường vụ Quốc hội Dự thảo kế hoạch nhà nước, ngân sách, các chính sách lớn về đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối của Đảng để trình Quốc hội

– Quyền lập quy: Ban hành các văn bản pháp quy có giá trị pháp lí trong cả nước – Quyền quản lí và điều hành toàn bộ công việc của đất nước: Xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội theo đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và hệ thống pháp quy của Chính phủ

– Quyền xây dựng và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức cơ quan quản lí nhà nước, thành lập các cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan giúp Thủ tướng, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương

– Quyền hướng dẫn, kiểm tra hội đồng nhân dân các cấp

Chính phủ hoạt động bằng các hình thức cơ bản sau:

Một là: Hoạt động tập thể là các phiên họp của Chính phủ

Hai là: Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng là những người

giúp Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng, khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ

Ba là: Hoạt động của Bộ trưởng với tư cách là thành viên của chính phủ đứng đầu

một Bộ hay cơ quan ngang Bộ

1.1.4.4 Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân là hệ thông tổ chức thực hiện quyền tư pháp

– Cơ cấu tổ chức toà án gồm: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định Toà án nhân dân là cơ quan xét

xử của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (điều 127 – Hiến pháp 1992) Trong

hệ thống toà án thì Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Có chức năng và quyền giám đốc việc xét xử của Toà

án nhân dân địa phương và Toà án quân sự, giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các Toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà án đó Chánh

án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm báo cáo công việc trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trang 14

Nguyên tắc hoạt động của Toà án là “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (điều 130 – Hiến pháp 1992) và “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” (điều

Để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm minh, thống nhất, Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức thành một hệ thống Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu Sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; các Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, kiểm sát viên nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Viện trưởng các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của Hội đồng nhân dân

1.1.4.5 Cơ quan chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Hội đồng nhân dân địa phương là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (điều 118 – Hiến pháp 1992) Hội đồng nhân dân địa phương phải chấp hành Hiến pháp, luật, các quy định và nhiệm vụ của cấp trên giao cho và vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương tự quyết định những vấn đề thuộc quyền lợi của nhân dân địa phương trong phạm vi được phân cấp theo luật định Vì vậy, Hội đồng nhân dân phải đặt dưới sự giám sát, hướng dẫn của Quốc hội, sự hướng dẫn kiểm tra của Chính phủ

Ủy ban nhân dân nhân theo quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân bầu ra, là

cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên

và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (điều 123 – Hiến pháp 1992)

Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên, thực hiện chức năng quản lí nhà nước ở địa phương, vừa do Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa

do Ủy ban nhân dân cấp trên giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ

Trang 15

1.2 Giới thiệu Luật viên chức

Luật viên chức được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa VII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực ngày 01/1/2012 Luật này gồm 07 chương

và 62 điều

1.2.1 Những quy định chung

Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về viên chức; quyền nghĩa vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng

và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 2 Viên chức

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Điều 3 Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1 Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu

trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý

2 Đạo đức nghề nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc

thù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định

3 Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của viên chức trong thi hành nhiệm vụ và

trong quan hệ xã hội do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, phù hợp với đặc thù công việc trong từng lĩnh vực hoạt động và được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành

4 Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm

viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập

5 Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người

được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên

Điều 4 Hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Điều 5 Các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức

1 Tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp

2 Tận tụy phục vụ nhân dân

Trang 16

3 Tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử

4 Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và của nhân dân

Điều 6 Các nguyên tắc quản lý viên chức

1 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự thống nhất quản lý của Nhà nước

2 Bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

3 Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc

4 Thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với viên chức

là người có tài năng, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước đối với viên chức

Điều 8 Chức danh nghề nghiệp

1 Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp

2 Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định

hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp

Điều 9 Đơn vị sự nghiệp công lập và cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động của đơn vị

sự nghiệp công lập

1 Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước

2 Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:

a) Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm

vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ);

Trang 17

b) Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)

3 Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2 Điều này đối với từng lĩnh vực sự nghiệp căn cứ vào khả năng tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và phạm vi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập

4 Căn cứ điều kiện cụ thể, yêu cầu quản lý đối với mỗi loại hình đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực, Chính phủ quy định việc thành lập, cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, mối quan hệ giữa Hội đồng quản lý với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 10 Chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức

1 Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

2 Chính phủ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy hoạch,

tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định lĩnh vực hạn chế và lĩnh vực cần tập trung ưu tiên phát triển, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động sự nghiệp Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện dịch vụ kinh doanh, thu lợi nhuận

3 Tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng

tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công lập

4 Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân

1.2.2 Quyền lợi và nghĩa vụ của viên chức

1.2.2.1 Quyền của viên chức

Quyền của viên chức được quy định tại Điều 11 đến Điều 15 như sau:

Điều 11 Quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp

1 Được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp

2 Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ

3 Được bảo đảm trang bị, thiết bị và các điều kiện làm việc

Trang 18

4 Được cung cấp thông tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm vụ được giao

5 Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao

6 Được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật

7 Được hưởng các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật

Điều 12 Quyền của viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương

1 Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù

2 Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập

3 Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 13 Quyền của viên chức về nghỉ ngơi

1 Được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Do yêu cầu công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ

2 Viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường hợp đặc biệt khác, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép của 02 năm để nghỉ một lần; nếu gộp số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

3 Đối với lĩnh vực sự nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương theo quy định của pháp luật

4 Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 14 Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định

1 Được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn

vị sự nghiệp công lập

Trang 19

3 Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác

Điều 15 Các quyền khác của viên chức

Viên chức được khen thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập hoạt động nghề nghiệp ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật Trường hợp bị thương hoặc chết do thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách như thương binh hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Nghĩa vụ của viên chức

Nghĩa vụ của viên chức được quy định tại Điều 16 đến Điều 19 như sau:

Điều 16 Nghĩa vụ chung của viên chức

1 Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước

2 Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

3 Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập

4 Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài sản được giao

5 Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức

Điều 17 Nghĩa vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp

1 Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và chất lượng

2 Phối hợp tốt với đồng nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ

3 Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền

4 Thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ

5 Khi phục vụ nhân dân, viên chức phải tuân thủ các quy định sau:

a) Có thái độ lịch sự, tôn trọng nhân dân;

b) Có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn;

c) Không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân;

d) Chấp hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp

6 Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp

7 Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Điều 18 Nghĩa vụ của viên chức quản lý

Trang 20

Viên chức quản lý thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 16, Điều 17 của Luật này và các nghĩa vụ sau:

1 Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị theo đúng chức trách, thẩm quyền được giao;

2 Thực hiện dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức nghề nghiệp trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;

3 Chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc quyền quản lý, phụ trách;

4 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, tài chính trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;

5 Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách

1.2.3 Những việc viên chức không được làm

Điều 19 Những việc viên chức không được làm

1 Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc; tham gia đình công

2 Sử dụng tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định của pháp luật

3 Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức

4 Lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong,

mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội

5 Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp

6 Những việc khác viên chức không được làm theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định khác của pháp luật

có liên quan

1.2.4 Tuyển dụng, sử dụng viên chức

1.2.4.1 Tuyển dụng

Điều 20 Căn cứ tuyển dụng

Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập

Điều 21 Nguyên tắc tuyển dụng

1 Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật

2 Bảo đảm tính cạnh tranh

3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm

Trang 21

4 Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập

5 Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số

Điều 22 Điều kiện đăng ký dự tuyển

1 Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần

xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:

a) Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;

b) Từ đủ 18 tuổi trở lên Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải

có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;

c) Có đơn đăng ký dự tuyển;

d) Có lý lịch rõ ràng;

đ) Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm;

e) Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

g) Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật

2 Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

a) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình

sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ

sở giáo dục, trường giáo dưỡng

Điều 23 Phương thức tuyển dụng

Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển

Điều 24 Tổ chức thực hiện tuyển dụng

1 Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, người đứng đầu đơn

vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết định của mình

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng

2 Căn cứ vào kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết hợp đồng làm việc với người trúng tuyển vào viên chức

3 Chính phủ quy định chi tiết các nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức quy định tại Luật này

1.2.4.2 Hợp đồng làm việc

Điều 25 Các loại hợp đồng làm việc

Trang 22

1 Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Hợp đồng làm việc xác định thời hạn áp dụng đối với người trúng tuyển vào viên chức, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của Luật này

2 Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn áp dụng đối với trường hợp đã thực hiện xong hợp đồng làm việc xác định thời hạn và trường hợp cán bộ, công chức chuyển thành viên chức theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của Luật này

Điều 26 Nội dung và hình thức của hợp đồng làm việc

1 Hợp đồng làm việc có những nội dung chủ yếu sau:

a) Tên, địa chỉ của đơn vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;

b) Họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh của người được tuyển dụng

Trường hợp người được tuyển dụng là người dưới 18 tuổi thì phải có họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh của người đại diện theo pháp luật của người được tuyển dụng; c) Công việc hoặc nhiệm vụ, vị trí việc làm và địa điểm làm việc;

d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

đ) Loại hợp đồng, thời hạn và điều kiện chấm dứt của hợp đồng làm việc;

e) Tiền lương, tiền thưởng và chế độ đãi ngộ khác (nếu có);

g) Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi;

h) Chế độ tập sự (nếu có);

i) Điều kiện làm việc và các vấn đề liên quan đến bảo hộ lao động;

k) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

l) Hiệu lực của hợp đồng làm việc;

m) Các cam kết khác gắn với tính chất, đặc điểm của ngành, lĩnh vực và điều kiện đặc thù của đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không trái với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

2 Hợp đồng làm việc được ký kết bằng văn bản giữa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập với người được tuyển dụng làm viên chức và được lập thành ba bản, trong đó một bản giao cho viên chức

3 Đối với các chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật do cấp trên của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bổ nhiệm thì trước khi ký kết hợp đồng làm việc phải được sự đồng ý của cấp đó

Điều 27 Chế độ tập sự

Trang 23

1 Người trúng tuyển viên chức phải thực hiện chế độ tập sự, trừ trường hợp đã có thời gian từ đủ 12 tháng trở lên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng

2 Thời gian tập sự từ 03 tháng đến 12 tháng và phải được quy định trong hợp đồng làm việc

3 Chính phủ quy định chi tiết chế độ tập sự

1.2.5 Khen thưởng và xử l ý vi phạm

Điều 51 Khen thưởng

1 Viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề nghiệp thì được khen thưởng, tôn vinh theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng

2 Viên chức được khen thưởng do có công trạng, thành tích đặc biệt được xét nâng lương trước thời hạn, nâng lương vượt bậc theo quy định của Chính phủ

Điều 52 Các hình thức kỷ luật đối với viên chức

1 Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức

kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Cách chức;

d) Buộc thôi việc

2 Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan

3 Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý

4 Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức

5 Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức

1.3 Viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo (Giáo viên Trung học)

1.3.1 Khái quát chung về viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo

Viên chức ngành giáo dục và đào tạo là một trong 18 ngành chuyên môn của phân loại công chức Theo tiêu chuẩn nghiệp vụ thì viên chức ngành giáo dục và đào tạo gồm

có các ngạch như sau:

1 Giảng viên cao cấp

2 Giảng viên chính

3 Giảng viên

Trang 24

5 Giáo viên trung học

6 Giáo viên tiểu học

7 Giáo viên mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo)

Tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch nêu trên là căn cứ để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện sử dụng, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bậc lương và chuyển ngạch cho công chức ngành giáo dục và đào tạo theo quy định của Nhà nước

1.3.2 Giáo viên trung học

Là viên chức chuyên môn chuyên trách giảng dạy và giáo dục học sinh ở trường trung học công lập (gồm trung học cơ sở và trung học phổ thông)

– Giảng dạy các môn học theo mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch đạo tạo cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

– Thực hiện đầy đủ các quy chế chuyên môn như soạn bài, giảng dạy, chấm bài, chuẩn bị thí nghiệm, phụ đạo, coi thi, chấm thi, đánh giá xếp loại học sinh và các chế độ, nội quy, các quy định khác của ngành…

– Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nguyên lý giáo dục… theo quy định của Luật Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ Trường trung học

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1 Phân biệt quản l ý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước

2 Phân tích các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam

3 Trình bày những quy định chung của Luật viên chức

4 Viên chức có những quyền và nghĩa vụ gì? Xác định hướng phấn đấu của bản thân để thự hiện tốt những nghĩa và quyền lợi đó

5 Hãy cho biết những điều viên chức không được làm theo quy định tại Luật viên chức

6 Phân tích tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ của giáo viên trung học và xác định hướng phấn đấu của bản thân để đạt được tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ đó

Trang 25

CHƯƠNG 2 ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

2.1 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay

2.1.1 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay

– Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả

các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã có trường, lớp tiểu học Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở Hầu hết các huyện có trường trung học phổ thông Các tỉnh và nhiều huyện đồng bào dân tộc đã có hệ thống trường dân tộc nội trú

– Đã ngăn chặn được sự giảm sút quy mô và có bước tăng trưởng khá Giáo dục

mầm non, nhất là mẫu giáo 5 tuổi, đang phát triển Công cuộc chống mù chữ được triển khai trong cả nước Năm 2000 đã phổ cập tiểu học trong cả nước Số học sinh phổ thông

và số sinh viên đại học không ngừng tăng Tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đã giảm nhiều Giáo dục sau đại học đã đào tạo được số lượng đáng kể cán bộ có trình độ cao mà trước đây chủ yếu phải dựa vào nước ngoài GD – ĐT đã góp phần quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học, trung học và đội ngũ cán

bộ đông đảo phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng Trong nông nghiệp, công nghiệp và một số ngành khác, đội ngũ cán bộ và công nhân nước ta có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng một số công nghệ mới

– Chất lượng GD – ĐT có tiến bộ bước đầu trên một số mặt về các môn khoa học tự

nhiên và kỹ thuật, ở bậc phổ thông và đại học hệ tập trung Số học sinh khá giỏi, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế ngày càng tăng

– Trong GD – ĐT đã xuất hiện một số nhân tố mới Ở nhiều nơi đã hình thành

phong trào học tập sôi nổi của cán bộ và nhân dân, nhất là thanh niên Các loại hình trường lớp, từ phổ thông đến đại học, đa dạng hơn, tạo thêm cơ hội học tập cho nhân dân

Đã huy động được thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để phát triển GD – ĐT Các gia đình, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đã chăm lo cho giáo dục nhiều hơn trước Các phương tiện thông tin đại chúng đã xây dựng các chuyên mục phục vụ

GD – ĐT Hợp tác quốc tế về GD – ĐT bước đầu được mở rộng…

Nguyên nhân của các thành tựu nói trên là:

Trang 26

– Do đường lối GD – ĐT đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính sách đổi mới, trực tiếp là chính sách đổi mới trong GD ĐT, thể hiện tập trung ở Nghị quyết Trung ương

4 (khóa VII)

– Truyền thống hiếu học của dân tộc ta được phát huy, nhu cầu học tập của nhân dân không ngừng tăng lên Nhân dân đóng góp rất nhiều công, của xây dựng trường lớp

và chăm lo sự nghiệp giáo dục

– Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy, cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề Các giáo viên ở vùng cao, vùng câu, vùng xa nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh… – Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục đối với tương lai của đất nước, đã khắc phục những khó khăn, tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục – Những thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân qua mười năm đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục

b Yếu kém

GD – ĐT nước ta còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu, và nhất là về chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

– Hiện nay nước ta còn khoảng 7% dân số mù chữ; chưa phổ cập được giáo dục THCS; tỉ lệ sinh viên trên dân số còn thấp; tỉ lệ lao động qua đào tạo mới đạt hơn 22%; nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ cao

– Cơ cấu ngành nghề, trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng của đội ngũ sinh viên, học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp chưa hợp lí Mấy năm gần đây ở một số ngành rất cần thiết cho sự phát triển đất nước lại có quá ít học sinh đăng ký theo học Giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có lúc suy giảm mạnh, mất cân đối lớn về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều ngành sản xuất Quy mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé; trình độ, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH

– Đáng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo GD - ĐT còn thấp Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngoại ngữ và thể lực của đa số sinh viên còn yếu Ở nhiều học sinh ra trường, khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống còn hạn chế Số đông sinh viên tốt nghiệp chưa có khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trong ngành nghề và công nghệ Đặc biệt đáng

lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt

về lí tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Đào tạo chưa gắn với sử dụng Một số sinh viên tốt nghiệp không

Trang 27

chịu đi làm việc ở những vùng khó khăn, trong khi ở các thành phố còn nhiều sinh viên tốt nghiệp không có việc làm hoặc làm không đúng nghề đã được đào tạo

– Có những biểu hiện tiêu cực trong giáo dục:

Dạy thêm và học thêm tràn lan, tốn nhiều thời gian và tiền bạc của học sinh, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển toàn diện của học sinh và quan hệ thầy trò Nhiều trường đã tăng quy mô tuyển sinh vượt quá khả năng đào tạo, mở quá nhiều lớp tại chức ở các địa phương mà không thực hiện đúng quy chế, đúng chương trình, không đảm bảo chất lượng đào tạo Tệ nạn xã hội, ma túy đang thâm nhập một số trường học

– Chưa thực hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục Cụ thể: Con em gia đình nghèo gặp nhiều khó khăn khi muốn học lên cao; ở các trường đại học, tỉ lệ sinh viên là con em nhà nghèo, con em xuất thân công nông, nhất là nông dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn ít

– Đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu Năm học 1995 –1996 cả nước còn thiếu

gần 120.000 giáo viên phổ thông Nhìn chung, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu phát triển GD – ĐT trong giai đoạn mới Ở bậc đại học, tỉ lệ giáo viên có trình độ sau đại học còn thấp và trong những năm trước mắt sẽ có tình trạng hẫng hụt, thiếu người thay thế cho các cán bộ có trình độ cao sắp nghỉ hưu

Nguyên nhân của những yếu kém nói trên là:

– Công tác quản lý GD – ĐT có những mặt yếu kém, bất cập

Chủ trương đổi mới về giáo dục, chưa được nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, tổ chức thực hiện có nhiều thiếu sót Mở rộng quy mô và phát triển nhiều loại hình GD – ĐT nhưng có nhiều thiếu sót trong việc quản lí chương trình, nội dung và chất lượng Công tác thanh tra giáo dục còn, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, đặc biệt là đối với các hình thức trường “mở”, bán công, dân lập, tư thục

và không tập trung Chậm phát hiện và xử lí các biểu hiện tiêu cực

Cơ chế quản lí của ngành GD – ĐT chưa hợp lí, chưa phát huy quyền chủ động và

trách nhiệm của địa phương và nhà trường

Nội dung GD – ĐT vừa thừa, vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống

Phương pháp GD – ĐT chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học

– GD – ĐT chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất nhà trường chưa gắn với

gia đình và xã hội Hoạt động GD – ĐT chưa gắn mật thiết với các hoạt động sản xuất và nghiên cứu khoa học Gia đình và các tập thể, cộng đồng xã hội chưa phối hợp chặt chẽ với nhà trường giáo dục thế hệ trẻ

Các chính sách chưa đủ khuyến khích nghề dạy học và giáo viên đến dạy ở những vùng khó khăn, chưa động viên được những giáo viên dạy giỏi và giảng viên có trình độ cao Hệ thống các trường sư phạm tuy đã được quan tâm đầu tư hơn trước nhưng vẫn

Trang 28

chưa đủ sức làm tốt công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Phương tiện dạy và học của các trường nhìn chung chậm được cải thiện

Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan cũng cần thấy những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội từ những năm trước, tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường

Hiện nay sự nghiệp GD – ĐT đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phải phát triển nhanh quy mô GD – ĐT, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng GD – ĐT, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế Đó là mâu thuẫn trong quá trình phát triển Định hướng chiến lược phát triển GD – ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH, đặc biệt là những chủ trương, giải pháp từ nay đến năm 2010 phải được thực hiện với tinh thần cách mạng sâu sắc để giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn nói trên

2.1.2 Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới

a Những xu thế của thế giới có liên quan đến phát triển giáo dục

– Sự bùng nổ giáo dục

Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất là nguyên nhân làm nảy sinh cuộc vận động cải cách giáo dục có tính chất thế giới lần thứ hai, diễn ra vào cuối những năm 50 đến đầu những năm 70 của thế kỷ 20 Khác với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất đầu thế kỷ 20, trọng tâm lần này là cải cách quan niệm và kỹ thuật xây dựng chương trình, thiết kế lại hệ thống các môn học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, “hướng vào học sinh”

Trong thời kỳ này, ở các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, sĩ số đều tăng lên một cách chưa từng thấy, có thể xem là một sự bùng nổ sĩ số Năm 1950, dân số thế giới khoảng 2,5 tỷ người, số người đi học trên thế giới đạt khoảng 300 triệu (12%), trong đó hơn một nửa thuộc các nước công nghiệp phát triển Nhưng đến năm 1998, dân

số thế giới đạt gần 6 tỷ người Tổng số người đi học trên thế giới đã tăng lên khoảng 1 tỷ (17%) mà 3/4 trong đó thuộc về các nước đang phát triển Riêng đại học, năm 1960, thế giới có khoảng 15 triệu sinh viên, năm 1995 (35 năm sau) đã tăng lên 82 triệu (5,5 lần), những năm tiếp theo của thập kỷ 90 còn tăng nhanh hơn nữa

Từ sau những năm 80, với sự xuất hiện nền kinh tế tri thức, hình thành xã hội thông tin và xu thế toàn cầu hóa đã là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo nên một làn sóng đổi mới, cải cách giáo dục trên thế giới lần thứ ba Đặc điểm quan trọng của trào lưu cải cách, đổi mới giáo dục lần này là: xuất phát điểm để xem xét các vấn đề chủ yếu của giáo dục ở các nước tương đối giống nhau, trọng tâm của giáo dục đều là:

Giáo dục đại chúng dần thay thế cho giáo dục tinh hoa;

Quan tâm đến việc hình thành các phẩm chất và năng lực cho thế hệ trẻ và người

lao động về ý thức trách nhiệm, tính tích cực chủ động; năng lực sáng tạo, thích ứng nhanh với những sự đổi mới; phát huy cá tính, bản sắc của người học;

Trang 29

Thực hiện chương trình cốt lõi thống nhất trên toàn quốc, đồng thời trao quyền tự

chủ cho địa phương, trường học, nhà giáo

Đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục, giúp người học tiếp cận với những thành tựu hiện đại

của khoa học công nghệ Trong trào lưu cải cách, hiện nay, ở các nước phát triển người ta

đã nới đến việc đại chúng hóa đại học (theo UNESCO, số người học đại học trong độ tuổi dân số 18 – 23 đạt đến dưới 10%)

Đối với giáo dục phổ thông, trước những năm 60 (thế kỷ 20), các nước chủ yếu tập trung nâng cao chất lượng tiểu học Từ những năm 80 đến nay, xu thế chung là nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và phổ cập giáo dục trung học Từ năm 1965 đến 1985, quy

mô học sinh trung học trên thế giới tăng 300% - 153 triệu năm 1982

Tỉ lệ học sinh trung học phổ thông học lên đại học ở một số nước phát triển và đang phát triển trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương những năm 1986 – 1988 khá cao:

Ấn Độ, In–đô-nê–xia, Ma–lai–xia dưới 10%; Nhật Bản 28,2%; Niu Dilân 36,35%; Philippin 37,9%; Hàn Quốc, Thái Lan có tỉ lệ cao hơn Một số nước, tuy tỉ lệ học sinh lên đại học thấp nhưng tỉ lệ học sinh tiểu học học lên hết bậc trung học lại khá cao như: Trung Quốc 43%, Iran 48%, Việt Nam 50–60%

Việc xóa mù chữ được đẩy mạnh ở các nước kém phát triển Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có khả năng xóa xong nạn mù chữ trên toàn thế giới Đến năm 1995 mới đạt đến 8/10 đàn ông và 7/10 đàn bà biết chữ, vẫn còn khoảng 900 triệu người không biết đọc, biết viết

Sự bùng nổ sĩ số có thể có nguyên nhân là: do sự bùng nổ dân số thế giới sau chiến tranh; do những biến đổi kinh tế, mức sống được nâng cao, những người trẻ tuổi có điều kiện lưu lại lâu hơn trong hệ thống giáo dục; do nguyện vọng dân chủ hóa được nâng cao đòi hỏi giáo dục phát triển

Sự bùng nổ sĩ số khiến cho chi phí giáo dục chiếm phần quan trọng trong ngân sách; nhân sự và bộ máy quản lí phình to ra làm cho giáo dục trở thành một ngành quan trọng của quốc gia Sự tăng nhanh quy mô trong hệ thống giáo dục làm nảy sinh nhiều vấn đề cho xã hội và sự quản lí của nhà nước Những khó khăn về cơ sở vật chất trường lớp, thầy giáo cũng xuất hiện: giáo dục đã phải dùng đến biện pháp tình thế như học 2, 3 ca; dựng các trường lớp lắp ghép sẵn và tạm bợ; huy động cả các thầy giáo chưa được huấn luyện tốt v.v… Điều này xảy ra ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển

Tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục, kể cả ở tầm quốc gia và quốc tế cũng trở nên căng thẳng hơn Năm 1990 ước tính toàn thế giới còn khoảng 100 triệu trẻ em không được đi học, khoảng 1 tỷ người lớn còn mù chữ

Đội ngũ thầy giáo đông đảo hơn, quan hệ giữa thầy giáo và học sinh cũng thay đổi Thầy giáo không còn là người cung cấp thông tin duy nhất Vai trò chủ yếu của thầy giáo chỉ còn ở việc tổ chức, hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập Ở các nước phát triển có đến 80% ở tiểu học, 58% ở trung học nhà giáo là phụ

nữ, còn ở các nước đang phát triển, con số này tương ứng là 50% và 39%

Trang 30

Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh và liên tục của khoa học công nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơ bản và thực chất, đồng thời có yêu cầu càng cao hơn đối với giáo dục Các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ trở nên nổi trội và trở thành yếu tố quyết định của sự tăng trưởng và cạnh tranh Nhiều quốc gia đã tăng cường các môn khoa học, công nghệ trong các bậc học Trong xã hội xuất hiện sự chuyển dịch lao động từ tính vực công nghiệp chế tạo sang lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao: công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học…

Trong khi quy mô tăng đột biến, thì tổ chức hệ thống giáo dục vẫn giữ cơ bản như

cũ đã trở nên không còn thích hợp Các mục tiêu của giáo dục cũng cần được thẩm định lại để đáp ứng với các thách thức mới phát sinh Rõ ràng là, để giải quyết những vấn đề

đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy về giáo dục, phải nghĩ tới việc giáo dục suốt đời, giáo dục cho mọi người và một xã hội học tập

– Kinh tế tri thức

Trong khoảng từ những năm 80 của thế kỷ qua, đến nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã có bước phát triển đặc biệt, tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với thành tựu của các ngành công nghệ cao trụ cột chính như: công nghệ thông tin (siêu xa lộ thông tin, internet, multimedia, thực tế ảo…), công nghệ sinh học (công nghệ gen, công nghệ tế bào…), công nghệ vật liệu (vật liệu composit, vật liệu siêu dẫn, công nghệ nano…), công nghệ năng lượng,… đã đưa sự phát triển kinh tế sang một giai đoạn mới về chất, giai đoạn kinh tế tri thức

Như vậy là, bên cạnh các nền kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, đã có thêm nền kinh tế mới – kinh tế hậu công nghiệp – hay còn gọi là nền kinh tế tri thức (KTTT) Người ta đã nghiên cứu và chỉ ra những đặc trưng chủ yếu của 3 nền kinh tế trên: kinh tế sức người (kinh tế nông nghiệp), kinh tế tài nguyên (kinh tế công nghiệp) và kinh tế từ thức (trong đó tri thức và thông tin trở thành yếu tố sản xuất quan trọng hơn cả vốn và lao động)

Chiến lược phát triển giáo dục, phát triển con người của chúng ta phải đáp ứng yêu cầu của cả ba nền kinh tế ấy Chúng ta rất quan tâm đến những đặc trưng của ba nền ki tế này với ý tưởng chung là phát triển giáo dục nhằm phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực phục vụ các mục tiêu phát triển xã hội – kinh tế

So với sự chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, sự chuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức có ý nghĩa sâu sắc và trọng đại hơn Đó

là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào tài nguyên, lao động là chính sang một nền sản xuất dựa vào trí tuệ con người là chính, cũng tức là lực lượng sản xuất vật chất là chủ yếu sang lực lượng sản xuất tinh thần là chủ yếu

Trong nền KTTT sẽ xuất hiện một số vấn để mới đối với giáo dục

Học với lao động là một

Trang 31

Nền kinh tế tri thức dựa chủ yếu trên lao động trí óc và sáng tạo cho nên có sự trùng hợp giữa học tập và lao động Khi lao động để hoàn thành một sản phẩm trí tuệ thì đó cũng chính là học tập Do đó phải học tập từng phút, từng giờ trong lao động trí óc cho có hiệu quả Tư duy chính là lao động Tư duy và hợp tác sẽ làm cho lao động trí óc có hiệu quả hơn

Học tập trở nên thách thức suốt đời

Từ trước đến nay ta thường tách riêng thời đi học và thời đi làm Trong nền KTTT, học và làm là một Người ta tính rằng với khối kiến thức của một kỹ sư thì chỉ sau thời gian 3 năm khối kiến thức đó sẽ trở nên lạc hậu, cần được bổ sung Do đó phải liên tục học tập Một chuyên gia được định nghĩa là một người luôn luôn làm cho kiến thức tăng gấp đôi trong mỗi 18 tháng

Học tập dịch chuyển dần ra ngoài các trường chính quy

Trong nền KTTT, tiêu dùng cũng là học tập; sử dụng thành thạo điện tử gia đình cũng là học tập; mua hàng qua mạng internet, gửi thư điện tử (E–mail) v.v… đều phải học Giáo dục nhà trường chỉ là một phần, một giai đoạn ngắn trong toàn bộ cuộc sống của mỗi con người Vai trò của giáo dục ngoài nhà trường kể cả đối với đại học ngày càng lớn Giáo dục cao đẳng, đại học chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, giáo dục phổ cập Dường như khi đó học tập đã dịch chuyển dần ra ngoài các trường đại học chính quy

Xuất hiện hình thức giáo dục công nhân viên ở các hãng, các công ty: hàng loạt các trường đại học của công ty xuất hiện như MotorolaUniv., Hewlett – PackardUniv., Sam sung Univ v.v Cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên nhân tố cạnh tranh học tập, ai học tập được nhanh hơn sẽ thắng Chính các doanh nghiệp phải thành lập các tổ chức học tập

để cạnh tranh

Nhà trường của không gian điện tử

Một sinh viên cần phụ đạo về một vấn đề, trước đây phải tới gặp thầy giáo được phân công, bây giờ có thể thông qua mạng (internet trong nước – không gian điện tử) để đặt câu hỏi cho các địa chỉ và sẽ nhận được sự phụ đạo tận tình, thậm chí có thể đối thoại Xuất hiện nhà trường trên mạng, đó là nhà trường của không gian điện tử

Nếu hệ thống giáo dục được tích hợp đầy đủ vào siêu xa lộ thông tin (mạng máy tính quốc gia) thì khả năng thích nghi của hệ thống với nền kinh tế tri thức chắc chắn sẽ tốt đẹp

– Xu thế toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa là một xu thế của thế kỷ 20, do sự phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ – nhất là công nghệ cao và sự phát triển của kinh tế thị trường Xây dưng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực có trình độ trí tuệ và tay nghề nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh là cách làm thông minh chủ động hội nhập vào xu thế này

Trang 32

Trong quá trình toàn cầu hóa, lợi thế cạnh tranh ngày càng nghiêng về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ nhân tài Do có lợi thế về tri thức khoa học và công nghệ, các nước phát triển có cơ hội bóc lột giá trị thặng dư tinh vi và cao hơn trước đây nhiều lần

Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa là động lực và là nguồn gốc sức mạnh của mỗi dân tộc, là nội dung xuyên suốt mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, nghệ thuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Khi hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa, nếu biết phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại thì sẽ có sức để kháng đối với các cuộc

“xâm lược văn hóa” diễn ra hàng ngày, hàng giờ Cuộc cách mạng thông tin hiện nay đang tạo điều kiện thuận lợi để tiếp thu các tinh hoa văn hóa của các nước, nhưng đồng thời cũng làm cho các nền văn hóa dễ bị pha tạp, lai căng, mất bản sắc Chính sách đúng đắn là kết hợp hài hòa giữa tự do thông tin vui kiểm soát có lựa chọn Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và phát huy truyền thống dân tộc phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực giáo dục và trong lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội khoa học, nghệ thuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng… Chính đó là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc

Toàn cầu hóa là một xu thế không thể đảo ngược, đó là sự hợp tác trong cạnh tranh quyết liệt Điều kiện cần để thành công trong cuộc đua tranh này là có một đội ngũ nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và hợp tác Nền giáo dục nước ta có sứ mệnh đào tạo ra những người lao động có khả năng thích ứng với những thay đổi công nghệ, những biến động của việc làm, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, sự giao lưu văn hóa, sự chuyển đổi giá trị trong phạm vi khu vực và thế giới mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội cho GD – ĐT nước ta hội nhập với nền GD – ĐT của thế giới, bắt kịp với GD – ĐT các nước tiên tiến hơn và cơ hội sử dụng kho tàng tri thức nhân loại

b Bối cảnh trong nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc, trong thời gian từ nay đến khoảng năm 2020 ra sức phấn đấu để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Mục tiêu đặt ra đối với phát triển kinh tế là tăng trưởng thu nhập quốc nội trung bình năm 7 – 8% và ổn định trong một khoảng thời gian dài, phấn đấu GDP/ người đạt

700 – 800USD vào năm 2010 Để đạt mục tiêu đó, nhiệm vụ trung tâm trong thời gian tới

là tiến hành CNH, HĐH đất nước; tức là về mặt sản xuất sẽ chuyển đổi căn bản từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động có trình độ cao với công nghệ tiên tiến, công nghệ sản xuất và các hệ điều khiển hiện đại: về mặt xã hội sẽ biểu hiện nhiều giá trị hiện đại, văn minh chung của nhân loại ngày nay, đảm bảo các điều kiện

Trang 33

phát triển bền vững cả thiên nhiên và con người Con người có cuộc sống đảm bảo về vật chất và tinh thần, có học vấn, có năng lực sáng tạo và thích ứng với nghề nghiệp, tiếp cận nhanh với tiến bộ của công nghệ và những thay đổi trong sản xuất, có điều kiện tham gia nhiều và tích cực vào mọi mặt sinh hoạt xã hội

Nước ta tiến hành CNH, HĐH với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp với 76% dân cư sống ở nông thôn (điều tra dân số 1999) và 25.75% thu nhập quốc dân từ nông nghiệp (năm 1998) Trong quá trình CNH sẽ diễn ra sự dịch chuyển một cách cơ bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng giảm tỉ lệ đóng góp của nông lâm ngư nghiệp trong GDP xuống 18 –20% vào năm 2005, 17% vào năm 2010; tương ứng với các mốc thời gian đó, tăng tỉ lệ công nghiệp lên 36 – 38%, và 40%, dịch vụ lên 41% và 43%; giảm

tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xuống 50% vào năm 2010, lao động công nghiệp và xây dựng khoảng 23% và lao động dịch vụ khoảng 27% Để đạt được các chỉ tiêu đó cần đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Những nền kinh tế tăng trưởng cao ở Châu Á đã giải quyết thành công bài toán này và bài học của họ là dùng giáo dục làm chìa khóa để công nghiệp hóa nông nghiệp, biến gánh nặng dân số nông thôn thành ưu thế về nhân lực

Nền tảng của CNH, HĐH đất nước sẽ là việc ứng dụng công nghệ hiện đại, tạo cơ hội để chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế, tạo khả năng hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa Một mặt những công nghệ hiện đại, công nghệ cao sẽ được sử dụng trong lĩnh vực then chốt, mặt khác tạo nhiều công ăn việc làm Trong điều kiện đó, GD – ĐT có cơ hội đào tạo nhân lực trình độ cao, để sử dụng các công nghệ hiện đại trong các ngành sản xuất mới và cả nhân lực thích hợp cho những công việc truyền thống

Quá trình CNH, HĐH cũng sẽ đề ra yêu cầu đào tạo nhân lực để làm gia tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong lực lượng lao động xã hội cũng như trong tổng sản phẩm nội địa Lĩnh vực dịch vụ chủ yếu dựa vào nguồn lực con người và không đòi hỏi đầu tư cao về cơ sở vật chất như trong các ngành công nghiệp khác nên các nước đang phát triển như nước ta có thể nhanh chóng vươn lên chiếm lĩnh nó, rút ngắn thời gian phát triển Để tận dụng được khả năng đó, cũng cần phải chuẩn bị tốt về nhân lực

Nước ta tiến hành CNH, HĐH, xây dựng cơ sở vật chất CNXH trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường Khi sản xuất hàng hóa phát triển thì sức lao động cũng trở thành hàng hóa trên thị trường và mỗi cá nhân đều tìm cách làm tăng giá trị sức lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống bản thân Trong nền kinh tế nhiều thành phần, người học phải trang trải một phần kinh phí GD – ĐT, tức là chịu một phần chi phí để làm tăng giá trị sức lao động bản thân và sẽ được hoàn trả lại khi tham gia thị trường lao động sau này Điều đó tạo cơ hội cho GD – ĐT khai thác thêm nhiều nguồn lực ngoài kinh phí nhà nước Bởi vì thị trường chịu sự điều tiết theo quy luật cung – cầu, nên GD – ĐT cũng phần nào chịu tác động bởi quy luật đó Do sự tác động này mà động lực nâng cao chất lượng và hiệu quả của GD – Đào tạo được tăng lên, các cơ sở GD – ĐT có thêm cơ hội phát triển Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả

Trang 34

học tập, đến việc lựa chọn ngành nghề, đến các quan hệ trong nhà trường và ngoài xã hội

Vì vậy hệ thống GD – ĐT có sứ mệnh định hướng giá trị đúng đắn cho sự phát triển nhân cách của người học

c Thời cơ và thách thức

Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo ra thời cơ lớn, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục nước ta Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội tốt cho giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng coi trọng vai trò của giáo dục, đòi hỏi giáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân

Giáo dục nước ta phải vượt qua không chỉ những thách thức Một mặt phải khắc phục những yếu kém bất cập, thu hẹp khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến, mặt khác, phải khắc phục sự mất cân đối giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô và nguồn lực còn hạn chế giữa yêu cầu phát triển nhanh quy mô và nâng cao chất lượng

Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế đòi hỏi giáo dục phải tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển và đi trước một bước đón đầu sự phát triển của xã hội Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, tinh thần hiếu học, năng lực tiếp thu, vận dụng tri thức và kỹ năng mới Cần phát huy những lợi thế đó để vượt qua thách thức, tranh thủ thời cơ xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, hướng tới một xã hội học tập, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao phẩm chất toàn diện của con người Việt Nam trong thời đại mới, thúc đẩy tiến bộ xã hội

2.2 Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới Giáo dục và Đào tạo

2.2.1 Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù

2.2.2 Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương và các cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đi trước một bước, đạt trình độ ngang bằng với các nước có nền giáo dục phát triển Xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách

2.2.3 Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực

Trang 35

sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng

2.2.4 Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa Mở rộng giao lưu hợp tác với các nền giáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáo dục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai thác kịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực có chất lượng

2.3 Các giải pháp phát triển Giáo dục giai đoạn 2011 - 2020

Để đạt được mục tiêu chiến lược, cần thực hiện tốt 8 giải pháp, trong đó các giải pháp 1 là giải pháp đột phá và giải pháp 2 là giải pháp then chốt

2.3.1 Đổi mới quản lý giáo dục

a) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ làm cơ sở triển khai thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

b) Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện thống nhất đầu mối quản lý và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục Thực hiện đồng bộ phân cấp quản lý, hoàn thiện và triển khai cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý nhà nước về giáo dục theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền gắn với trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm

xã hội của các cơ sở giáo dục đi đôi với hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch, đảm bảo

sự giám sát của cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân

Bảo đảm dân chủ hóa trong giáo dục Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá người dạy, giáo viên và giảng viên tham gia đánh giá cán bộ quản lý, cán bộ quản lý cấp dưới tham gia đánh giá cán bộ quản lý cấp trên, cơ sở giáo dục tham gia đánh giá quản lý nhà nước về giáo dục

c) Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, xây dựng khung trình độ quốc gia

về giáo dục tương thích với các nước trong khu vực và trên thế giới, đảm bảo phân luồng trong hệ thống, đặc biệt là phân luồng sau trung học cơ sở, trung học phổ thông và liên thông giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo; đa dạng hóa phương thức học tập đáp ứng nhu cầu nhân lực, tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân

d) Phân loại chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và đại học theo các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, các cơ sở giáo dục chưa đạt chuẩn phải có lộ trình để tiến tới đạt chuẩn; chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh

tế - xã hội

đ) Thực hiện quản lý theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và quy hoạch phát triển nhân lực của từng ngành, địa phương trong từng giai đoạn phù hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

Trang 36

e) Tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục: chuẩn hóa đầu ra và các điều kiện đảm bảo chất lượng trên cơ sở ứng dụng các thành tựu mới về khoa học giáo dục, khoa học công nghệ và khoa học quản lý, từng bước vận dụng chuẩn của các nước tiên tiến; công khai về chất lượng giáo dục, các điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và tài chính của các cơ sở giáo dục; thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục; xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp, đại học

g) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp

2.3.2 Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

a) Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm

2015 Tập trung đầu tư xây dựng các trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

b) Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày, giáo viên dạy ngoại ngữ, giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp, giáo viên giáo dục đặc biệt và giáo viên giáo dục thường xuyên

c) Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên

Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo trên chuẩn; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ

Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm 2020 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ

d) Thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần tạo động lực cho các nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, nhất là với giáo viên mầm non; có chính sách đặc biệt nhằm thu hút các nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia có kinh nghiệm và uy tín trong và ngoài nước tham gia phát triển giáo dục

2.3.3 Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục

Trang 37

a) Trên cơ sở đánh giá chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tham khảo chương trình tiên tiến của các nước, thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương Chú trọng nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chất, quốc phòng - an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống; giáo dục kỹ năng sống, giáo dục lao động và hướng nghiệp học sinh phổ thông

b) Đổi mới chương trình, tài liệu dạy học trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học dựa trên nhu cầu của đơn vị sử dụng lao động, vận dụng có chọn lọc một số chương trình tiên tiến trên thế giới, phát huy vai trò của các trường trọng điểm trong từng khối ngành, nghề đào tạo để thiết kế các chương trình liên thông Phát triển các chương trình đào tạo đại học theo hai hướng: nghiên cứu và nghề nghiệp ứng dụng

c) Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên, ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông mở rộng các hình thức học tập đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người, giúp người học hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu công việc và nâng cao chất lượng cuộc sống

d) Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học, đến năm

2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giáo viên giáo dục nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Biên soạn và sử dụng giáo trình, sách giáo khoa điện tử Đến năm 2020, 90% trường tiểu học và 50% trường trung học cơ sở tổ chức dạy học 2 buổi/ngày Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi

đ) Thực hiện định kỳ đánh giá quốc gia về chất lượng học tập của học sinh phổ thông nhằm xác định mặt bằng chất lượng và làm căn cứ đề xuất chính sách nâng cao chất lượng giáo dục của các địa phương và cả nước

2.3.4 Tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục

a) Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính giáo dục nhằm huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nhà nước và xã hội đầu tư cho giáo dục; nâng cao tính tự chủ của các cơ sở giáo dục, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm đối với Nhà nước, người học và xã hội; đảm bảo nguồn lực tài chính cho một số cơ sở giáo dục Việt Nam

đủ sức hội nhập và cạnh tranh quốc tế

b) Đảm bảo tỷ lệ chi cho giáo dục trong tổng ngân sách nhà nước từ 20% trở lên, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và quản lý sử dụng có hiệu quả Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục được tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập; giáo dục ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội; giáo dục

Ngày đăng: 10/08/2017, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w