Nội dung giáo trình gồm có 5 chương: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước, công vụ, viên chức Chương 2: Đường lối, quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về Gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON
BÀI GIẢNG
(Lưu hành nội bộ)
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO (Dành cho sinh viên ngành CĐSP)
Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Hằng
Hoàng Thị Tường Vi
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 6
VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CÔNG VỤ, VIÊN CHỨC 6
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam 6
1.1.1 Khái niệm Quản l ý hành chính nhà nước 6
1.1.1.1 Quản lí 6
1.1.1.2 Quản lí nhà nước 6
1.1.1.3 Hành chính nhà nước 7
1.1.1.4 Nền hành chính nhà nước 7
1.1.1.5 Quản lí hành chính Nhà nước 8
1.1.2 Những quan điểm cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước 9
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam 10
1.1.3.1 Nguyên tắc nhân dân tham gia vào công việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội 10
1.1.3.2 Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 10
1.1.3.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ 11
1.1.3.4 Nguyên tắc pháp chế 12
1.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 13
1.1.4.1 Quốc hội 13
1.1.4.2 Chủ tịch nước 13
1.1.4.3 Chính phủ 14
1.1.4.4 Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân là hệ thông tổ chức thực hiện quyền tư pháp 15
1.4.5 Cơ quan chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 16
1.1.5 Quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo 16
1.1.5.1 Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo 16
1.1.5.2 Bộ máy quản lý Giáo dục và đào tạo 22
1.1.5.3 Quá trình phát triển hệ thống quản lí nhà nước về Giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và xu hướng đổi mới 24
1.1.5.4 Phương hướng đổi mới quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo 27
1.2 Giới thiệu Luật viên chức 28
1.2.1 Những quy định chung 28
1.2.2 Quyền lợi và nghĩa vụ của viên chức 31
1.2.2.1 Quyền của viên chức 31
1.2.2.2 Nghĩa vụ của viên chức 32
1.2.3 Những việc viên chức không được làm 33
1.2.4 Tuyển dụng, sử dụng viên chức 33
1.2.4.1 Tuyển dụng: 33
1.2.4.2 Hợp đồng làm việc 34
1.2.5 Khen thưởng và xử l ý vi phạm 35
1.3 Viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo giáo viên Trung học 36
1.3.1 Khái quát chung về viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo 36
1.3.2 Giáo viên trung học 36
CHƯƠNG 2 ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 38
2.1 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay 38
2.1.1 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay 38
2.1.2 Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới 41
2.3 Các giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 47
Trang 32.3.1 Đổi mới quản lý giáo dục 48
2.3.2 Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục 48
2.3.3 Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục 49
2.3.4 Tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 50
2.3.5 Tăng cường gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội 51
2.3.6 Tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách xã hội 51
2.3.7 Phát triển khoa học giáo dục 51
2.3.8 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục 52
CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI BẬC TRUNG HỌC 53
3.1 Điều lệ trường trung học 53
3.2 Các quy chế, quy định về hoạt động giảng dạy ở bậc Trung học 53
3.2.1 Quy định về giảng dạy 53
3.2.2 Quy định về công tác chủ nhiệm lớp 58
3.2.3 Quy chế về cho điểm, đánh giá xếp loại học sinh 59
3.3 Các quy chế, quy định về thanh tra, kiểm tra bậc Trung học 61
3.3.1 Thanh tra một nhà trường 61
3.3.3.Quy định về hình thức, tiêu chuẩn, danh hiệu thi đua khen thưởng đối với cá nhân, tập thể học sinh, sinh viên 63
3.3.3.1 Danh hiệu thi đua cá nhân 63
3.3.3.2 Danh hiệu thi đua tập thể 63
3.3.3.3 Tiêu chuẩn danh hiệu thi đua 64
3.3.3.3.1 Tiêu chuẩn danh hiệu thi đua cá nhân 64
3.3.3.3.2 Tiêu chuẩn danh hiệu thi đua tập thể 66
3.4 Quy chế công nhận trường Trung học đạt chuẩn quốc gia 67
CHƯƠNG 4 LUẬT GIÁO DỤC 69
4.1.1 Xuất phát từ tình hình giáo dục 69
4.1.2 Quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng, các quy định mới của Hiến pháp 1992 được sửa đổi bởi Nghị quyết 51/2001/QH10 69
4.1.3 Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 70
4.2 Nội dung cơ bản của Luật giáo dục 70
CHƯƠNG 5 THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 71
5.1 Thành tựu và yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực của đất nước và tỉnh Quảng Bình 71
5.1.1 Những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới 71
5.1.1.1 Những thành tựu chủ yếu về phát triển nguồn nhân lực của giáo dục đào tạo Việt Nam 71
5.1.1.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ các cấp học và trình độ đào tạo 72
5.1.1.3.1 Huy động số lượng 72
5.1.1.3.2 Công tác phổ cập giáo dục 73
5.1.1.3.3 Nâng cao chất lượng các bộ môn văn hóa, nghiệp vụ 73
5.1.2 Những hạn chế của giáo dục đào tạo so với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước và tỉnh Quảng Bình 77
5.1.2.1 Những hạn chế của giáo dục đào tạo Việt Nam so với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước 77
5.1.2.2 Những hạn chế của giáo dục đào tạo Quảng Bình so với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh 78
5.1.3 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Bình 79
5.1.3.1.Đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh, phát triển ngành nghề, tạo việc làm 79
Trang 45.1.3.3 Quản lý, sử dụng nguồn nhân lực 80
5.1.3.4.Tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực 81
5.1.3.5.Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền 81
5.2 Thực tiễn giáo dục vùng dân tộc, miền núi 82
5.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục vùng dân tộc, miền núi 82
5.2.1.1.Các quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước 82
5.2.2 Tình hình phát triển giáo dục đào tạo ở vùng dân tộc, miền núi 82
5.2.2.1 Thuận lợi và khó khăn 82
5.2.2.2 Tình hình phát triển giáo dục đào tạo ở vùng dân tộc, miền núi 83
5.2.3 Giải pháp phát triển giáo dục vùng dân tộc, miền núi 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên khối ngành CĐSP trường Đại học Quảng Bình, nhóm giảng viên bộ môn Cơ sở ngành biên soạn giáo trình Quản
lý hành chính nhà nước và Quản lý ngành Giáo dục và Đào tạo nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục đào tạo Nội dung giáo trình gồm có 5 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản lý hành chính nhà nước, công vụ, viên chức Chương 2: Đường lối, quan điểm của Đảng và nhà nước Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo
Chương 3: Điều lệ, quy chế, các quy định của Bộ giáo dục và đào tạo đối với bậc trung học
Chương 4: Luật giáo dục
Chương 5: Thực tiễn giáo dục địa phương
Do tính chất phức tạp và phạm vi rộng lớn về quản lý hành chính nhà nước cũng như các vấn đề về quản lý giáo dục đào tạo nên mặc dù nhóm tác giả đã cố gắng biên soạn nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và sinh viên để giáo trình được tiếp tục hoàn thiện hơn
Tác giả
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, CÔNG VỤ, VIÊN CHỨC
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam
1.1.1 Khái niệm Quản l ý hành chính nhà nước
Để nắm vững nội hàm khái niệm quản lí hành chính nhà nước chúng ta lần lượt nghiên cứu các khái niệm quan trọng sau đây:
Quản lí là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
+ Theo góc độ chính trị – xã hội, quản lí được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Vận hành sự kết hợp này cần có cơ chế quản lí phù hợp Cơ chế đúng, hợp lí thì
xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren
+ Theo góc độ hành động, quản lí được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành
Theo C Mác, quản lí (quản lí xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá loa động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lí (con người điều khiển con người) Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, T.23, trang 480)
Từ phân tích cơ sở lí luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:
Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan
Quản lí là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lí càng lớn, phạm vi càng rộng và nội dung càng phong phú, phức tạp
1.1.1.2 Quản lí nhà nước
Quản lí nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là sự quản lí của Nhà nước đối với xã hội và công dân Quản lí nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực Nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lí công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp,hành pháp và tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền
Trang 7hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành
vi của công dân
Cần lưu ý phân biệt hai khái niệm “Quản lí nhà nước” và “Nhà nước quản lí”:
+ “Quản lí nhà nước” là dạng quản lí xã hội thực thi quyền lực Nhà nước; dạng quản
lí này được thể hiện trong các cơ quan hành chính Nhà nước Điều 12, Hiến pháp 1992 đã ghi: “Nhà nước quản lí xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, quản lí nhà nước tương đồng với khái niệm quản lí quốc gia (Govermance), nghĩa là: quản lí nhà nước một cách hợp lí, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan
+ “Nhà nước quản lí” là nói đến các chủ thể quản lí; đó là hệ thống tổ chức của các
cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan hành chính Nhà nước
1.1.1.3 Hành chính nhà nước
Hành chính là một hoạt động xã hội rộng và rất phức tạp
Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều mang tính xã hội; các cá nhân luôn có quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Khi hoạt động có từ hai người trở lên để thực hiện một mục tiêu chung, mà nếu chỉ có một người không thể làm được, thì sẽ xuất hiện yếu tố tổ chức và quản lí hoạt động Hành chính là một dạng của sự quản lí các hoạt động
đó
Thuật ngữ “hành chính” (Tiếng Anh là Administration)
+ Theo nghĩa rộng, hành chính là sự thi hành chính sách và pháp luật của Chính phủ tức là hoạt động quản lí hành chính Nhà nước Quản lí hành chính nhà nước là một hình thức quản lí, mà chủ thể quản lí là Nhà nước Hành chính nhà nước là một bộ phận quản
lí của Nhà nước – nó là hoạt động của cơ quan hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng quyền lập quy và quyền hành chính
+ Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành chính của các cơ quan nhà nước ở địa phương như: quản lí hộ khẩu, trật tự, an ninh công cộng, quản lí công văn giấy tờ không thuộc văn bản pháp luật,… và có cả nghĩa thông thường như hỗ trợ, dịch vụ hành chính,…
Hành chính quan hệ mật thiết với quản lí, tổ chức, chính trị tạo nên các phạm trù: hành chính và quản lí, hành chính và tổ chức, hành chính và chính trị, hành chính và pháp luật
Nhà nước quản lí hành chính bằng pháp luật Còn hành chính nhà nước là “hành pháp trong hành động”, là sự thực thi pháp luật trong quản lí, điều hành mọi lĩnh vực đời sống của đất nước
Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lí nhà nước, trong đó cơ quan quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng quản lí (cơ quan,
tổ chức, cá nhân) trong lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại quản lí hành chính nhà nước do các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện
1.1.1.4 Nền hành chính nhà nước
Trang 8Nền hành chính nhà nước (hành chính công) là tổng thể cơ chế được cấu thành bởi
ba yếu tố sau đây:
Một là, hệ thông thể chế quản lí xã hội theo Pháp luật bao gồm: Hiến pháp, Luật,
Pháp lệnh và các văn bản, Quyết định, Nghị định, Thông tư của Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, quy phạm pháp luật của các cơ quan hành pháp và quản lí nhà nước Xây dựng thể chế của nền hành chính nhà nước dân chủ, thực hiện quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của dân, thiết lập kỷ cương Nhà nước, ý thức và trật tự pháp luật, cải cách và hoàn thiện thủ tục hành chính… Xây dựng thể chế quản lí kinh tế của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí của Nhà nước và tạo sự thích nghi về thể chế trong quan hệ đối ngoại, với luật pháp và tập quán quốc tế
Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ
sở Quy định thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan, mối quan hệ dọc, ngang, trung ương và địa phương Vận dụng tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp quản
lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ Các cơ quan trong hệ thống phải đủ mạnh về uy tín, năng lực và phẩm chất để phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lí nhà nước
Ba là, đội ngũ cán bộ và công chức nhà nước, chế độ công vụ và quy chế công
chức, các quy định về hệ thống ngạch, bậc, tiêu chuẩn chức danh và chế độ tiền lương, các quy chế bổ nhiệm, tuyển dụng, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng, đãi ngộ… là những cơ sở để nâng cao chất lượng công tác, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động và làm căn cứ cho đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước
Thực tế hoạt động của nền hành chính nhà nước xuất phát từ bản chất nhà nước pháp quyền, sống và làm việc theo khuôn khổ pháp luật để quản lí xã hội, đưa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, là tạo lập môi trường cho mọi tổ chức
và công dân sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật
1.1.1.5 Quản lí hành chính Nhà nước
Bộ máy Nhà nước được cấu thành bởi ba tổ chức giữ ba quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, trong đó quyền hành pháp là quyền chấp hành luật (lập quy), tổ chức thực hiện luật (quản lí hành chính) Hai quyền này đều tập trung vào Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, được thực hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật hành chính
Bộ máy hành chính Nhà nước còn được gọi là bộ máy quản lí Nhà nước
Hành pháp mang tính quyền lực chính trị (quyền lực nhà nước), còn quản lí hành chính nhà nước là “Hành pháp hành động”, là quyền thực thi quyền hành pháp Bản thân quản lí hành chính nhà nước không chỉ là chính trị, mà còn là hành chính
Trang 9– Là thành viên của Hội đồng nhân dân bầu ra để chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân dân (chính trị)
– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước ở địa phương (quản lí hành chính)
Từ phân tích trên, có thể định nghĩa quản lí hành chính Nhà nước như sau:
Quản lí hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức, và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan có
tư cách pháp nhân công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lí hành chính nhà nước tiến hành bằng những văn bản quy phạm pháp luật dưới luật để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của nhân dân
Nói một cách đơn giản hơn, quản lí hành chính nhà nước là việc tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản lí, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật
Như vậy, có thể thấy ba nội dung chính của khái niệm quản lí hành chính nhà nước:
Một là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là quyền lực nhà nước được gọi là
quyền quản lí hành chính, tức là “quyền hành pháp trong hành động”
Hai là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là hoạt động thực tiễn hàng ngày, tổ
chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định hành chính mang tính quy phạm hành chính, phục vụ cho các nhà cầm quyền, các nhà lãnh đạo và quản lí đất nước
Ba là, quản lí hành chính nhà nước, với tư cách là pháp nhân công pháp, chính là hệ
thống thiết chế tổ chức hành chính nhà nước Trong hệ thống này, đứng đầu là Chính phủ
và Thủ tướng Chính phủ, các bộ, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước trung ương, các cấp quản lí hành chính nhà nước địa phương và các tổ chức công quyền khác có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế kỹ thuật, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, nội vụ, ngoại giao… và các hoạt động của tổ chức và công dân
1.1.2 Những quan điểm cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
- Quan điểm 1 Xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Quan điểm này định hướng, chỉ đạo cho nhận thức về tư tưởng của Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, nhân dân là chủ thể, là người làm chủ, tổ chức, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước
- Quan điểm 2 Tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở học thuyết pháp quyền Việt Nam, có sự nghiên cứu, vận dụng có chọn lọc các mô hình tổ chức bộ máy của các nước
có thể chế dân chủ khác nhau và những biến thể của chúng Vì vậy, xâ dựng bộ máy nhà nước theo quan điểm: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trang 10- Quan điểm 3 Tăng cường hơn nữa quản l xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật,
sử dụng tối đa các phương pháp giáo dục, thuyết phục, rèn luyện các phẩm chất đạo đức cho công dân
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
Thực hiện nguyên tắc này, Hiến pháp nước ta ghi nhận: “công dân có quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội, thảo luận, kiến nghị với nhà nước và địa phương, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý” (điều 53 Hiến pháp 1992) Đây là sự bảo đảm bằng pháp luật khả năng nhân dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã hội, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất
Hiến pháp còn ghi nhận quyền của công dân tham gia quản lí nhà nước và quản lí xã hội qua việc ghi nhận quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện ở địa phương (điều 54) Ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước và của các cá nhân trong bộ máy nhà nước (điều 74) Những người làm việc trong cơ quan bảo vệ pháp luật làm trái pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (điều 74)
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tạo ra những khả năng, điều kiện và phương tiện để nhân dân tham gia vào quản lí nhà nước và quản lí xã hội Trong quá trình phát triển xã hội các chức năng quản lí ngày càng đơn giản hơn và ngược lại trình độ dân trí ngày một nâng cao hơn, do vậy mọi người đều có thể làm được nó không còn là chức năng riêng của một lớp người đặc biệt nữa, chức năng quản lí sẽ được mọi người thay nhau đảm nhiệm
1.1.3.2 Nguyên tắc Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất giai cấp công nhân của nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, nó được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Vai trò đó
đã được ghi nhận ở hai bản Hiến pháp gần nhất: bản Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 (đều ở điều 4)
Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương lĩnh, chiến lược, định ra các chủ trương chính sách cho hoạt động của nhà nước và toàn
xã hội để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Đảng lãnh đạo bằng tuyên truyền, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng và tổ chức, bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng Đảng xây dựng đường lối phù
Trang 11hợp với lợi ích của nhân dân, được nhân dân ủng hộ và thực hiện Như vậy, thực chất sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để nhà nước tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ, thực hiện chức năng quản lí bằng những công cụ, biện pháp của mình
Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác cán bộ Là Đảng cầm quyền nên Đảng
ta lựa chọn những đảng viên ưu tú của mình tham gia vào các cơ quan nhà nước trước hết
là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bằng con đường giới thiệu để nhân dân lựa chọn bầu ra Vì vậy, cơ chế dân chủ cũng là thước đo uy tín và năng lực của Đảng trước
xã hội và nhân dân Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng không “hoá thân thành nhà nước”, do vậy việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò quản lí của nhà nước là yêu cầu khách quan Song, cũng cần phải đề phòng và đấu tranh chống lại những quan điểm sai lầm muốn tách Đảng ra khỏi nhà nước, cần phải cảnh giác trước bọn cơ hội và các thế lực thù địch âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lêmn, đưa đất nước đi chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội
1.1.3.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta Nguyên tắc này đã được ghi ở điều 4 các bản Hiến pháp 1959, 1980 và
1992 Nguyên tắc tập trung dân chủ chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Một nhà nước “của dân, do dân” được thể hiện từ mục đích đến tổ chức hoạt động
Bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp bao gồm ba cơ quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp Hoạt động của các cơ quan này theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nhưng ở mỗi cơ quan nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện khác nhau
Đối với Quốc hội khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng, các đại biểu thường cân nhắc đến:
– Lợi ích của cả nước khi biểu quyết lựa chọn một phương án trong nhiều phương
Đối với Chính phủ: Chính phủ vừa là thiết chế làm việc với chế độ tập thể quyết
định theo đa số về những vấn đề quan trọng, vừa đề cao vai trò cá nhân của Thủ tướng Chính phủ - người quyết định những vấn đề trong điều hành công việc thường xuyên của Chính phủ Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của Chính phủ vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập thể, vừa đảm bảo sự quản lí của người đứng đầu Chính phủ
Đối với cơ quan tư pháp: Trong các hoạt động xét xử, nguyên tắc tập trung dân
Trang 12khác trong hoạt động tố tụng, xác lập quan hệ giữa các cấp xét xử, quan hệ giữa các cơ quan điều tra v.v…
Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ là yếu tố đảm bảo hiệu lực quản lí của bộ máy nhà nước ta trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của các cơ quan trung ương cũng như ở địa phương
– Một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội
– Pháp luật phải được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống, từ các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân
Như vậy, không phải cứ có nhà nước, có pháp luật là có pháp chế, nhưng pháp luật lại đóng vai trò tiền đề, cơ sở cho một trật tự pháp chế Bởi vì pháp luật là thước đo, là tiêu chuẩn thẩm định trật tự xã hội và tình trạng pháp chế cụ thể trong từng thời kỳ Để nhận ra một xã hội có pháp chế trước hết người ta xem xét pháp luật đã có hay chưa, có đầy đủ hay không? Pháp luật được thực hiện hay chỉ là hình thức; tính xã hội của pháp luật ra sao?
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi:
– Thứ nhất, nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một cách kịp thời và có
hệ thống Nhà nước và pháp luật là hai mặt thống nhất, thống nhất giữa chủ thể và phương tiện Để nhà nước hoạt động đảm bảo nguyên tắc pháp chế, các văn bản luật và các văn bản pháp quy để thi hành luật (văn bản dưới luật) phải được ban hành kịp thời và đồng bộ
– Thứ hai, các cơ quan nhà nước được lập ra và hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật quy định về địa vị pháp lí, quy mô và thẩm quyền Nguyên tắc này không chấp nhận hai khả năng thường xảy ra ở những nơi mà tình trạng pháp chế bị vi phạm: khả năng thứ nhất là các hoạt động quản lí vượt thẩm quyền được giao, khả năng thứ hai là buông lỏng,
bỏ trống một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao
– Thứ ba, sự tôn trọng hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước Nhà nước thay
mặt nhân dân ban hành luật pháp, nhưng nhà nước cũng bị luật pháp điều chỉnh Nghĩa là: nếu cơ quan nhà nước trong hoạt động phạm sai lầm, vi phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm về những sai lầm đó trước pháp luật Nhà nước vì vậy vừa là chủ thể của luật pháp nhưng cũng vừa là đối tượng để luật pháp điều chỉnh Đây là đòi hỏi sự tôn trọng của nguyên tắc pháp chế, đồng thời thể hiện tính dân chủ của nhà nước ta, cũng là yêu
Trang 13cầu rất quan trọng trong quản lí hành chính, trong hoạt động của các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, thực hiện tốt các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo cho nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân” trong tổ chức và hoạt động
1.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Theo Hiến pháp 1992 cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta gồm có: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
và tư pháp) Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội là cơ quan cao nhất quyết định những chính sách về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân
Quốc hội là cơ quan giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước Hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất của Quốc hội là các kỳ họp Quốc hội Đại biểu Quốc hội về nguyên tắc cũng phải hoạt động thường xuyên trong cả nhiệm kỳ, chịu sự giám sát và có thể bị cử tri hoặc Quốc hội bãi miễn bất cứ lúc nào nếu tỏ ra không còn xứng đáng Quốc hội có các Hội đồng và Ủy ban Trong điều kiện hiện nay ở các Hội đồng và Ủy ban của Quốc hội có một bộ phận cán bộ làm việc theo chế độ chuyên trách còn phần lớn đại biểu Quốc hội là kiêm nhiệm, phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu
Ở nước ta hiện nay, Quốc hội chưa hoạt động thường xuyên nên Quốc hội lập ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội Ủy ban thường vụ Quốc hội được giao một số quyền hạn theo quy định của Hiến pháp như: quyền quyết định ra pháp lệnh do Quốc hội giao, quyền trong thời gian Quốc hội không họp phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; quyền giám sát các hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quyền đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với hiến pháp và luật… Quyền quyết định trong thời gian Quốc hội không họp tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nhà nước bị xâm lược: quyền quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ
Trang 14Chủ tịch nước “là người đứng đầu nhà nước thay mặt nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại” (Điều 101 Hiến pháp 1992) Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định ở điều 103 Hiến pháp 1992, theo đó người đứng đầu quốc gia là một cá nhân Chủ tịch nước ký công bố các văn bản luật pháp (của Quốc hội) và pháp lệnh (của Ủy ban thường vụ Quốc hội) nhưng Chủ tịch nước có quyền đề nghị xem xét lại pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và nếu không nhất trí thì trình ra Quốc hội quyết định Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cũng như xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ Với quy chế của Hiến pháp 1992 thiết chế Chủ tịch nước cùng với thiết chế Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, vừa đảm bảo tính tập thể trong việc quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong khi Quốc hội không họp, vừa đảm bảo vị trí của người đứng đầu nhà nước
1.1.4.3 Chính phủ
Theo quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất và phân công ba quyền, thì Quốc hợi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nắm quyền lập pháp Dưới quyền lực tối cao và thống nhất đó của Quốc hội là những cơ quan quyền lực nhà nước về hành pháp
và tư pháp Chính phủ là cơ quan quyền lực hành pháp cao nhất Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội Trong kỳ họp này Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng đề nghị danh sách các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và chịu sự giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chỉnh phủ
Theo điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ, thì thẩm quyền của Chính phủ bao gồm:
– Quyền kiến nghị lập pháp: Dự thảo các văn bản luật trình Quốc hội, và dự thảo pháp lệnh trình bày Ban Thường vụ Quốc hội Dự thảo kế hoạch nhà nước, ngân sách, các chính sách lớn về đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối của Đảng để trình Quốc hội
– Quyền lập quy: Ban hành các văn bản pháp quy có giá trị pháp lí trong cả nước – Quyền quản lí và điều hành toàn bộ công việc của đất nước: Xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội theo đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và hệ thống pháp quy của Chính phủ
– Quyền xây dựng và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức cơ quan quản lí nhà nước, thành lập các cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan giúp Thủ tướng, lãnh đạo Ủy ban
Trang 15nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương
– Quyền hướng dẫn, kiểm tra hội đồng nhân dân các cấp
Chính phủ hoạt động bằng các hình thức cơ bản sau:
Một là: Hoạt động tập thể là các phiên họp của Chính phủ
Hai là: Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng là những người
giúp Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng, khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ
Ba là: Hoạt động của Bộ trưởng với tư cách là thành viên của chính phủ đứng đầu
một Bộ hay cơ quan ngang Bộ
1.1.4.4 Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân là hệ thông tổ chức thực hiện quyền tư pháp
– Cơ cấu tổ chức toà án gồm: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định Toà án nhân dân là cơ quan xét
xử của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (điều 127 – Hiến pháp 1992) Trong
hệ thống toà án thì Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Có chức năng và quyền giám đốc việc xét xử của Toà
án nhân dân địa phương và Toà án quân sự, giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các Toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà án đó Chánh
án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu và chịu trách nhiệm báo cáo công việc trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội
Nguyên tắc hoạt động của Toà án là “khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (điều 130 – Hiến pháp 1992) và “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số” (điều
Để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm minh, thống nhất, Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức thành một hệ thống Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu Sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; các Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, kiểm sát viên nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, chịu trách nhiệm và
Trang 16nhiệm báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Viện trưởng các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của Hội đồng nhân dân
1.4.5 Cơ quan chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân địa phương là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; đại diện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (điều 118 – Hiến pháp 1992) Hội đồng nhân dân địa phương phải chấp hành Hiến pháp, luật, các quy định và nhiệm vụ của cấp trên giao cho và vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương tự quyết định những vấn đề thuộc quyền lợi của nhân dân địa phương trong phạm vi được phân cấp theo luật định Vì vậy, Hội đồng nhân dân phải đặt dưới sự giám sát, hướng dẫn của Quốc hội, sự hướng dẫn kiểm tra của Chính phủ
Ủy ban nhân dân nhân theo quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân bầu ra, là
cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
và nghị quyết của Hội đồng nhân dân (điều 123 – Hiến pháp 1992)
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên, thực hiện chức năng quản lí nhà nước ở địa phương, vừa do Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa
do Ủy ban nhân dân cấp trên giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ
1.1.5 Quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo
1.1.5.1 Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo
Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo chính là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm
vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước
Trong khái niệm quản lí nhà nước về giáo dục có 3 yếu tố cơ bản là: chủ thể, đối tượng và mục tiêu quản lí nhà nước về giáo dục
Chủ thể quản lí nhà nước về giáo dục là các cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp), chủ thể trực tiếp là bộ máy quản lí giáo dục từ trung ương đến cơ sở (các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục được quy định cụ thể trong điều 87 của Luật Giáo dục)
Đối tượng của quản lí nhà nước về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, là mọi hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước
Trang 17Mục tiêu quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo, về tổng thể đó là bảo đảm trật
tự, kỷ cương trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nhân cách của công dân Mỗi cấp học, ngành học có những mục tiêu cụ thể được quy định trong Luật Giáo dục và các điều lệ nhà trường
Tóm lại, quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự quản lí của các cơ quan quyền lực nhà nước, của bộ máy quản lí giáo dục từ trung ương đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho công dân
b Tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
* Tính chất của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là quản lí nhà nước về một lĩnh vực cụ thể, cho nên nó có những tính chất chung của quản lí nhà nước và quản lí hành chính nhà nước, cụ thể như sau:
– Tính lệ thuộc vào chính trị: quản lí nhà nước về giáo dục phục tùng và phục vụ nhiệm vụ chính trị; tuân thủ chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước
– Tính xã hội: giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và của toàn xã hội Trong quản
lí nhà nước về giáo dục cần phải coi trọng tính xã hội và dân chủ hoá giáo dục Giáo dục
và đào tạo luôn phát triển trong mối quan hệ với sự phát triển của kinh tế xã hội
– Tính pháp quyền: quản lí nhà nước là quản lí bằng pháp luật Quản lí nhà nước
về giáo dục và đào tạo cũng phải tuân thủ hành lang pháp lí mà nhà nước đã quy định cho một hoạt động quản lí các hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
– Tính chuyên môn nghiệp vụ: cán bộ – công chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cần được đào tạo có trình độ tương ứng với yêu cầu về tiêu chuẩn các ngạch, chức danh đã được quy định Việc tuyển dụng cán bộ – công chức tuân theo các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh mà nhà nước đã ban hành
– Tính hiệu lực, hiệu quả, lấy hiệu quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để đánh giá cán bộ – công chức ngành giáo dục và đào tạo; chất lượng, hiệu quả và sự bảo đảm trật tự kỷ cương trong giáo dục và đào tạo là thước đo trình độ, năng lực, uy tín của các cơ sở giáo dục và đào tạo và của các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
* Đặc điểm của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Trong một số tính chất nêu trên, có những tính chất có nét đặc biệt mà ta có thể nhấn mạnh hơn và chúng trở thành các đặc điểm cần lưu ý
Quản lí nhà nước là việc thực thi ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân
Quản lí hành chính nhà nước là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, hành vi công dân
Trang 18Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, một hoạt động mang tính xã hội cao, quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo ở cấp cơ sở thực chất là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước phân cấp và thực tế là thực thi quản lí hành chính nhà nước đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo Vì vậy ở cấp cơ sở khái niệm quản lí nhà nước và quản
lí hành chính nhà nước đối với giáo dục và đào tạo giao thoa với nhau Bởi vì đây chính
là cấp tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hành chính giáo dục Trên cơ
Hành chính giáo dục thực chất là triển khai chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do nhà nước ủy quyền, thay mặt nhà nước triển khai sự nghiệp giáo dục và vào tạo và điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn nhằm bảo đảm các quy định, quy chế về giáo dục và thực hiện được mục tiêu giáo dục mà nhà nước quy định Với vai trò trên, các hoạt động quản lí như bảo đảm môi trường giáo dục, đảm bảo điều kiện giáo dục, bảo đảm trật tự, kỉ cương nhà trường; thanh tra, kiểm tra để bảo đảm quá trình giáo dục và đào tạo thực hiện đúng quy định của nhà nước về mục tiêu, nội dung, quy chế… là hoạt động mang nhiều tỉnh quản lí hành chính, mặt khác các hoạt động quản
lí quá trình sư phạm… lại mang nhiều tính quản lí chuyên môn Rõ ràng quản lí cơ sở giáo dục (nhà trường) thực chất là quản lí các hoạt động hành chính – sư phạm thâm nhập vào nhau, chúng là hai mặt của một quá trình quản lí: quản lí nhà trường Tuy nhiên, khi
ta thực hiện tốt những quy chế chuyên môn chính là ta đang bảo đảm trật tự, kỷ cương trong các hoạt động sư phạm Mặt khác khi ta chú ý thích đáng tới việc bảo đảm môi trường kinh tế – xã hội, môi trường giáo dục tốt thì chúng cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục Cần lưu ý rằng quan tâm thích đáng đến đặc điểm này sẽ giúp cho các cán bộ quản lí giáo dục giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ trong hoạt động quản lí giáo dục của mình Chính vì vậy, một mặt cần phải nắm chắc những quy định, quy chế để chỉ đạo việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở cơ sở (quản lí hành chính), mặt khác cần phải hiểu rõ nghiệp
vụ sư phạm, đặc điểm của quá trình giáo dục để chỉ đạo chuyên môn Chỉ trên cơ sở biết kết hợp quản lí hành chính và quản lí chuyên môn thì mới có thể chỉ đạo tốt hoạt động giáo dục và đào tạo, tiến tới thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà nước
- Đặc điểm về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lí
Đặc điểm thứ hai của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo cũng là đặc điểm nổi bật của quản lí nhà nước và quản lí hành chính nhà nước nói chung ở mọi lĩnh vực,
đó là tính quyền lực nhà nước trong các hoạt động quản lí Đặc điểm này biểu hiện ở ba
Trang 19vấn đề cơ bản là: tư cách pháp nhân trong quản lí, công cụ và phương pháp quản lí và quan hệ thứ bậc trong quản lí
+ Điều kiện để triển khai quản lí nhà nước là phải có tư cách pháp nhân và yêu cầu
về tính hợp pháp trong quản lí là yêu cầu trước hết Muốn có tư cách pháp nhân để quản
lí phải được bổ nhiệm và khi đã được bổ nhiệm cần phải thực hiện đúng, đủ chức năng, thẩm quyền Không lạm quyền cũng không đùn đẩy trách nhiệm; thực hiện đúng chế độ thủ trưởng trong việc ra quyết định và trong việc chịu trách nhiệm về các quyết định quản
lí trước tập thể và cấp trên Trong quản lí nhà nước sẽ không có tư cách pháp nhân để “ra quyền” khi chưa được bổ nhiệm Tuy nhiên, mỗi tư cách pháp nhân đều có trách nhiệm
và quyền hạn tương ứng, việc hiểu cho đúng, làm cho đủ thẩm quyền là thước đo khả năng sử dụng quyền lực Nhà nước của một tư cách pháp nhân Trong thực tế có những vấn đề phát sinh do không nhận thức đúng tính quyền lực Nhà nước trong các hoạt động quản lí Thoái quyền và lạm quyền là hai thái cực của sự vi phạm thẩm quyền, mặt khác khái niệm thẩm quyền cũng gắn với sự phân cấp và tuân thủ thứ bậc chặt chẽ trong quản
lí nhà nước
+ Phương tiện quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là các văn bản pháp luật và pháp quy Phương pháp chủ yếu để quản lí nhà nước là phương pháp hành chính tổ chức Cần nhận thức rằng pháp luật, pháp quy là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, phản ảnh lợi ích của toàn dân, vì vậy đây chính là hành lang pháp lí cho việc triển khai các hoạt động quản lí giáo dục, bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lí Việc không tuân thủ hành lang pháp lí trong các hoạt động quản lí giáo dục tức là
vi phạm trật tự kỷ cương và sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật
+ Trong quản lí nhà nước phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lí theo sự phân cấp rõ ràng và mệnh lệnh – phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong quản lí nhà nước Tính quyền lực nhà nước ở đây cũng chính là việc cán bộ quản lí giáo dục cấp phòng cần nhận thức đầy đủ rằng cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương trong quá trình quản lí giáo dục
- Kết hợp nhà nước – xã hội trong quá trình triển khai quản lí nhà nước về giáo dục
và đào tạo
Chúng ta đều biết giáo dục và đào tạo là một hoạt động mang tính xã hội cao và Đảng ta cũng đã nhấn mạnh tư tưởng giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của nhà nước và của toàn xã hội
Rõ ràng, dân chủ hoá và xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng có tính chiến lược và nó có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục nói chung và quản lí giáo dục nói riêng Nhiều bài toán quản lí giáo dục sẽ rất khó giải quyết nếu không có sự tham gia của đông đảo lực lượng xã hội Đây cũng là một đặc điểm quan trọng cần nhận thức trong quản lí giáo dục
Tóm lại: Quản lí nhà nước về giáo dục là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước quy định, phân cấp trong các hoạt động quản lí giáo dục Ở một
Trang 20động hành chính – giáo dục, vì vậy nó có hai mặt quản lí thâm nhập vào nhau, đó là quản
lí hành chính sự nghiệp giáo dục và quản lí chuyên môn trong quá trình sư phạm
* Nguyên tắc quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Hoạt động quản lí nhà nước về giáo dục cần quán triệt hai nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ
Mọi cơ sở giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo theo sự chỉ đạo ngành dọc, nhưng các cơ sở giáo dục đều đóng trên một địa bàn cụ thể nào đó, vì vậy cũng phải tuân thủ sự quản lí hành chính của địa phương theo quy định phân cấp của nhà nước
Mọi hoạt động quản lí không thể tách rời sự chỉ đạo theo ngành dọc và theo lãnh thổ và chúng được coi là một nguyên tắc quan trọng trong quản lí nhà nước nói chung và quản lí nhà nước về giáo dục nói riêng
Nội dung chủ yếu của nguyên tắc này dưới góc độ vĩ mô có thể diễn đạt như sau:
sự nghiệp giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân là một hệ thống nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo thống nhất trong phạm vi cả nước Chính quyền địa phương quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo theo phân lãnh thổ của mình thông qua cơ quan chuyên môn, theo nhiệm vụ, quyền hạn do nhà nước quy định phù hợp với cơ chế phân cấp
Để thực hiện được điều đó nhà nước đã quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của ngành và địa phương như sau:
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nhà nước quy định, như:
– Xét duyệt và cho phát hành các loại sách giáo khoa
– Quy đình tiêu chuẩn đánh giá, thể lệ cấp phát và thu hồi văn bằng, chứng chỉ giáo dục và đào tạo
– Xây dựng tiêu chuẩn định mức giáo viên, tổ chức, quản lí thống nhất việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các cấp
– Thực hiện chức năng thanh tra giáo dục trong cả nước
+ Nhiệm vụ, quyền hạn Hội đồng nhân dân địa phương:
– Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục của địa phương
– Giám sát việc thi hành pháp luật và chủ trương chính sách về giáo dục ở địa phương
– Quyết định chủ trương huy động và sử dụng nguồn lực ở địa phương nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở địa phương
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Nhân dân địa phương
– Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục, bảo đảm các điều kiện cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục trên địa bàn
– Quản lí các trường, các cơ sở giáo dục theo sự phân cấp
– Chỉ đạo thực hiện xã hội hoá giáo dục, tổ chức thực hiện phổ cập, xoá mù chữ
Trang 21Nói chung, chính quyền địa phương có trách nhiệm bảo đảm môi trường kinh tế –
xã hội lành mạnh cho các hoạt động giáo dục diễn ra đúng mục tiêu của nhà nước
Trong hoạt động quản lí ở một cơ sở giáo dục và đào tạo địa phương phải tuân thủ những quy định, quy chế chuyên môn của ngành dọc (thực hiện quy chế thi cử, văn bằng chứng chỉ, chỉ thị năm học…) Sự kết hợp có hiệu quả sự chỉ đạo của ngành và lãnh thổ trong việc triển khai các hoạt động quản lí giáo dục làm một nguyên tắc quan trọng trong quản lí nhà nước về giáo dục
- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí giáo dục và đào tạo
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã hội ở nước ta, đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Quản lí nhà nước về giáo dục cũng tuân thủ nguyên tắc này Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu nhà nước thống nhất quản lí hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung… quy chế thi cử và hệ thống văn bằng (Điều 13, Luật Giáo dục) Bên cạnh đó phân cấp rõ ràng về quản lí giáo dục cho địa phương và tạo điều kiện để cơ sở phát huy chủ động và sáng tạo
Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng đòi hỏi trong quá trình triển khai quản lí, chỉ đạo cần tuân thủ những quy định chung của cấp trên về chủ trương, đường lối, phát triển giáo dục; đòi hỏi cơ sở phải tuân thủ hành lang pháp lí đã quy định nhưng tuyệt đối không được áp đặt, cần tạo điều kiện cho cơ sở phát huy quyền chủ động sáng tạo của họ
Nguyên tắc tập trung dân chủ có thể vận dụng được trong hoạt động quản lí nhà nước về giáo dục ở cơ sở cần suy nghĩ trả lời cho câu hỏi: làm thế nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa chế độ thủ trưởng và thực hiện dân chủ cơ sở ở một trường học?
Rõ ràng nguyên tắc tập trung dân chủ đối với quản lí nhà nước về giáo dục có nghĩa là Nhà nước thống nhất, tập trung quản lí về chế độ, chính sách giáo dục, về mục tiêu, nội dung giáo dục và quy chế văn bằng… Tuy nhiên, tạo điều kiện cho cơ sở chủ động sáng tạo trong việc triển khai các hoạt động giáo dục và quản lí giáo dục cụ thể, tránh việc ôm đồm hoặc buông lỏng trên cơ sở phân cấp, phân quyền về quản lí giáo dục
rõ ràng bằng một hành lang pháp lí hợp lí, đồng bộ Đối với cơ sở, phát huy quyền làm chủ của tập thể sư phạm, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân theo chế độ thủ trưởng đối với việc quản lí nhà nước Dân chủ hoá giáo dục, dân chủ hoá nhà trường là các tư tưởng lớn, tuy nhiên việc dựa vào các văn bản pháp luật, pháp quy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng tham gia hoạt động giáo dục là điều cần nắm chắc khi triển khai nguyên tắc tập trung dân chủ ở cơ sở
Tóm lái, nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ ở đây là phát huy quyền chủ động của cơ sở dựa trên hành lang pháp lí được quy định bởi Luật Giáo dục và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lí giáo dục đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát huy dân chủ của tập thể theo quy chế dân chủ cơ
sở do Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
c Nội dung quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Trang 22Quản lí nhà nước đối với các cấp quản lí đào tạo bao gồm bốn nội dung chủ yếu sau đây:
Một là: Hoạch định chính sách cho giáo dục và đào tạo Lập pháp và lập quy cho các hoạt động giáo dục và đào tạo Thực hiện quyền hành pháp trong quản lí giáo dục
Hai là: Tổ chức bộ máy quản lí giáo dục
Ba là: Huy động và quản lí các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục
Bốn là: Thanh tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lí giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục
Tuy nhiên quản lí nhà nước ở các cấp độ khác nhau được cụ thể hoá nội dung không hoàn toàn giống nhau
– Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan thay mặt Chính phủ thực hiện quyền quản lí nhà nước về giáo dục, theo khuyến cáo của Hội đồng Giáo dục Quốc gia tập trung làm tốt những nội dung sau:
+ Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển ngành
+ Xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lí nội dung và chất lượng giáo dục
và đào tạo
+ Tổ chức thanh tra, kiểm tra và thẩm định
– Đối với cấp địa phương (tỉnh, huyện, cơ quan chuyên môn là sở, phòng giáo dục
và đào tạo) cần tập trung làm tốt những nội dung chủ yếu sau:
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương và chỉ đạo thực hiện
+ Quản lí chuyên môn nghiệp vụ các trường theo sự phân cấp và quản lí nhà nước
về các hoạt động giáo dục ở địa phương
+ Thực hiện kiểm tra, thanh tra giáo dục ở địa phương
Đối với cơ sở giáo dục và đào tạo (trường) tập trung làm tốt những nội dung chủ yếu sau:
+ Tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách giáo dục thông qua việc thực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục và bảo đảm các quy chế chuyên môn…
+ Quản lí đội ngũ sư phạm, cơ sở vật chất, tái chính… theo các quy định chung, thực hiện kiểm tra nội bộ bảo đảm trật tự an ninh trong nhà trường
+ Điều hành các hoạt động của nhà trường theo Điều lệ nhà trường đã được ban hành và giám sát sự tuân thủ điều lệ đó
1.1.5.2 Bộ máy quản lý Giáo dục và đào tạo
a Khái niệm về cơ cấu tổ chức quản lí
Cơ cấu tổ chức quản lí là tập hợp các bộ phận (đơn vị hay cá nhân) có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp khác nhau nhằm thực hiện chức năng quản lí và mục tiêu chung đã được xác định
b Các kiểu cơ cấu tổ chức quản lí
– Cơ cấu trực tuyến:
Trang 23Cơ cấu trực tuyến chỉ rõ mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới được quy định theo nguyên tắc trực tuyến (đường thẳng) Người thủ trưởng thực hiện tất cả các chức năng quản lí và chịu trách nhiệm trực tiếp trước mọi hoạt động của cấp dưới Người thừa hành (bộ phận hay cá nhân) chỉ nhận nhiệm vụ và chịu trách nhiệm với một cấp trên trực tiếp
– Cơ cấu chức năng:
Đặc trưng cơ bản của kiểu cơ cấu này là thủ trưởng ủy quyền trực tiếp cho các khối chức năng được ra quyết định và trực tiếp giải quyết các công việc có liên quan đến những chức năng do mình đảm nhiệm Như vậy các cấp cơ sở và những người thừa hành đồng thời chịu sự chỉ đạo và quyết định của người lãnh đạo trực tiếp và người lãnh đạo các khối chức năng
– Cơ cấu trực tuyến – tham mưu:
Cơ cấu này dựa trên cơ sở lấy cơ cấu trực tuyến làm nền tảng, thủ trưởng và những người lãnh đạo trực tuyến được sự giúp đỡ của một bộ phận tham mưu tư vấn trong việc đề ra quyết định Thủ trưởng và người lãnh đạo trực tuyến vẫn toàn quyền quyết định trong phạm vi tổ chức của mình Các bộ phận tham mưu không được quyền ra lệnh trực tiếp cho người thừa hành mà chỉ hoàn toàn với tư cách tư vấn (giúp việc) nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các quyết định của người lãnh đạo
– Cơ cấu trực tuyến – chức năng:
Khác với cơ cấu chức năng; ở kiểu cơ cấu này nhiệm vụ, vai trò của các bộ phận chức năng chỉ là tham mưu, tư vấn, đề xuất cho thủ trưởng và hướng dẫn phần chuyên môn của mình cho lãnh đạo tuyến Mọi quyền quyết định vẫn thuộc về thủ trưởng
– Cơ cấu chương trình – mục tiêu:
Để điều phối việc thực hiện những chương trình – mục tiêu, đề án hay dự án nhằm vào những mục tiêu nhất định, trong thời gian nhất định người thủ trưởng có thể hình thành các bộ phận đặc biệt: bộ phận tham mưu (Hội đồng, Ủy ban…), cử lãnh đạo đề án M1, M2 Khi chương trình hoàn thành, các bộ phận điều hành, quản lí đề án, dự án… tự giải thể
c Nguyên tắc xây dựng cơ cấu tổ chức quản lí
- Nguyên tắc tính đẳng cấu hay nguyên tắc tính phù hợp giữa cơ cấu tổ chức của
cơ quan quản lí với tính phức tạp của chức năng, nhiệm vụ quản lí, tính đa dạng của các mục tiêu quản lí, quy mô và độ phức tạp của đối tượng quản lí với các điều kiện quản lí
– Nguyên tắc bảo đảm khả năng quản lí được hay nguyên tắc đảm bảo khối lượng
có thể kiểm tra được
– Một cán bộ lãnh đạo hay một cơ quan điều hành chỉ có thể quản lí có hiệu quả với một số lượng tối ưu các đối tượng quản lí (số người, số khâu đơn vị, bộ phận dưới quyền) Nếu vượt quá giới hạn thì hiệu quả quản lí sẽ bị giảm sút
– Nguyên tắc nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm phải được quy định rõ ràng và tương xứng với nhau
Trang 24– Nhiệm vụ và quyền hạn giao cho từng người, từng bộ phận, từng cấp phải rõ ràng, hợp lí, không có sự chồng chéo, quyền hạn phải đi đôi tương xứng với trách nhiệm Nếu chỉ giao nhiệm vụ mà không giao quyền hạn là không đảm bảo điều kiện tối thiểu cho việc hoàn thành nhiệm vụ Ngược lại, giao quyền hạn mà không xác định rõ trách nhiệm hay không tương xứng với trách nhiệm sẽ sinh ra lạm quyền
– Nguyên tắc đảm bảo tính linh hoạt
– Cơ cấu tổ chức quản lí phải linh động và dễ thích nghi, nghĩa là dễ có khả năng cải tiến và biến đổi tuỳ theo mục đích chung và riêng của quản lí, tuỳ theo chất lượng của các thành tố trong quan hệ quản lí và những điều kiện của quản lí để đáp ứng những yêu cầu mới của tình hình thực tế, đồng thời cũng có khả năng tự hoàn thiện khi đã có nhiều kinh nghiệm tích luỹ
d Phương pháp xây dựng tổ chức quản lí
– Phương pháp xây dựng theo mẫu:
Dựa trên các mô hình cơ cấu tổ chức quản lí tương tự có sẵn trong thực tế, ở đó các nhiệm vụ quản lí được thực hiện một cách trôi chảy, có chất lượng cao (kể cả trong nước hoặc ngoài nước) từ đó đưa ra một mô hình cơ cấu tổ chức lí tưởng trên cơ sở phân tích cơ cấu tổ chức hiện tại, các điều kiện quản lí cụ thể của cơ quan quản lí, rồi so sánh với mô hình lí tưởng xác định tính đồng nhất của chức năng, nhiệm vụ quản lí, của kết quả cuối cùng (sản phẩm), tính tương tự của các đặc điểm về con người, xã hội, lãnh thổ… từ đó điều chỉnh cải tiến cho sát gần với mô hình lí tưởng và mô hình của đơn vị mình sao cho phù hợp và khả thi
– Phương pháp thử nghiệm và loại suy
+ Làm thực nghiệm theo mô hình dự kiến ở một số vùng điển hình (thành phố, đồng bằng, trung du, miền núi…)
+ Từ kết quả thực nghiệm chọn ra một số mô hình hợp lí
+ Vận dụng các mô hình đó theo đặc điểm của từng vùng
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp
– Căn cứ vào các văn bản pháp quy, từ chức năng, nhiệm vụ chung của cơ quan quản lí phân tích, liệt kê tất cả các nhiệm vụ của đối tượng quản lí
+ Nhóm chúng lại thành các nhóm nhiệm vụ phải quản lí
+ Từ các nhóm nhiệm vụ mà xác định các bộ phận, thiết kế cơ cấu các tầng bậc của cơ quan quản lí
– Phương pháp kết cấu hoá các mục tiêu quản lí
Phương pháp này dựa vào việc thiết lập một hệ thống các mục tiêu quản lí Cơ cấu được xây dựng trên quan điểm hệ thống, bao quát tất cả các hoạt động của cơ quan, đồng thời sử dụng cách mô tả cơ cấu bằng biểu đồ cho các phương án thành lập và hoạt động của bộ máy quản lí
1.1.5.3 Quá trình phát triển hệ thống quản lí nhà nước về Giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và xu hướng đổi mới
a Quá trình phát triển
Trang 25Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời,
và cùng với nó là sự ra đời của nền giáo dục dân chủ nhân dân Đến nay, hệ thống giáo dục quốc dân đã trải qua ba cuộc cải cách
– Cải cách giáo dục lần thứ nhất: Sau khi nước Việt Nam tuyên bố độc lập, tháng
10–1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34/SL thành lập Hội đồng cố vấn học chính, Hội đồng có trách nhiệm giúp Chính phủ nghiên cứu một chương trình cải cách giáo dục Do hoàn cảnh chiến tranh chống thực dân Pháp nên đến tháng 7–1950 Hội đồng Chính phủ mới thông qua chương trình cải cách giáo dục và quyết định thực hiện cuộc cải cách này, với hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm
– Cải cách giáo dục lần thứ hai: tháng 5–1956 Chính phủ thông qua chương trình
cải cách giáo dục lần thứ hai và tháng 8–1956 Chính phủ ban hành chính sách giáo dục phổ thông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hệ thống giáo dục phổ thông thời kỳ này gồm:
+ Cấp 1: 4 năm, gồm các lớp 1, 2, 3, 4 không kể lớp vỡ lòng
+ Cấp 2: 3 năm, gồm các lớp 5, 6, 7
+ Cấp 3: 3 năm, gồm các lớp 8, 9, 10
– Cải cách giáo dục lần thứ ba: Sau khi nước Việt Nam thống nhất Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng ra nghị định số 14 (01/1979) về việc tiến hành cải cách giáo dục nhằm thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông trong cả nước Hệ thống giáo dục phổ thông gồm 12 năm:
+ Cấp I: 5 năm, gồm các lớp từ lớp 1 đến lớp 5
+ Cấp II: 4 năm, gồm các lớp từ lớp 6 đến lớp 9
Cấp I và cấp II thống nhất thành trường phổ thông cơ sở
+ Cấp III: 3 năm, gồm các lớp từ lớp 10 đến lớp 12 Trường cấp III gọi là trường phổ thông trung học
Hiện nay, theo Luật Giáo dục (1998), hệ thống giáo dục có cấu trúc hoàn chỉnh như sau:
– Giáo dục mầm non: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi với các cơ sở nhà trẻ, trường mẫu giáo và trường mầm non Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi (3 tuổi) Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và trường mẫu giáo
– Giáo dục phổ thông gồm
+ Giáo dục tiểu học: 5 năm, gồm các lớp từ lớp 1 đến lớp 5
+ Giáo dục trung học cơ sở: 4 năm, gồm các lớp từ lớp 6 đến lớp 9
+ Giáo dục trung học phổ thông: 3 năm, gồm các lớp từ lớp 10 đến 12
– Trung học chuyên nghiệp: 3 – 4 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học
cơ sở; 1 – 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
– Dạy nghề: dưới 1 năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn; 1 – 3 năm
Trang 26– Giáo dục đại học và sau đại học gồm:
+ Giáo dục đại học đào tạo trình độ cao đẳng và trình độ đại học:
Đào tạo trình độ cao đẳng: 3 năm
Đào tạo trình độ đại học 4 đến 6 năm tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người
có bằng tốt nghiệp trung học; 1 đến 2 năm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành
+ Giáo dục sau đại học đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ
Đào tạo thạc sĩ: 2 năm
Đào tạo tiến sĩ: 4 năm đối với người có bằng tốt nghiệp đại học; 2 – 3 năm đối với người có bằng thạc sĩ
– Giáo dục không chính quy là phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm
và thích nghi với đời sống xã hội
Giáo dục không chính quy thể hiện ở các chương trình sau:
– Chương trình xoá nạn mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;
– Chương trình đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng;
– Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học;
– Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn
b Hệ thống cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Hệ thống cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo được tổ chức theo Luật Giáo dục (1998) có thiết chế như sau:
– Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về giáo dục Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của cả một bậc học, cấp học; hàng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục
– Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lí nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ từng việc phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo để thực hiện việc thống nhất quản lí nhà nước về giáo dục
– Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục ở địa phương theo quy định của Chính phủ
– Cấp tỉnh có Sở Giáo dục và Đào tạo Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục trong phạm vi tỉnh, bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp Đối với trường cao đẳng, một số Sở Giáo dục và Đào tạo được Ủy nhiệm quản lí một vài mặt của
Trang 27quá trình đào tạo hoặc quản lí cả năm mặt: chuyên môn, nhân sự, bộ máy, tài chính, cơ sở vật chất sư phạm
– Cấp huyện, quận có Phòng Giáo dục và Đào tạo Trưởng phòng Giáo dục Đào tạo chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quản lí nhà nước về giáo dục trong phạm vi huyện, quận Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện quản lí các trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên
Sơ đồ hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục
1.1.5.4 Phương hướng đổi mới quản lý nhà nước về Giáo dục và đào tạo
Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo hiện còn tồn tại những yếu kém bất cập như: việc thực hiện các mục tiêu giáo dục và quản lí giáo dục còn hạn chế, công tác kiểm tra, thanh tra chưa phát huy hết tác dụng; chức năng, nhiệm vụ quản lí nhà nước quy định thiếu rõ ràng, chồng chéo, quản lí nhà nước vừa ôm đồm vừa buông lỏng…
Để khắc phục những vấn đề yếu kém bất cập nêu trên cần quán triệt tinh thần thực hiện đổi mới trong giáo dục và đào tạo và cải cách hành chính để đổi mới các hoạt động quản lí nhà nước về giáo dục Đối với cấp Bộ, Sở, Phòng cần sắp xếp lại tổ chức, đổi mới công tác cán bộ, đổi mới phương thức chỉ đạo và phong cách làm việc để thực hiện tốt hơn chức năng quản lí nhà nước của mình Đối với cấp cơ sở (nhà trường), cần có các văn bản hướng dẫn và những văn bản pháp quy về giáo dục để tổ chức thực hiện Đó là phương tiện quan trọng để tiến hành quản lí nhà nước về giáo dục ở mọi cấp Phương hướng đổi mới quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo cần tập trung vào những hoạt động chủ yếu sau:
– Đổi mới công tác lập pháp, lập quy
– Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lí giáo dục các cấp và ở cơ sở giáo dục
– Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí theo hướng chuẩn hoá và tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng
– Đổi mới công tác huy động, quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho giáo dục và đào tạo
Cải cách nền hành chính là cải cách đồng bộ 3 yếu tố của nền hành chính, đó là: thể chế, bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức Cải cách hành chính còn được hiểu là tăng
Trang 28chính để đổi mới quản lí giáo dục là vận dụng tư tưởng đổi mới một cách đồng bộ các hoạt động quản lí từ cơ chế quản lí giáo dục cho đến cách thức tổ chức chỉ đạo các hoạt động quản lí nhằm làm cho hoạt động giáo dục bảo đảm trật tự kỷ cương góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà nước một cách có hiệu lực và hiệu quả nhất
Đối với một cơ sở giáo dục vận dụng tinh thần cải cách hành chính để đổi mới quản lí giáo dục là quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các đối tượng trong
tổ chức, có cơ chế phối hợp rõ ràng… Trong hoạt động quản lí vừa bảo đảm chế độ thủ trưởng nhưng phát huy cao độ dân chủ cơ sở, tạo điều kiện cho tập thể sư phạm có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ của họ, đồng thời bảo đảm đúng quyền lợi chính đáng cho họ với mục đích cuối cùng là tăng cường hiệu lực và hiệu quả của quản lí giáo dục
1.2 Giới thiệu Luật viên chức
Luật viên chức được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa VII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực ngày 01/1/2012 Luật này gồm 07 chương
và 62 điều
1.2.1 Những quy định chung
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về viên chức; quyền nghĩa vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng
và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 2 Viên chức
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Điều 3 Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1 Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu
trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý
2 Đạo đức nghề nghiệp là các chuẩn mực về nhận thức và hành vi phù hợp với đặc
thù của từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định
3 Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của viên chức trong thi hành nhiệm vụ và
trong quan hệ xã hội do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, phù hợp với đặc thù công việc trong từng lĩnh vực hoạt động và được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành
4 Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm
viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 295 Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người
được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
Điều 4 Hoạt động nghề nghiệp của viên chức
Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Điều 5 Các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức
1 Tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp
2 Tận tụy phục vụ nhân dân
3 Tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử
4 Chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và của nhân dân
Điều 6 Các nguyên tắc quản lý viên chức
1 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự thống nhất quản lý của Nhà nước
2 Bảo đảm quyền chủ động và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
3 Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc
4 Thực hiện bình đẳng giới, các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với viên chức
là người có tài năng, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước đối với viên chức
Điều 8 Chức danh nghề nghiệp
1 Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp
2 Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định
Trang 30Điều 9 Đơn vị sự nghiệp công lập và cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động của đơn
vị sự nghiệp công lập
1 Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước
2 Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
a) Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm
vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ);
b) Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)
3 Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại khoản 2 Điều này đối với từng lĩnh vực sự nghiệp căn cứ vào khả năng tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và phạm vi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
4 Căn cứ điều kiện cụ thể, yêu cầu quản lý đối với mỗi loại hình đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực, Chính phủ quy định việc thành lập, cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, mối quan hệ giữa Hội đồng quản lý với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 10 Chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức
1 Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
2 Chính phủ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy hoạch,
tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định lĩnh vực hạn chế và lĩnh vực cần tập trung ưu tiên phát triển, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động sự nghiệp Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện dịch vụ kinh doanh, thu lợi nhuận
3 Tiếp tục đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng
tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công lập
4 Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân
Trang 311.2.2 Quyền lợi và nghĩa vụ của viên chức
1.2.2.1 Quyền của viên chức
Quyền của viên chức được quy định tại Điều 11 đến Điều 15 như sau:
Điều 11 Quyền của viên chức về hoạt động nghề nghiệp
1 Được pháp luật bảo vệ trong hoạt động nghề nghiệp
2 Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ
3 Được bảo đảm trang bị, thiết bị và các điều kiện làm việc
4 Được cung cấp thông tin liên quan đến công việc hoặc nhiệm vụ được giao
5 Được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao
6 Được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật
7 Được hưởng các quyền khác về hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật
Điều 12 Quyền của viên chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương
1 Được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi trong trường hợp làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc làm việc trong ngành nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm, lĩnh vực sự nghiệp đặc thù
2 Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và chế độ khác theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập
3 Được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 13 Quyền của viên chức về nghỉ ngơi
1 Được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Do yêu cầu công việc, viên chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì được thanh toán một khoản tiền cho những ngày không nghỉ
2 Viên chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc trường hợp đặc biệt khác, nếu có yêu cầu, được gộp số ngày nghỉ phép của 02 năm để nghỉ một lần; nếu gộp số ngày nghỉ phép của 03 năm để nghỉ một lần thì phải được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
3 Đối với lĩnh vực sự nghiệp đặc thù, viên chức được nghỉ việc và hưởng lương theo quy định của pháp luật
4 Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 14 Quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định
Trang 321 Được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
2 Được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập
3 Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác
Điều 15 Các quyền khác của viên chức
Viên chức được khen thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập hoạt động nghề nghiệp ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật Trường hợp bị thương hoặc chết do thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách như thương binh hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Nghĩa vụ của viên chức
Nghĩa vụ của viên chức được quy định tại Điều 16 đến Điều 19 như sau:
Điều 16 Nghĩa vụ chung của viên chức
1 Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước
2 Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
3 Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập
4 Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả tiết kiệm tài sản được giao
5 Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên chức
Điều 17 Nghĩa vụ của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp
1 Thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao bảo đảm yêu cầu về thời gian và chất lượng
2 Phối hợp tốt với đồng nghiệp trong thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ
3 Chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền
4 Thường xuyên học tập nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ
5 Khi phục vụ nhân dân, viên chức phải tuân thủ các quy định sau:
a) Có thái độ lịch sự, tôn trọng nhân dân;
b) Có tinh thần hợp tác, tác phong khiêm tốn;
c) Không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà đối với nhân dân;
d) Chấp hành các quy định về đạo đức nghề nghiệp
6 Chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp
7 Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Điều 18 Nghĩa vụ của viên chức quản lý
Trang 33Viên chức quản lý thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 16, Điều 17 của Luật này và các nghĩa vụ sau:
1 Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị theo đúng chức trách, thẩm quyền được giao;
2 Thực hiện dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết, đạo đức nghề nghiệp trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;
3 Chịu trách nhiệm hoặc liên đới chịu trách nhiệm về việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc quyền quản lý, phụ trách;
4 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực; quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, tài chính trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách;
5 Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đơn vị được giao quản lý, phụ trách
1.2.3 Những việc viên chức không được làm
Điều 19 Những việc viên chức không được làm
1 Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc; tham gia đình công
2 Sử dụng tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định của pháp luật
3 Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức
4 Lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong,
mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội
5 Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp
6 Những việc khác viên chức không được làm theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định khác của pháp luật
có liên quan
1.2.4 Tuyển dụng, sử dụng viên chức
1.2.4.1 Tuyển dụng:
Điều 20 Căn cứ tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Điều 21 Nguyên tắc tuyển dụng
1 Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật
2 Bảo đảm tính cạnh tranh
3 Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm
4 Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
5 Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số
Trang 341 Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:
a) Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;
b) Từ đủ 18 tuổi trở lên Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải
có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;
c) Có đơn đăng ký dự tuyển;
d) Có lý lịch rõ ràng;
đ) Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;
g) Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật
2 Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:
a) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình
sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ
sở giáo dục, trường giáo dưỡng
Điều 23 Phương thức tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
Điều 24 Tổ chức thực hiện tuyển dụng
1 Đối với đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ, người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ, cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng
2 Căn cứ vào kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký kết hợp đồng làm việc với người trúng tuyển vào viên chức
3 Chính phủ quy định chi tiết các nội dung liên quan đến tuyển dụng viên chức quy định tại Luật này
1.2.4.2 Hợp đồng làm việc
Điều 25 Các loại hợp đồng làm việc
1 Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Hợp đồng làm việc xác định thời hạn áp dụng đối với người trúng tuyển vào viên chức, trừ trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của Luật này
2 Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng làm việc
Trang 35không xác định thời hạn áp dụng đối với trường hợp đã thực hiện xong hợp đồng làm việc xác định thời hạn và trường hợp cán bộ, công chức chuyển thành viên chức theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 58 của Luật này
Điều 26 Nội dung và hình thức của hợp đồng làm việc
1 Hợp đồng làm việc có những nội dung chủ yếu sau:
a) Tên, địa chỉ của đơn vị sự nghiệp công lập và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh của người được tuyển dụng
Trường hợp người được tuyển dụng là người dưới 18 tuổi thì phải có họ tên, địa chỉ, ngày, tháng, năm sinh của người đại diện theo pháp luật của người được tuyển dụng; c) Công việc hoặc nhiệm vụ, vị trí việc làm và địa điểm làm việc;
d) Quyền và nghĩa vụ của các bên;
đ) Loại hợp đồng, thời hạn và điều kiện chấm dứt của hợp đồng làm việc;
e) Tiền lương, tiền thưởng và chế độ đãi ngộ khác (nếu có);
g) Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi;
h) Chế độ tập sự (nếu có);
i) Điều kiện làm việc và các vấn đề liên quan đến bảo hộ lao động;
k) Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
l) Hiệu lực của hợp đồng làm việc;
m) Các cam kết khác gắn với tính chất, đặc điểm của ngành, lĩnh vực và điều kiện đặc thù của đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không trái với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Hợp đồng làm việc được ký kết bằng văn bản giữa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập với người được tuyển dụng làm viên chức và được lập thành ba bản, trong đó một bản giao cho viên chức
3 Đối với các chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật do cấp trên của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập bổ nhiệm thì trước khi ký kết hợp đồng làm việc phải được sự đồng ý của cấp đó
Điều 27 Chế độ tập sự
1 Người trúng tuyển viên chức phải thực hiện chế độ tập sự, trừ trường hợp đã có thời gian từ đủ 12 tháng trở lên thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm được tuyển dụng
2 Thời gian tập sự từ 03 tháng đến 12 tháng và phải được quy định trong hợp đồng làm việc
3 Chính phủ quy định chi tiết chế độ tập sự
1.2.5 Khen thưởng và xử l ý vi phạm
Điều 51 Khen thưởng
1 Viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác, hoạt động nghề nghiệp thì được khen thưởng, tôn vinh theo quy định của pháp luật về thi đua, khen
Trang 362 Viên chức được khen thưởng do có công trạng, thành tích đặc biệt được xét nâng lương trước thời hạn, nâng lương vượt bậc theo quy định của Chính phủ
Điều 52 Các hình thức kỷ luật đối với viên chức
1 Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức
kỷ luật sau:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Cách chức;
d) Buộc thôi việc
2 Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan
3 Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý
4 Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức
5 Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức
1.3 Viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo giáo viên Trung học
1.3.1 Khái quát chung về viên chức ngành Giáo dục và Đào tạo
Viên chức ngành giáo dục và đào tạo là một trong 18 ngành chuyên môn của phân loại công chức Theo tiêu chuẩn nghiệp vụ thì viên chức ngành giáo dục và đào tạo gồm
có các ngạch như sau:
1 Giảng viên cao cấp
2 Giảng viên chính
3 Giảng viên
4 Giáo viên trung học cao cấp
5 Giáo viên trung học
6 Giáo viên tiểu học
7 Giáo viên mầm non (nhà trẻ và mẫu giáo)
Tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch nêu trên là căn cứ để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện sử dụng, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bậc lương và chuyển ngạch cho công chức ngành giáo dục và đào tạo theo quy định của Nhà nước
1.3.2 Giáo viên trung học
Là viên chức chuyên môn chuyên trách giảng dạy và giáo dục học sinh ở trường trung học công lập (gồm trung học cơ sở và trung học phổ thông)
– Giảng dạy các môn học theo mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch đạo tạo cấp học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trang 37– Thực hiện đầy đủ các quy chế chuyên môn như soạn bài, giảng dạy, chấm bài, chuẩn bị thí nghiệm, phụ đạo, coi thi, chấm thi, đánh giá xếp loại học sinh và các chế độ, nội quy, các quy định khác của ngành…
– Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nguyên lý giáo dục… theo quy định của Luật Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ Trường trung học
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
1 Phân biệt quản l ý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước
2 Phân tích các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam
3 Trình bày những quy định chung của Luật viên chức
4 Viên chức có những quyền và nghĩa vụ gì? Xác định hướng phấn đấu của bản thân để thự hiện tốt những nghĩa và quyền lợi đó
5 Hãy cho biết những điều viên chức không được làm theo quy định tại Luật viên chức
6 Phân tích tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ của giáo viên trung học và xác định hướng phấn đấu của bản thân để đạt được tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ đó
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
2.1 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay
2.1.1 Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay
– Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp Hầu hết các xã trong cả nước, kể cả
các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã có trường, lớp tiểu học Phần lớn các xã ở vùng đồng bằng có trường trung học cơ sở Hầu hết các huyện có trường trung học phổ thông Các tỉnh và nhiều huyện đồng bào dân tộc đã có hệ thống trường dân tộc nội trú
– Đã ngăn chặn được sự giảm sút quy mô và có bước tăng trưởng khá Giáo dục
mầm non, nhất là mẫu giáo 5 tuổi, đang phát triển Công cuộc chống mù chữ được triển khai trong cả nước Năm 2000 đã phổ cập tiểu học trong cả nước Số học sinh phổ thông
và số sinh viên đại học không ngừng tăng Tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học đã giảm nhiều Giáo dục sau đại học đã đào tạo được số lượng đáng kể cán bộ có trình độ cao mà trước đây chủ yếu phải dựa vào nước ngoài GD – ĐT đã góp phần quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học, trung học và đội ngũ cán
bộ đông đảo phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và an ninh, quốc phòng Trong nông nghiệp, công nghiệp và một số ngành khác, đội ngũ cán bộ và công nhân nước ta có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng một số công nghệ mới
– Chất lượng GD – ĐT có tiến bộ bước đầu trên một số mặt về các môn khoa học tự
nhiên và kỹ thuật, ở bậc phổ thông và đại học hệ tập trung Số học sinh khá giỏi, số học sinh đạt giải trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế ngày càng tăng
– Trong GD – ĐT đã xuất hiện một số nhân tố mới Ở nhiều nơi đã hình thành
phong trào học tập sôi nổi của cán bộ và nhân dân, nhất là thanh niên Các loại hình trường lớp, từ phổ thông đến đại học, đa dạng hơn, tạo thêm cơ hội học tập cho nhân dân
Đã huy động được thêm các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để phát triển GD – ĐT Các gia đình, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội đã chăm lo cho giáo dục nhiều hơn trước Các phương tiện thông tin đại chúng đã xây dựng các chuyên mục phục vụ
GD – ĐT Hợp tác quốc tế về GD – ĐT bước đầu được mở rộng…
Nguyên nhân của các thành tựu nói trên là:
Trang 39– Do đường lối GD – ĐT đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, chính sách đổi mới, trực tiếp là chính sách đổi mới trong GD ĐT, thể hiện tập trung ở Nghị quyết Trung ương
4 (khóa VII)
– Truyền thống hiếu học của dân tộc ta được phát huy, nhu cầu học tập của nhân dân không ngừng tăng lên Nhân dân đóng góp rất nhiều công, của xây dựng trường lớp
và chăm lo sự nghiệp giáo dục
– Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy, cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề Các giáo viên ở vùng cao, vùng câu, vùng xa nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh… – Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục đối với tương lai của đất nước, đã khắc phục những khó khăn, tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục – Những thành quả phát triển kinh tế, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân qua mười năm đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục
b Yếu kém
GD – ĐT nước ta còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô, cơ cấu, và nhất là về chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
– Hiện nay nước ta còn khoảng 7% dân số mù chữ; chưa phổ cập được giáo dục THCS; tỉ lệ sinh viên trên dân số còn thấp; tỉ lệ lao động qua đào tạo mới đạt hơn 22%; nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ cao
– Cơ cấu ngành nghề, trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng của đội ngũ sinh viên, học sinh các trường đại học và chuyên nghiệp chưa hợp lí Mấy năm gần đây ở một số ngành rất cần thiết cho sự phát triển đất nước lại có quá ít học sinh đăng ký theo học Giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có lúc suy giảm mạnh, mất cân đối lớn về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động ở nhiều ngành sản xuất Quy mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé; trình độ, thiết bị đào tạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH
– Đáng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo GD - ĐT còn thấp Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngoại ngữ và thể lực của đa số sinh viên còn yếu Ở nhiều học sinh ra trường, khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống còn hạn chế Số đông sinh viên tốt nghiệp chưa có khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trong ngành nghề và công nghệ Đặc biệt đáng
lo ngại là trong một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt
về lí tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Đào tạo chưa gắn với sử dụng Một số sinh viên tốt nghiệp không chịu đi làm việc ở những vùng khó khăn, trong khi ở các thành phố còn nhiều sinh viên
Trang 40– Có những biểu hiện tiêu cực trong giáo dục:
Dạy thêm và học thêm tràn lan, tốn nhiều thời gian và tiền bạc của học sinh, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển toàn diện của học sinh và quan hệ thầy trò Nhiều trường đã tăng quy mô tuyển sinh vượt quá khả năng đào tạo, mở quá nhiều lớp tại chức ở các địa phương mà không thực hiện đúng quy chế, đúng chương trình, không đảm bảo chất lượng đào tạo Tệ nạn xã hội, ma túy đang thâm nhập một số trường học
– Chưa thực hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục Cụ thể: Con em gia đình nghèo gặp nhiều khó khăn khi muốn học lên cao; ở các trường đại học, tỉ lệ sinh viên là con em nhà nghèo, con em xuất thân công nông, nhất là nông dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn ít
– Đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu Năm học 1995 –1996 cả nước còn thiếu
gần 120.000 giáo viên phổ thông Nhìn chung, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu phát triển GD – ĐT trong giai đoạn mới Ở bậc đại học, tỉ lệ giáo viên có trình độ sau đại học còn thấp và trong những năm trước mắt sẽ có tình trạng hẫng hụt, thiếu người thay thế cho các cán bộ có trình độ cao sắp nghỉ hưu
Nguyên nhân của những yếu kém nói trên là:
– Công tác quản lý GD – ĐT có những mặt yếu kém, bất cập
Chủ trương đổi mới về giáo dục, chưa được nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, tổ chức thực hiện có nhiều thiếu sót Mở rộng quy mô và phát triển nhiều loại hình GD – ĐT nhưng có nhiều thiếu sót trong việc quản lí chương trình, nội dung và chất lượng Công tác thanh tra giáo dục còn, thiếu những biện pháp hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo, đặc biệt là đối với các hình thức trường “mở”, bán công, dân lập, tư thục
và không tập trung Chậm phát hiện và xử lí các biểu hiện tiêu cực
Cơ chế quản lí của ngành GD – ĐT chưa hợp lí, chưa phát huy quyền chủ động và
trách nhiệm của địa phương và nhà trường
Nội dung GD – ĐT vừa thừa, vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống
Phương pháp GD – ĐT chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học
– GD – ĐT chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất nhà trường chưa gắn với
gia đình và xã hội Hoạt động GD – ĐT chưa gắn mật thiết với các hoạt động sản xuất và nghiên cứu khoa học Gia đình và các tập thể, cộng đồng xã hội chưa phối hợp chặt chẽ với nhà trường giáo dục thế hệ trẻ
Các chính sách chưa đủ khuyến khích nghề dạy học và giáo viên đến dạy ở những vùng khó khăn, chưa động viên được những giáo viên dạy giỏi và giảng viên có trình độ cao Hệ thống các trường sư phạm tuy đã được quan tâm đầu tư hơn trước nhưng vẫn chưa đủ sức làm tốt công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Phương tiện dạy và học của các trường nhìn chung chậm được cải thiện
Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan cũng cần thấy những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội từ những năm trước, tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường