Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa,khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thôngsuốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đề tài: Vai trò của dịch vụ trong phát triển kinh tế
Người hướng dẫn: TH.S Phạm Ngọc Tuấn
NHÓM 05
Trang 2M C L C Ụ Ụ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT 1
MỤC LỤC 2
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4
1.1Khái niệm dịch vụ: 4
1.2Đặc tính căn bản của dịch vụ 4
1.3Phân loại dịch vụ 5
1.4Vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế 8
2.1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam 11
2.2 Ưu điểm và nhược điểm của nghành dịch vụ Việt Nam 15
2.2.1 Ưu điểm 15
2.2.2 Nhược điểm 15
2.3 Để ngành dịch vụ phát huy được vai trò của mình trong việc tạo động lực phát triển kinh tế thì Việt Nam cần quan tâm những vấn đê 16
2.3.1 Định hướng vấn đề 16
2.3.2 Giải pháp phát triển 17
2.3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao sự hiểu biết của xã hội về dịch vụ và phát triển ngành dịch vụ 17
2.3.2.2 Giải pháp 2: Đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ vai trò và chức năng của Nhà nước đối với phát triển ngành dịch vụ về mặt nguyên tắc 18 2.3.2.3 Giải pháp 3: Nâng cao năng suất trong ngành dịch vụ và coi đây là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu 19
2.3.2.4 Giải pháp 4: Khuyến khích sáng tạo trong ngành dịch vụ 20
2.3.2.5 Giải pháp 5: Thúc đẩy cạnh tranh trong ngành dịch vụ 20
2.3.2.6 Giải pháp 6: Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ 21
2.3.2.7 Giải pháp 7: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách và thể chế phù hợp và tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành dịch vụ 23 2.3.2.8 Giải pháp 8: Phát triển các ngành dịch vụ ưu tiên 24
Trang 32.3.2 9 Giải pháp 9: Xây dựng các “vùng liên kết dịch vụ công nghiệp ‐ ‐ nông nghiệp” mở để tăng cường tác động lan tỏa của ngành dịch vụ đối với toàn bộ nền kinh tế 25
Trang 4PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm dịch vụ:
Có nhiều cách định nghĩa về dịch vụ:
Adam Smith từng định nghĩa rằng, "dịch vụ là những nghề hoang phínhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũcông Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra" Từđịnh nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnhđến khía cạnh "không tồn trữ được" của sản phẩm dịch vụ, tức là được sảnxuất và tiêu thụ đồng thời
C Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoa,khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thôngsuốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con ngườithì dịch vụ ngày càng phát triển"
Như vậy, với định nghĩa trên, C Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sựphát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng pháttriển mạnh
Còn theo nhóm mình được biết dịch vụ vốn được mệnh danh là ngànhcông nghiệp không khói, mang lại giá trị kinh tế cao cho mỗi quốc gia Hiệnnay, phát triển dịch vụ là xu hướng hàng đầu, mũi nhọn mà mỗi quốc gia đềuchú trọng Điểm khác biệt lớn nhất của ngành dịch vụ là sản phẩm mà nó tạo
ra mang tính phi vật chất
Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khácnhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau
1.2 Đặc tính căn bản của dịch vụ
Dịch vụ có 4 đặc tính cơ bản sau đây:
- Tính vô hình( hay tính phi vật chất) Tính vô hình được thể hiện ở chỗ
người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ
lý hóa của dịch vụ (Ví dụ như dịch vụ bưu chính viễn thông: không ai có thểchỉ ra được hình dáng của loại hình dịch vụ đó)
- Tính không thể tách rời quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồngthời (Người cung ứng dịch vụ sẽ bắt đầu cung ứng dịch vụ thì đó cũng là lúcngười tiêu dùng bắt đầu quá trình tiêu dùng dịch vụ, và khi mà người tiêu
Trang 5dùng dịch vụ chấm dứt quá trình tiêu dùng dịch vụ của mình thì đó cũng làlúc mà người cung ứng dịch vụ chấm dứt quá trình cung ứng dịch vụ).
- Tính không đồng nhất khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giáđược chất lượng của dịch vụ (Thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũngkhông có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nóichung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vìdịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đâychất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng– nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thayđổi rất nhiều)
- Tính lưu trữ Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thểtách rời Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họcất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo
1.3 Phân loại dịch vụ
1.3.1 Theo các lĩnh vực của quá trình tái sản xuất
Ai cũng biết, quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm ba khâu theo trật tựtruyền thống là: sản xuất, lưu thông (thương mại) và tiêu dùng Còn trật tựtheo quan điểm Marketing thì ngược lại bởi vì mọi hoạt động sản xuất củanền kinh tế thị trường phải bắt đầu từ nhu cầu của giới tiêu dùng Do vậy, toàn
bộ dịch vụ được chia theo ba khâu là: dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ thương mại
và dịch vụ sản xuất (hình 9.2) Trong mỗi lĩnh vực này lại bao gồm nhữngdịch vụ cụ thể
Trang 6Về cơ bản, cách phân loại này đơn giản nhưng khái quát được kịp thời cácloại dịch vụ, thể hiện được tính hệ thống tương đối rõ ràng Tuy nhiên không
có cách phân loại nào hoàn thiện và đầy đủ được, cách phân loại chỉ mangtính tương đối
1.3.2 Theo phương thức thực hiện
Mc Graw Hill chia toàn bộ dịch vụ ra hai nhóm lớn: nhóm dịch vụ đượcthực hiện bởi máy móc và nhóm dịch vụ được thực hiện bởi con người (do laođộng trực tiếp của con người) Từng nhóm này lại chia ra các tiểu nhóm Ví
dụ nhóm dịch vụ được thực hiện bởi máy móc gồm: tự động hoá, máy móckết hợp với con người (MM kết hợp CN), hệ thống điều khiển Từ đó, các tiểunhóm này lại chia ra những dịch vụ cụ thể (Hình 9.3)
Trang 7Ưu điểm nổi bật của cách phân loại này là hàm lượng công nghệ hay đặcđiểm công nghệ của từng dịch vụ, từ đó có cơ sở để đánh giá chất lượng dịch
vụ và định giá dịch vụ
1.3.3 Một số cách phân loại khác
Ngoài ra, còn khá nhiều cách phân loại khác như:
– Theo mục đích kinh doanh, có thể chia ra:
Dịch vụ vì mục đích phi lợi nhuận (mục đích nhân đạo)
– Theo chế độ sở hữu, người ta chia ra:Dịch vụ chính phủ (dịch vụ nhà nước),
Dịch vụ kết hợp chính phủ và tư nhân thực hiện
– Theo nội dung hoạt động kinh doanh, có thể phân loại:
Những dịch vụ bổ sung, hỗ trợ…
Trang 8Nhìn chung, có nhiều cách phân loại khác nhau, dựa theo từng tiêu thức đượclựa chọn Tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu hoặc mục tiêu kinh doanh thực
tế trong từng trường hợp cụ thể để có thể lựa chọn cách phân loại thích hợp
1.4 Vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế
Đầu tiên ta tìm hiểu về cơ cấu của ngành dịch vụ :
Dịch vụ bao gồm một tập hợp các hoạt động kinh tế, rất rộng lớn và phứctạp Đó là các hoạt động đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của conngười, được chia thành các dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và dịch vụcông cộng
Vai trò của dịch vụ trong phát triển kinh tế 1.4.1 Dịch vụ trong sản xuất và đời sống
Nhờ có các hoạt động vận tải thương mại mà các ngành kinh tế nông, lâm,ngư nghiệp và công nghiệp được cung cấp nguyên liệu, vật tư sản xuất; đồngthời sản phẩm của các ngành này cũng được tiêu thụ Các hoạt động dịch vụcũng tạo ra các mối liên hệ giữa các ngành sản xuất, các vùng trong nước vàgiữa nước ta với nước ngoài
Các ngành dịch vụ thu hút ngày càng nhiều lao động, tạo nhiều việc làm, gópphần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân và đem lại nguồn thu nhập lớncho nền kinh tế
Trang 91.4.2 Vai trò của các ngành dịch vụ - thương mại trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Lĩnh vực thương mại và dịch vụ nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sứcnhạy cảm và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việc đẩymạnh và mở cửa về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để cóthể xác định và tiến hành những bước đi và giải pháp phù hợp Nhằm một mặtgóp phần cùng thành phố và cả nước thực hiện thành công tiến trình mở cửa,mặt khác cùng góp phần đảm bảo giữ vững độc lập dân tộc, định hướng xã
Hoạt động của thương mại và dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
- Thương mại và dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phốihàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc giacũng như quốc tế Thật vậy, dịch vụ - thương mại chính là cầu nối giữa cácyếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sảnphẩm Buôn bán quốc tế, đặc biệt là buôn bán hàng hóa sẽ lưu hành như thếnào nếu không có dịch vụ vận tải? Dịch vụ thanh toán? Chính sự ra đời vàphát triển của dịch vụ vận tải như vận tải đường bộ, đường không, đường biển
đã góp phần khắc phục được trở ngại về địa lý, đẩy nhanh tốc độ lưu thônghàng hóa, thúc đẩy nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa từ Quốc gia này đếnquốc gia khác, từ khu vực này đến khu vực địa lý khác Các dịch vụ ngânhàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra một cách có hiệu quả, giúp
cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu đạt được mục đích trong quan hệ buônbán Các dịch vụ viễn thông, thông tin cũng có vai trò hỗ trợ cho các hoạtđộng thương mại trong việc kích cầu, rút ngắn thời gian ra quyết định muahàng của người tiêu dùng Các dịch vụ như dịch vụ đại lý, buôn bán, bán lẻgiữ vai trò trung gian kết nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng; đồngthời góp phần đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hóa, rút ngắn thời gian hànghóa lưu thông, giúp các nhà sản xuất nhanh chóng thu hồi vốn để đầu tư táisản xuất Như vậy, dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động thương
- Thương mại và dịch vụ tạo điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa pháttriển Thông qua hoạt động dịch vụ - thương mại trên thị trường, các chủ thểkinh doanh mua bán được sản phẩm, góp phần tạo ra quá trình tái sản xuấtđược tiến hành liên tục và như vậy các dịch vụ sẽ lưu thông, các dịch vụ đượcthông suốt Có thể nói, nếu không có dịch vụ - thương mại thì sản xuất hàng
- Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, thương mại và dịch vụ đã trở thànhyếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuấtphát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong
sự cạnh tranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, phải
Trang 10đưa nhiều hơn các yếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành
và nâng cao chất lượng như dịch vụ khoa học, kỹ thuật công nghệ
- Sự tăng trưởng của các ngành thương mại và dịch vụ còn là động lực cho sựphát triển kinh tế, cũng như có tác động tích cực đối với phân công lao động
xã hội Nền kinh tế càng phát triển thì thương mại và dịch vụ càng phong phú,
đa dạng Hiện nay, sự phát triển thương mại và dịch vụ phản ánh trình độ pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tếcủa một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấungành kinh tế nước đó càng lớn Dịch vụ phát triển sẽ thúc đẩy phân công laođộng xã hội và chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất khác pháttriển
- Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu dùng,nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tănglên góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao
- Dịch vụ và thương mại luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinhdoanh trên thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ Quan hệ giữa các chủ thểkinh doanh là quan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán.Cho nên trong hoạt động dịch vụ - thương mại đòi hỏi các chủ thể kinh doanhluôn phải năng động, sáng tạo, kể cả nghệ thuật để không ngừng nâng cao khảnăng cạnh tranh hàgn hóa dịch vụ trên thị trường, góp phần thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển nhanh chóng và điều này sẽ làm nền tảng vững chắcgiúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt nhưhiện nay
Trang 11PHẦN II: THỰC TRẠNG NGÀNH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng dịch vụ tại Việt Nam
Trong nhiều năm qua, sự phát triển của ngành Dịch vụ đã đạt được nhiềukết quả đáng ghi nhận, song vẫn chưa xứng với tiềm năng và yêu cầu của pháttriển kinh tế đất nước Trước bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tái cơ cấu gắn vớiđổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, yêu cầu pháttriển dịch vụ có ý nghĩa to lớn, không chỉ trực tiếp tạo động lực phát triển màcòn tạo lập và củng cố sự liên kết, bảo đảm đầu ra cho các ngành công - nôngnghiệp và tác động lan tỏa tới mọi lĩnh vực trong nền kinh tế
Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 và 5 năm 2011 - 2015;phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016 - 2020 và năm 2016 của Chính phủ tại
Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, ngày 20-10-2015, tăng trưởng GDP năm
2015 ước đạt hơn 6,5%, cao nhất trong 5 năm qua, vượt kế hoạch đề ra(6,2%); bình quân 5 năm đạt khoảng 5,9%/năm, trong đó công nghiệp, xâydựng tăng 6,74%/năm, nông lâm thủy sản tăng 3,01%/năm, dịch vụ tăng6,31%/năm Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 79,42% năm
2010 lên 82,5% năm 2015 Tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt khoảng 44% vàonăm 2015
Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng ngày càng tăng; đã tập trungphát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học,công nghệ cao như công nghệ thông tin, truyền thông, logistics, hàng không,tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử Mạng lưới thương mại vàdịch vụ phát triển mạnh trên phạm vi cả nước, đáp ứng tốt hơn yêu cầu pháttriển kinh tế - xã hội
Ngành du lịch tiếp tục được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch
vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, nhất làtại các vùng du lịch trọng điểm Khách quốc tế năm 2015 đạt khoảng 7,9 triệu
Trang 12lượt, gấp gần 1,6 lần so với năm 2010 Mở rộng miễn thị thực cho người ViệtNam định cư ở nước ngoài và công dân của nhiều nước để khuyến khích pháttriển thương mại, đầu tư và du lịch.
Mạng lưới và cơ cấu đào tạo hợp lý hơn; quy mô, chất lượng và sự côngbằng trong tiếp cận giáo dục được cải thiện Ứng dụng khoa học và đổi mớicông nghệ có bước tiến bộ, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, thông tintruyền thông, y tế, xây dựng Thị trường khoa học công nghệ có bước pháttriển, giá trị giao dịch tăng 13,5%/năm Số lượng sáng chế và các giải pháphữu ích đăng ký bảo hộ gấp gần 2,2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010 Chỉ sốđổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2015 tăng 19 bậc so với năm2010
Nhiều công trình hạ tầng thiết yếu về giao thông, năng lượng, thủy lợi, đôthị, thông tin truyền thông, y tế, giáo dục được đưa vào sử dụng, thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, tạo diện mạo mới cho đất nước.Công tác y tế dự phòng và chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên Giảmquá tải bệnh viện đạt những kết quả tích cực Tập trung đầu tư xây dựng hệthống các bệnh viện Ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào khám chữa bệnh đạtnhiều kết quả Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt gần 75% Chất lượng, phươngthức thông tin ngày càng được đa dạng hóa, đáp ứng nhu cầu thông tin củangười dân, thông tin đối ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý củaNhà nước
Các dịch vụ tài chính ngân hàng tiếp tục phát triển, đa dạng hóa và hiện đạihóa Hoạt động xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phầnyếu kém được đẩy mạnh Đến tháng 9-2015, nợ xấu còn 2,9% (tháng 9-2012
là 17,43%) và đã giảm 17 tổ chức tín dụng Các công ty tài chính, chứngkhoán, bảo hiểm từng bước được cơ cấu lại; công tác kiểm tra, giám sát được
Trang 13tăng cường; thông tin ngày càng công khai, minh bạch; hiệu quả hoạt độngđược cải thiện Thanh khoản và an toàn hệ thống được bảo đảm.
Quy mô thị trường chứng khoán tăng, mức vốn hoá thị trường cổ phiếu đạtkhoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm
2015 59 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường Quan hệ thịtrường thương mại tự do với 55 quốc gia và nền kinh tế, trong đó có 15 quốcgia trong Nhóm G-20
Tuy nhiên, sự phát triển dịch vụ còn nhiều hạn chế, có tốc độ tăng thấp hơngiai đoạn trước Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học và côngnghệ phát triển còn chậm Các ngành dịch vụ mang tính chất "động lực" hay
"huyết mạch", có hàm lượng tri thức cao, như tài chính-tín dụng, khoa học vàcông nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDPcủa toàn nền kinh tế Hệ thống phân phối còn nhiều bất cập, chi phí trung gianlớn, chưa kết nối thông suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hoà lợi ích giữacác khâu từ sản xuất đến tiêu thụ; chất lượng dịch vụ còn thấp, tính chuyênnghiệp chưa cao
Các dịch vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự gắn kết với nhu cầu vàhoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kếtquả đã nghiên cứu được Thị trường khoa học công nghệ còn sơ khai Cơ sởvật chất và đầu tư cho khoa học công nghệ còn chưa tương xứng Đóng gópcủa khoa học công nghệ vào quá trình CNH, HĐH chưa cao Vị trí của ViệtNam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu là rất thấp Những chỉ số về kinh tế trithức (KEI) của Việt Nam đều ở nửa dưới của bảng xếp hạng Năm 2012, chỉ
số KEI của Việt Nam là 3,51 và thuộc nhóm trung bình thấp Chỉ số sáng tạocủa Việt Nam năm 2013 đạt 34,82 và xếp thứ 76 trong 141 quốc gia