Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG QUỲNH HOA
Tên đề tài:
T
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI XÃ HƯNG ĐẠO - TP CAO BẰNG-
TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới cô giáo PGS.TS Đinh Ngọc Lan -
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
UBND xã Hưng Đạo, Hội phụ nữ xã Hưng Đạo đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại cơ sở
Bà con nông dân và một số cán bộ trong xã được chọn làm địa bàn nghiên cứu, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Quỳnh Hoa
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của cô giáo PGS.TS.Đinh Ngọc Lan
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Quỳnh Hoa
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1:Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã Hưng Đạo năm 2013 29
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính năm 2013 32
Bảng 4.3: Tỷ lệ học sinh giỏi, khá, tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp ở các trường trên địa bàn xã năm 2013 35
Bảng 4.4: Cơ sở vật chất, cán bộ y tế xã năm 2013 35
Bảng 4.5: Lao động xã Hưng Đạo chia theo giới tính giai đoạn 2011 - 2013 39
Bảng 4.6: Trình độ của cán bộ hội đoàn thể năm 2013 41
Bảng 4.7:Cơ cấu phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể năm 2013 42
Bảng 4.8: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng năm 2013 43
Bảng 4.9: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia điều hành sản xuất của hộ 44
Bảng 4.10: Phân công lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp năm 2014 47
Bảng 4.11: Phân công lao động trong các công việc nhà và hoạt động cộng đồng 48
Bảng 4.12: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 52
Bảng 4.13 Tình hình sử dụng thời gian trong ngày của phụ nữ trong các nhóm hộ điều tra 54
Bảng 4.14: Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động trong gia đình 56
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2013 40
Biểu đồ 4.2: Trình độ văn hóa của phụ nữ trong các nhóm hộ 44
Biểu đồ 4.3: Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ 50
Biểu đồ 4.4: Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) 51
Trang 614 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa về mặt học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3
1.4 Yêu cầu của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.1.1 Giới và giới tình 4
2.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới 4
2.1.1.3 Nhu cầu giới và bình đẳng giới 6
2.1.1.4 Vai trò giới 6
2.1.1.5 Quan điểm về giới 7
2.1.1 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ 7
2.1.2.1 Một số khái niệm 7
2.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 9
2.1.1.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10
2.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 11
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 11
2.1.3.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam 11
2.1.3.2 Yếu tố về sức khoẻ 12
2.1.3.3 Khả năng tiếp nhận thông tin 12
Trang 82.1.3.4 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn
nhiều hạn chế 12
2.1.3.5 Các yếu tố chủ quan 13
2.1.4 Một số vấn đề dặt ra đối với phụ nữ 13
2.1.4.1 Về vấn đề sức khoẻ 13
2.1.4.2 Về sức khỏe, thể chất 13
2.1.4.3 Sức khoẻ về tinh thần 14
2.1.4.4 Về chuyên môn kỹ thuật 15
2.1.4.5 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định 15
2.1.4.6 Về vấn đề tiếp cận đất đai 16
2.1.4.7 Về vấn đề ra quyết định 17
2.1.4.8 Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng 17
2.1.5 Các chủ trương chính sách của đảng 17
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
2.2.1 Tình hình thay đổi của phụ nữ trên thế giới 20
2.2.2 Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình và hoạt động xã hội 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 23
3.3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hưng Đạo 23
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 23
3.3.4 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếuđẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 23
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
Trang 93.4.2.1 Số liệu thứ cấp 24
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp 24
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 25
4.1.1.1 Vị trí địa lý 25
4.1.1.2 Điều kiện địa hình địa mạo 25
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 26
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 27
4.1.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của địa bàn xã 30
4.1.2 Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội 31
4.1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp 31
4.1.2.2 Tình hình phát triển xã hội 34
4.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế trên địa bàn xã Hưng Đạo 39
4.2.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội tại xã Hưng Đạo 39
4.2.1.1 Phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2013 39
4.2.1.2 Trình độ của cán bộ các hội,đoàn thể trên địa bàn nghiên cứu 41
4.2.1.3 Phụ nữ tham gia các công tác xây dựng Đảng và chính quyền 42
4.2.2 Thực trạng vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 42
4.2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong tham gia công tác xã hội 42
4.2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong quản lý điều hành sản xuất 44
4.2.2.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 45
4.2.2.4 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ 49
4.2.2.5 Vai trò trong kiểm soát nguồn lực của hộ 51
4.2.2.6 Sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ 53
4.2.2.7 Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động trong gia đình 55
Trang 104.2.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của
phụ nữ 58
4.2.3.1 Mặt thành tựu 58
4.2.3.2 Mặt hạn chế 59
4.2.4.1 Quan niệm bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại 59
4.2.4.2 Bản thân người phụ nữ 60
4.2.4.3 Sự quan tâm của chính quyền đoàn thể 61
4.3 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại địa bàn nghiên cứu 61
4.3.1 Phương hướng 61
4.3.2 Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo 62
4.3.2.1 Tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục kiến thức về giới cho người dân qua các lớp học, đồng thời triển khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm thay đổi và nâng cao nhận thức của họ về vấn đề này 63
4.3.2.2 Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ 63
4.3.2.3 Xây dựng môi trường thuận lợi khuyến khích, động viên để phụ nữ tự tin hơn tham gia vào các công việc gia đình cũng như ngoài xã hội 64
4.3.2.4 Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cho phụ nữ 64
4.3.2.5 Làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe và đời sống cho phụ nữ 64
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
5.1 Kết luận 66
5.2 Kiến nghị 67
5.2.1 Đối với nhà nước 67
5.2.2 Đối với chính, quyền đoàn thể địa phương 67
5.2.3 Đối với người nông dân 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Các tấm gương tiêu biểu như Hai Bà Trưng, Chị Võ Thị Sáu…và các mẹ Việt Nam anh hùng Ngày nay phụ nữ Việt Nam vẫn đang tiếp nối truyền thống tốt đẹp ấy, những người phụ
nữ Việt Nam đang cùng tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Các chị vừa là người vợ, vừa là người mẹ, người con trong gia đình, các chị đang phải gánh trên vai cả trọng trách đối với gia đình và cả xã hội Phụ nữ còn có vai trò quan trọng trong đội ngũ lao động đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng những lao động sáng tạo của mình họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú thêm cuộc sống con người.Phụ
nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt
động vật chất, họ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải nuôi sống con
người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần phụ
nữ còn có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại , nền văn hóa dân gian, bất kì dân tộc nào bất kì nước nào đều có sự tham gia bằng nhiều hình thức của
đông đảo chị em phụ nữ
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm khoảng 50% dân số cả nước họ tham gia vào
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng…và ngày càng thể hiện rõ vai trò của chính mình trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước Trong công cuộc đổi mới
đất nước của Đảng phụ nữ luôn giữ và phát huy cao tinh thần yêu nước, đoàn
kết, lao động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để vươn lên học tập, lao động và đạt được nhiều thành tích trên mọi lĩnh vực
Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội, tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vai trò của mình trên các lĩnh vực nhất là ở khu vực nông thôn Cùng với việc tham gia tích cực vào phát triển kinh tế gia đình mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt
Trang 12động kinh tế xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội ổn định góp phần vào thay đổi diện mạo của nông thôn Việt Nam
Hưng Đạo là một xã thuộc Thành Phố Cao Bằng với hơn 50% dân số là phụ nữ.Lực lượng này đã và đang đóng góp to lớn vào việc phát triển kinh tế
xã hội của toàn xã Tuy nhiên sự đóng góp của phụ nữ lại chưa được ghi nhận phù hợp với vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội
và trong gia đình Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường người phụ nữ luôn phải “nặng gánh hai vai”, vừa làm tốt vai trò xã hội, vừa phải đảm nhiệm vai trò làm vợ, làm mẹ trong quỹ thời gian và sức khỏe hạn chế.Để cố gắng làm tốt họ phải luôn nỗ lực, hi sinh , những quyền lợi chưa được quan tâm đúng mức Trong khi họ là người trực tiếp tham gia sản xuất nhưng hiệu quả canh tác không cao, đời sống chưa được cải thiện rõ rệt Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Vai trò của phụ nữ trong phát triển nông thôn hiện nay như thế nào?Làm sao
để nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế cho
chính gia đình mình? Những rào cản,giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ.X uất phát từ những vấn đề
thực tế đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo- TP Cao Bằng- Tỉnh Cao Bằng”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hưng Đạo - TP Cao Bằng
trong phát triển kinh tế hộ Từ đó đưa ra giải phápnhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống trong phát triển kinh tế hộ nói riêng và đóng góp vào sự phát triển
kinh tế- xã hội nói chung
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ tại xã Hưng Đạo
- Tìm hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ
nữ trong phát triển kinh tế hộ Qua đó, đưa ra phương hướng, đề xuất các giải
Trang 13pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Hưng Đạo
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa về mặt học tập
Đề tài là cơ hội cho em được học tập, rèn luyện, đi sâu vào thực tế, được áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, cung cấp những kiến thức
thực tế khi tiếp xúc, làm việc với người dân
Tích lũy thêm những kiến thức mới cho bản thân nhằm phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài còn là cơ hội cho em được nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống của người dân trên địa bàn xã nơi mình đang sinh sống, từ
đó hiểu thêm về tình hình địa phương và có những dự định ấp ủ để phát triển
quê hương
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của họ trong phát triển kinh tế của gia đình mình nói riêng và phát triển chung của địa phương
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Đề tài phải có số liệu chính xác, khác quan
- Đề tài phải đánh giá đúng được vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ tại địa phương
- Đề tài phải đưa ra giải pháp phù hợp, khả thi
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Giới và giới tính
Giới tính và giới thường bị nhầm lẫn với nhau Nhưng thực chất, hai khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện cơ bản đó là: sinh học và xã hội
Giới tính: là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các
nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới (Bùi Thị Minh Hà, 2010)[1]
Giới: Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò
của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian (Bùi Thị Minh Hà, 2010)[1]
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam
và nữ trong một bối cảnh cụ thể (Bùi Thị Minh Hà, 2010)[1]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay
đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới là sản
phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
2.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
Đặc điểm về giới
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
Trang 15Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó
là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,
bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỉ
- Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật…cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt về giới (ví dụ: ưu tiên nữ trong các nghề y tá, thư
ký Nam trong các nghề lái xe, cảnh sát…)
Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới,
họ sống thiên về tình cảm Vì vậy việc phân công lao động giữa hai giới cũng
có sự khác biệt.Người phụ nữ có thiên chức làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái
và gia đình Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn nhanh nhẹn hơn trong công việc Đặc trưng này khiến nam giới ít bị ràng buộc hơn bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội Chính điều này làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.[10]
Trang 162.1.1.3 Nhu cầu giới và bình đẳng giới
*Nhu cầu giới thực tế:Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần
được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận
Những nhu cầu này xuất phát từ công việc, đời sống hàng ngày, hoạt
động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng
thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà mỗi giới trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thựctế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là
sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.(Bùi thị Minh Hà,2010)[1]
* Nhucầu giới chiến lược: Là những nhu cầu thường nảy sinh từ vị thế
thấp hơn của mỗi giới trong xã hội Các nhu cầu này liên quan đến phân công lao động, đến quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những vấn đề như quyền pháp lý, bạo lực trong gia đình, tiền công công bằng hoặc sự kiểm soát thân thể… Việc đáp ứng các nhu cầu giới chiến lược sẽ làm thay đổi sự phân công lao động, thay đổi vai trò và vị thế của giới.( Bùi thị Minh Hà,2010)[1]
* Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng
được công nhận và có vị thế bình đẳng
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
2.1.1.4 Vai trò giới
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện
để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu
dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, …
Trang 17- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt
động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn
thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp
ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể
Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp
Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình
Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống
2.1.1.5 Quan điểm về giới
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ
và nam giới (Bùi Thị Minh Hà,2010)[1]
2.1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
2.1.2.1 Một số khái niệm
* Vai trò: Là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ
được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong
một cơ cấu xã hội
Trang 18* Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống []
* Phát triển kinh tế: “Được hiểu là quá trình lớn lên hay tăng tiến về
mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế”.Phát triển kinh tế
xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân băng việc phát triển lực lượng sản xuất , quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng lao động văn hóa.(Nguyễn Thị Châu,2010)[5]
* Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của vấn
đề lý luận kinh tế Tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là: “ Sự gia tăng của cải vật
chất được biểu hiện bằng sự gia tăng của một hoặc nhiều chỉ tiêu kinh tế, hoặc của cả nền kinh tế quốc dân trong một thời gian, được đánh giá bằng chỉ số % tăng thêm của tổng thu nhập hàng năm hay từng thời kỳ” ( Vũ thị hiền,2010)[9]
* Xã hội:Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân
biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa.[11]
* Phát triển xã hội: Là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm
tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng
và các chỉ số về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến
bộ hơn, đẹp hơn, tốt hơn (Phí Thị Hồng Minh, 2009)[6]
Theo Đỗ Trung Hiếu (2011): Hộ là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng sống chung hay không cùng sống chung
Trang 19dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung[3]
* Hộ nông dân:Là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo
nghĩa rộng hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp
ở nông thôn (Đỗ Trung Hiếu, 2011)[3]
* Kinh tế hộ nông dân:Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản
xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất
được coi là của chung để tiến hành sản xuất Mọi quyết định trong sản xuất
kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.(Đỗ Trung Hiếu, 2011)[3]
2.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
a) Vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình
Công việc ở đây là công việc nội trợ nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên lý do mà vai trò và địa vị của phụ nữ bị hạ thấp là cơ sở căn bản tạo nên bất bình đẳng nam nữ Trong nền văn minh nông nghiệp, với sự phát triển của
đại gia đình tính gia trưởng của đàn ông được đề cao Người phụ nữ trong các đại gia đình chỉ là nhân vật phụ thuộc, gánh nặng công việc nội trợ vẫn đè lên
vai họ và hầu như chưa có sự chia sẻ của chồng- người nam giới
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết(2008) phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc gia đình và chăm sóc con cái
họ không có thời gian đọc báo và xem tivi trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có dịch vụ và trang thiết bị gia
đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so
với nam giới.[4]
Trong việc nuôi dạy con cái phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn Phần lớn các công việc cho ăn, chăm sóc, dạy học thường do người mẹ đảm nhận nhất là thời kỳ em bé còn nhỏ Phụ nữ được giao trách nhiệm chăm sóc người già, người bệnh người tàn tật Họ phải làm việc vất vả, thời gian dài nhưng lại không tạo ra thu nhập so với người chồng
Trang 20Rõ ràng vai trò của phụ nữ trở nên hết sức quan trọng trong việc thực hiện những công việc gia đình, nhưng việc đồng thời phải thực hiện hai vai trò quan trọng là làm kinh tế và nội trợ gia đình đã làm cho họ tốn rất nhiều thời gian và trí lực Hiện nay dù các quan hệ kinh tế- xã hội đã có nhiều thay
đổi nhưng quan hệ giới hầu như chưa có những chuyển biến kịp thời Do vậy
phụ nữ thay vì được giải phóng, được chia sẻ trong xã hội hiện đại thì vô hình chung họ trở thành người gánh chịu nhiều thiệt thòi và trách nhiệm
b) Vai trò của phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng
Gia đình với tư cách là một chủ thể xã hội, khi tham gia sinh hoạt cộng
đồng bao giờ cũng hiện diện với tư cách là một chủ thể hoàn thiện
Người phụ nữ hiện nay rất tích cực tham gia vào các hoạt động cộng
đồng Mặc dù chưa thực sự đạt đến sự bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh
vực hoạt động này nhưng thực tế đã có một tiến bộ đáng kể khi mà người phụ
nữ đã hiện diện với tư cách là chủ, người đại diện cho gia đình để đi dự các
đám hiếu, hỉ, giao tiếp đoàn thể, chính quyền, họp làng bản, tiếp khách…Như
chúng ta đều biết trong truyền thống những công việc này là của đàn ông người chủ gia đình Điều này có nghĩa là phụ nữ đang có sự hòa nhập, chuyển
-đổi vai trò một cách rõ rệt
2.1.1.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông hộ nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu
hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
Trang 21Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
2.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
*Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất kinh doanh càng nhiều thì vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình và cả sự phát triển kinh tế xã hội càng cao
*Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: Nếu chỉ dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng chưa đủ để đánh giá vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình bởi tính chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau Do đó mà ta sử dụng chỉ tiêu thu nhập của phụ nữ so với nam giới Phần trăm thu nhập do phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ càng được khẳng định trong gia đình
Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm lo nhà cửa mà còn mang lại thu nhập cho gia đình Ngày nay phụ nữ có quyền tham gia vào các quyết định của gia
đình, các công việc kinh doanh buôn bán Mặt khác phần trăm phụ nữ tham
gia vào các hoạt động sản xuất và gia đình thể hiện vai trò của họ trong việc nâng cao mức sống gia đình và toàn xã hội
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
2.1.3.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam
Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc
gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh
nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho
xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm
Trang 22nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.[10]
2.1.3.2 Yếu tố về sức khoẻ
Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
2.1.3.3 Khả năng tiếp nhận thông tin
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để
họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác
2.1.3.4 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và
sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như
ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn
và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% (Vương Thị Vân, 2009)[10] Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ
em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái
Trang 232.1.3.5 Các yếu tố chủ quan
Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ Họ
tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi
họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ
đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và
bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng
và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
2.1.4 Một số vấn đề dặt ra đối với phụ nữ
2.1.4.1 Về vấn đề sức khoẻ
Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con người, đối với phụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả năng lao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của họ và các thành viên trong gia đình Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa con khoẻ mạnh Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phương tiện cho phát triển kinh tế và phát triển con người Mặc dù những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ.Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khoẻ của phụ nữ nông thôn
2.1.4.2 Về sức khỏe, thể chất
Sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau
đây:
Trang 24+ Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn nam giới Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn thường lao động vất vả trong thời gian mang thai, thậm chí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi
+ Môi trường ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hưởng của môi trường ô nhiễm càng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam có nhiều hồ, ao tù, đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông thôn (tắm, giặt giũ ) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi và ký sinh trùng sinh sôi nảy nở.[10]
+ Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở Việt Nam còn có hiện tượng tảo hôn Những năm gần đây, ở các vùng nông thôn hiện tượng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân văn hoá- xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộng
vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm) Lấy chồng sớm dẫn đến hệ quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con Sự thiếu hiểu biết về dân số- kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều
+ Dinh dưỡng không đảm bảo: Suy dinh dưỡng, thiếu máu cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô như ở Việt Nam kiểm tra lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng Hemoglobin dưới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới Suy dinh dưỡng ở phụ
nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong
mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái Hiện nay, có gần 42% trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.(số liệu được đưa ra trong buổi họp báo nhân Tuần lễ “Dinh dưỡng và phát triển” do Bộ Y tế phát động ngày 8.10.2013)
2.1.4.3 Sức khoẻ về tinh thần
Trang 25Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu
nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn.[10] Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nông thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học -
kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về pháp luật, lối sống văn hoá Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ những các tật xấu như: mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán
2.1.4.4 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ
có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học,
kỹ thuật và công nghệ mới Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một quan điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người,
số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển
nông thôn
2.1.4.5 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng
Trang 262.1.4.6 Về vấn đề tiếp cận đất đai
Đối với người dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị
lớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cư sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của họ Việc xem xét người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về người tiếp cận
và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi người nam và nữ trong gia đình Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi chưa đảm bảo theo đúng quy định Ví dụ: việc thực hiện quyền sử dụng đất đã được quy định trong Luật đất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng Nhưng trong thực tế, hầu như các giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một người (chủ yếu là người chồng) Vì thế từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí người thừa hành, không có quyền quyết
định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành
viên khác trong gia đình Việc không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của người phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có quyền tương
đương với nam giới đối với đất đai- một tài sản chủ chốt, một tư liệu sản xuất
quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và
xã hội của phụ nữ so với nam giới Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa
kế như nhau của con trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với
đàn ông Khi còn nhỏ, người con gái có phần đất được giao trong gia đình bố
Trang 27mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu như không thể mang theo quyền sử dụng đất phần
đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng Sau khi kết hôn, người vợ về cư trú bên
bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác Song, nếu như cuộc hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu như khó
đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị Người phụ nữ
goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có người con trai lớn thì nhiều khả năng tên của người con trai sẽ được ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của người phụ nữ.[10]
2.1.4.7 Về vấn đề ra quyết định
Tìm hiểu vấn đề ai là người có tiếng nói quyết định đối với những vấn
đề quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa,
những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tư cách là
người giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết định quan
trọng nhưng trên thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu
2.1.4.8 Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng
Phụ nữ ít có thời gian giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ người khác Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít
có cơ hội tham gia các lớp học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia
2.1.5 Các chủ trương chính sách của đảng
Chăm lo quyền lợi của phụ nữ và sự nghiệp giải phóng phụ nữ là quan
điểm xuyên suốt lịch sử 80 năm hoạt động của đảng và 65 năm hoạt động của
nhà nước và suốt cả cuộc đời Bác Hồ.Luận cương chính trị năm 1930 của
đảng đã khẳng định: “ Vấn đề giải phóng phụ nữ và sự nghiệp giải phóng phụ
nữ là một trong 10 nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Năm 1946, bản Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tại điều 9 có ghi
rõ “Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện và được hưởng mọi quyền tự do của công dân” Để phát huy tiềm năng lao động nữ thông qua
Trang 28đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ, góp phần phát triển kinh tế Nghi
quyết 4/NQ-TW ra đời 12/7/1993 của bộ chính trị về “ Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”,càng thể hiện rõ quan điểm và
đường lối của đảng ta
Sau nghị quyết bộ chính trị, ban bí thư trung ương Đảng 04/NQ-TW đã
ban hành chỉ thị số 28/CT-TW ngày 19/9/1993 về “Thực hiện nghị quyết bộ chính trị, đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Chỉ thị có đoạn ghi rõ phải làm cho toàn đảng toàn dân thấy rõ vị trí vai
trò của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận
động phụ nữ , quyết tâm thực hiện tốt nghị quyết của Bộ Chính Trị
Ngày 25/12/2001, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010, với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ
Ngày 24/12/2010chính phủ ra quyết định 2351/QĐ -TTg “ phê duyệt chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020”
Năm 2013 có quyết định số 2275 về ban hành quy chế hoạt động của ban vì sự tiến bộ của phụ nữ
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương đới với công tác phụ nữ,thực hiện bình đẳng giới nhằm phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hoa, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều vào công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực Phấn đấu
để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất
bộ của phụ nữ
Trang 292 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác phụ nữ và bình đẳng giới, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về công tác phụ nữ và bình đẳng giới
3 Xây dựng, hoàn thiện pháp luật, chính sách, chương trình, dự án về bình đẳng giới phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện phát triển cho phụ nữ
a) Rà soát, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm phápluật liên quan trong các lĩnh vực của đời sống xã hội xây dựng chính sách khuyến khích phát triển gia đình điển hình gương mẫu theo tiêu chí gia đình văn hóa
b) Xây dựng hệ thống các mục tiêu quốc gia, chỉ tiêu về bình đẳng giới, công cụ theo dõi, đánh giá vấn đề lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
4 Nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thông qua tăng cường, sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ, thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam và nữ,lồng ghép các chính sách cụ thể về độ tuổi trong quy hoạch , đào tạo ,bổ nhiệm đới với cán bộ, công chức nữ
a) Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, y tế pháp luật cho phụ nữ và trẻ em gái
b) Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ
c) Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và là người dân tộc thiểu số
d) Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ
nữ vào quá trình ra quyết định và tăng tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc Hội, hội
đồng nhân dân các cấp
5 Quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước ở trung
ương và địa phương trong việc đảm bảo cho cán bộ nữ, công chức trong việc
tham gia quản lý nhà nước
a) Nghiên cứu đánh giá việc thực hiện nghị định số19/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2003 của chính phủ quy định trách nhiệm của cơ quan
Trang 30hành chính nhà nước các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước
b) Xây dựng nghị định thay thế nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của chính phủ để xác định rõ trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc đảm bảo cho nữ cán bộ, công chức chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chương trình dự án có liên quan đến phụ nữ và trẻ em
c) Xây dựng và ban hành quy chế về mối quan hệ công tác giữa chính phủ với Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
6 Huy động nguồn lực cho các hoạt động bình đẳng giới và vì sự tiến
bộ của phụ nữ
7 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về bình đẳng
giới nối chung và sụ phát triển của phụ nữ nói riêng.[13]
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình thay đổi của phụ nữ trên thế giới
Địa vị của phụ nữ ở các nước đang phát triển trên tất cả các khía cạnh
đã được cải thiện đáng kể trong những năm trở lại đây Do có sự đầu tư mạnh
hơn vào phụ nữ và các bé gái, cải thiện mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động và do
đó đã thu hẹp khoảng cách về giới trong các vấn đề việc làm và trong tiền
lương Trình độ học vấn của phụ nữ cũng đã có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ đi học của bé gái đã được tăng lên nhiều Điều đó cho thấy đã có sự thu hẹp khoảng cách về giới trong giáo Tuy đã có sự tiến bộ rõ rệt như vậy nhưng sự bất bình đẳng giới về năng lực, quyền hạn, tiếng nói vẫn còn tồn tại dáng kể ở các nước đang phát triển
Châu Á được xác định là trung tâm kinh tế lớn trong tương lai, nhưng vẫn còn nhiều nước trong tình trạng nghèo đói đe dọa và tỷ lệ người mù chữ còn cao như Băngladesh gần 80%, ấn độ 30%, ở một số nước Đông Nam á như Philippin, Thái lan mỗi năm có trên 600.000 người đi lao động nước ngoài
Trang 31Một vấn đề nóng bỏng trong xã hội hiện nay đó là bạo lực gia đình ở Châu Mỹ La tinh, nạn nhân của bạo lực gia đình là phụ nữ và trẻ em.Tại Mỹ
cứ 15 giây lại có một phụ nữ bị đánh đập, ở Ai Cập phụ nữ bị thương tích
được đưa đến cơ sở chữa trị chủ yếu do bị hành hung Thực tế cho thấy chúng
ta phải nỗ lực hành động hơn nữa “ Vì sự tiến bộ của phụ nữ” trên phạm vi toàn cầu vì hòa bình ổn định và phát triển của nhân loại.[15]
2.2.2 Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình
và hoạt động xã hội
Trong lịch sử dân tộc người phụ nữ Việt Nam đã phải gánh chịu nhiều
hy sinh, mất mát, nhưng vẫn luôn chịu thương chịu khó, thủy chung son sắt, anh dũng, kiên trung, bất khuất, sánh vai cùng cánh mày râu ngang dọc trên chiến trường ở hậu phương, phụ nữ cũng luôn đi đầu mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho gia đình và quê hương xứ sở
Từ thời bà Trưng bà Triệu - những người phụ nữ đã cùng toàn dân vùng lên đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc Về sau là những nữ anh hùng trong lịch sử đấu tranh chống đế quốc xâm lược như Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai… Họ đãkhông tiếc máu xương hy sinh cho Tổ quốc với mong muốn giản đơn: đất nước có ngày độc lập, thống nhất, nhà nhà đoàn tụ hạnh phúc Trải qua bao thăng trầm, biến động của cuộc chiến chính nghĩa, rất nhiều tên tuổi và chiến công của phụ nữ Việt Nam đã làm ngời sáng trang sử
vẻ vang của dân tộc, góp phần tô điểm thêm nét đẹp phụ nữ, xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ dành tặng: “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm
Trang 32Có thể thấy, dù ở phương diện nào, người phụ nữ cũng hoàn thành xuất sắc vai trò của mình, cùng góp sức xây dựng một xã hội văn minh, văn hóa, nghĩa tình Chính sự khéo léo, duyên dáng, tài năng và sức chịu đựng dẻo dai
là yếu tố đặc trưng riêng biệt giúp phái nữ có thể thắng lợi và thành công trên nhiều mặt trận, không hề thua kém nam giới
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào sự phát triển của
đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động Với hơn
50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ
nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức
vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước
Ngoài ra trong sản xuất người phụ nữ cũng là người tạo ra phần lớn lương thực trong gia đình Mọi việc đồng áng gần như dồn hết lên đôi vai gầy của người phụ nữ Người phụ nữ Việt Nam góp phần xây dựng nền văn minh dân tộc bằng lao động sáng tạo và trí tuệ thông minh, bằng tình thương và đạo
đức trong sáng của họ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ ràng “ Non
sông và gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu và thêm tốt đẹp rực rỡ” Do vậy phụ nữ Việt Nam phải luôn khẳng định vai trò
và vị thế của mình trong gia đình và ngoài xã hội để không phụ sự kỳ vọng của Bác Hồ vĩ đại.[14]
Trang 33- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phạm
vi hộ gia đình trên địa bàn xã Hưng Đạo- TP Cao Bằng- Tỉnh Cao Bằng
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
3.3.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn xã Hưng Đạo
- Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Hưng
Đạo
- Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Nguyên nhân hạn chế việc phát huy vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế hộ tại địa phương
3.3.4 Những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếuđẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu phải đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH,
văn hóa, môi trường… để làm rõ được vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế hộ gia đình Nên tôi chọn 3 xóm đại diện để nghiên cứu: Xóm 6-Hồng Quang, xóm Đà Quận và xóm Bó Mạ
Trang 34Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng: Dựa theo danh sách hộ tiến hành phân nhóm thành 3 nhóm hộ khá, trung bình và nghèo Sau đó chọn ngẫu nhiên theo danh sách phân nhóm và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm khá, trung bình, nghèo
* Phương pháp thu thập: Qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với một số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
3.4.2.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra 45 hộ đã chọn, thu thập
thông tin bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp
* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: Thu thập
các số liệu bằng hệ thống các câu hỏi đã được soạn thảo trước
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Số liệu được tổng hợp
và xử lí trên bảng tính Excel, sau đó được thống kê và phân tích theo phương pháp so sánh
- Phương pháp so sánh: các số liệu được so sánh qua các năm, các nhóm hộ giàu, khá, trung bình, nghèo để thấy được sự khác nhau về thực trạng vai trò của người phụ nữ qua các năm cũng như trong từng nhóm hộ Từ
đó có thể đưa ra những nhận xét
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Hưng Đạo là một xã vùng đồng nằm cách trung tâm thành phố Cao Bằng 10 km về phía đông Nam theo đường Quốc lộ 3, tổng diện tích đất nhiên là 1.013,93 ha, (theo số liệu kiểm kê năm 2013), có 1.267 hộ với 5.333 nhân khẩu, gồm 3 dân tộcchủ yếu đó là Tày, Nùng, Kinh cùng sinh sống.Đồng bào theo đạo công giáo tập trung chủ yếu ở phố Cao Bình.Xã được chia thành 19 đơn vị hành chính (18 xóm và 01 khu phố),trong đó 75% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, 25 % dân số sống bằng nghề buôn bán nhỏ và
dịch vụ thương mại
Xã có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía bắc: Giáp xã Bế Triều, Huyện Hòa An và xã Vĩnh Quang
- Phía Nam: Giáp xã Bạch Đằng - Huyện Hòa An
- Phía Đông: Giáp xã Đề Thám - Thành phố Cao Bằng
- Phía Tây: Giáp xã Hoàng Tung - Huyện Hòa An
Trên địa bàn xã có các trục đường giao thông lớn như: Đường Hồ Chí Minh, đường quốc lộ 3, quốc lộ 34 và tỉnh lộ 203 chạy qua,vì vậy việc giao lưu đi lại giữa xã với Thành Phố Cao Bằng và các xã lân cận đều thuận lợi
4.1.1.2 Điều kiện địa hình địa mạo
Hưng Đạo là một xã vùng đồng của thành phố Cao Bằng Địa hình chia thành hai vùng rõ rệt Phía bắc là vùng đồng tương đối bằng phẳng chiếm 2/3 diện tích của xã có độ cao trung bình 200m so với mực nước biển Phía nam của xã là vùng đồi núi thấp có độ cao trung bình 250-300m so với mực nước biển Loại địa hình này chỉ chiếm 1/3 diện tích tự nhiên của xã
Theo tài liệu phân loại đất huyện Hòa An năm 2001,(trước đây xã hưng
Đạo thuộc về Hòa An, từ tháng 11/2010 chuyển địa giới hành chính về thị xã
Cao Bằng theo nghị quyết số 42 của thủ tướng chính phủ) đất đai xã Hưng
Đạo được phân thành các cấp độ dốc như sau:
Trang 36- Độ dốc cấp VI (trên 250
): 100,93 ha chiếm 9,96% diện tích tự nhiên
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu
Xã Hưng Đạo nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Mùa khô thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Đặc điểm là ít mưa nhiệt độ thấp, có gió mùa đông bắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Thời tiết nóng ẩm mưa
nhiều
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20,50C Nhiệt độ trung bình mùa hè là 24,30 C, nhiệt độ trung bình mùa đông là 16,70 C, nhiệt độ cao nhất mùa hè 380 C, nhiệt độ thấp nhất mùa đông là 00 C
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hằng năm là 1.737mm, lượng mưa bình quân năm cao nhất đạt 2.044mm, lượng mưa bình quân năm thấp nhất là 1.252mm Lượng mưa lớn nhất trong ngày là 160mm Số ngày mưa
bình quân trong năm khoảng 160 ngày
- Độ ẩm không khí: Trung bình trong năm là 85%, thường có độ ẩm cao nhất (tháng 2,3,4) từ 88 - 90% , thường có độ ẩm thấp nhất ( tháng 7)
81%
Lượng bốc hơi bình quân trong năm là 831,6mm Trong đó có 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 4) lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa do đó trong những tháng này thường xảy ra khô hạn gây ảnh hưởng không tốt đến sản
xuất nông nghiệp
- Chế độ gió:
+ Gió mùa đông bắc: Đặc biệt nguy hiểm, vì khi gió tràn về có thể làm
hư hại nhà cửa, cây cối, các công trình đang thi công… Đặc biệt những đợt mạnh còn gây ra mưa to, gió lớn, thậm chí giông, tố lốc, có khi cả mưa đá Vào những tháng chính đông ( tháng 12, tháng 1), đêm về trời quang mây,
Trang 37gây ra sương muối, băng giá, nếu kéo dài còn gây rét đậm, rét hại không những đối với cây trồng, gia súc mà cả con người Gió thường xuyên xuất hiện vào tháng 9- 10 đến tháng 5-6 năm sau, nhưng mạnh nhất vào các tháng
chính đông
+ Bão, lũ và áp thấp nhiệt đới: Mùa bão, áp thấp nhiệt đới hàng năm vào tháng 6-11, nhiều nhất vào tháng 7 -10, trung bình 2 cơn/ năm, nhưng cấp
độ gió thường đạt cấp 8, cấp 9 mang theo mưa lớn gây lũ lụt nghiêm trọng
+ Dông, tố và lốc: Trung bình 99,5 ngày/ năm, gây thiệt hại cho sản
xuất và đời sống nhân dân khi có cường độ mạnh
- Chế độ nắng: Số giờ nắng cả năm 1.668,0 giờ, trung bình là 139 giờ/
tháng
* Thủy văn
Xã Hưng Đạo có sông Bằng Giang chảy qua giữa xã, đây là nguồn nước quan trọng đáp ứng cơ bản về lượng nước cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài ra trên địa bàn xã còn có một số khe suối nhỏ chảy qua như: Khuổi Mắng, Khuổi Mùa, Khuổi Lái…
Hệ thống sông suối trên địa bàn xã nhìn chung đều có nước quanh năm nhưng lượng nước phụ thuộc theo mùa, về mùa mưa thường gây ứng lụt, xói
lở đất đai ven bờ Vì vậy cần có những biện pháp trị thủy và xây dựng đê, kè bảo vệ đất đai
Tóm lại: Đặc điểm khí hậu thời tiết ở địa bàn xã Hưng Đạo nóng ẩm, mưa nhiều nhưng vào mùa khô kéo dài 5 tháng, vị trí địa lý và địa hình tương
đối thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, địa bàn xã có nhiều loại đất khác
nhau, có nhiều ao, hồ sông ngòi, khe suối nhỏ thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi nhiều loại cây, con khác nhau Tuy nhiên cần bố trí mùa vụ và sử dụng các giống cây, con cho hợp lý để chống và né tránh thiên tai Cần sử dụng đất hợp lý làm tăng độ phì cho đất
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
*Tài nguyên nước
Hưng Đạo là một xã có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, có sông Bằng Giang chảy qua giữa xã theo hướng Tây - Đông Sông Bằng Giang cung
Trang 38cấp lượng nước tưới tiêu chủ yếu cho cánh đồng lúa của xã thông qua trạm bơm điện Cao Bình Ngoài sông Bằng Giang xã Hưng Đạo còn được hưởng nước thủy lợi từ hệ thống kênh Khuổi Lái và suối Khuổi Mùa cung cấp nước
tưới cho khu vực phía nam của xã
Nhìn chung nguồn nước mặt trên địa vàn xã phong phú cả về số lượng
và chất lượng, mặt khác nhu cầu sử dụng nguồn nước ngầm của xã cũng khá dồi dào, nhân dân trong xã đào giếng lấy nước sinh hoạt rất dễ dàng Tuy nhiên để đảm bảo nguồn nước sạch nhân dân cũng cần chú ý giữ gìn vệ sinh
môi trường tránh để các nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải, rác thải
*Tài nguyên rừng
Hưng Đạo là một xã có ít đất đồi núi Diện tích đất lâm nghiệp của xã năm2013 hiện nay là 261,5 ha chiếm 25,79% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó chủ yếu là rừng mới trồng và rừng khoanh nuôi tái sinh Rừng nguyên sinh hầu như không còn Thảm thực vật rừng tự nhiên có các loại cây thân gỗ vùng đồi núi thấp như sau sau, xoan, dẻ…Thảm thực vật rừng trồng gồm có Thông, Sa Mộc, Keo Lai, Bạch Đàn…Công tác giao đất giao rừng trên địa bàn xã được thực hiện từ nhiều năm nay và kết hợp với công tác tuyên truyền vì vậy ý thức bảo vệ và phát triển rừng của nhân dân ngày càng
được nâng cao Hiện nay rừng trên địa bàn xã đang phát triển khá nhanh, độ
che phủ đạt 50%
Điển hình năm 2011 kết hợp với trường Đại Học Nông Lâm Thái
Nguyên triển khai mô hình trồng rừng được gần 30ha, có 30 hộ tham gia
*Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã hiện nay chưa phát hiện có mỏ khoáng sản nào lớn chỉ
có một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng như gạch nung, khai thác cát, sỏi
* Tài nguyên đất
Xã Hưng Đạo có tổng diện tích tự nhiên là 1.013,93 ha ( số liệu kiểm
kê năm 2013) Trong đó có: 693,53 ha đất nông nghiệp chiếm 68,4 % tổng diện tích tự nhiên, 320,4 ha đất phi nông nghiệp chiếm 31,6% tổng diện tích
tự nhiên
Trang 39Bảng 4.1:Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã Hưng Đạo năm 2013
ĐVT: Ha
(Nguồn: Ban Địa chính xã Hưng Đạo)[10]
Qua bảng trên ta thấy, tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.013,93 ha trong đó:
Trang 40- Đất nông nghiệp: Có diện tích là 693,53 ha (chiếm 68,4%), trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn 424,99 ha (chiếm 41,92%), sau đó đến đất lâm nghiệp 261,5 ha (chiếm 25,79%) và đất nuôi trồng thủy sản 7,04 ha chiếm (0,69%) Diện tích đất trồng câu hàng năm cũng chiếm tỷ
lệ lớn 411,16 ha (chiếm 40,55%) Trong năm 2013 diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm so với năm 2012 Năm 2012 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 432,16 ha
Vậy đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm nguyên nhân là do chuyển sang đất có mục đích công cộng và do chuyển sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp
+Đất lâm nghiệp:Năm 2013 chủ yếu là diện tích đất có rừng phòng hộ 236,85 ha (chiếm 23,36%) sau đó đến đất rừng sản xuất 24,65 ha (chiếm 2,43%) Trong năm 2013 người dân tích cực bảo vệ rừng, đặc biệt là diện tích rừng phòng hộ và ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng nâng cao
- Đất phi nông nghiệp: Trong năm 2013 diện tích đất chuyên dùng lớn nhất 198,4 ha (chiếm 19,57%) Trong đó đất có mục đích công cộng và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao Theo thống kê diện tích
đất phi nông nghiệp năm 2013 có xu hướng tăng 11,63 ha so với năm 2012
Vậy Đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng chủ yếu là do mấy năm gầnđây các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển mạnh và đất chuyển sang
đất có mục đích công cộng
- Đất chưa sử dụng : Là 0 ha do diện tích đất này đã được sử dụng hết 4.1.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của địa bàn xã