Hơn nữa, xuất phát từ truyền thống trước đó từ Trung Quốc, từ khi Nho giáo của Khổng Tử ra đời,nhiều Văn Miếu đã được dựng với quy mô và kiểu dáng khá giống nhau, như đều có các khu như
Trang 1Duc dong ngu xa
Nghề đúc đồng Đa ̣i Viê ̣t vốn có li ̣ch sử từ nhiều ngàn năm Điều này đã được khẳng đi ̣nh qua nhữngmũi tên đồng thần kỳ ở gò Chiền Va ̣y, Mão Sơn (Hà Tây), Đương Mây (Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nô ̣i), nhữnglưỡi cày đồng thau (Va ̣n Thắng - Vĩnh Phúc), những trống đồng Ngo ̣c Lũ, Đông Sơn Và ngay giữa kinhthành Thăng Long, vua Lý Thánh Tông đã cho xây tháp Báo Thiên cao 12 tầng (khoảng 70 m) mà tầng trêncùng được đúc bằng đồng Rất tiếc ngôi tháp không còn, nhưng cùng với những báu vâ ̣t khác nó vẫn luôn làniềm tự hào về nghê ̣ thuâ ̣t đúc đồng Viê ̣t Nam Thư ti ̣ch cổ cho biết: Vào khoảng cuối đời Lê, triều đình trưng
tâ ̣p mô ̣t số thơ ̣ đúc đồng giỏi ở năm làng: Mé, Hè, Mai, Dí trên, Dí dưới thuô ̣c tổng Đề Kiều huyê ̣n Thuâ ̣nThành - Bắc Ninh về kinh đô đúc tiền, chuông, tượng và đồ thờ theo yêu cầu của nhà nước Lúc đầu ho ̣ tâ ̣ptrung hành nghề ở khu vực phố Lò Đúc (thuô ̣c quâ ̣n Hai Bà Trưng ngày nay) Phải chăng tên phố Lò Đúc xuấthiê ̣n từ đây Về sau do điều kiê ̣n làm viê ̣c cần đến nhiều nước và môi trường thuâ ̣n lợi hơn, những người thợđúc đồng đã xin nhà vua cho chuyển đến khu đất ở giữa hồ Trúc ba ̣ch, lâ ̣p thành làng go ̣i tên là Ngũ Xã tràng(nơi đúc đồng của năm xã) để ghi nhớ nghề nghiê ̣p của quê hương bản quán, của tổ nghề Dương Không Lô ̣,Nguyễn Minh Không đã truyền da ̣y cho Từ khi lâ ̣p làng ở đất kinh kỳ, với cái tinh khéo của nghề nghiê ̣p, thợNgũ Xã đã nổi danh cùng sánh vai và trở thfnh những làng nghề có tiếng của Thăng Long
"Gốm Bát Tràng, vàng ba ̣c Đi ̣nh Công, đúc đồng Ngũ Xã"
Những mă ̣t hàng ra lò từ Ngũ Xã nhất là tượng người vf chuông rất được mo ̣i người hâm mô ̣ Nước tacó khá nhiều làng đúc đồng nhưng không phải thợ nào cũng đúc được chuông Đúc làm sao cho tiếng chuôngtrong trẻo, ngân xa, rung đô ̣ng, làm thức tỉnh lòng người hướng thiê ̣n Đó là cả mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t, mô ̣t bí quyếtmà không phải nhiều nơi làm được như Ngũ Xã Trong số những tượng và chuông do thợ Ngũ Xã chế tác phảikể đến quả chuông cao 1,5 m và pho tượng Quan Thánh đền Trấn Vũ Tượng bằng đồng hun màu đen bóng,đươ ̣c đúc niên hiê ̣u Cảnh Tri ̣ 2 (1677) đời Lê Tượng cao 9 thước ta (khoảng 3,72 m), nă ̣ng 7000 cân ta(khoảng 3000 kg)
Giữa thế kỷ XX (1949) những người thợ Ngũ Xã la ̣i sáng ta ̣o nên mô ̣t kỳ công tuyê ̣t mỹ, đó là pho tượngA-Di-Đà được thờ ta ̣i chùa Thần Quang - làng Ngũ Xã đây là pho tượng đúc liền, đòi hỏi trình đô ̣ tay nghề vàtrình đô ̣ nghê ̣ thuâ ̣t cực cao Riêng phần tượng ngồi không tính bê ̣ đã cao 3,95m, hai đầu gối cách nhau 3,6m,chu vi tươ ̣ng là 11,6 m Pho twojng nă ̣ng tới hơn 10 tấn, phần bê ̣ là mô ̣t tòa sen xòe ra 96 cánh mềm ma ̣i uyểnchuyển, đan xen nhau, đươ ̣c đúc bằng 16 ta ̣ đồng Tượng A-Di-Đà đúc xong vào tháng 10 năm 1952 hiê ̣n làpho tươ ̣ng đồng lớn nhất ở Viê ̣t Nam
Đã hơn 300 năm kể từ khi những người thợ đầu tiên của Ngũ Xã về kinh đô lâ ̣p nghiê ̣p đến nay concháu ho ̣ vẫn tiếp tu ̣c nghề nghiê ̣p của cha ông Ngũ Xã hiê ̣n nay còn khoảng hơn 40 gia đình làm nghề quy tu ̣ ởmấy phố Phó Đức Chính, Ma ̣c Đĩnh chi, Nguyễn Khắc Hiếu bên hồ Trúc Ba ̣ch
Xưa kia người thợ Ngũ Xã chia công viê ̣c thành hai loa ̣i: Loa ̣i chuyên đúc đồ thờ đỉnh, nền, ha ̣c, chuông,twojng; Loa ̣i chuyên đúc đồ gia du ̣ng: nồi, mâm, châ ̣u Sản phẩm đúc đồng Ngũ Xã đã được khắp nơi biếttiếng và có vi ̣ trí xứng đáng trong di sản văn hóa đồ đồng ở nước ta
Đến Ngũ Xã hôm nay ta còn gă ̣p những nghê ̣ nhân, những người tuy già cả nhưng vẫn tâm huyết vớinghề Các cu ̣ nhớ la ̣i thuở 10, 12 tuổi đi ho ̣c nghề phải cơm nước, giă ̣t giũ, bế em cho nhà chủ, cực khổ trămbề, ấy vâ ̣y mà vẫn gắn bó với nghề suốt đời Thâ ̣t đúng là sinh ư nghê ̣, tử ư nghê ̣, nhiều người đã được nhànước phong danh hiê ̣u "Nghe ̣e nhân", "Bàn tay vành" như cu ̣ Que ̣n, cu ̣ Tùy, cu ̣ Đới (đã mất), bà Ngô Thi ̣Đan
Trước kia Ngũ Xã sầm uất lắ, nhưng khoa ho ̣c ngày mô ̣t phát triển, thi ̣ hiếu của người dân cũng thay đổi,đồ đồng ít thông du ̣ng, dần dần bi ̣ thay thế bằng if nhôm Nhiều người đã bỏ sang làm nghề khác như đúc phu ̣tùng xe đa ̣p, nồi xoong, mâm nhôm Hợp tác xã Trúc Sơn nhiều năm trở la ̣i đây tốc đô ̣ phát triển còn châ ̣m.Ngoài mô ̣t số hợp đồng làm những đồ cao cấp phu ̣c vu ̣ trang trí nô ̣i thất hoă ̣c những sản phẩm đa ̣t trình đô ̣ kỹthuâ ̣t và nghê ̣ thuâ ̣t cao như đúc chuông, tượng, phu ̣c chế trống đồng (công viê ̣c ít và thất thường), hợp tác xãcũng cố gắng mở ra mô ̣t số mă ̣t hàng khác như đúc khóa đồng, lo ̣ thô, đĩa thô để đảm bảo đời sống xã viên.Thực tra ̣ng nghề đúc đồng Ngũ Xã hi ̣ên nay chưa mấy khởi sắc song ngo ̣n lửa lò đúc vẫn như dòng máuddỏ chảy trong huyết ma ̣ch người thợ lưu truyền từ đời này sang đời khác Anh Quyền con nghê ̣ nhân NguyễnVăn Que ̣n tâm sự: "cả đời cha tôi thanh ba ̣ch, cu ̣ làm nghề với cả ssay mê, tâm huyết Các tác phẩm của cu ̣
Trang 2luôn đươ ̣c giữ gìn trân tro ̣ng và được nhắc đến" được gửi gắm vào đó tất thảy tâm huyết tinh hoa, được hunđúc nhiều trăm năm của làng đúc đồng Ngũ Xã quê anh.
"Làng đúc đồng Ngũ Xã" khác hẳn những làng khác Người thợ ở đây chỉ sống chính bằng nghề nghiê ̣ptruyền thống, ho ̣k hông có ruô ̣ng để trồng cấy đây là mô ̣t khó khăn lớn khi nghề nghiê ̣p không tiến triển nhưhiê ̣n nay Làng đúc đồng Ngũ Xã nổi tiếng xưa kia, phải chăng hôm nay đang bế tắc, chưa tìm được lối ra?
Văn Miếu văn hóa trong tín ngưỡng và tín ngưỡng trong văn hóa
TS Phạm Văn Tình
Ngày 15-2-2003, tức đúng ngày Tết Nguyên tiêu (rằm Tháng Giêng năm Quý Mùi), một lễ hội thơ đầutiên ở Việt Nam đã được tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội Chọn một nơi như Văn Miếu đểkhai trương và tôn vinh truyền thống yêu văn thơ của dân tộc ta quả là một việc làm có ý nghĩa Tuy nhiên,nếu trở lại cội nguồn lịch sử xa xưa của Văn Miếu, chúng ta sẽ tìm ra khái niệm này còn ẩn tàng nhiều giá trị
về văn hóa - tín ngưỡng làm nên bề dày truyền thống tinh hoa dân tộc Việt Nam
Với một diện tích hơn 54.000 m2, nằm giữa các phố Nguyễn Thái Học, Tôn Đức Thắng, Văn Miếu,Quốc Tử Giám… có thể nói tổng thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám chiếm một diện tích khá rộng sovới Kinh thành Thăng Long ngày xưa (vốn chỉ giới hạn trong 4 cửa thành, 5 cửa ô chính sau này) Nhiềungười thường hay gọi nơi này một cách ngắn gọn là Văn Miếu hoặc Quốc Tử Giám và cũng nhiều người vẫnnghĩ rằng đây là tên gọi khác nhau của một di tích Thực ra, Văn Miếu và Quốc Tử Giám là hai công trìnhkiến trúc được xây dựng với hai mục đích ở hai thời điểm khác nhau Văn Miếu ra đời năm 1070 còn Quốc
Tử Giám thì mãi tới sáu năm sau (1076) mới có Tuy nhiên, hai công trình này vẫn nằm trong một tổng thểkiến trúc rất hài hòa, ấy là do trước khi xây dựng, Vua Lý Nhân Tông đã trực tiếp xem xét và lên phương ánrất kĩ Hơn nữa, xuất phát từ truyền thống trước đó từ Trung Quốc, từ khi Nho giáo của Khổng Tử ra đời,nhiều Văn Miếu đã được dựng với quy mô và kiểu dáng khá giống nhau, như đều có các khu như Văn MiếuMôn, Đại Trung Môn, Khuê Văn Các, Đại Bái Đường,… Người đi tham quan nơi này ngạc nhiên về sự hàihòa và tôn nghiêm, như cảnh quan nơi đây như hội tụ được mọi tinh hoa của con người và trời đất
Văn Miếu - chiết tự có nghĩa là "miếu thờ văn" Đây là một tín ngưỡng tôn vinh người sáng lập ra Nhogiáo (*) và qua đó đề cao tinh thần học vấn mà ông đề xướng, như coi trọng sự học hành hiểu biết, từ đó coitrọng giá trị người thầy (tôn sư trọng đạo), coi trọng lễ nhạc, thơ ca… Văn: vẻ đẹp, văn chương, văn nho, vănđức, văn đạo, văn sách, tri thức… "Kẻ quân tử học rộng rãi ở văn, ước thúc bằng lễ thì có thể sống không tráiđạo nghĩa" (Luận ngữ) Qua bao đời truyền tụng, chữ Văn còn được bồi đắp thêm nhiều nét nghĩa cực kì hàmsúc, như một chữ của Thánh hiền, tôn thờ thành Đạo Nghĩa Do vậy, khu chính của mọi Văn Miếu là Đại BáiĐường, nơi đặt bàn thờ Khổng Tử và được coi là nơi trang trọng tôn nghiêm nhất Sách Khổng Tử răn dạy rất
kĩ những điều phải tuân thủ mà người quân tử không được phép quên Nho giáo có thể nói đã thâm nhập sâuvào cuộc sống tinh thần của người Việt và phát huy tính tích cực của nó Nhà nước phong kiến cũng đã biếttận dụng ưu thế này để cai trị muôn dân Do vậy, nhà vua cho xây Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài đấtnước Ta hay gọi nơi này bằng một tên gọi hình tượng là "trường đại học đầu tiên ở Việt Nam" Chính từ khixây xong Quốc Tử Giám, việc dạy dỗ, đào tạo nhân tài ở nước ta mới đi vào chính quy và tuân thủ các quy tắc
Trang 3nghiêm ngặt của trường quy thi cử phong kiến Quốc Tử Giám còn là nơi vua học, nơi dạy dỗ cho các con củanhà vua cũng như các bậc quan chức trong triều đình Từ quan niệm "hiền tài là nguyên khí quốc gia", cáctriều vua Việt Nam đã liên tục mở các khoa thi lớn để chọn ra các nhân tài Chỉ tính riêng từ năm 1442 đến
1787 đã mở được 124 khoa thi và chọn ra 2.260 tiến sĩ theo Nguyễn Văn Độ, đã dẫn) Quả là một kì tích.Những rùa đá lớn, nặng hàng tấn, được khắc chi chít trên mình trên tuổi của các vị tiến sĩ đã tạo ra một biểutượng trang trọng và linh thiêng ở chốn tôn nghiêm này Hình ảnh Hồ Chủ tịch chăm chú đọc bia Tiến sĩ ởQuốc Tử Giám đã trở thành một hình ảnh vừa hào hùng vừa cảm động Nó có giá trị như một ngọn cờ vẫy gọimọi thế hệ cháu con trên con đường học vấn, nguyện đem tài trí của mình phụng sự đất nước
Giờ đây, sau gần 10 thế kỷ thăng trầm, qua bao năm chiến tranh giặc giã, mặc dù Văn Miếu - Quốc TửGiám đã ít nhiều bị mai một, xuống cấp nhưng nơi đây vẫn là một di tích lịch sử văn hóa có một không haicủa dân tộc Nó hàm chứa tất cả những giá trị văn hóa truyền thống của con người Việt Nam từ bao đời nay
Và bây giờ, Văn Miếu trong tâm khảm chúng ta như một biểu trưng mang đậm chất văn hóa được tôn thêmbởi sắc màu tín ngưỡng Giá trị tinh thần cao quý đến nỗi chúng ta coi đó như một huyền thoại để tôn thờ, là
di sản bất diệt của ngàn năm văn hiến Quả là hai yếu tố văn hóa và tín ngưỡng đã tích hợp, chìm vào trongnhau và lung linh tỏa sáng trong tâm hồn mỗi người Việt Nam, mãi mãi trường tồn cùng lịch sử
Chú thích
(*) Miếu thờ Khổng Tử (Khổng Miếu) được lập tại nước Lỗ, Trung Quốc, vào năm 478 TCN
(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số14/2003)
Làng gốm cổ truyền Bát Tràng
Lê Văn Cảo Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Khi ấy ở trường Yên có nghề làm gạch Một ngườithợ cả thuộc họ Nguyễn quê ở Vĩnh Linh, Trường Yên (Hoa Lư) đã cắm đất tại Bát Tràng làm nên những viên
Trang 4gạch 30 × 30 × 6- 7 cm, những viên gạch đó đã được làm bằng đất sét chịu lửa đun ở nhiệt độ cao, nó cũng lànhững viên gạch được xây nền móng của những cung điện Hoàng thành Nếu có dịp đến thăm chúng ta sẽthấy có móng nhà dài trên 20m cao từ 0,7 - 1m, rộng trên 60cm, với hai lượt gạch át Tràng được xây dựng đềuđặn, thẳng thắn, cho đến nay không một chút rêu phong, đó chính là gạch Bát Tràng
Hầu hết những di sản văn hóa của nước ta đều có mặt gạch Bát Tràng, từ Văn Miếu, đền Cổ Loa, đềnGióng đến các cung điện lăng tẩm của Huế và các vùng nông thôn miền Bắc thì đình, chùa và các nhà khágiả đều xây gạch Bát Tràng
Theo lệnh vua, 12 cụ từ làng Bạch Bát - Bồ Xuyên đã đến Bát Tràng xây dựng những mái lò làm gốmphục vụ cho cung đình và dân sinh Những người ở Bồ Bát và Trường Yên đã thống nhất và đặt tên làngchính thức là Bát Tràng, lấy tên người có công đầu là người họ Nguyễn ở Trường Yên (Nguyễn Linh Tràng),đến nay dân làng còn ghi nhớ
Tên làng Bát Tràng được hình thành từ thời Lý, Trần Khi đem quân đi đánh giặc vua Trần Nhân Tông
đã chỉ vào làng Bát Tràng lúc ấy trên bến dưới thuyền và nhộn nhịp và phán rằng: "Đây là bến sông làng Bát
Hàng gốm Bát Tràng phát triển mạnh mẽ ở thời kỳ Trần Lê, không những người được người trong nước
ưa chuộng mà còn là mặt hàng bán ra các nước như: Nhật Bản, Inđônêxia, Hàn Quốc Gốm Bát Tràng cònđược coi là một cống phẩm qúy của Việt nam với các triều Nguyên, Minh
Hiện nay những sản phẩm ấy còn được lưu giữ trong Bảo tàng Lịch sử, ngay trên quê hương làng gốm
và một số làng xã lân cận
Là mặt hàng qúy vì nó làm bằng bàn tay, khối óc của người thủ công - từ tạo hình, tạo dáng, đến nét vẽkhắc hoa văn,các loại men từ men đàn, men rạn, men ngà, men lam, men búp dong được nung ở nhiệtđộcao, gốm không bị ngấm nước, men không bịthời gian làm mòn Một tiến sĩ người Mỹ chuyên gia nghiêncứu về gốm sứ, sau khi làm việc gần 3 tháng với các thợ giỏi của Bát Tràng và khi nghiên cứu các đặc tínhriêng của gốm Bát Tràng đã kết luận: "Gốm Việt nam thuộc nhóm I của thế giới và gốm Bát Tràng đứng đầu
ở nhóm I đó" (Tiến sĩ F.MooooNey)
Những người thợ gồm Bát Tràng hiệnnay được kế thừa đầy đủ nhất những bí quyết, những nét tinh hoacủa ông cha để lại Họ được sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuạt mới, họ được xã hội qúy trọng và nâng đỡ trênnhiều mặt để phát huy hết những khả năng của mình
Gốm Bát Tràng ngày nay đã được phát triển thành cả xã và cả một vùng, gần chục nghìn gia đình đangchuyên sống bằng nghề gốm và phục vụ cho nghề gốm Mỗi buổi sáng hàng vạn lao động ở khắp vùng đếnlàm việc tại các xưởng gốm Bát Tràng, Kim Lan, Giang Cao,Xuân Quan Không khí lao động thật nhộnnhịp, vui vẻ
Do đất chật người đông, gốm Bát Tràng phải đưa một số xưởng gốm hiện đại tới Hưng Yên, QuảngNinh để sản xuất, những xưởng này cũng thu hút, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương Đến xóm ngõ nào trong làng chúng ta cũng thấy hàng trăm mẫu gốm tinh xảo, nhiều loại men mới được
Trang 5nghiên cứu thành công Men ngọc, men ngà, men búp dong là loại hàng phổ biến (xưa kia là loại qúy hiếm).Men rạn đủ kiểu màu thật là tinh xảo Men hồng, kết tinh, đá nâu đen, thô đã được đưa vào sản xuất hàngloạt
Ngoài những tiến bộ về men, về tạo hình, về chất liệu, về tay nghề thì một bước nhảy vọt của làng gốm
đó là thay lò than bằng lò ga, tuy giá thành cao hơn nhưng số lượng hàng thu được nhiều hơn và chất lượng lò
ga là hơn hẳn, giúp cho người thợ sản xuất được mặt hàng đa dạng hơn, đáp ứng được những yêu cầu cao củakhách hàng, giảm ô nhiễm môi trường Nhờ chất lượng ngày càng tốt nên khách hàng quốc tế và trong nướcđều ưa thích, từ các nước châu Á, đến châu Âu, châu Mỹ, châu Đại dương đều có hợp đồng mua bốm BátTràng Tính ra mỗi năm Bát Tràng xuất khẩu từ 400 - 500 Container , ước tính khoảng 4-5 triệu đô la Mỹ.Hiện nay các nước Pháp, Mỹ, Đức đều có các Công ty mua hàng Bát Tràng Ngày nay ấm chén bát đĩa củaBát Tràng vừa đẹp vừa bền, có thể cạnh tranh trong và ngoài nước với giá cả phải chăng
Do sản xuất phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao - nhà cửa hầu hết khang trang, các tiệnnghi sinh hoạt đều có Các hoạt động khuyến học, khuyến nghề được chú ý, nhất là khuyến học đã đi đầutrong Thành phố từ chỗ có 70, đến nay đã có 132 cháu học sinh giỏi Về khuyến nghề đã tổ chức cho các cháuhọc sinh cấp I học vẽ, thi lại, thi vẽ Các cuộc triển lãm được liên tục tổ chức từ Hà Nội - Đền Hùng - Huế.Đến đâu cũng nhận được sự khen ngợi của Ban Tổ chức, Bằng khen của Bộ Văn hóa, của Trung ương HộiNgười cao tuổi Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt nam Có bốn nghệ nhân đã được Thành phố côngnhận Hàng chục mẫu hàng được nhận giải thưởng "Ngôi sao Việt Nam" và sản phẩm tinh hoa Việt Nam củaFestival Huế 2004
Những tiến bộ trên là nhờ sự nỗ lực của những người thợ gốm, sự quan tâm của Thành ủy, UBNDThành phố Hà Nội Đó là một quy hoạch làng nghề đã được UBND thành phố quyết định Nhờ quy hoạch màđường sá trong làng, đã được xây dựng rộng rãi, nhà máy nước sắp hoàn thành, công trình điện được cải tạonâng cấp, 2 bến cảng du lịch và vật tư đang được khẩn trương khảo sát và xây dựng
Để kết luận, chúng tôi xin trích hai câu thơ mà cụ Vũ Khiêu, giáo sư, anh hùng lao động, giải thưởng
Hồ Chí Minh đã tặng nhân dân làng Bát Tràng:
"Gốm Bát Tràng mỹ lệ cao siêu
Người Bát Tràng thông minh tài tú "
(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số23/2004
Di sản và cuô ̣c sống Văn ho ̣c dân gian cổ truyền trên đất thăng long
GS Vũ Ngo ̣c Khánh
Trang 6Thăng Long là đất kinh kỳ, là nơi hô ̣i tu ̣ Thăng Long là trung tâm văn hóa của cả nước với li ̣ch sử mấyngàn năm, kể cả những ngày chưa được mang tên go ̣i Thăng Long Đã là mô ̣t trng tâm văn hóa thì tất nhiênphải bao hàm, phải chất chứa mô ̣t nô ̣i dung văn hóa phong phú và đa da ̣ng Chỉ nói riêng trong pha ̣m vi văn
ho ̣c dân gian, kho tàng này đã đồ sô ̣ vô cùng Không mô ̣t vùng đất nào trên cả nước Viê ̣t Nam ta có được bềdầy và bề sâu về văn ho ̣c dân gian như ở Thăng Long Có thể khẳng đi ̣nh như vâ ̣y mà không phải nga ̣i ngầnhay dè dă ̣t
Thăng Long là đất rồng bay Rồng là mô ̣t con vâ ̣t huyền thoa ̣i Người cho ̣n con vâ ̣t huyền thoa ̣i này để
đă ̣t tên cho Thủ đô, không ngờ đã mă ̣c nhiên công nhâ ̣n nơi đây là xứ sở của mô ̣t kho tàng huyền thoa ̣i dồidào Vì đất của loài vâ ̣t kỳ ảo thiêng liêng, nên ta còn gă ̣p ở Thăng Long rất nhiều con vâ ̣t huyền thoa ̣i, mỗi
vâ ̣t là mô ̣t đầu đề cho mô ̣t truyền thuyết, mô ̣t cổ tích thần kỳ Có Rồng bay để mở ra mô ̣t kỷ nguyên đô ̣c lâ ̣p,có rùa bơi, rùa mà là thần Kim Qui với hình ảnh trả gươm, để khẳng đi ̣nh đất nước phải bước sang giai đoa ̣nxây dựng hòa bình Có con ngựa, ngựa mà la ̣i là thần Ba ̣ch Mã, với vai trò kiến trúc sư chỉ rõ con đường quihoa ̣ch thành Thăng Long Còn có trâu, mà la ̣i là trâu vàng vừa tắm nước Hồ Tây vừa ta ̣o cho đất Thăng Longrất nhiều mă ̣t gương diễm lê ̣, có hồ còn giữ được cái tên Kim Ngưu Rồi la ̣i có khá nhiều là Rắn Phải là rắnmới gợi ra được những huyền tích xa xưa, để ta nhớ đến cao Giao Long thần kỳ được dân Viê ̣t luôn luôn go ̣itên bố về hỗ trơ ̣ cháu con gă ̣p na ̣n Dấu tích của rắn tháy khắp mo ̣i nơi: ở Lê ̣ Mâ ̣t phía Đông, ở Di ̣ch Vo ̣ngphía Bắc, và ở Linh lang, ngay chính giữa Kinh đô Thăng Long quả là xứ sở của các con vâ ̣t huyền thoa ̣i.Huyền thoa ̣ mà không hề xa la ̣ với con người
Có vâ ̣t linh thiêng, Thăng long la ̣i cũng có thần linh thiêng Go ̣i là thần, nhưng phải hiểu đó chính làngười, những con người đã ga ̣t bỏ cái tiểu ngã nhỏ nhen, để đa ̣t đến mức đa ̣i ngã, mà ta go ̣i là thánh Đã có
mô ̣t chuyên đề về đa ̣o Thánh ở Viê ̣t Nam Các Thánh đều có sự tích để trở thành thần thoa ̣i, cổ tích hay giaithoa ̣i để làm giàu cho văn ho ̣c dân gian Thăng Long Điều tình cờ mà hợp lý, la ̣i là rất đô ̣c đáo Thăng Longchính là quê hương của quá nhiều vi ̣ Thánh Có Thánh Lỏa ở Đông Anh Có Thánh Gióng ở Sóc Sơn Rồi cóThánh Chèm ở Từ Liêm, Thánh Láng, Thánh Đồng đen ở ngay giữa lòng Hà Nô ̣i Hà Nô ̣i là đất bao dung, lànơi hô ̣i tu ̣, cho nên các vi ̣ thánh dù xa xôi mấy cũng phải về đây Về đây sẽ được tôn vinh là thánh của cảnước chứ không chỉ là thánh ở đi ̣a phương, ở các vùng Thánh mẫu là các vi ̣ như bà Chúa Kho, ỷ Lan, Liễu
Ha ̣nh Thánh chống ngoa ̣i xâm là thánh Pha ̣m, thánh Trần Thánh chuyên ngành như đức Thánh Chu Còn cócả thánh nước ngoài nữa Thánh Quan và Thánh Văn Xương vẫn được người dân trên đất Hà Nô ̣i hành hươngsùng bái, không hề có kỳ thi ̣ gì về quốc ti ̣ch Truyê ̣n thánhlà cả mô ̣t kho tàng Truyê ̣n thánh là cả mô ̣t khotàng Trong văn ho ̣c dân gian Viê ̣t Nam, cổ tích và truyền thuyết Thăng Long chiếm mô ̣t vi ̣ trí lớn lao là như
vâ ̣y
Thăng Long là đô, nhưng cũng còn là thi ̣ Vì là thi ̣ nên mới có cái tên go ̣i là Hà Nô ̣i ba mươi sáu phốphường Con số 36 tượng trưng cho sự tối đa chứ số lượng phố phường Hà Nô ̣i còn nhiều hơn thế Những phốphường đều là quê hương của các nngành nghề, của các sản vâ ̣t, nhưng đồng thời cũng là quê hương củanhững sự tích các vi ̣ tổ nghề, kèm theo rất nhiều bài thơ, bài văn cúng tế, bài hát tôn vinh hoă ̣c những bài vè.Có rất nhiều bà tổ nghề ở Hà Nô ̣i, được tôn là các bà Chúa đều được đi vào văn ho ̣c dân gian Bà chúa dê ̣tlĩnh là Pha ̣m Thi ̣ Ngo ̣c đô ở Trích Sài là mô ̣t đức thiên tôn:
"Nhờ đức thiên tôn, da ̣y nết cửi canh
Quay tơ lu ̣a chỉ nhiều đường
Nữ công văn nghê ̣ cho tường bởi đâu"
Các bà chúa Tằm (Quỳnh Hoa công chúa ở Nghi Tàm), bà chúa Dê ̣t (công chúa Thu ̣ La ở Hoàn Long) đều có những bài văn chầu được dân chúng thuô ̣c lòng Những vi ̣ tổ khác cũng luôn luôn lưu la ̣i tiếng tăm vàhình ảnh trong lòng các thế hê ̣ Vũ Uy, tổ nghề dê ̣t thao ở Triều Khúc được nhắc đến trong ca dao:
Quai thao dê ̣t khéo vô ngần
Là nghề của Vũ sứ thần da ̣y cho
Tóc rối, lông vi ̣t mỏ cò
Bán ra ngoa ̣i quốc cũng to vốn lời
Rồi còn có cả những ca dao và truyền thuyết nói đến các nghề đúc đồng (Ngũ Xã), làm giấy (Yên Thái)
Trang 7và nhiều nữa ở phần sâu kín, con người Hà Nô ̣i yêu quý kỹ thuâ ̣t, quan tâm đến viê ̣c chế biến sản vâ ̣t, khiến
ta có thể tin tưởng và hy vo ̣ng về sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa sau này La ̣i không thể quên đượcrằng đất Thăng Long còn dồi dào lời ca tiếng hát, cũng rất say mê với nghê ̣ thuâ ̣t biểu diễn Hát cửa đình LỗKhê còn lưu la ̣i nhiều tác phẩm dòng ca công: Chất bác ho ̣c dồi dào mà phong cách dân gian thấm đượm LỗKhê là mô ̣t trung tâm lớn, nhưng Hà Nô ̣i còn nhiều điểm ca công khác, quy mô không bằng nhưng ảnhhưởng vẫn lớn như làng Phú Mỹ, quê hương của mô ̣t người đã được tôn là Nam quốc danh ca đào thi ̣ mẫu.Đã nhắc đến những bài ca vè, thì cũng không nên quên rằng Hà Nô ̣i đã có những khúc tráng ca rất tiêubiểu, hình như hiếm thấy ở nhiều đi ̣a phương Không phải tìm đâu cho xa xôi, ngay vào cuối thế kỷ XIX cảnước truyền đi bài "Hà thành chính khí ca", ca ngợi sự hy sinh lớn lao của Hoàng Diê ̣u
Trời cao, sông rô ̣ng, đất dày
Núi Nùng, sông Nhi ̣ chốn này làm ghi
Nét văn hóa lớn của dân tô ̣c ta là ở đó Và nối tiếp chính khí ca là cả nước Viê ̣t Nam đã phát huy chínhkhí này trong sự nghiê ̣p Cần vương Ngay sau đó, la ̣i có Ngũ tử ca, khẳng đi ̣nh cái đe ̣p của Đông kinh nghĩathu ̣c:
Buổi diễn thuyết người đông như hô ̣i,
Kỳ binh văn khách tới như mưa
Những khúc tráng ca như vâ ̣y, sống mãi với tinh thần dân tô ̣c
Cùng với những bài ca, vè, văn chầu chúng ta còn được gă ̣p ở Hà Nô ̣i rất nhiều ca dao, phương ngôn
ca ngơ ̣i cảnh đe ̣p Thăng Long,khẳng đi ̣nh các của ngon vâ ̣t la ̣ hoă ̣c những sắc thái đa da ̣ng của chốn kinh kỳ.Đã có nhiều công trình xuất bản lâu nay sưu tầm được kho tàng đồ sô ̣ nay, ca dao cả nước cũng phongphú như vâ ̣y Có mô ̣t câu hỏi cũng hay hay: trong hàng va ̣n câu ca dao Viê ̣t Nam, có thể tìm được chăng mô ̣tcâu nào, đoa ̣n nào hay nhất? Hay về tình cảm, về nghê ̣ thuâ ̣t, về phong cách, nhưng la ̣i mang dấu ấn rõ rê ̣t của
đi ̣a phương Người dân Hà Nô ̣i xin góp câu này để chờ sự thẩm đi ̣nh:
Phất phơ lá trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Tho ̣ Xương
Mi ̣t mờ khói tỏa ngàn sương
Nhi ̣p chày Yên Thái, mă ̣t gương Tây Hồ
Có phải hoàn toàn là ca dao chăng? Nhưng đúng nó đã trở thành câu ca dao của riêng Hà Nô ̣i: có phầnbác ho ̣c mà có phần dân gian sâu lắng đâ ̣m đà Phong cách Hà Nô ̣i chính là như thế
Văn ho ̣c bao giờ cũng phản ánh con người Văn ho ̣c dân gian cũng vâ ̣y Con người Viê ̣t Nam qua ca daocổ tích luôn luôn sống đô ̣ng, có khi qua mô ̣t nhân vâ ̣t như nàng Tấm, chàng Trương Chi, có khi qua mô ̣t hìnhtươ ̣ng như con bống, con cò Văn ho ̣c dân gian Hà Nô ̣i còn có nét đă ̣c sấc là đã sản sinh ra mô ̣t kho tàng giaithoa ̣i, không đâu dồi dào bằng Giai thoa ̣i Thăng Long xứng đáng chiếm mô ̣t mu ̣c riêng trong kho tàng giaithoa ̣i Viê ̣t Nam, và làm sáng rõ hình ảnh của nhiều con người Hà Nô ̣i Con người nơi đây nổi bâ ̣t là nhữnghiền tài, là nguyên khí quốc gia Đó là các nhà ho ̣c giả, các vi ̣ khoa bảng, các nhà trí thức trải qua các thời đa ̣i.Chuyê ̣n của ho ̣ là chuy ̣en ho ̣c hành, thi cử, đối đáp ngoa ̣i giao, nghiên cứu sáng tác, chuyê ̣n nào cũng để la ̣inhững tấm gương sáng ta ̣o và phấn đấu cho nhiều thế hê ̣ Có chuyê ̣n chú bé con ba tuổi giết giă ̣c như dũng sĩPhù Đổng, có chuyê ̣n cô gái 9 tuổi đã là nữ tướng như Trần Ngo ̣c Hoa Rất nhiều là những giai thoa ̣i của tâ ̣pthể dũng sĩ như những đoàn quân cướp giáo Chương Dương, bắt giă ̣c Hàm Tử, đuổi đi ̣ch Bồ Đề cho đến đoànquân Rồng lửa Ngo ̣c Hồi rồi đô ̣i quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh những ngày li ̣ch sử 19/12/1946 Phu ̣ nữThăng long rất nhiều nàng như nàng Pha ̣m Thi ̣ Trân mà khúc hát tùng chim cứ vang vo ̣ng mãi, hoă ̣c như nhàthơ nữ ở phường Khán Xuân luôn luôn thắc thỏm với ba hồi chiêu mô ̣, mô ̣t vũng tang thương Còn có mô ̣t bàhuyê ̣n, nhìn Thăng long mà thấy được đá vẫn trơ gan, nước còn chau mă ̣t Thơ của các bà đã trở thành niềmtâm sự của nhân dân Những trai thanh gái li ̣ch chốn kinh kỳ (để la ̣i cho kho tàng li ̣ch sử Viê ̣t Nam nhũng bàithơ tuyê ̣t diê ̣u): có mối tình phóng khoáng nguyên ve ̣n vẻ tinh khôi trên bến đò Chử Xá, có mối tình không kểtuổi bên Hồ Tây, rồi có cả mối tình tưởng là quý tô ̣c, song la ̣i rất nhân văn Có ông Vua yêu cô gái hái dâu, tựalưng bên khóm lan không cần xem hô ̣i La ̣i có ông Vua nho ho ̣c tìm đến mô ̣t ngôi chùa để rước nàng tiên, ta ̣onên mối tình Nho Phâ ̣t Lão bàng hoàng kim cổ! Còn có những mối tình kỳ la ̣: tình của mô ̣t nhà thơ với mô ̣t nữ
Trang 8thần dưới bóng trăng mờ ảo của Tây Hồ Không phải đất của dân gian, thì không có được những con người vànhững mối tình như thế.
Không biết có ai nghiên cứu văn ho ̣c trào phúng Viê ̣t Nam, đã để ý đến nu ̣ cười Hà Nô ̣i, hình nhhư xuấthiê ̣n đâu đó từ cái cười của Liêu Thủ Tâm rồi đến Sai ất, Nguyễn Sĩ Cố Sau đó thì được cô ̣ng thêm cáinghi ̣ch ngơ ̣m tai quái của Tra ̣ng Quỳnh để dẫn đến nu ̣ cười Tú Xuất - Ba Giai là riêng cho Hà Nô ̣i Cái cườivốn là đa da ̣ng, nhiều khi quá mức, đivào dung tu ̣c là cái cười của nông dân Người Hà Nô ̣i cũng tiếp nhâ ̣n cáicười này, song chủ yếu là cái cười đô thi ̣ Xã hô ̣i càng phân hóa thì càng có lắm tiếng cười Nu ̣ cười Hà Nô ̣itrong xã hô ̣i thực dân, thi ̣ dân hóa là biết đánh vào những đối tượng lai căng, kê ̣ch cỡm, gây nên nét mới chocái cười Viê ̣t Nam Đến ngày nay có xu hướng trơ rthành nu ̣ cười trí tuê ̣, mà chất uy mua trong Bản án thựcdân Pháp và Nhâ ̣t ký trong tù (của Nguyễn ai Quốc - Hồ Chí Minh) đã gợi mở phần nào Cái cười trí tuê ̣ nàychỉ mới thấy ở Hà Nô ̣i là dồi dào hơn cả
Có tiếng cười, có ca dao hò vè, giàu giai thoa ̣i cổ tích, la ̣i dồi dào huyền thoa ̣i, luôn luôn chứa đựng sứcsống nhân văn của con người các thế hê ̣ ở chốn đô thành, văn ho ̣c dân gian Hà Nô ̣i xứng đang với tâm tình vàtrí tuê ̣ Viê ̣t Nam
(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số 5/2002)
Làng giấy dó Yên Thái
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ
(Ca dao)
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co
(Nguyễn Huy Lượng - "Tụng Tây Hồ phú")
Làng nghề giấy nổi tiếng Yên Thái, còn gọi là làng Bưởi, ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội Nghề làmgiấy ở đây bắt đầu từ thế kỷ XV, được Nguyễn Trãi nói đến, khá rõ, trong sách "Dư địa chí" của ông (viếtnăm 1435): Phường Yên Thái ở Thăng Long đương thời chuyên làm giấy; người thợ lao công ở đây đã làm ra
Trang 9giấy thị (để viết chỉ thị), giấy lệnh (để ghi mệnh lệnh)
Thực ra, phường Giấy Yên Thái không chỉ riêng người làng Yên Thái làm giấy, mà bao gồm cả làngĐông Xá, Hồ Khẩu cũng làm giấy, Làng Nghĩa Đô xưa kia có dòng họ Lại đời nối đời làm một loại giấy đặcbiệt, gọi là giấy sắc dành riêng cho vua dùng để viết sắc chỉ - trên nền giấy nổi lên mờ mờ hình rồng phunmây Dân gianquen gọi loại giấy sắc là giấy Nghè, để chỉ thứ giấy làm ở làng Nghè (têncổ của làng Nghĩa Đô,sau này thành xã Nghĩa Đô)
Phường giấy Yên Thái trước đây luôn vang dội chày giã vỏ dó làm giấy Âm thanh ấy đã đi vào ca dao,dân ca, đã gợi cảm hứng cho những tâm hồn thi nhân nghệ sĩ qua nhiều thế kỷ
Thế nhưng đằng sau những tờ giấy thanh tân, đằng sau cái nhịp chày Yên Thái nện trong sương giữaquanh co ngọn nước "mặt sương Tây Hồ" kia đã mấy ai hiểu hết sự khó nhọc của người thợ làm giấy! Trongcuốn "Ca dao ngạn ngữ Hà Nội" do Triều Dương và những người khác sưu tầm, văn nghệ Hà Nội xuất bảnnăm 1971, có những câu ca dao về lao động của người thợ Yên Thái:
Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày
Hay:
Xeo đêm rồi lại xeo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!
Nghề làm giấy cổ truyền ở Yên Thái cũng như một vài nơi khác được chuyên môn hóa từ khásớm.Nguyên do là nghề giấy phải qua nhiều công đoạn sản xuất, với kỹ thuật khá phức tạp Nó đòi hỏi từngloại thợ ở từng công việc cụ thể phải có kinh nghiệm và giỏi nghề Sự chuyên môn hóa ấy còn do mục đíchsản xuất đạt sản lượng và chất lượng giấy theo mong muốn Có thể nói, ở tất cả các công đoạn sản xuất - từbóc vỏ dó, ngâm và giặt dó, giã dó, nấu dó, lọc dó, xeo giấy, đến đóng gói kiện giấy và vận chuyển đi bán -đều hết sức vất vả Làm giấy thủ công trước đây hầu như hoàn toàn phải bằng sức người, bằng đôi tay trầncủa người thợ
Sản xuất giấy cần rất nhiều nước mà phải là nước sạch Lại phải cần phải cần lửa, để đốt lò nấu bột dó
Tờ giấy mỏng manh kia đã ra đời từ cây cỏ trong môi trường nước và lửa Xưa kia, ở làng Yên Thái, người ta
đã chọn ven bờ sông Tô Lịch để làm nơi sản xuất: ngâm, đãi, nấu dó Những cái vạc lớn nấu bột dó đặttrêncác lò đắp đất trên bờ sông Cạnh đấy là bãi sông - nơi ngâm, giậm và đãi vỏ dó Trên bờ sông ấy có giếngnước rất sâu, trong mát, đã nổi tiếng một thời ở Thăng Long xưa Bố trí và tổ chức nơi sản xuất giấy của làngnghề này vừa thuận tiện vừa hợp lý Ở đây, dân gian đã phản ánh rất thực về cảnh đó bằng bài cao dao:
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái, như kia
Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh
Lò nấu dó của Yên Thái được đắp cao tới 5m Miệng lò đặt chiếc vạc lớn, đường kính 2m Vỏ dó đượcđun cách thủy trong vạc Khi vỏ dó chín, người ta vớt ra đem ngâm nước vôi một lần nữa
Dó nấu chín, ngâm nước vôi, được đem bóc hết lầnvỏ đen bỏ đi Phần vỏ dó còn lại có màu trắng muốt,tinh khiết, được đem giã nhuyễn bằng cối lớn, chày tay Thanh niên giã dó cả ngày lẫn đêm; giã trong nhiềungày đêm mới đủ bột dó để sản xuất Câu ca "Nhịp chày Yên Thái " đã ra đời trong khung cảnh lao động rộnràng của người thợ làng nghề giấy này
Công việc hòa ngâm bột giấy trong bể lọc (gọi là tàu seo) và kỹ thuật seo giấy của những người phụ nữlàng Yên Thái không có gì khác các làng giấy khác, (xem kỹ thuật làm giấy làng An Cốc sau đây) Việc épgiấy cũng vậy Nhưng người thợ Yên Thái lại dùng lò sấy là chủ yếu, ít khi phải đem phơi giấy Dù trời mưavẫn không ảnh hưởng đáng kể đến công việc, giấy vẫn được sấy khô như thường.Cần nhấn mạnh rằng, lò sấygiấy đã xuất hiện ở Yên Thái từ mấy trăm năm trước đây
Sản phẩm truyền thống của Yên Thái chủ yếu là giấy bản để in sách và viết chữ nho (bằng bút lông,mực tàu) và giấy dó (dầy hơn giấy bản) để in tranh dân gian Ngoài ra, thợ giấy Yên Thái cũng sản xuất loạigiấy moi, giấy phèn bằng nguyên liệu xấu hơn Mặt giấy ấy khô ráp, bán cho khách mua để gói hàng
Các loại "đầu mặt" vỏ dó bị loại bỏ, gọi là "xề", người Yên Thái đem bán cho làng Kẻ Cót để làm raloại giấy xề Ngày xưa, các, các cô gái làng Kẻ Cót (tên chứ là làng Thượng Yên Quyết) ở ngoại ô ThăngLong, chuyện đi mua nguyên liệu dó "xề" về làm thứ giấy xề - thô và xấu ấy
Làng Yên Thái (làng Bưởi) vẫn còn đó Nhưng nghề làm giấy dó cổ truyền của Yên Thái bây giờ khôngcòn nhộn nhịp nữa Người Yên Thái đang nung nấu một quyết tâm phục hồi nghề giấy, làm ra những sảnphẩm độc đáo, qúy và đẹp cho đời
Ths.BÙI VĂN VƯỢNG
Trang 10(Tạp chí Thăng Long Hà Nội ngàn năm - Số22/2004)
Về mô ̣t vài giá tri ̣ văn hóa phi vâ ̣t thể của Thăng Long - Hà Nô ̣i
GS TSKH Tô Ngo ̣c Thanh
Với vi ̣ trí của mô ̣t trung tâm chính tri ̣, li ̣ch sử của cả nước Thăng Long đã trải qua ngót mô ̣t ngàn năm tuổi, trong đó Thăng Long là điểm tu ̣ hô ̣i tinh hoa vanư hóa trong mo ̣i miền, trước hết của tứ trấn Đông Nam Đoài Bắc; là nơi giao hòa các sắc thái đa da ̣ng trong quá trình tiếp biến để hình thành mô ̣t phong cách văn hóa của người Hà Nô ̣i: "chẳng thanh chẳng li ̣ch cũng người Tràng An"
Như vâ ̣y "thanh li ̣ch" là mô ̣t phẩm chất tốt đe ̣p đa nghĩa - đa diê ̣n của người Hà Nô ̣i Trước hết, đó là mô ̣t giá tri ̣ có tính bản chất, mô ̣t hằng số văn hóa phivâ ̣t thể tự thân, mô ̣t giá tri ̣ biểu thi ̣ diển hình nhất về con người Hà
Trang 11Nô ̣i Do đó nó đồng thời la ̣i là nguyên tắc ứng xử xã hô ̣i của đất kinh kỳ Sau nữa, nó là chuẩn mực cho mo ̣i sản phẩm, mo ̣i sáng ta ̣o văn hóa Thanh li ̣ch, cao sang nhưung không cao xa; gần gũi mà không tầm thường vàcó mă ̣t trong mo ̣i nẻo của cuô ̣c sống người Hà Nô ̣i.
Người Hà Nô ̣i trước hết chăm chú cho bản thân không có văn bản nào hết, nhưng ra đường là phải có áo dài, áo khoác, được là phẳng phiu, ở nơi công cô ̣ng không nói to gây ồn ào Đi đứng khoan thai, không chen lấn dẫu là rất vô ̣i Trong lời nói thường sử du ̣ng nhhững từ đe ̣p như "xơi cơm, xơi nước" thay cho "ăn cơm, uống nước" Những từ thưa, gửi bao giờ cũng được đă ̣t đúng lúc đúng chỗ Mo ̣i chi tiết trong tác phong cá nhân toát
ra mô ̣t vẻ tự tin mà không tự cao, bình tĩnh mà không la ̣nh lùng, vồn vã mà không thớ lợ Trong quan hê ̣ với nhau, người Hà Nô ̣i vẫn giữ được mối liên kết cô ̣ng đồng công xã được thể hiê ̣n rõ nhất trong các phường nghề thủ công, hoă ̣c ba ̣n buôn bán Dấu vết làng xã còn thấy cả trong những đình và những vi ̣ thành hoàng vẫnđươ ̣c mô ̣t cô ̣ng đồng dân phố thờ cúng như là mô ̣t ha ̣t nhân tâm linh của ho ̣ Nhưng lối sống quan tâm sâu đến
mo ̣i mă ̣t cuô ̣c sống của nhau như ở nông thôn đã phải nhường chỗ cho viê ̣c tôn tro ̣ng lối sống riêng của mỗi gia đình phía sau mỗi cánh cửa, mô ̣t lối sống thích hợp với điều kiê ̣n của đô thi ̣ Người Hà Nô ̣i biết giúp đỡ nhau khi cần, nhưng cũng biết dừng để không can thiê ̣p vào đời sống riêng của người khác
Mỗi gia đình hà Nô ̣i, dù là gia đình ha ̣t nhân hay gai đình có 3 - 4 đời chung sống, đều có lối sống riêng của mình, nhưng la ̣i có mô ̣t số nét chung nhiều khi rất chi tiết nhưng vừa đủ để nhâ ̣n ra Chẳng ha ̣n kiểu cách của cái cơi trầu, bình vôi và bi ̣i ấm chén, cũng như cách mời trầu, mời nước Hoă ̣c cách go ̣i con cháu ra chào khách v.v
So với Huế, cách ẩm thực Hà Nô ̣i có vẻ như ít cầu kỳ hơn Nhưng không phải vì thế mà không có mô ̣t văn hóaẩm thực Hà Nô ̣i Đến nỗi, đến các thành phố trong Nam, người ta thấy những hiê ̣u phở có tên là Phở Hà Nô ̣i,
mă ̣c dầu chưa bao giờ ho ̣ làm được những bát phở có đúng hương vi ̣ Hà Nô ̣i Không thiếu những món đă ̣c sản có vinh dự được mang đi ̣nh ngữ "Hà nô ̣i" Bún ốc Tây Hồ chẳng ha ̣n hoă ̣c những thứ chỉ mới nghe tiếng rao đã thấy khẩu vi ̣ Hà Nô ̣i, như "bánh khúc, chí mà phù, lốc bểu" đêm đông và gio ̣ng rao cao và gắt của "tiết canhgiải nhiê ̣t" hay gio ̣ng rao đủnh đỉnh của "tào phớ" vào giữa trưa hè Trong mâm cơm thường ngày cũng không vắng thiếu cải vè Hà Nô ̣i Đĩa rau muống luô ̣c phải thâ ̣t xanh Bát nước luô ̣c phải thâ ̣t trong và nếu có vắt chanh thì chỉ cần làm cho nước có màu trong, khôn còn màu xanh, nhưng không ngả sang đỏ Bên ca ̣nh đó là bát cà pháo muối ngâm trong bát nước nguô ̣i để không bi ̣ thâm Người Hà Nô ̣i không thích ăn dưa muối quá chua, nhưng la ̣i khoái khẩu với dưa cải mới muối chấm nước mắm ớt để thưởng thức vi ̣ cay nồng của rau cải Còn nói đến cỗ bàn thì đó là cả mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t, thể hiê ̣n từ cơ cấu các món, công thức chế biến và thành phần của từng món, thâ ̣m chí cả ở kiểuhoa và kích cỡ của miếng su hào làm chân tẩy bóng bì Như vâ ̣y liê ̣u có thể cho rằng người Hà Nô ̣i kỹ tính trong ăn uống không nhỉ?
Từ Hà Nô ̣i đời thường ta quay về với mô ̣t Hà Nô ̣i trong tâm thức văn hóa Viê ̣t Nam Bản thân Thăng Long đã là mô ̣t giá tri ̣ văn hóa Đó là mô ̣t thủ đô với truyền thuyết rồng bay lên đón chào Đó là nơi anh linh núi sông
tu ̣ hô ̣i khi thần sông hiê ̣n lên phá tan bùa yểm của tên tướng giă ̣c xâm lược Đó cũng là đi ̣a điểm ghi dấu những chiến công hào hùng trong chiến tranh giải phóng dân tô ̣c của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, của Quang Trung
- Nguyễn Huê ̣, của Đi ̣ên Biên Phủ - Hồ Chí Minh v.v Hà Nô ̣i - Thăng Long vì thế là niềm tự hào của toàn dân đất Viê ̣t, từ Nam chí Bắc, cả từ miền ngược đến miền xuôi
(Xem tiếp trang 28)
Trang 12Vấn đề phố nghề cổ truyền trong lòng thành phố mới
Nguyễn Vinh Phúc
Không rõ đời Lý, Trần, thợ thủ công và người buôn bán gốc Thăng Long là như thế nào, chỉ biết từ đời
Lê sơ thì thợ thầy Kẻ Chợ đa số từ tứ trấn về Nay thì ai ai cũng biết là nghề vàng bạc từ Châu Khê và ĐịnhCông, nghề tiện từ Nhị Khê, nghề giày từ Trúc Lâm
Có thể ban đầu, từng nghiệp thợ từ làng quê ra Thăng Long cư trúm, làm theo thời vụ Dần dà, họ định
cư ở hẳn lại Kẻ trước người sau tụ tập ở một góc phường (trong số 36 phường) bám lấy hai bên một con