Cũng như chất lượng đào tạo bị giảm sút là do đội ngũ giáo viên trẻ, thiếu kinh nghiệm cả về nghiệp vụ sư phạm lẫn chuyên môn, chương trình đào tạo cũ kĩ, không phù hợp với xu thế phát t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trung
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi
rõ nguồn gốc
Hà Nội ngày….tháng….năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Tú
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này của mình, ngoài sự đóng góp của cá nhân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ cũng như tạo điều kiện tốt nhất từ các cá nhân, tập thể
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Trung – người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này
Ngoài ra, cho tôi gửi lời cảm ơn tới BGH Trường TCN nấu ăn và NVKS
Hà Nội, Ban KTNA, Phòng TCHC, Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện cho tôi cả
về thời gian cũng như cung cấp các thông tin, số liệu chính xác, cụ thể giúp cho luận văn của tôi hoàn thiện hơn
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn trân trọng tới Ban Giám đốc Học viện Khoa Học Xã Hội, các phòng ban chức năng, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Quản trị kinh doanh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại học viện Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè cũng như các bạn học viên lớp Quản trị kinh doanh đợt 1-2015 đã cùng tôi hoàn thành tốt khóa học này
Ngoài ra, không thể không nhắc tới gia đình là nơi hậu thuẫn cả về vật chất và tinh thần cho tôi để tôi yên tâm học tập và hoàn thiện bản thân
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 8
1.1 Hoạt động đào tạo nghề 8
1.2 Chất lượng đào tạo nghề tại các trường Trung cấp nghề 13
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại một số trường trung cấp nghề 34
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ NẤU ĂN VÀ NGHIỆP VỤ KHÁCH SẠN HÀ NỘI 37
2.1 Tổng quan về trường trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội 37
2.2 Thực trạng chất lượng đào tạo nghề của trường trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội giai đoạn 2013 – 2015 39
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề của nhà trường giai đoạn 2013-2015 47
2.4 Công tác đánh giá, kiểm tra giám sát chất lượng đào tạo nghề 53
2.5 Đánh giá chất lượng đào tạo nghề tại trường Trung cấp nấu ăn và nghiệp vụ khách sản Hà Nội 55
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHÈ NẤU ĂN VÀ NGHIỆP VỤ KHÁCH SẠN HÀ NỘI 62
3.1 Cơ hội, thách thức và mục tiêu phát triển của trường Trung cấp nghề nấu ăn & ngiệp vụ khách sạn Hà Nội 62
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường Trung cấp nghề nấu ăn &nghiệp vụ khách sạn Hà nội 64
3.3 Kiến nghị 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 78
Trang 5ĐHQG Đại học quốc gia
NQTW Nghị quyết trung ương
XHCN Xã hội chủ nghĩa
TTLĐ Thị trường lao động
THCS Trung học cơ sở
PTTH Phổ thông trung học
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
UBND Ủy ban nhân dân
CBCNV Cán bộ công nhân viên
MHC Môn học chung
PCGK Pha chế giải khát
LT, TH Lý thuyết, Thực hành
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng CBCNV& GV trong trường 43
Bảng 2.2 Thống kê về thâm niên giảng dạy của giáo viên 43
Bảng 2.3 Đội ngũ giáo viên phân bố theo trình độ, lứa tuổi 44
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá của giáo viên về thực trạng CSVC của nhà trường 45
Bảng 2.5 Kết quả xếp loại giảng dạy đối với giáo viên của trường 50
Bảng 2.6 Trình độ sư phạm của giáo viên 51
Bảng 2.7 Trình độ tay nghề của giáo viên TH 51
Bảng 2.8 Đánh giá chất lượng đào tạo của 20 bếp trưởng, quản lý nhà hàng,
khách sạn có sử dụng lao động là học sinh của trường 53
Bảng 2.9 Kết quả học tập của học sinh hệ TCN tại trường trong 3 năm trở lại
đây 56 Bảng 2.10 Kết quả đánh giá của giáo viên về chương trình đào tạo hệ TCN
của nhà trường 57
Bảng 2.11 Kết quả đào tạo của nhà trường phan theo nhóm ngành 57
Bảng 2.12 kết quả đánh giá tỷ lệ học sinh sau khi ra trường và mức độ đáp
ứng công việc cũng như làm việc đúng chuyên môn được đào tạo 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cơ hội và cả những thách thức còn đang ở phía trước Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, Đảng ta đã quyết tâm đưa Việt Nam trở thành đất nước công nghiệp hoá hiện đại hoá theo hướng hiện đại vào năm 2020 Hơn lúc nào hết, sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đang từng ngày, từng giờ diễn ra trên mọi mặt của đời sỗng văn hoá xã hội của cả nước
Đứng trước những thách thức của thực tiễn và thời đại, ngành giáo dục
và đào tạo lại gánh thêm những trọng trách vô cùng to lớn đó là đáp ứng nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cũng như nguồn nhân lực có tay nghề giỏi cho sự phát chung của xã hội Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực
là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tất cả cá ban ngành, diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội, thông qua việc thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là phương tiện chủ yếu nhất
Tuy nhiên, một thực tế mà chúng ta phải đối mặt đó là tình trạng thừa thầy thiếu thợ cũng như nguồn nhân lực có tay nghề trình độ chuyên môn cao
là rất thiếu Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề là rất cần thiết để xây dựng đội ngũ công nhân có năng lực chuyên môn cao, tay nghề giỏi, tư cách đạo đức tốt và có lòng yêu nghề Và mảng giáo dục đào tạo nghề còn chưa được chú trọng
Hơn nữa, trong xu thế hội nhập sâu rộng như hiện nay, các dịch vụ du lịch, khách sạn và nấu ăn đang đứng trước những cơ hội lớn Mặc dù nấu ăn
là công việc quen thuộc hàng ngày của mọi gia đình, ai cũng có thể nấu ăn nhưng để nấu ngon và đúng kĩ thuật không phải là việc đơn giản, dễ dàng Ngày nay, con người ta không chỉ có nhu cầu ăn no, mặc ấm mà giờ phải là
Trang 8ăn ngon, mặc đẹp, cuộc sống có chất lượng cao, được tận hưởng các dịch vụ cao cấp Trong đó dịch vụ ăn uống là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người Ngoài ra, dịch vụ này không chỉ đơn thuần có giá trị về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc giới thiệu văn hoá ẩm thực của nước nhà với bạn bè trên thế giới
Cùng với sự phát triển của ngành giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng, Trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội có
bề dày hơn 40 năm hình thành và phát triển, hàng năm cung cấp cho xã hội một nguồn nhân lực có tay nghề vững vàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành dịch vụ ăn uống và du lịch
Trong lộ trình nâng cấp lên trường cao đẳng vào năm 2020, nhà trường cũng đã xây dựng kế hoạch tăng quy mô cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ giáo viên Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này còn nhiều bất cập như: chất lượng giáo viên chưa đồng đều, đa phần giáo viên dạy thực hành là học sinh của nhà trường trưởng thành lên, vì vậy sẽ có hạn chế về mặt cơ sở lý luận Ngược lại, đội ngũ giáo viên lý thuyết thì ít biết về nghề nấu ăn nên sẽ gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy các môn lý thuyết chuyên ngành
Hiện tại, Trường có khoảng 1/3 giáo viên có trình độ sau đại học Đội ngũ kế cận có tuổi nghề chưa cao nên cũng là một hạn chế vì thiếu kinh nghiệm Nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các cơ sở dạy nghề tư nhân cũng là lý do mà ban lãnh đạo nhà trường cần phải nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hợp lý nhằm thu hút học viên và khẳng định thương hiệu của nhà trường.Vì vậy, trong thời gian tới muốn tồn tại và phát triển thì Trường TCN nấu ăn và NVKS Hà Nội phải tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo.Với những lý do như trên, em đã quyết định lựa chọn đề tài này
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu một số các luận văn về đề tài chất lượng đào tạo nghề trong các trường TCN của các tác giả dưới đây thì chủ yếu chưa đề cập nhiều đến các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cũng như chất lượng tay nghề học sinh sau khi ra truờng, họ có tìm được việc làm đúng chuyên môn hay không hay làm trái ngành trái nghề so với chuyên môn được đào tạo Cụ thể là:
Luận văn “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng nghề kinh tế kĩ thuật Vinatex”- Tác giả Phạm Văn Chinh Trong nghiên cứu này, tác giả mới chỉ tập trung đánh giá chất lượng và tay nghề của học sinh thông qua hình thức đáh giá điểm số, kết quả rèn luyện về mặt đạo đức, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và phụ huynh học sinh Cũng như đánh giá về cơ sở vật chất trang thiết bị, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên Cũng như chất lượng đào tạo bị giảm sút là do đội ngũ giáo viên trẻ, thiếu kinh nghiệm
cả về nghiệp vụ sư phạm lẫn chuyên môn, chương trình đào tạo cũ kĩ, không phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội
Trong luận văn “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường trung cấp nghề xây dựng Coma- Tác giả Đào Văn Tiên và luận văn “Giải pháp hoàn thiện chương trình đào tạo bậc trung học kế toán tại trường trung cấp nghề số 1” - Tác giả Hoàng Thị Tâm
Trong 2 bài luận văn này, các tác giả chủ yếu tập trung vào những nội dung:
Tập trung chủ yếu vào phân tích việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là chính.Đặc điểm của các nghiên cứu này là tác giả tiếp cận hoạt động đào tạo nghề theo mô hình 6 nhân tố cốt lõi đó là: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, lực lượng đào tạo, đối tượng đào tạo, phương tiện và thiết bị dạy học
Theo đó, chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
Trang 10Chất lượng đầu vào (bản thân người học nghề), chương trình đào tạo,
hệ thống trang thiết bị thực hành nghề, định hướng nghề nghiệp….Quá trình đào tạo nghề: gồm mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo, cán bộ quản lý đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết
bị dạy học, tài chính Học sinh tốt nghiệp: năng lực và phẩm chất sau đào tạo, sức khoẻ đáp ứng nghề nghiệp, kỹ năng sống Tham gia thị trường lao động: trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu công việc, mức độ hoàn thành nhiệm
vụ, tính sáng tạo và thích nghi môi trường làm việc
Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng các đề tài trên mới chủ yếu đi sâu vào phân tích quản lý đào tạo chứ chưa chuyên sâu vào chất lượng đào tạo
Trường Trung Cấp Nghề Nấu Ăn Và Nghiệp Vụ Khách Sạn Hà Nội với
bề dày hoạt động và phát triển hơn 40 năm Hàng năm đào tạo và cung cấp cho ngành dịch vụ ăn uống hàng nghìn công nhân kĩ thuật có tay nghề, nhiều người trong số đó hiện nay giữ vị trí cao trong các nhà hàng, khách sạn lớn Tuy vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá, hội nhập sâu rộng, kết hợp khoa học công nghệ với giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đào tạo nghề nói riêng quả là một thách thức lớn với các khối trường nghề, đặc biệt là đối với trường trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội Trong bài luận văn này của mình, tôi tiếp tục nghiên cứu về chất lượng đào tạo nghề tại trường Từ đó, đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhất cũng như mang tính chất phát triển bền vững
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội, Luận văn đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại nhà trường
Trang 11Nhiệm vụ
Làm rõ các lý luận về chất lượng đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội cũng như các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề nấu ăn & nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
Phân tích,đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội từ đó chỉ ra những thành tựu , hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó
Đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề nấu ăn và nghiệp
vụ khách sạn tại Trường TCN nấu ăn & NVKS Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đào tạo nghề và Chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề nấu
ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung, luận văn tập trung làm rõ những nội dung như sau:
Hệ thống tổ chức và quản lý đào tạo nghề tại trường Trung cấp nghề nấu
ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
Tình hình thực hiện công tác đào tạo nghề tại trường
Chất lượng đào tạo nghề( trong đó đề cập đến những tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề bao gồm: chất lượng đầu vào, quá trình hoạt động và sản phẩm đầu ra chính là chất lượng tay nghề của học viên đáp ứng nhu cầu công việc thực tế như thế nào)
Về thời gian: Từ năm 2013 đến 2015
Về không gian: Nghiên cứu, khảo sát, phỏng vấn tại Trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng một số phương pháp như sau:
Trang 12Phương pháp thu thập tài liệu: nguồn tài liệu được thu thập từ các báo cáo tổng kết năm học của phòng đào tạo, phòng Tổ chức hành chính của trường Ngoài ra, các thông tin từ sách, báo, tạp chí cũng như các thông tin trên trang mạng cũng được tác giả tham khảo, trích dẫn
Phương pháp thống kê: chủ yếu là thống kê so sánh để đánh giá ưu và nhược điểm của từng nội dung trong hoạt động đào tạo
Phương pháp xử lý và phân tích: Phân tích các chỉ tiêu và so sánh các kết quả đạt được để đưa ra nhận định, đánh giá
Điều tra, khảo sát thực tế bằng cách phát phiếu điều tra, đưa ra bảng câu hỏi Đối tượng được điều tra bao gồm có các giáo viên hiện đang giảng dạy tại trường và các bếp trưởng của các nhà hàng khách sạn hiện đang sử dụng các học sinh của nhà trường, trong số đó có đến 2/3 các bếp trưởng nguyên là học sinh cũ của trường Với một số lượng còn khá khiêm tốn là 34 giáo viên của trường và 20 các bếp trưởng, cũng như một đối tượng hết sức quan trọng liên quan trực tiếp tới chất lượng đào tạo đó chính là học viên, tuy nhiên cũng
đã một phần nào phản ánh được khá rõ về chất lượng đào tạo cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và năng lực cũng như kỹ năng tay nghề của học sinh sau khi được đào tạo tại trường
Sở dĩ tác giả lựa chọn đối tượng điều tra là giáo viên và các bếp trưởng
là do họ chính là những người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp với người học, họ thấu hiểu tâm tư nguyện vọng cũng như nắm rõ những bất cập mà người học phản hồi Đặc biệt là đội ngũ giáo viên thực hành Họ sẽ có những nhìn nhận
và đánh giá một cách chuẩn xác, khách quan, đảm bảo tính trung thực của phiếu điều tra Bên cạnh đó đội ngũ các bếp trưởng chính là những người sử dụng lao động và họ đánh giá chính xác nhất năng lực, tay nghề cũng như đạo đức nghề nghiệp của học sinh sau khi ra trường đặc biệt những gì các em được đào tạo khi còn học tại trường có sát thực với nhu cầu hết sức khắt khe của thị trường hiện tại hay không Những kiến thức các em được nhà trường
Trang 13trang bị là những kiến thức căn bản, mang tính chất nền tảng và nặng về lý thuyết, thiếu đi sự vận dụng thực tế, vì vậy so với tay nghề của học sinh học nghề của các nước trong cùng khu vực thì học sinh của chúng ta còn thiếu đi nhiều kĩ năng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt khoa học: Đề tài luận văn góp phần cụ thể hóa lý thuyết việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Ý nghĩa về thực tiễn : Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường TCN nấu ăn& NVKS Hà Nội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về chất lượng đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường Trung cấp
nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường
Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ
1.1 Hoạt động đào tạo nghề
1.1.1 Các khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về “Nghề”
Theo tiếng Latinh “Profession”- “nghề có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động giúp con người tồn tại” Những chuyên môn có đặc điểm chung gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau
Theo báo cáo của “ Đề tài cấp Nhà nước KX07-14 Vấn đề bồi dưỡng
và đào tạo lại các loại hình lao động đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế
xã hội”, “ nghề” đươc hiểu như sau: [ 4, tr.10 ]
- Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nhất định
- Là một hình thức lao động lặp đi lặp lại về kỹ năng, kỹ xảo để từ đó tìm được phương tiện sống
Theo từ điển tiếng Việt, nghề được định nghĩa là một tập hợp lao động
do sự phân công của xã hội mà giá trị của nó được trao đổi Nghề không mang tính tuyệt đối, hình thành và phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất cũng như nhu cầu của xã hội
Tóm lại, nghề là hoạt động, công việc của con người được lặp đi lặp lại nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt của từng ngành nghề và được đào tạo trong một khoảng thời gian nhất định Nghề là một phương tiện để sinh sống
Trang 151.1.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề
Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội xuất bản năm 2002 thì đào tạo nghề là một hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để có thể đáp ứng được yêu cầu công việc [ 3, tr.20]
Đào tạo nghề là 2 quá trình có mối liên hệ mật thiết với nhau bao gồm dạy nghề và học nghề
Dạy nghề: quá trình truyền đạt kiến thức lý thuyết và thực hành giúp người học hình thành kỹ năng, kỹ xảo nhất định về nghề nghiệp;
Học nghề: quá trình tiếp thu kiến thức về lý thuyết, vận dụng nó vào thực hành nhằm đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định;
Đào tạo nghề là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ hình thành kỹ năng Có 3 hình thức đào tạo gồm:
Đào tạo mới: Là hình thức đào tạo cho người chưa biết gì về nghề, những người đến và trong tuổi lao động chưa biết về nghề;
Đào tạo lại: Là hình thức đối với những người đã biết nhưng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, hoặc chưa tiếp cận với những tiến bộ
kỹ thuật mới;
Nâng cao trình độ: Hình thức này chủ yếu dành cho các đối tượng đã có tay nghề, tuy nhiên muốn bồi dưỡng để nâng cao tay nghề hơn nữa, hoặc trong trường hợp muốn nâng bậc thợ
1.1.1.3 Mục tiêu đào tạo nghề
Theo điều 4 Luật dạy nghề quy định: “ Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức
kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tự tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học
Trang 16lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”( Quốc hội-2005, Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc Gia)
Theo điều 10 mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp:“ Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của nghề, có ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có thể tự kiếm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên cao hơn”( Quốc hội-2005, Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc Gia)
Theo điều 17 mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp: “ Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào việc đó, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn”.( Quốc hội-2005, Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc Gia)
1.1.2 Đào tạo nghề tại các trường Trung cấp
1.1.2.1 Vị trí và vai trò của đào tạo cao đẳng và trung cấp nghề
Ngày 4/11/2013, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp Hành Trung Ương khoá XI (Nghị quyết
số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, theo đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006-2010 là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả
và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và kết hợp phát triển kinh tế trí thức,
Trang 17tạo nền tảng để cơ bản đưa nước ta công nghiệp hoá hiện đại vào năm 2020…”
Để giữ vững và phát huy những thành tựu đã đạt được theo định hướng trên, trong những năm tới Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thử thách, khó khăn để phát triển kinh tế-xã hội
Là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Trong những năm qua, dạy nghề đã phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho thị trường lao động, những thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật công nghệ và nhu cầu đa dạng của người lao động học nghề và lập nghiệp
Cho đến nay, trong hệ thống dạy nghề đã hình thành hệ thống dạy nghề
đa dạng, rộng khắp với hơn 2000 cơ sở trong đó có cả các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề và các cơ sở ngoài …Nhiều mô hình dạy nghề sáng tạo được áp dụng Luật Giáo dục, Luật dạy nghề và các văn bản dưới luật được ban hành tạo cơ sở pháp lý quan trọng hình thành hệ thống dạy nghề với các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động dạy nghề phát triển ổn định
1.1.2.2 Hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam
Trong thời gian qua, hệ thống dạy nghề đã và đang thực hiện đổi mới khá mạnh mẽ, chuyển từ hệ thống dạy nghề với hai chương trình đào tạo (dài hạn và ngắn hạn) sang hệ thống dạy nghề với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề), chuyển dần từ đào tạo theo hướng cung sang hướng cầu của TTLĐ Số lượng học sinh học nghề và tốt nghiệp hàng năm tăng lên đã phần nào đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp cho người lao động nói riêng và góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động
kỹ thuật trực tiếp cho sự phát triển kinh tế đất nước
Trang 18Tuy nhiên, hệ thống dạy nghề đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và PTTH vào học nghề còn rất thấp Theo đó số người đến với học nghề còn rát ít, trong khi lao động qua đào tạo nghề lại là lực lượng lao động chính trong sự nghiệp CNH, HĐH đát nước Hệ thống dạy nghề vẫn còn thiếu một định hướng chiến lược phát triển nghề nghiệp cho người lao động, tiếp tục cần được củng cố về chính sáh và thể chế
Theo luật giáo dục Việt Nam năm 1998, dạy nghề là một bộ phận thuộc GDNN, bao gồm các loại hình dạy nghề ngắn hạn (dưới 1 năm), dài hạn (từ 1-
3 năm) Hai loại hình này được thực hiện tại các trường dạy nghề Ngoài ra, dạy nghề ngắn hạn được tổ chức tại các trung tâm dạy nghề Từ khi luật dạy nghề có hiệu lực (31/7/2007), hệ thống chính sách khuyến khích học nghề cũng được hoàn thiện và phát triển, đa đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phát triển nghè nghiệp cho người lao động
Các cơ sở dạy nghề được phát triển rộng khắp và theo quy hoạch trên cả nước Đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo Số lượng cơ sở dạy nghề công lập và tư thục tăng nhanh Năm 2013 cả nước có 1339 CSDN trong
đó 162 truờng cao đẳng( chiếm 12,1%), 302 trường TCN (chiếm 22,6%) và
875 trung tâm dạy nghề (chiếm 65,4%) Đặc biệt, thực hiện theo Quyết định
số 1956/ QĐ-Ttg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “ Đề
án đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”, mạng lưới trung tâm dạy nghề cấp huyện đã được mở rộng Năm 2013, đã có 430 trung tâm dạy nghề cấp huyện được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cho lao động nông thôn Quy mô cơ cấu nghề đào tạo được mở dần theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp với danh mục nghề của gần 400 nghề đào tạo ở trình độ cao đẳng và khoảng 470 nghề đào tạo ở trình độ trung cấp Các cơ sở dạy nghề đã
mở thêm nhiều ngành nghề đào tạo mới mà thị trường càn Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở dạy
Trang 19nghề đã đào tạo nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường nghề vẫn tập trung tuyển sinh và đào tạo ngắn hạn ở những ngành có chi phí thấp như kế toán, tài chính, lái xe, dịch vụ… Việc chuyển từ đào tạo nghề từ năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề sang đáp ứng nhu cầu của xã hội và thị trường lao động cần còn rất chậm Đặc biệt sự tham gia của doanh nghiệp vào dạy nghề còn hạn chế Bên cạnh đó, nhiều trường kỹ thuật đang gặp khó khăn trong tuyển sinh đối với các nghề nặng nhọc, độc hại nhưng TTLĐ có nhu cầu cao như nghề hàn, cắt gọt kim loại, nề, mỏ hầm lò…Nếu không có ưu đãi thì cơ cấu nguồn nhân lực qua đào tạo nghề sẽ mất cân đối nghiêm trọng, nhiều nghề khủng hoảng thừa, nhiều nghề khủng hoảng thiếu
1.2 Chất lượng đào tạo nghề tại các trường Trung cấp nghề
1.2.1 Khái niệm về chất lượng đào tạo nghề
1.2.1.1 Các khái niệm
Chất lượng là một khái niệm hết sức trừu tượng, phức tạp và đa chiều Có
nhiều cách định nghĩa về chất lượng như sau:
Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông) Còn theo Oxford Poket Dictationary thì chất lượng là “mức độ hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” Tại Pháp chất lượng được hiểu là mức độ hoàn thiện, tiềm năng của một mặt hàng hay dịch vụ, là
sự đặc trưng, dấu hiệu đặc thù có khả năng thoả mãn nhu cầu của người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp- NFX50- 109)
Đứng trên góc độ một người sản xuất kinh doanh thì chất lượng là các yếu tố đặc trưng cả về nguyên nhiên vật liệu, quy trình sản xuất, mẫu mã, thị hiếu…nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 20Để có sự thống nhất giữa các quốc gia, các đơn vị, tổ chức, cá nhân, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO đã đưa ra định nghĩa chính xác: “Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó
có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”
Chất lượng đào tạo nghề được hiểu là để chỉ chất lượng các công nhân
kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong những lĩnh vực khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo” [ 13, tr.8 ] Ngoài ra, chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở dạy nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và không gian dưới tác động của các yếu tố Và quả thật chất lượng đào tạo nghề là một khái niệm phức tạp, để hiểu nó cần có một cái nhìn tổng thể Trong lĩnh vực đào tạo gồm
có yếu tố đầu vào (người học, người dạy, trang thiết bị, CSVC), quá trình đào tạo (quá trình dạy và học, môi trường đào tạo), yếu tố đầu ra (sự hình thành phát triển về nhân cách, kỹ năng, kỹ xảo và tri tức mà người học nhận được trong quá trình đào tạo)
Mặc dù việc nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng là yếu tố được coi trọng trong các cơ sở đào tạo nghề, nhưng hiện nay khái niệm này vẫn khó định nghĩa, đo lường
Vậy chất lượng đào tạo nghề được xem là tập hợp các điều kiện được thể hiện bằng các tiêu chuẩn phù hợp với mục tiêu đào tạo đã để ra và đồng thời phải phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Chất lượng đào tạo nghề thường gắn liền với 3 thành tố cơ bản là đầu vào( mục tiêu, nhiệm
vụ, giảng viên, chương trình, giáo trình, cơ sở thiết bị…), quá trình hoạt động(
tổ chức quản lý, hoạt động dạy và học, các dịch vụ học nghề), đầu ra( thể hiện
ở kỹ năng nghề tốt nghiệp, trình độ, nhân cách học viên…)
Trang 211.2.1.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Dạy nghề có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển nhân lực của đất nước Những năm qua, dạy nghề đã có những bước phát triển vượt bậc cả
về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
và hội nhập quốc tế của đất nước giai đoạn tới đòi hỏi dạy nghề phải nhanh chóng đổi mới để phát triển mạnh mẽ Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang điểm
10, xếp thứ 11 trong 12 nước Châu Á, thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề và được đào tạo bài bản, thiếu sự đồng bộ trong công tác đào tạo nghề dẫn đến năng suất lao động thấp, ngược lại nếu học sinh sau khi ra trường được đào tạo có chất lượng cao, tay nghề tốt sẽ giúp đáp ứng yêu cầu công việc một cách tốt nhất, từ đó năng suất lao động cũng
sẽ tăng tỉ lệ thuận với trình độ người thợ Điều này được thể hiện khá rõ nét trong các cuộc thi tay nghề Asean Chỉ so với các nước trong khu vực, thực tế cho thấy các nhược điểm hết sức căn bản của các học sinh nước ta, cụ thể là các em thiếu đi sự tự tin, thiếu tính chuyên nghiệp, khả năng thích ứng kém, các kĩ năng chưa hình thành các kĩ xảo nghề nghiệp, đặc biệt điểm hạn chế lớn nhất chính là khả năng giao tiếp và trình độ ngoại ngữ còn rất hạn chế trong khi một số ngành đòi hỏi kĩ năng này rất cao như ngành du lịch hay làm làm việc trong các nhà hàng, khách sạn có yếu tố liên doanh Thực tế cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực thấp là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Khi đó, người lao động nước ngoài sẽ dẽ dàng xâm nhập vào thị trường lao động của ta, làm giảm cơ hội của chính thị trường lao động trong nước Ngược lại, nếu đảm bảo tốt các yếu tố nêu trên, người lao động Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tham gia làm việc tại nước ngoài với mức thu nhập tốt, ổn định và cơ hội phát triển tay nghề Hơn nữa, thị truờng lao động Việt Nam đang bị các doanh nghiệp thả nổi, các doanh nghiệp và thị trường doanh nghiệp ở Việt Nam chưa thực sự
Trang 22bắt tay hợp tác với nhau nên mới có tình trạng thợ đào tạo ra không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, và vì thế mà luôn trong tình trạng “thừa mà thiếu” Các doanh nghiệp cũng sẽ gặp phải những khó khăn trong quá trình tuyển dụng lao động, còn người lao động thường thì ít khi được chọn công việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo nghề là tất yếu khách quan và yêu cầu cáp bách để đáp ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho phát triển kinh tế của đất nước, và trường Trung cấp nghề nấu ăn và nghiệp vụ khách sạn Hà Nội cũng không nằm ngoài
xu thế chung này
1.2.2 Các nội dung đánh giá chất lượng đào tạo nghề
1.2.2.1 Các nội dung và tiêu chí đánh giá
Trong luận văn này, khi đánh giá chất lượng đào tạo nghề tác giả đánh giá theo các tiêu chí được quy định trong “ Luật dạy nghề”, cụ thể hệ thống tiêu chí được dựa trên tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề đối với trường cao đẳng và trung cấp nghề được xây dựng và căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật dạy nghề Bộ phận kiểm định trường sẽ xem xét, đánh giá toàn bộ các mục tiêu, kế hoạch và hoạt động toàn diện của đơn vị bao gồm đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý và điều hành đội ngũ giáo viên, học viên, dịch vụ, các nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất của đơn vị để đảm bảo học viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, tư vấn và dịch vụ của đơn vị đáp ứng các chuẩn mực và các yêu cầu của người sử dụng
Nội dung kiểm định chất lượng đối với cơ sở dạy nghề bao gồm 7 tiêu chí sau:
Mục tiêu và nhiệm vụ: Khi bắt tay vào thực hiện hay xây dựng bất kỳ
một chương trình nào đó, thì việc đầu tiên là xác định rõ mục tiêu hay nói cách khác chính là đích đến, việc xác định được đúng mục tiêu sẽ xây dựng được các nhiệm vụ tuơng ứng cần phải làm để hoàn thành mục tiêu đã đề ra Nếu ngay từ khâu đầu tiên xác định sai mục tiêu dẫn đến việc các nhiệm vụ
Trang 23cũng khó mà hoàn thành theo yêu cầu Mục tiêu đào tạo là kết quả mong muốn đạt được sau khi kết thúc quá trình đào tạo, thể hiện ở những yêu cầu về nhân cách, kiên thức, kỹ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc hoá học Trong thời buổi kinh tế thị trường điều đáng quan tâm nhất mà mục tiêu đào tạo phẩi nhấn mạnh đó là khả năng tự tìm việc làm qua kinh nghiệm được đào tạo trên ghế nhà trường kết hợp với thực tiễn Mục tiêu đào tạo muốn giúp cho người học khi ra truờng tìm được công việc đúng chuyên môn nghề được đào tạo, hoàn thiện về nhân cách, đạo đức Mục tiêu phải được chỉ rõ trong từng ngành, từng chương trình, chi tiết đến từng bài học, từng kỹ năng Ở mỗi cấp độ đưa ra các tiêu chí đánh giá khác nhau bằng các bài kiểm tra, bài thi và phần đánh giá kỹ năng tại các buổi học thực hành
Tổ chức và quản lý: Công tác tổ chức và quản lý thuộc về nhiệm vụ của
lãnh đạo Nếu một tổ chức có một người lãnh đạo giỏi, có đầu óc tổ chức sắp xếp công việc một cách khoa học, hợp lý, trong quá trình làm viẹc mềm dẻo linh hoạt sẽ giúp cho công việc luôn hoàn thành tốt Đồng thời tạo ra một môi truờng làm việc lành mạnh, vui vẻ giúp nhân viên hăng say cống hiến hết khả năng của mình Và đối với 1 giáo viên dạy thực hành thì yếu tố biét tỏ chức một lớp học sao cho người học cảm thấy thoải mái nhất, tiếp thu được tối đa các kiến thức, kỹ năng mà giáo viên truyền đạt Ngược lại nếu khả năng này của giáo viên mà hạn chế dẫn đến viẹc học sinh sẽ cảm thấy nhàm chán, khó tiếp thu đồng thời dễ dẫn đến chất lượng đào tạo sẽ bị ảnh hưởng
Hoạt động dạy và học: Bên cạnh những tiêu chí kiểm định khác, có lẽ
tiêu chí liên quan đến hoạt động dạy và học ảnh hưởng tuơng đối lớn đến chất lượng đào tạo Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy và học đang được ngành giáo dục chỉ đạo thực hiện trong toàn ngành, lấy người học làm trung tâm, lý thuyết phải gắn với tực tế, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết với thực hành Luôn có sự trao đổi tuơng tác giữa người học và ngưòi dạy, tránh tình trạng học thụ động, giáo viên đóng vai trò là người dẫn dắt, định hướng, uốn
Trang 24nắn khi cần thiết Người thầy có phương pháp sư phạm hay, truyền đạt tốt thì quá trình lĩnh hội kiến thức của nguời học cũng sẽ say mê, có hứng thú trong học tập và kết quả đạt cao, điều này cũng sẽ giúp phát huy hết sự sáng tạo của học sinh, khuyến khích lòng yêu và hăng say với nghề nghiệp Ngược lại, nếu hoạt động dạy và học không đổi mới, vẫn giữ theo nếp đào tạo thụ động, thày luôn luôn đúng, còn trò chỉ là người tiếp nhận thông tin thì trong nhiều trường hợp sẽ có những có những phản hồi thiếu tích cực, gây ra tâm lý chán nản, dễ dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng Với xu thế xã hội phát triển như hiện nay, đối tượng học chủ yếu là các em ởđộ tuổi phát triển tâm sinh lý khá phức tạp, giáo viên nên nắm được tâm lý của các em để vừa là người thầy, vừa là người bạn, lúc đó các em sẽ tin tuởng và nói lên những tâm tư, nguyện vọng của mình, từ đó cũng sẽ có những điều chỉnh phù hợp hơn
Giáo viên: Đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng trong sự thành bại
của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đối với các trường dạy nghề, vai trò của
họ còn quyết định đến chất lượng đào tạo, họ đóng vai trò chủ đạo trong đào tạo Thông qua quá trình truyền thụ kiến thức, các kỹ năng, kỹ xảo, cũng như nhân cách của giáo viên sẽ tác động lớn đến quá trình cải biến nhân cách của học sinh, kỹ năng nghề nghiệp cũng như thái độ nghề nghiệp của các em Ngoài việc trang bị những kiến thức về chuyên môn, về tay nghề thì các thầy
cô cũng cần trang bị cho các em các kĩ năng mềm nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường lao động Muốn đạt được như vậy, bản thân mỗi người giáo viên cần tự nâng cao trình độ nghề nghiệp chuyên môn, trau dồi các kiến thức, nâng cao tinh thần tự học tập, luôn đổi mới trong giảng dạy, áp dụng nhiều tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ giúp bài học dễ hiểu và sinh động hơn Đặc biệt là đội ngũ giáo viên dạy thực hành, nói phải đi đôi với làm Chính yếu tố này sẽ làm cho học sinh cảm thấy thuyết phục, hăng say hơn trong học tập và củng cố lòng yêu nghề của các em Tránh tình trạng lý thuyết suông Không ngừng tự rèn luyện tay nghề ngày một cao hơn, phù hợp với xu thế
Trang 25phát triển chung của xã hội Bên cạnh đó, nếu tay nghề hay tình độ của giáo viên còn hạn chế cũng sẽ chính là một bất lợi cho bản thân giáo viên, hơn nữa thầy mà kém ắt trò cũng không thể tốt được Từ tâm lý không phục thầy sẽ dẫn đến thái độ coi thường chuyện học tập, lâu sẽ có thái độ chán nản, như vậy cũng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Ngoài ra, số lượng giáo viên cũng phải đủ để đáp ứng với số lượng học viên Một giáo viên phải chịu
áp lực trong việc giảng dạy quá tải số giờ quy định hàng năm cũng sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy
Chương trình, giáo trình: Chương trình đào tạo vừa là chuẩn mực đào
tạo, vừa là chuẩn mực để đánh giá chất lượng đào tạo Điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng trong đào tạo ở các trường ĐH, CĐ và dạy nghề ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay chính là chương trình đào tạo của các trường có phù hợp với nhu cầu thị trường lao động hay không Với ý nghĩa này chương trình đào tạo phải đảm bảo mục tiêu đào tạo, phải thiết kế sao cho vừa cả điều kiện chung (chương trình khung) là phần cứng do TCDN phê duyệt Bên cạnh đó các trường phải xây dựng phần mềm để tạo ra tính đa dạng, phong phú, theo từng ngành nghề cụ thể và là thế mạnh của từng trường Chính điều này là yếu tố hấp dẫn học viên đến với trường, phải tìm ra điểm khác biệt với các trường cùng đào tạo như mình Đào tạo dựa trên nhu cầu của thị trường, nhu cầu của người học Chương trình đào tạo nếu xây dựng không phù hợp với từng đối tượng khác nhau cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra trong thời gian trứoc mắt và lâu dài Cụ thể như khi xây dựng chương trình đào tạo dành cho hệ sơ cấp nghề, đây là đối tượng chưa biết gì về nghề nhưng cần đào tạo nhanh, vậy nên đưa phần thực hành là chính chiếm khoảng 70% thời lượng, những kiến thức mang tính căn bản, những thao tác đơn giản và những món ăn ít yêu cầu đến kỹ thuật cao Có như vậy người học cũng dễ dàng tiếp thu, từ chỗ họ làm được dần trở nên yêu thích Nếu với đối tượng này xây dựng chương trình cao hơn so với trình độ
Trang 26của họ thì họ sẽ khó khăn trong việc tiếp cận Tóm lại, chương trình đào tạo là một yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo nghề và nếu xây dựng chương trình không phù hợp sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo đầu ra của học viên
Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học: Đây cũng là yếu tố không
kém phần quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo Nhất là đối với các trường dạy nghề, chất lượng tay nghề của học sinh cũng phụ thuộc tương đối nhiều vào các thiết bị, nguyên liệu dụng cụ phục vụ cho quá trình thực hành
và rèn kỹ năng nghề Nếu nhà trường thiết kế các phòng học với không gian chật hẹp, không đầu tư mua sắm trang thiết bị phù hợp và đầy đủ thì quá trình thực hành của học sinh sẽ ảnh hưởng không nhỏ Đây chính là những điều kiện cần và đủ đối với các giờ học thực hành Hơn nữa, trong những năm gần đây khoa học công nghệ phát triển rất nhanh, nghề được khuyến khích tự động hoá mạnh mẽ Chính vì vậy nhà trường cần đầu tư đúng mức và quan tâm hơn nữa đến việc đổi mới các trang thiết bị hiện đại nhằm phù hợp với yêu cầu đào tạo của xã hội
Các tiêu chí này đã bao gồm toàn bộ các điều kiện đảm bảo chất lượng hoạt động của các cơ sở dạy nghề Vì vậy, hàng năm phải có sự tự thẩm định chất lượng dạy nghề của các cơ quan quản lý của nhà nước về lĩnh vực này Hoạt động kiểm định này có liên quan chặt chẽ với mục tiêu và nhiệm vụ đã tuyên bố của đơn vị đào tạo
1.2.2.2 Các mô hình quản lý chất lượng đào tạo
Tiêu chuẩn hoá quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) và Quản lý chất lượng toàn diện xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã đưa vào giáo dục, đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề Một số
hệ thống các trường đang theo đuổi cơ chế chính sách thị trường trong quản
lý, trong đó có mô hình BS 5750/ ISO 9000, mô hình quản lý chất lượng tổng
Trang 27thể và mô hình các yếu tố tổ chức( trích nguồn: Tổng cục Đo lườngchất lượng sản phẩm 1999- Tiêu chuẩn Việt Nam- ISO 8402)
Mô hình BS 5750 / ISO 9000
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 do Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ban hành lần đầu vào năm 1987 nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp nhận ở mức độ quốc tế về hệ thống đảm bảo chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ
Năm 1979, Viện tiêu chuẩn Anh(BSI) đã ban hành tiêu chuẩn BS 5750
về đảm bảo chất lượng, sử dụng trong dân sự Bản chất của mô hình này là hệ thống các quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất đảm bảo sản phẩm đầu ra hay các dịch vụ phải phù hợp và đảm bảo về mẫu mã quy chuẩn, các thông số kỹ thụât với mục tiêu sản phẩm đầu ra phù hợp với mục đích Mô hình này đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đối với những người sử dụng, đòi hỏi sự đầu tư về con người, tài chính và thời gian
ISO không phải là một hệ thống có tính thanh kiểm tra cao mà đòi hỏi có
sự cam kết, chứng nhận ISO dược dành cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các tổ chức kinh doanh các sản phẩm nhất định Ứng dụng trong giáo dục và đào tạo, cần lựa chọn các tiêu chí phù hợp để cho ra một sản phẩm chất lượng đầu ra tốt được đánh giá bằng khả năng ra trường và tìm kiếm việc làm của các sinh viên
Mô hình quản lý chất lượng tổng thể
Mô hình quản lý chất lượng tổng thể viết tắt là TQM TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cả các thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài, thoả mãn nhu cầu cho khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên cũng như cho xã hội Nói cách khác, TQM là một hệ thống hữu hiệu tích hợp những nỗ lực về duy trì, phát triển và cải tiến chất lượng của nhiều tổ nhóm trong tổ chức để có thể
Trang 28tiếp thị, áp dụng khoa học kỹ thuật, sản xuất và cung ứng dịch vụ nhằm thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của khách hàng một cách kinh tế nhất
TQM có các đặc điểm sau (Theo Tổng cục Đo lường chất lượng sản phẩm 1999- Tiêu chuẩn Việt Nam- ISO 8402)
Khách hàng là tiêu điểm số 1, thực hành PDCA action).Chất lượng tổng hợp là ưu tiên số 1 để cạnh tranh.Con người là nguồn lực số 1, cần phân quyền thích hợp.Cơ cấu tổ chức linh hoạt và quản lý chéo
(plan-do-check-Đảm bảo thông tin và áp dụng SPC, quản lý chất lượng bằng các cong
cụ thống kê để liên tục cải tiến.Chất lượng được tạo nên bởi sự tham gia của mọi người.Chất lượng bắt đầu bằng đào tạo và kết thúc bằng đào tạo.Đảm bảo mọi người và cả xã hội đều có lợi.Chất lượng được tạo bởi sự tự giác, ý thức
tự quản, chia sẻ, hợp tác tích cực cùng có lợi Quản lý bằng cách triển khai hệ thống chính sách.Thông tin chính xác, kịp thời.Khuyến khích các ý tưởng cải tiến, sáng tạo.Gạt bỏ sự sợ hãi, e dè, tự hào về nghề nghiệp
Triết lý của TQM: chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất Hãy sáng tạo chất lượng và theo đuổi sản phẩm tốt hất để vượt qua sự mong mỏi của khách hàng và làm thoả mãn họ.Trách nhiệm chất lượng trước hết là của lãnh đạo Hướng đến khách hàng, chiếm giữ và nâng cao lòng tin của khách hàng thường xuyen và trung thành sẽ mang lại thị phần và lợi nhuận Quản lý theo quá trình, linh hoạt trong tổ chức, uỷ quyền mạnh mẽ, phát huy sáng tạo, hợp tác và làm việc nhóm Trân trọng nguồn nhân lực có trách nhiệm, đạo đức và đa năng
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường vai trò của các cán bộ quản lý là
hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho giáo viên, học sinh chứ không chỉ là kiểm tra giám sát họ
Mô hình các yếu tố của tổ chức
(Theo Tổng cục Đo lườngchất lượng sản phẩm 1999- Tiêu chuẩn Việt Nam- ISO 8402)Các yếu tố để đánh giá chất lượng bao gồm:
Trang 29Đầu vào: gồm học viên, CBCNV, CSVC, chương trình đào tạo, quy chế, luật định…
Quá trình đào tạo: Phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo… Kết quả đào tạo: mức độ hoàn thành khoá học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của người học
Đầu ra: học viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội
Hiệu quả: Kết quả của đào tạo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội
Dựa vào các yếu tố đánh giá đã nêu trên, có thể đưa ra 5 khái niệm về chất lượng giáo dục như sau:
Chất lượng đầu vào: trình độ đầu vào thoả mãn các tiêu chí, mục tiêu đề ra Chất lượng quá trình đào tạo: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy
và học và các quá trình đào tạo khác
Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (học viên tốt nghiệp bao nhiêu % và có bao nhiêu trong tổng số đó có việc làm ổn định và đúng chuyên môn)
Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt yêu cầu của công tác học viên tốt nghiệp đánh giá của chính bản thân người học, của cha mẹ, củacơ quan công tác và của xã hội
Chất lượng giá trị gia tăng: mức độ năng lực của học viên tốt nghiệp (kiến thức, kỹ năng, quan điểm) đóng góp cho xã hội
Trong các mô hình quản lý chất lượng GD nêu trên, nếu xem “ chất lượng giáo dục trùng hợp với mục tiêu” thì sử dụng mô hình quản lý chất lượng tổng thể là phù hợp hơn cả.Mô hình này cho phép nghiên cứu để đề ra các mục tiêu chiến lượccủa GD trong từng thời kỳ trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và các chính sách lớn của Chính phủ đối với
GD Từ đó tuỳ thuộc vào nguồn lực hiện có, các nhà quản lý chất lượng giáo
Trang 30dục có thể chủ động tác động tới từng khâu, những lĩnh vực quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và từ đó nâng cao dần chất lượng đào tạo
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Quá trình đào tạo nghề là một quá trình mang những tính chất rất đặc thù, không giống như đào tạo các cáp học khác Nếu như đối với giáo dục phổ thông hay giáo dục đại học đánh giá năng lực học sinh thông qua kiểm tra kiến thức và tính theo thang điểm thì đối với quá trình đào tạo nghề đánh giá năng lực người học qua kỹ năng, tay nghề và mức độ là đạt hay không đạt Vì vậy quá trình đào tạo nghề phải thường xuyên tập trung vào rèn kỹ năng nghề cho học sinh thông qua các buổi học thực hành, luyện tập Để đánh giá chất lượng đào tạo nghề của một cơ sở bất kỳ người ta phải căn cứ vào bản thân người học và cơ sở đào tạo nghề Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghề bao gồm:
1.2.3.1 Yếu tố bên trong
Việc xác định mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo được xây dựng tuỳ thuộc vào các bậc học khác nhau, loại hình đào tạo hay tuỳ thuộc vào các quốc gia khác nhau Trong phần này người viết chỉ đề cập đến viẹc xây dựng mục tiêu cho 1 ngành nghề cụ thể Căn cứ để xây dựng mục tiêu chính là những tài kiệu phân tích các đặc điểm về chuyên môn, ngành nghề Mỗi ngành nghề khác nhau có những nét đặc trưng riêng , vì vậy khi xây dựng mục tiêu cần nắm được những nội dung lao động, đặc điểm tâm sinh lý nghề nghiệp cũng như các yêu cầu đào tạo nhằm đáp ứng đúng nhu cầu phát triển của xã hội
Có nhiều hình thức đào tao khác nhau từ sơ cấp, trung cấp hay cao đẳng, chính quy hay tư thục, cũng như yêu cầu về trình độ đầu vào của người học, chương trình này phải được xây dựng theo quy định về chương trình khung
do Sở LĐTB&XH Hà Nội cùng Tổng cục dạy nghề quy định.[ 3, tr.30 ]
Trang 31Theo đó, sẽ xây dựng hệ thống kiến thức phù hợp, các kỹ năng nghề bao gồm hệ thống các môn học chung như: Chính trị, pháp luật, ngoại ngữ, quốc phòng…và các môn lý thuyết nghề, thực hành nghề nghiệp…
Mục tiêu là nhằm trang bị cho người học những kiến thức về lý thuyết và vận dụng nó vào thực tiễn, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Rèn luyện về nhân cách, lòng nhiệt tình, yêu nghề
Việc xây dựng mục tiêu đào tạo đối với từng ngành nghề và ở các trình
độ khác nhau phải căn cứ vào thực tiễn, xã hội cần gì thì ta đáp ứng cái đó Mỗi ngành, nghề phải đề ra các mục tiêu rất cụ thể trong từng phần, từng môn học Việc xây dựng này càng chi tiết cụ thể bao nhiêu càng tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai, giúp cho việc biên soạn giáo án, giáo trình cho từng môn học thực sự phù hợp nhất so với xu thế chung Đối với các môn lý thuyết phải xây dựng mục tiêu khác so với các môn thực hành, các tiêu chí để đánh giá cũng khác nhau
Đồng thời, khi xây dựng mục tiêu cần chú ý tới các yếu tố sau: trình độ đầu vào, nguyện vọng của người học, tiềm lực về tài chính, cơ sở vật chất trang thiết bị thực hành, đội ngũ giáo viên…
Chương trình đào tạo
Căn cứ theo Luật Giáo dục năm 2005, mục giáo dục nghề nghiệp tại điều
35 quy định “ Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác”
Căn cứ vào chương trình khung do Bộ LĐTB&XH Hà Nội và Tổng cục dạy nghề ban hành, quy định về cơ cấu, nội dung, số lượng và thời hạn các
mô – đun, môn học, tỷ lệ thời gian giữa học lý thuyết với thực hành, đảm bảo
Trang 32mục tiêu cho từng cấp học Căn cứ chương trình khung đã được quy định và chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo nghề, người đứng đầu đơn vị tổ chức xây dựng và ban hành chương trình đào tạo nghề hệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng dựa trên kết quả thẩm định của hội đồng thẩm định
Chương trình đào tạo nghề hệ sơ cấp với thời gian khoảng từ 3 đến 6 tháng đối với những người có nhu cầu học nghề, có trình độ học vấn và có sức khoẻ tốt Chương trình đào tạo hệ trung cấp thời gian là 2 năm đối với các học viên có bằng tốt nghiệp PTTH và 3 năm với những học viên có bằng tốt nghiệp THCS và chuyển đổi từ 1 năm đến 1,5 năm đối vơi những học viên đã
có bằng kỹ thuật nghề
Cấu trúc chương trình giáo dục trung học chuyên nghiệp và tung cấp nghề bao gồm những thành phần cơ bản là khối cá môn học chung (Giáo dục quốc phòng, chính trị, pháp luật, ngoại ngữ, tinhọc…) và khối các môn cơ sở chuyên ngành chuyên môn (bao gồm lý thuyết và thực hành)
Hiện nay, chương trình đào tạo chưa phù hợp mặc dù đã và đang được cải thiện cho phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội Nội dung lý thuyết còn nhièu, ít phần thực hành rèn luyện kỹ năng Các trường xây dựng chương trình dựa vào thế mạnh của mình chứ chưa quan tâm xem xã hội cần
gì, doanh nghiệp yêu cầu về chất lượng tay nghề người học ra sao Các ngành nghề khác nhau cũng phải xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp với đặc thù của từng ngành nghề vì mỗi ngành nghề có những kiến thức khác nhau, yêu cầu về kỹ năng, thái độ khác nhau nên nếu chương trình đào tạo không phù hợp sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo
Ở một số nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc khi có đơn hàng tuyển dụng lao động, họ đưa ra các yêu cầu rất cụ thể về tay nghề của người lao động, vì vậy các đơn vị đào tạo căn cứ vào các yêucầu đó để xây dựng chuơng trình đào tạo cũng như tập trung đào tạo đúng theo yêu cầu
Đó cũng chính là cách làm việc chuyên nghiệp, chuyên biệt hoá trong sản
Trang 33xuất, không đào tạo kiểu dàn trải, mỗi kỹ năng biết một chút mà chả giỏi kỹ năng nào cả Ngoài ra, chương trình đào tạo chủ yếu quan tâm nhiều đến các kiến thức chuyên môn, mà chưa chú ý đến trang bị các kỹ năng mềm như tác phong làm việc công nghiệp, giờ giấc chính xác, khả năng làm việc theo tổ, nhóm Đây cũng chính là điểm yếu mà chúng ta cần khắc phục
Tóm lại, bên cạnh việc thực hiện đúng theo chương trình khung là phần cứng thì các đơn vị nên thiết kế chương trình học sao cho đa dạng, phong phú, phù hợp với tình hình thực tế của trường cũng như đáp ứng nhu cầu của xã hội Chính điều này làm nên sự khác biệt giữa các trường với nhau, vì vậy, muốn thu hút người học thì cần phải từng ngày đổi mới một cách toàn diện
Đội ngũ giáo viên
Có thể coi như đội ngũ giáo viên chính là xương sống của nhà trường, xương có chắc khoẻ thì cơ thể mới có thể phát triển tốt, khung xương mà yếu
cơ thể sẽ phát triển không bình thường
Trong hệ thống giáo dục nói chung thì vai trò của người thầy rất quan trọng, đối với các khối trường nghề thì đây chính là yếu tố chủ đạo làm nên sự thành bại của nhà trường Giáo viên dạy nghề ngoài việc phải là người có tri thức, học vấn đồng thời đối với đội ngũ giáo viên dạy thực hành thì việc thuyết phục học sinh phải là người có tay nghề Họ là người truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của nghề, họ là người truyền lửa đam mê nghề nghiệp cho học sinh Rèn luyện cho học sinh hình thành nhân cách, có trách nhiệm với nghề, thái độ trong quá trình học tập và lao động
Để đảm bảo chất lượng cho người học, giáo viên cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản như sau: [ 7, tr.15]
Đủ về cả số lượng và chất lượng: Theo công văn số 199/TCDN-KHTC ngày 06/4/2007 của Tổng cục dạy nghề hướng dẫn thực hiện quyết định số
Trang 34468/QĐ- BLĐTBXH ngày 06/4/2007 thì số lượng học sinh quy đổi cho 1 giáo viên dạy nghề là 25hs/giáo viên
Năng lực chuyên môn là một trong những yếu tố giúp cho người giáo viên khẳng định vị trí, tay nghề trình độ của mình với học sinh Giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có nhiều trải nghiệm thực tế để chia sẻ, ngoài ra còn phải hoàn thiện mình trên mọi lĩnh vực như tin học, ngoại ngữ…Thông qua việc truyền đạt tay nghề, tryền đạt kỹ năng sẽ giúp cho học sinh thấy hăng say học tập và rèn luyện
Nghiệp vụ sư phạm là 1 yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên, việc kết hợp năng lực chuyên môn và trình độ sư phạm một cách nhuần nhuyễn, mềm mại
sẽ giúp cho việc lên lớp đạt hiệu quả tối đa Tay nghề, chuyên môn dù có cao siêu đến đâu nhưng nghiệp vụ sư phạm chưa vững vàng sẽ là một trở ngại lớn đối với người giáo viên, việc truyền đạt tới học sinh sẽ bị hạn chế đi rất nhiều
Có thể nói trong bất cứ giai đoạn nào của sự phát triển xã hội thì hình ảnh người thầy luôn là tấm gương lớn cho học trò soi rọi Vì vậy, bản thân họ luôn phải phấn đấu nỗ lực rèn luyện, học tập nâng cao trình độ không ngừng nghỉ Trước hết, họ là những người có tư cách đạo đức tốt thông qua cách giao tiếp, ứng xử cho dù là trong công việc hay đời thường Hơn ai hết họ phải là những con người hăng say lao động, yêu nghề, làm việc tận tuỵ, hết mình vì họ chính là niềm tin đối với học sinh Luôn tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học, tiếp cận nhiều và nhanh với những xu thế mới của xã hội
Phương pháp dạy học
Có lẽ chưa bao giờ cụm từ “thay đổi phương pháp dạy học” lại được nhắc đến nhiều như hiện nay Tuy nhiên, đây là vấn đề của cả một nền giáo dục không riêng của giáo dục dạy nghề, không phải một sớm một chiều mà thay đổi ngay được Từ những phương pháp truyền thống cho tới hiện đại thì mục đích chính là phải phù hợp với đối tượng là người học Vì vậy người học
Trang 35phải là trung tâm, người dạy chỉ đóng vai trò định hướng, giúp cho người học
đi đúng hướng đạt đến mục tiêu đã đề ra
Phương pháp dạy học cũng là một trong những thành tố quan trọng giúp tạo nên sự thành bại của đào tạo Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa người dạy và người học nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy và học để đạt được mục tiêu đã đề ra với những điều kiện cụ thể
về môi trường, phương tiện học tập, thời gian đào tạo.[ 6, tr.12 ]
Phương pháp dạy nghề không hoàn toàn giống như phương pháp dạy học
ở các bậc học khác, giáo viên vừa phải kết hợp dạy lý thuyết nghề đồng thời
là người cầm tay chỉ việc, vận dụng lý thuyết nghề đã học vào thực hành, lặp
đi lặp lại các thao tác nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo của nghề Họ vừa phải
là thầy lại vừa là thợ
Các phương pháp dạy học chủ yếu gồm:
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp nêu vấn đề
- Phưong pháp đàm thoại, đặt câu hỏi
- Phương pháp dạy học bằng trực quan
Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm nhất định Theo quan điển của cá nhân người viết thì không nên tập trung vào 1 hoặc vài ba phương pháp trên mà nên vận dụng linh hoạt, kết hợp cùng lúc các phương pháp trên nhằm hướng tới học sinh là trung tâm, tránh để người thầy chỉ đóng vai trò là cái đài còn học sinh tiếp nhận 1 cách thụ động, luôn tạo ra các tình huống, đặt nhiều câu hỏi xoay quanh nội dung bài học để kiểm tra xem sự tiếp thu bài của học sinh đến đâu và kịp thời điều chỉnh khi chưa hợp lý, luôn tạo ra hoạt động thầy trò trong giờ học Đối với học nghề thì không gì cụ thể bằng việc học sinh quan sát trực tiếp giáo viên hướng dẫn, có nguyên liêu thật để thị phạm, sau đó học sinh được khắc sâu bằng những giờ thực hành, có sự uốn nắn, kèm cặp của giáo viên
Trang 36Đổi mới phưong pháp dạy học cũng là một trong những yếu tố không thể
bỏ qua trong quá trình nâng cao chất lượng đào tạo
Đối với người học thì học tập là một quá trình nhận thức và hành động nhằm tiếp thu các kiến thức mới, hình thành và phát triển kỹ năng trong từng lĩnh vực khác nhau, góp phần vào việc hình thành nhân cách, tạo ra thái độ và giá trị đúng đắn trong cuộc sống nghề nghiệp của mỗi người
Đa phần chất lượng tuyển đầu vào của các khối trưòng nghề là thấp, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp PTTH mới chỉ chiếm khoảng 70%, còn lại là tốt nghịêp THCS Vì vậy cũng có sự chênh lệch về khả năng nhận thức, cũng như ý thức
kỷ luật cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức học tập và điều này cũng sẽ
có tác động đến chất lượng đào tạo Xuất phát từ những mục đích khác nhau nên cũng có những học sinh đăng ký nhập học để được hoãn nghĩa vụ quân
sự, vì vậy trong quá trình học các em không thể hiện lòng yêu nghề, tâm huyết với nghề, không có ý thức trong học tập Việc này cũng là một yếu tố làm ảnh hưởng đến không khí học tập của tập thể, rất dễ dẫn đến việc bỏ học Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ các em là người ngoại tỉnh, vừa đi học vừa
đi làm để lo kinh tế trang trải cho việc học tập, điều này rất đáng quý và trân trọng, tuy nhiên các em cũng có những điều chỉnh giò giấc sinh hoạt chưa hợp
lý nên cũng đã ảnh hưởng tới kết quả học tập của mình
Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ cho hoạt động dạy học
mà còn có vai trò thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra
Trang 37trong đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp mà giáo viên và học sinh đều không có khả năng tiếp cận trực tiếp Phương tiện dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, phương tiện dạy học được sử dụng rất phổ biến, gồm 2 nhóm chính:
Nhóm 1 là phần cứng: Bao gồm các thiết bi máy móc, màn hình, máy chiếu, máy tính, trang thiết bị thực hành…
Nhóm 2 là phần mềm: Giáo trình, tài liệu, tranh, ảnh…
Cơ sở vật chất bao gồm nhà cửa, đất đai, trang thiết bị dụng cụ trong toàn bộ nhà trường… Yếu tố này cũng quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo Vì nếu không có nó thì sẽ những hoạt động đào tạo sẽ bị ảnh hưỏng lớn Hướng tới nhà trường nên xem xét đến việc mạnh dạn đầu tư hơn nữa vào cơ sở vật chất Cụ thể là đối với phòng học lý thuyết cần trang bị thêm hệ thống máy chiếu, bảng biểu liên quan đến môn học giúp cho học sinh nhận thức nội dung nhanh hơn thông qua việc tiếp cận với hình ảnh Đối với các phòng học thực hành: học phải luôn đi đôi với hành, thiết kế các phòng học thực hành chuẩn để ứng dụng phương pháp dạy học tích hợp cho hợp lý, tăng cường mua sắm trang thiết bị dụng cụ thực hành nhằm đáp ứng tốt nhất các điều kiện học tập Chủ yếu các trang thiết bị hiện nay chưa bắt kịp so với
xu thế phát triển chung, còn phụ thuộc nhiều vào nguồn kinh phí của Nhà nước, hoặc các trang thiết bị của dự án, của các cuộc thi tay nghề quốc gia Đa phần các trang thiết bị này không phù hợp với mục đích sử dụng thực tế của các trường Để chế biến thành công một món ăn, có rất nhiều yếu tố quyết định đến sự thành bại này, trong đó thì đầy đủ các trang thiết bị dụng cụ chuyên dụng là một yếu tố quan trọng
1.2.3.2 Yếu tố bên ngoài
Mối quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp
Trang 38Việc tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với các doanh nghiệp là vấn đề rất đáng lưu tâm, hầu hết tâm lý của người học sau khi ra trường đều muốn tìm ngay được việc làm thông qua sự giới thiệu của trường Hay trong quá trình thực tập của học sinh cũng rất cần có sự liên hệ của nhà trường với các nhà hàng, khách sạn hay các doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực này Đồng thời, từ phía doanh nghiệp hay nói cách khác chính là những nhà tuyển dụng lao động, để tuyển được một đội ngũ lao động được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn tay nghề cao thì phía doanh nghiệp cũng cần có mối quan hệ chặt chẽ với nhà trường
Đối với học sinh học nghề thì việc được vận dụng lý thuyết để thực hành nâng cao tay nghề quả là cơ hội đáng quý Khi các em tham gia thực tập tại các nhà hàng, khách sạn sẽ giúp cho các em có dịp trải nghiệm, cọ sát với thực tế công việc hàng ngày của từng bộ phận, vì vậy sẽ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu để phục vụ cho công việc sau này mà hoàn toàn không mất phí
Trong giai đoạn hiện nay, các trường càng nên thiết lập mối quan hệ với các cơ sở kinh doanh nhằm tìm hiểu thị trường có sự thay đổi hàng ngày, từ
đó có kế hoạch xây dựng chương trình đào tạo cho phù hợp, tránh tình trạng tụt hậu so với sự phát triển chung của xã hội
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Ngày 21/8/2009 Chính phủ ban hành nghị định 70/2009/NĐ-CP Quy định trách nhiệm quản lý của Nhà nước về dạy nghề Theo đó, Chính phủ thống nhất giao Bộ LĐTB&XH là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp Chính phủ nêu rõ, Bộ LĐ cùng với các bộ ban ngành quản lý trực tiếp trường trung cấp, cao đẳng khẩn trương thực hiện tự chủ trong hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp để giảm nhanh can thiệp hành chính của bộ chủ quản và UBND các tỉnh, nhanh chóng hoàn thiện dự thảo nghị định quy định điều kiện đàu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
Trang 39Theo quy định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Dạy nghề bao gồm ba trình độ là sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề Giáo dục đại học bao gồm: cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ Như vậy trong hệ thống giáo dục có 2 trình độ trung cấp (trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề), hai trình độ cao đẳng (cao đẳng và cao đẳng nghề) và do 2 cơ quan quản lý khác nhau (Bộ GD&ĐT, Bộ LĐTB&XH) Chính việc phân công trách nhiệm quản
lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp như vậy khiến cho lĩnh vực nghề nghiệp
bị phân tách thành 2 hệ thống riêng biệt, dẫn tới nhiều bất cập
Từ thực tế thời gian qua nhiều ý kiến cho rằng, việc giao cho Bộ LĐTB&XH là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp là phù hợp, hiệu quả Hơn nữa sẽ giải quyết được nhiều vấn đề bất cập hiện nay, đảm bảo
sự phát triển, thống nhất trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, phù hợp mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực lao động phát triển kinh tế xã hội
Nhu cầu của xã hội về chất lượng sau đào tạo
Theo UNESCO thì tiêu chí để đánh giá chất lượng đào tạo đó là: Làm việc có hiệu quả, người lao động biết sống làm người và chung sống với cộng đồng dân tộc, cộng đồng nhân loại, người lao động biết tự đào tạo mình thành con ngưòi có nhân cách, con người tự do, con người phát triển toàn diện Có nghĩa là nền giáo dục phải tạo ra những con người biết làm việc có hiệu quả
và biết sống nhân văn
Đào tạo nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội, hướng tới việc thoả mãn nhu cầu khách hàng, đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng, đảm bảo tay nghề cao nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của sản xuất
Đa phần sinh viên của ta ra trường ít kinh nghiệm thực tế, thường làm trái ngành trái nghề, kiến thức được học mang nặng tính hàn lâm, thiếu đi thực tế Chủ yếu là các môn học lý thuyết, ít môn học chuyên ngành, học
Trang 40không đi đôi với hành, tính tự chủ kém hơn so với sinh viên trên thế giới và các nước trong khu vực
1.3 Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại một số trường trung cấp nghề
Trường Trung cấp nghề du lịch Hà Nội
Trường Trung cấp nghề (TCN) du lịch Hà Nội đã hoạt động hơn 10 năm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Đây là trường tư thục và chịu sự quản
lý của Sở LĐTB&XH Hà Nội.Mặc dù mới chỉ khoảng 10 năm hình thành và phát triển nhưng Trường TCN du lịch Hà Nội cũng đã khẳng định được thương hiệu và đứng vững cho đến nay Qua tìm hiểu và đã từng hợp tác giảng dạy tại trường, tác giả nhận thấy Ban lãnh đạo nhà trường thường xuyên chú trọng đến công tác nâng cao chất lượng đào tạo và nhận thấy có những kinh nghiệm rất đáng học hỏi:
Vì đây là hệ thống trường tư thục nên ngay từ việc tuyển chọn đội ngũ giáo viên giảng dạy và hưỏng lương theo năng lực, không có tình trạng giống các trường công lập là ưu tiên con cháu trong ngành, vì vậy bản thân đội ngũ giáo viên luôn phải đổi mới tư duy, sáng tạo và cống hiến hết mình trong công việc Đa phần giáo viên đều là giáo viên thỉnh giảng, gần như không có giáo viên cơ hữu, nhà trường không phải gồng gánh một bộ máy kồng kềnh, nên kinh phí thu được từ học viên cũng sẽ dành cho việc đầu tư trag thiết bị cơ sở tương đối hiện đại và đầy đủ Đào tạo và xây dựng chương trình dựa trên nhu cầu của người học Tạo điều kiện tối đa về mặt thời gian giúp cho học viên có thể chủ động tham gia Bố trí các nhóm học thực hành hợp lý, số lượng học viên trên 1lớp ít để họ có cơ hội thực hành nhiều hơn Giảm bớt thời lượng các môn lý thuyết và tăng cưòng thời lượng thực hành nhằm giúp học viên sớm hình thành kỹ năng
Bộ phận tuyển sinh năng động, chịu khó đi xa nhằm tuyên truyền, tư vấn cho các đối tượng có nhu cầu học nghề nhưng chưa biết cách tiếp