ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Chu Thành Huy CƠ SỞ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỊNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chu Thành Huy
CƠ SỞ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN DU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỊNH HẠ LONG
VÀ ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN)
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 62850101
(DỰ THẢO) TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ (Chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường)
Hà Nội - 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Đức Thanh
2 PGS.TS Phạm Quang Tuấn
Phản biện:
Phản biện:
Phản biện:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại
.vào hồi giờ ngày tháng
năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản thế giới (DSTG) là tài sản chung của toàn nhân loại, có giá trị nổi bật toàn cầu về một hoặc nhiều khía cạnh tự nhiên hoặc/và văn hóa, chịu sự quản lý chặt chẽ của UNESCO và chính quyền sở tại nhằm bảo vệ các giá trị nổi bật toàn cầu mà di sản đó có được Các DSTG là nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) có giá trị cao Việt Nam đã sở hữu 8 trong số hơn 1000 DSTG trên toàn cầu CĐĐP sống trong hoặc liền kề di sản sẽ là nhân tố bảo vệ di sản một cách hiệu quả nhất nếu chúng ta huy động được sự tham gia của của họ Hiện nay du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) đang là một giải pháp hiệu quả trong việc bảo tồn di sản bằng việc cung cấp lợi ích vật chất cho CĐ thông qua khai thác giá trị di sản phục vụ du lịch Vịnh Hạ Long và Đô thị cổ Hội An là hai DSTG tiêu biểu của Việt Nam Sự khác biệt về vị trí địa lý là tiền đề quan trọng dẫn đến sự khác biệt về tiềm năng và hệ thống các sản phẩm CBT Bên cạnh đó sự phân hóa không gian của các điều kiện phát triển CBT trong mỗi khu di sản sẽ tạo ra các khu vực chức năng CBT đặc trưng, đây được xem là cơ sở cho quy hoạch phát triển CBT một cách bền vững và hiệu quả Qua những lập luận ở trên có thể thấy rằng, việc nghiên cứu “Cơ sở khoa học phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các di sản thế giới ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An)” là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định các luận cứ khoa học theo hướng tiếp cận địa lý trong việc phát triển CBT như một giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững tại các DSTG ở Việt Nam
Trang 4- Nhiệm vụ: 1 Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển CBT tại vịnh Hạ Long và Hội An; 2 Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch nói chung và CBT nói riêng tại hai khu di sản; 3 Phân khu chức năng CBT tại hai khu di sản (khu và tiểu khu); 4 Đánh giá tiềm năng phát triển CBT theo các tiểu khucủa hai khu di sản; 5 Đề xuất các giải pháp phát triển CBT cho hai khu DSTG ở Việt Nam
3 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn về mặt không gian
Về mặt không gian, luận án tập trung nghiên cứu DSTG vịnh
Hạ Long và Đô thị cổ Hội An:
- Đối với DSTG vịnh Hạ Long: không gian nghiên cứu được xác định là toàn bộ lãnh thổ hành chính TP Hạ Long và bao gồm các vùng biển đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây thuộc vùng đệm
di sản, có diện tích khoảng 887 km2
- Đối với khu vực DSTG đô thị cổ Hội An: là toàn bộ lãnh thổ hành chính (phần đất liền) của TP Hội An (không tính xã Tân Hiệp)
4.2 Giới hạn về thời gian
Đối với các số liệu về hiện trạng du lịch, nguồn lao động tại
hai khu vực di sản được thu thập từ 2008 - đến năm 2013
Đối với các số liệu chung về phát triển kinh tế tại hai khu vực
di sản được lấy đến năm 2014
4.3 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Luận án chỉ để cấp đến các di sản tự nhiên và di sản văn hóa vật thể, không nghiên cứu các di sản phi vật thể
4 Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Vị trí địa lý là nền tảng để hình thành các điều kiện tự nhiên và tiềm năng du lịch tự nhiên Điều kiện tự nhiên được con người khai khác, sử dụng với tầng văn hóa của CĐ nơi đó sẽ tạo
Trang 5nên hệ thống tiềm năng du lịch nhân văn đặc trưng cho lãnh thổ đó
Do vị trí địa lý khác nhau nên điều kiện tự nhiên và cấu trúc lãnh thổ của khu vực di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An có sự khác biệt rõ ràng, cùng với đó, sự khác biệt về văn hóa của CĐ dân cư bản địa trong quá trình khai thác lãnh thổ đã tạo ra hệ thống tiềm năng du lịch nói chung và CBT nói riêng khác nhau giữa vịnh Hạ Long và Hội An
- Luận điểm 2: Mỗi khu DSTG là một không gian lãnh thổ cụ thể, ở đó các yếu tố tiềm năng du lịch về tự nhiên, nhân văn cũng có
sự phân hóa về mặt không gian Việc khai thác tiềm năng du lịch bởi các CĐ người khác nhau sẽ tạo ra hệ thống các sản phẩm CBT khác nhau Đặc điểm CĐ dân cư tại vịnh Hạ Long và Hội An có sự khác biệt lớn về bản sắc và ngay trong mỗi khu di sản yếu tố sắc thái CĐ cũng có sự phân hóa theo không gian Chính vì vậy, tạo nên sự đa dạng về các sản phẩm CBT trong mỗi khu di sản đồng thời tạo nên
sự khác biệt hệ thống các sản phẩm CBT tại hai khu di sản Việc xác định thế mạnh đặc trưng cho từng đơn vị lãnh thổ (khu, tiểu khu chức năng) trong mỗi khu di sản đối với các sản phẩm CBT là cơ sở
để đưa ra giải pháp phát triển CBT
5 Điểm mới của luận án
- Về mặt lý luận: góp phần bổ sung cơ sở lý luận về phát triển CBT tại các DSTG theo hướng tiếp cận địa lý
- Về mặt thực tiễn: xác định được hệ thống các không gian chức năng CBT tại hai khu di sản làm cơ sở xây dựng hệ thống sản phẩm CBT cũng như tổ chức lãnh thổ CBT
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về mặt khoa học: chỉ ra được tiềm năng phát triển CBT và lý giải chúng trên quan điểm địa lý học nhằm thấy rõ bản chất cũng như
Trang 6quy luật hình thành, phát triển phân bố của chúng Từ đó tạo tiền đề cho việc xây dựng các phương pháp khai thác, sử dụng tiềm năng hợp lý và bền vững; góp phần hoàn thiện về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu phát triển CBT nói chung và CBT tại các khu DSTG nói riêng trên quan điểm địa lý
- Về mặt thực tiễn: kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học
và tài liệu tham khảo có giá trị cho việc hoạch định chiến lược và thiết kế tổ chức không gian phát triển CBT trong tổng thể phát triển
KT - XH chung của Hạ Long và Hội An Đồng thời kết quả này là tài liệu chỉ dẫn cho các cấp chính quyền địa phương cụ thể hóa kế hoạch, tổ chức hoạt động CBT, thực thi các giải pháp cho phát triển
du lịch bền vững tại địa phương
7 Cơ sở tài liệu của luận án
- Tư liệu về bản đồ: bản đồ địa hình tỉ lệ 1/50.000 về khu vực vịnh Hạ Long và TP Hội An; bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000; bản đồ địa mạo đáy biển và dọc đường bờ vùng biển Hải Phòng - Quảng Ninh từ 0-30m nước tỷ lệ 1/100.000; bản đồ địa chính TP Hội An tỷ
lệ 1/50.000 (2010), bản đồ quy hoạch sử dụng đất TP Hội An tỷ lệ 1/50.000 (2010) Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Quảng Ninh tỷ
lệ 1/100.000 (2010); Tư liệu về dân số, lao động: số liệu thống kê của chi cục thống kê TP Hội An, TP Hạ Long; trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của Hạ Long và Hội An; Số liệu về KT-
XH, hiện trạng hoạt động du lịch: báo cáo KT-XH các năm của TP
Hạ Long và TP Hội An, số liệu thống kê lưu trữ của Trung tâm văn hóa thể thao Hội An, phòng Thương mại - Du lịch Hội An; Các quy hoạch ngành và các quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH địa phương; Đề tài nghiên cứu các cấp, Các công trình, bài báo trong quá trình học NCS, các tài liệu thu được từ thực địa
Trang 78 Cấu trúc của luận án
Luận án được trình bày trong 200 trang, gồm 13 bản đồ, 15 bảng biểu, 10 biểu đồ và sơ đồ, 238 tài liệu tham khảo và 9 phụ lục Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung được kết cấu thành 3 chương
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào cộng đồng
Về mặt lý luận, các nghiên cứu về CBT trên thế giới được tiếp
cận dưới 4 độ cơ bản: Hướng tiếp cận CĐ tham gia phát triển CBT:
Murphy (1985), McIntyre và cộng sự (1993), Muhanna (2007), Niezgoda và Czernek (2008), Matarrita-Cascante và cộng sự (2010),
Goodwin và Santilli (2009), Scheyvens.R (1999), Wirudchawong (2012),…; Tiếp cận trên cơ sở nguồn lực du lịch (xác định điều kiện
để phát triển): của Raeva (2005), Quỹ châu Á và Viện nghiên cứu và
phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (2012), Trần Đức Thanh
và cộng sự (2014), Nguyễn Xuân Trường (2015)…; Hướng tiếp cận
dưới góc độ kinh tế và quản lý du lịch: của Nicole Häusler (2008),
David Barkin (1998), Bryden (1998), Damira Raeva (2005),
Boronyak và cộng sự (2010)…; Hướng tiếp cận nghiên cứu sự tham
gia của các bên trong phát triển CBT; của Pimrawee Rocharungsat
(2005), Eileen Gutierrez và cộng sự (2005), Boronyak và cộng sự (2010),…
Ở Việt Nam, CBT là chủ đề nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, với sự tham gia của nhiều tác giả: Phạm Trung Lương (2000, 2010), Võ Quế (2006), Nguyễn Thị Hải (2004, 2007), Phạm Quang Anh (1996), Phạm Hoàng Hải (1997, 2003), Đặng Duy Lợi
Trang 8(1992, 2013), Nguyễn Thị Sơn (2000), Trần Đức Thanh (2014), Lê Huy Bá (2005), Nguyễn Xuân Trường (2015)…
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về vịnh Hạ Long và Đô thị cổ Hội
An
Nhóm các công trình nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên và TNDL tự nhiên của vịnh Hạ Long như Trần Đức Thạnh và cộng sự (1997, 2004, 2008, 2009), Nguyễn Hiệu và cộng sự (2008), Đỗ Trọng Bình (1998), Nguyễn Tiến Hiệp và Ruth Kiew (2000), Nguyễn Khắc Hường (2005), Nguyễn Huy Yết và Lăng Văn Kẻn (1996), Nguyễn Đăng Ngải và cộng sự (2008) ; Nhóm các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ và TNDL nhân văn có thể kể đến Đỗ Văn Ninh (1974), Hà Hữu Nga (2002)…; Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp bảo vệ môi trường vịnh Hạ Long như Nguyễn Cao Huần và cộng sự (1998,
2006, 2009), Trần Đức Thạnh và cộng sự (2009, 2013), Nguyễn Hiệu
và cộng sự (2008)…; Nhóm công trình nghiên cứu tài nguyên, hiện trạng, hiệu quả và định hướng phát triển du lịch như nghiên cứu của Phạm Trung Lương (2000), Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải
(2002), Error! Reference source not found.Đỗ Thị Minh Đức
(2007)…
Nhóm các công trình nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên và TNDL tự nhiên của Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào (1991), Hồ Vương Bính và cộng sự (1995), Vũ Đình Hải (1988), Đinh Phùng Bảo (2006), Chu Mạnh Trinh (2007)…; Nhóm các công trình nghiên cứu về môi trường, tai biến thiên nhiên như nghiên cứu của Đào Đình Bắc và cộng sự (2001), Đặng Văn Bào và cộng sự (2005)…; Nhóm các công trình nghiên cứu về giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ
Trang 9và TNDL nhân văn như nghiên cứu của Đỗ Bang (1985), Trần Quốc Vượng (1985), Tôn Thât Hướng (2010),….; Nhóm công trình nghiên cứu hiện trạng, giải pháp, định hướng phát triển du lịch như nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Thanh (1998, 2013), Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Nguyễn Thị Thống Nhất (2010),
1.2 KHÁI NIỆM
1.2.1 Di sản thế giới
Một di sản sẽ được coi là DSTG nếu chúng có "giá trị nổi bật toàn cầu" và đảm bảo được tính toàn vẹn và/hoặc xác thực và được chia thành di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, di sản hỗn hợp Các tiêu chí cụ thể được quy định trong Công ước DSTG năm 1972
1.2.3 Du lịch dựa vào cộng đồng
Là một loại hình du lịch, ở đó CĐĐP tham gia trực tiếp vào việc cung cấp dịch vụ và/hoặc quản lý du lịch và nhận được lợi ích từ hoạt động đó, trên cơ sở khai thác các điều kiện vật chất và tinh thần
phù hợp với không gian sắc thái văn hóa cụ thể của CĐ
Trang 101.2.4 Mức độ tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển
du lịch
France (1998) đưa ra thang 7 mức độ tham gia của CĐ trong
du lịch Okazaki (2008) trên cơ sở tích hợp 4 lý thuyết nghiên cứu sự tham gia của CĐ khác nhau để xác định vị trí của CĐ trong quá trình phát triển du lịch Trong khuôn khổ luận án, NCS mới dừng ở việc phân tích sự tham gia của CĐĐP trong hoạt động du lịch
1.2.5 Sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng
Sản phẩm CBT được cấu thành từ các yếu tố cơ bản sau: (1) tài nguyên (tự nhiên hoặc nhân văn), (2) kết cấu hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật, (3) các dịch vụ do CĐĐP (hoặc có sự tham gia) cung cấp ở các mức độ khác nhau, (4) bản sắc hay sắc thái văn hóa CĐ 1.3 CƠ SỞ ĐỊA LÝ HỌC CHO VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM
1.3.1 Các điều kiện địa lý cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Dưới góc độ địa lý học điều kiện cung để phát triển CBT được thể hiện ở vị trí địa lý, cấu trúc lãnh thổ tự nhiên, cấu trúc lãnh thổ - KT-XH, trong đó vị trí địa lý giữ vai trò quan trọng nhất Điều kiện cầu du lịch dưới góc độ địa lý học được xét đến, gồm: không gian địa
lý các nguồn khách, mối liên hệ giữa đặc điểm địa lý nguồn khách với đặc điểm địa lý của các điểm đến, đặc điểm nhu cầu đối với các sản phẩm của các nguồn khách khác nhau…
1.3.2 Phân khu chức năng du lịch dựa vào cộng đồng
Phân khu chức năng CBT là việc phân chia lãnh thổ du lịch thành các không gian có chức năng cung cấp dịch vụ CBT khác nhau dựa trên sự khác biệt về loại hình CĐ, đặc điểm nghề nghiệp, năng lực, thái độ, bản sắc văn hóa của CĐ (đã có hoặc sẽ hình thành), các hoạt động KT-XH, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, TNDL gắn với không gian sinh sống của CĐ đó
Trang 11Vai trò của nó được thể hiện: Phân khu chức năng CBT hướng đến xác định chức năng thế mạnh cho một (hoặc một vài) sản phẩm CBT đặc trưng của mỗi không gian lãnh thổ; Phân khu chức năng CBT là bước đi cụ thể, chi tiết hơn so với phân vùng du lịch (ở cấp tiểu vùng trở xuống) nhằm xác định mức độ thuận lợi của các đơn vị không gian với một loại hình du lịch cụ thể (CBT)
Hệ thống các đơn vị phân khu gồm 2 đơn vị: Khu chức năng CBT (sau đây gọi tắt là khu): là một lãnh thổ có diện tích đủ lớn với nhiều điểm TNDL Các loại TNDL trong một khu phải hướng đến việc hình thành một nhóm sản phẩm CBT - có điểm chung trong việc khai thác, sử dụng các yếu tố về kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, kỹ năng cơ bản của người lao động; Tiểu khu chức năng CBT (sau đây gọi tắt là tiểu khu), là một lãnh thổ có tính đồng nhất cao về đặc điểm CĐ dân cư, các TNDL đặc trưng, hiện trạng cơ sở vật chất, trong mối tương quan với khả năng khai thác các giá trị nổi bật của
di sản Các sản phẩm CBT trong mỗi tiểu khu có tính tương đồng cao
về các tác động KT-XH, môi trường và hướng khai thác các sản phẩm CBT
Để phân khu chức năng, luận án sử dụng các nguyên tắc tổng hợp, đồng nhất tương đối, toàn vẹn lãnh thổ và các phương pháp phân tích nhân tố chủ đạo (trội), phân tích, so sánh các bản đồ thành phần, phương pháp thực địa
- Khu: Tính chất địa lý của các loại hình CĐ và sắc thái CĐ:
CĐ vùng ven bờ, CĐ biển đảo, CĐ miền núi…; Tính chất địa lý của các loại TNDL: trên biển - đảo, đất liền, núi, đồng bằng….; Chức năng lãnh thổ được pháp luật quy định gắn với vùng chứa giá trị ngoại hạng toàn cầu của di sản: vùng lõi; vùng đệm; vùng phát triển
Trang 12- Tiểu khu: Chức năng xã hội và nghề nghiệp của của các loại hình cộng đồng: đô thị, nông thôn; Giá trị của các loại TNDL nổi bật (hấp dẫn, không hấp dẫn; cao - thấp…); Hiện trạng cơ CSVC kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch: số buồng nhà nghỉ, khách sạn/1000 dân; lượng buồng; sự phân bố không gian của số lượng các cơ sở phục vụ ăn uống, mua sắm, giải trí…; Chất lượng của các các cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí, ăn uống, mua sắm; Hiện trạng chức năng lãnh thổ về mặt hành chính theo quy định của chính quyền địa phương: khu vực dành cho phát triển dịch vụ, du lịch, khu vực định hướng phát triển công nghiệp, khu vực hành chính công…
1.3.3 Đánh giá điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
- Tìm ra những không gian thuận lợi hay không thuận lợi cho các sản phẩm CBT, từ đó làm căn cứ để xác định chức năng của từng đơn vị lãnh thổ và định hướng phát triển CBT một cách bền vững cho các khu di sản
- Mức độ hấp dẫn: dựa trên mức độ hấp dẫn về TNDL; Không gian sắc thái văn hóa: mức độ đặc sắc hay đặc trưng của mỗi không gian sắc thái văn hóa; Thái độ và năng lực của CĐĐP: đo bằng mức
độ sẵn sàng cung cấp các dịch vụ du lịch, mức độ tin tưởng vào các lợi ích của du lịch, mức độ lo lắng - hoài nghi về các tác động tiêu cực của du lịch; CSVC kỹ thuật: được xác định bằng số lượng, chất lượng khách sạn, nhà nghỉ, các khu trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm….; Khả năng tiếp cận: đo bằng sự phát triển của mạng lưới giao thông vận tải, mức độ tin cậy của các phương tiện vận tải
- Thang đánh giá từng tiêu chí :
Trang 13+ Độ hấp dẫn: được chia thành 4 cấp với số điểm tương ứng
như sau: rất hấp dẫn (4 điểm), khá hấp dẫn (3 điểm), trung bình (2
điểm) và ít hấp dẫn (1 điểm); Không gian sắc thái văn hóa: được
đánh giá ở 4 mức độ, gồm: rất đặc sắc (4 điểm); đặc sắc (3 điểm);
trung bình (2 điểm); không đặc sắc (1 điểm); Thái độ của CĐĐP:
thái độ của CĐ được đánh ở 4 mức tốt (4 điểm), khá tốt (3 điểm),
trung bình (2 điểm) và không tốt (1 điểm); CSVC, hạ tầng kỹ thuật:
được chia thành 4 mức: tốt (4 điểm), khá tốt (3 điểm), trung bình (2
điểm) và không tốt (1 điểm); Khả năng tiếp cận: gồm 4 cấp: thuận
lợi (4 điểm), khá thuận lợi (3 điểm), trung bình (2 điểm), ít thuận lợi (1 điểm)
Bảng 1.1: Chỉ tiêu đánh giá tổng hợp điều kiện phát triển CBT
cho các tiểu vùng chức năng Các yếu tố Trọng số Bậc đánh giá - điểm số
20 - 30; - Ít thuận lợi: có số điểm 10 - 19
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI MỘT SỐ DI SẢN THẾ GIỚI
Luận án giới thiệu về việc phát triển CBT tại hai khu DSTG: Hoàng Sơn (Trung Quốc) và Ruộng bậc thang ở Philippine Đây