1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

DIỄN ĐÀN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƯỜNG

60 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 409 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2010 đã khẳng địnhquan điểm phát triển của Việt Nam là "phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăngtrưởng kinh tế đi đôi

Trang 1

DIỄN ĐÀN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

VỀ MÔI TRƯỜNG

Trang 2

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ

ƯU TIÊN TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Bộ Tài nguyên và Môi trường

Những năm qua, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực nhằm xây dựng các thể chế, chínhsách, các kế hoạch hành động cụ thể hướng tới sự phát triển bền vững đất nước, hoà nhậpvới cộng đồng quốc tế

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2010 đã khẳng địnhquan điểm phát triển của Việt Nam là "phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, tăngtrưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường".Nhiều văn kiện như: Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020, Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam - Chươngtrình nghị sự 21 của Việt Nam, Báo cáo Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của NướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Liên hợp quốc đã thể hiện đầy đủ cam kết củaNhà nước và Chính phủ Việt Nam trước cộng đồng quốc tế về việc thực hiện các mụctiêu phát triển bền vững

Các quan điểm về môi trường và phát triển bền vững đã được Văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ IX, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định và đã được cụthể hoá trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020 và Chương trình Nghị sự 21 Đặc biệt, trong Luật Bảo vệ môi trường sửa đổivừa được Quốc hội thông qua, các nội dung cơ bản như vừa được trình bày ở trên đãđược đưa vào và sẽ trở thành những chế tài quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ môitrường, hướng tới sự phát triển bền vững Trong số 19 nhóm lĩnh vực cần ưu tiên nhằmphát triển bền vững đặt ra trong Chương trình Nghị sự 21 có 9 lĩnh vực tài nguyên thiênnhiên và môi trường Trong đó quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là một trong batrụ cột chính của phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồmnhững định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, các địa phương, các tổ chức

và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm đảm bảo pháttriển bền vững đất nước trong thế kỷ 21 Trong đó, phát triển bền vững về tài nguyên vàmôi trường tập trung vào những hoạt động của 9 lĩnh vực:

Trang 3

- Sử dụng hợp lý, bền vững và chống thoái hoá tài nguyên đất;

- Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước;

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên khoáng sản;

- Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển;

- Bảo vệ và phát triển rừng;

- Giảm thiểu ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp;

- Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại;

- Bảo tồn đa dạng sinh học;

- Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khíhậu góp phần phòng chống thiên tai

Với 9 lĩnh vực đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã bám sát các nhiệm vụ và tíchcực triển khai thực hiên, đồng thời chủ động phối hợp với các Bộ ngành liên quan trongquá trình thực hiện

A TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Thực hiện Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở ViệtNam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiện toàn tổ chức Ban chỉ đạo, ban hành Quy chếhoạt động của Ban chỉ đạo Định hướng chiến lược phát triển bền vững ngành tài nguyên

và môi trường, Ban Cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Nghị quyết

số 27-NQ/BCSĐTNMT ngày 02 tháng 12 năm 2009 về việc đẩy mạnh kinh tế hóa ngànhtài nguyên và môi trường

Trong giai đoạn 2006-2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ, ngành trong

Ủy ban phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường đã phối hợp với các cơ quan liênquan tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành và tổ chức ban hành các văn bản quyphạm pháp luật trong đó lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ ưu tiên nhằm thực hiện pháttriển bền vững của ngành và tổ chức triển khai các văn bản quy phạm pháp luật này, đãđạt được một số kết quả cụ thể như sau:

I SỬ DỤNG HỢP LÝ, BỀN VỮNG VÀ CHỐNG THOÁI HOÁ TÀI NGUYÊN ĐẤT, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ VÀ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT

Trang 4

- Về cơ chế, chính sách, luật pháp: đã ban hành được các hệ thống Văn bản quyphạm pháp luật khá đầy đủ, gồm Quyết định số 204/2006/QĐ-TTg ngày 02 tháng 09 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Chương trình hành động quốc gia chống samạc hóa giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 1305/QĐ-BNN-TCCB ngày 02 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn về việc Thành lập Văn phòng thường trực Công ước chống sa mạc hóa; Nghịquyết số 57/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội về kế hoạch sử dụngđất 5 năm 2006-2010 của cả nước; Quyết định số 16/2006/QĐ-BTNMT ngày 19 tháng 10năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành đơn giá lập và điềuchỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và của vùng; Quyết định số 20/2007/QĐ-BTNMT ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

về việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật thống kê, kiểm kê đất đai và thành lập bản

đồ hiện trạng sử dụng đất Về cơ bản đã bổ sung, hoàn chỉnh về hệ thống chính sách luậtpháp về đất đai, tiến hành điều tra cơ bản về đất và quy hoạch lại sử dụng đất hiệu quả vàbền vững, xác lập quyền sử dụng đất đối với các thành phần kinh tế, lồng ghép chínhsách quốc gia với quốc tế trong việc chống thoái hoá, ô nhiễm môi trường đất

Về cơ bản hoàn thành việc lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010,

kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 các cấp Với việc ban hành Thông tư số19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh

và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hướngdẫn các địa phương có cơ sở pháp lý để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020

và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015, từng bước nâng cao chất lượng, trở thànhcông cụ đắc lực cho các nhà quản lý

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liêntịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08 tháng 01 năm 2010 hướng dẫn xây dựng,thẩm định, ban hành bảng giá đất và điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền của Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thay thế Thông tư số 80/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 9 năm 2005 của Bộ Tài chính nhằm khắc phục tình trạng giá đất docác địa phương quy định chưa sát với giá đất thị trường trong điều kiện bình thường.Chính sách quản lý đất đai đã được hoàn thiện một bước, năng lực và phẩm chất củacán bộ quản lý đất đai tại các địa phương được nâng cao, số vụ khiếu kiện liên quan đếnđất đai đang có xu hướng giảm dần tuy nhiên vẫn ở mức cao

Xây dựng, hoàn thiện và triển khai các dự án, đề án lớn của Chính phủ trong lĩnh

Trang 5

nước phục vụ các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗtrợ tái định cư; Báo cáo tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức đượcNhà nước giao đất, cho thuê đất trên phạm vi cả nước theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTgngày 14 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ; Đề án Đổi mới chính sách liênquan đến đất đai, giải quyết những vướng mắc trong công tác đền bù, thu hồi đất để pháttriển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, hạ tầng kinh tế - xã hội thực hiện phân công của Thủtướng Chính phủ về chuẩn bị Đề án triển khai nghị quyết trung ương 9 (khóa X) theoCông văn số 3131/VPCP-TH ngày 15 tháng 5 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ; Dự

án cắm mốc ranh giới, đo đạc bản đồ địa chính đất nông, lâm trường quốc doanh theo chỉđạo của Thủ tướng Chính phủ; Đề án hệ thống thông tin đất đai quốc gia (hợp phần thuộc

đề án Hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường quốc gia, nhằm cung cấp thông tin, dữliệu về đất đai và thực hiện quản lý nhà nước về đất đai đối với tài nguyên đất quốc giahiệu quả),

Về kinh tế: Góp phần phát triển kinh tế trên cơ sở xây dựng các mô hình nông lâm - ngư nghiệp liên hoàn trên các vùng sinh thái khác nhau không chỉ đảm bảo về hiệuquả kinh tế mà còn đảm bảo cân bằng sinh thái, ổn định lâu dài Đã có những chính sáchnhằm hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa sangmục đích sử dụng khác

-Kinh phí đầu tư từ ngân sách địa phương phần lớn đang khó khăn, không đảm bảođáp ứng yêu cầu hoàn thành cấp Giấy chứng nhận và xây dựng hồ sơ địa chính hiện nay.Bên cạnh đó việc không thu phí đo đạc khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu theo quy địnhtại Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính hướngdẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương đã gây khó khăn cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất khithực hiện cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho các trường hợp riêng lẻ Lệ phí trước bạ cao(0,5% tiền sử dụng đất), là trở ngại đối với phần lớn các trường hợp cấp Giấy chứng nhậnlần đầu, đặc biệt ở vùng nông thôn

- Về xã hội: Đảm bảo các giải pháp an ninh lương thực, định canh định cư, giảmnghèo đặc biệt là khu vực nông thôn và miền núi Nâng cao nhận thức cộng đồng về sửdụng và tiết kiệm đất, phổ biến tuyên truyền các mô hình tiên tiến sử dụng đất bền vững.Khuyến khích triển khai các mô hình làng sinh thái

Đến tháng 5 năm 2010, tính chung cho các loại đất chính (đất sản xuất nông nghiệp,đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng, đất cơ sở tôn giáo), cả nước có 19 tỉnh cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất đạt trên 90% diện tích cần cấp, 16 tỉnh đạt từ 80% đến90%, 18 tỉnh đạt từ 70% đến dưới 80%, 10 tỉnh đạt dưới 70% Kết quả cấp Giấy chứng

Trang 6

nhận quyền sử dụng đất của cả nước còn chậm so với yêu cầu Nguyên nhân chủ yếu do

hệ thống các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hiện nay đang khó khăn về kinh phí,thiếu nhân lực thực hiện, phải thực hiện theo cơ chế tự chủ, trong khi hầu hết các trườnghợp đăng ký ban đầu, đăng ký biến động và đăng ký thế chấp đều được miễn các loại phí

và lệ phí

- Về kỹ thuật: Tổ chức nghiên cứu, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, thâmcanh sử dụng đất, quản lý lưu vực để bảo vệ đất và nước

Về việc triển khai thực hiện nhiệm vụ đo đạc bản đồ địa chính: cả nước đã thực hiện

đo đạc lập bản đồ địa chính với tổng diện tích 23.165.175 ha (đạt 70,1% tổng diện tích tựnhiên); diện tích đã đo vẽ thành lập bản đồ địa chính chính quy của cả nước là21.444.412,85 ha, chiếm 64,89% tổng diện tích tự nhiên; hoàn thành cơ bản việc đo vẽbản đồ địa chính khu vực đất lâm nghiệp tại 17 tỉnh thuộc phạm vi Dự án đo đạc và giaođất, cấp giấy chứng nhận đất lâm nghiệp theo Quyết định số 672/QĐ-TTg ngày 28 tháng

4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện trích đo địa chính cho hơn 100.000 tổchức đang sử dụng đất theo Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 củaThủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chứcđược Nhà nước giao đất, cho thuê đất

Về tình hình kiểm kê đất đai, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, tổng diện tích tựnhiên của cả nước là 33.105.136 ha, trong đó 28.596.498 ha đất đã được sử dụng vào cácmục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, 4.508.638 ha đất chưa được sử dụng, chiếm tỷ

lệ lần lượt là 86,38% và 13,62% tổng diện tích tự nhiên Trong tổng diện tích tự nhiêncủa cả nước năm 2008, diện tích đất đã được giao cho các loại đối tượng sử dụng là24.134.922 ha (chiếm 72,90% tổng diện tích tự nhiên); trong đó, diện tích đất giao cho hộgia đình và cá nhân sử dụng chiếm tỷ lệ cao nhất 42,35% tổng diện tích tự nhiên(14.019.077 ha) Năm 2008, diện tích đất được giao cho các đối tượng để quản lý là8.970.214 ha, chiếm 27,10% tổng diện tích tự nhiên của cả nước

II BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NƯỚC

- Về cơ chế, chính sách và luật pháp: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã banhành và lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển bền vững, gồm Nghị định số112/2008/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ, khaithác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi; Nghị định số120/2008/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về quản lý lưu vực sông;Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 7

phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Quyết định số15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường ban hành quy định bảo vệ tài nguyên nước dưới đất; Quyết định số 05/2003/QĐ-BTNMT ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Banhành Quy định về cấp phép thăm dò, khai thác và hành nghề khoan nước dưới đất; Quyếtđịnh số 174/2006/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái cảnh quan lưuvực sông Cầu; Quyết định số 187/2007/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông ĐồngNai đến năm 2020 Các văn bản này đã từng bước hoàn thiện và xây dựng các chính sách

và luật pháp về bảo vệ, sử dụng và quản lý nguồn nước phù hợp với cơ chế kinh tế thịtrường, nâng cao năng lực cho các cơ quan chính quyền trong việc quản lý tài nguyênnước, nghiên cứu phương án sử dụng nước lâu dài nhằm cân đối nguồn nước trên quy môquốc gia và từng vùng, xây dựng và hoàn thiện tiêu chuẩn môi trường nước quốc gia,kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về tài nguyên nước, điều tra và xây dựng cơ

sở dữ liệu phục vụ cho quản lý và bảo vệ tài nguyên nước, tăng cường hợp tác quốc tếtrong việc sử dụng, quản lý và bảo vệ các nguồn nước trong lưu vực dùng chung giữaViệt Nam và các nước láng giềng

- Về kinh tế: Tổ chức xây dựng và thực hiện chương trình điều tra cơ bản, xây dựngcác dự án quản lý nguồn nước ở các vùng đặc thù, tiến hành nghiên cứu sửa đổi và hoànthiện hệ thống thuế, phí khai thác và sử dụng nước theo nguyên tắc “người sử dụng nướcphải trả tiền” và “người gây ô nhiễm nguồn nước phải trả tiền”, hướng tới tài nguyênnước sẽ là nguồn lực đóng góp đáng kể cho ngân sách quốc gia

- Về xã hội: Góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc sử dụng hợp lý, tiếtkiệm và bảo vệ nguồn tài nguyên nước; khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia vào cáchoạt động bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên nước Về cấp giấy phép tài nguyênnước, đến năm 2009, cả nước đã cấp trên 5.000 giấy phép (bao gồm: giấy phép thăm dònước dưới đất; khai thác, sử dụng tài nguyên nước (nước mặt, nước dưới đất); xả nướcthải vào nguồn nước), trong đó có hơn 400 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước,chiếm khoảng 8%

- Về kỹ thuật: Đẩy mạnh xây dựng mô hình và áp dụng các công nghệ xử lý nướcthải, khuyến khích sử dụng các công nghệ trong sản xuất giảm lượng nước thải, tái sửdụng nước thải, tiết kiệm nước Khắc phục tình trạng thiếu nước về mùa khô và điều phốinguồn nước liên hồ chứa về mùa mưa

Công tác điều tra cơ bản và đánh giá tổng hợp về tài nguyên nước đã được đẩy

Trang 8

mạnh Tài nguyên nước mặt tại một số lưu vực sông lớn, vùng kinh tế trọng điểm, vùngkinh tế xã hội, một số đảo lớn quan trọng cũng như tình hình khai thác, sử dụng nước và

xả nước thải vào nguồn nước đã được tiến hành điều tra, đánh giá; một số vùng, khu vựckhó khăn về nguồn nước đã được điều tra, đánh giá để tìm kiếm các đối tượng chứa nước,phát hiện các điểm chứa nước dưới đất

Atlat điện tử và bộ bản đồ dạng số lưu vực sông của toàn bộ hệ thống sông, suốiViệt Nam (khoảng 2.600 sông, suối) đang được hoàn chỉnh để công bố và chuyển giaocho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, đơn vị liên quan khai thác.Đây là một cơ sở, nền tảng hết sức quan trọng phục vụ công tác điều tra, đánh giá tàinguyên nước và công tác quản lý tài nguyên nước ở Trung ương và các địa phương

Về quan trắc tài nguyên nước, hoàn thiện, nâng cấp mạng lưới quan trắc tài nguyênnước dưới đất đã xây dựng ở ba vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và TâyNguyên Xây dựng mới mạng lưới quan trắc tài nguyên nước tại nhiều địa phương

III KHAI THÁC HỢP LÝ VÀ SỬ DỤNG TIẾT KIỆM, BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

- Về cơ chế, chính sách và luật pháp: Trong những năm qua đã tập trung xây dựng

và triển khai Quyết định số 116/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướngChính phủ Phê duyệt Quy hoạch điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản đếnnăm 2015, định hướng đến năm 2020 Từng bước tiến hành xây dựng và hoàn thiện cáccông cụ kinh tế, hành chính và chế tài pháp luật nhằm thực hiện kiên quyết và có hiệuquả hơn Luật khoáng sản, kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý khai thác và sử dụng tàinguyên khoáng sản ở Trung ương và các địa phương

- Về kinh tế: việc khai thác khoáng sản dần ổn định và nền nếp, hoàn thiện được cơchế trong đầu tư khai thác, phải tính toán một lượng tiền phù hợp cho khâu phục hồi hoàntrả đất, tái tạo và cải thiện môi trường sinh thái ở các địa bàn khai thác mỏ Thực hiệnnghiêm túc ký quỹ phục hồi môi trường đối với những mỏ khai thác khoáng sản Đangquá trình xây dựng quy chế và hướng tới đấu thầu thăm dò, khai thác mỏ trong tương lai.Các đề án thống kê, kiểm kê tài nguyên khoáng sản; thanh tra hoạt động khoáng sản đãđược thực hiện, bước đầu đã đưa các hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đi vào nềnnếp theo quy định của pháp luật

- Về xã hội: Hạn chế tối đa làm xáo trộn cuộc sống của người dân tại khu vực tiếnhành khai thác khoáng sản, thu hút lực lượng lao động địa phương tham gia vào hoạtđộng này để đời sống của họ được nâng cao hơn trước, hạn chế các tệ nạn xã hội phátsinh ở khu vực khai thác khoáng sản, nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư; khuyến

Trang 9

khích cộng đồng dân cư tham gia vào các hoạt động bảo vệ mỏ khoáng sản, đặc biệt làcác mỏ nhỏ, phân tán và các loại khoáng sản có độ nhạy cảm cao về kinh tế, dễ gây ônhiễm môi trường.

- Về kỹ thuật: Đã có nhiều đổi mới, phát triển công nghệ khai thác, sàng tuyển và chếbiến nhằm tiết kiệm tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường; áp dụng các công nghệtiên tiến để sử dụng các loại quặng có hàm lượng thấp; thu hồi các chất hữu ích từ các bãithải quặng; thực hiện bồi hoàn các dạng tài nguyên sau khai thác như hoàn thổ, trồng cây

xanh, khôi phục thảm thực vật… Công tác lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ

1/50.000 về cơ bản đã hoàn thành trên những diện tích quan trọng, có nhiều phát hiện mớigiá trị về địa chất, khoáng sản; làm sáng tỏ thêm về cấu trúc, kiến tạo vùng lãnh thổ phục

vụ cho việc sử dụng vào các lĩnh vực quốc phòng, xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, dulịch, cơ sở kinh tế cũng như công tác an sinh và phòng chống thiên tai

Nhiệm vụ điều tra, đánh giá khoáng sản đã phát hiện và xác định được triển vọngnhiều loại khoáng sản có giá trị như titan, uran, đồng, chì – kẽm, magnezit, đất hiếm,bauxite, đá vôi xi măng, nước khoáng và các khoáng chất công nghiệp, tạo cơ sở chocông tác thăm dò, bảo đảm nguồn nguyên liệu đầu tư khai thác, chế biến, góp phần thúcđẩy phát triển kinh tế quốc dân

Việc lập quy hoạch điều tra cơ bản về địa chất và tài nguyên khoáng sản, quy hoạchthăm dò khai thác, chế biến khoáng sản về cơ bản đã hoàn thành và được Thủ tướngChính phủ phê duyệt Nhiều bản đồ địa chất tai biến, bản đồ khoanh vùng diện tích cókhoáng sản độc hại cũng đã được thành lập và cung cấp kịp thời cho các tỉnh, thành, cácngành có liên quan sử dụng, quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các hậu quả xấu do thiên taigây ra

IV BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN, VEN BIỂN, HẢI ĐẢO VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN BIỂN

- Về cơ chế, chính sách và pháp luật: đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luậtgồm Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định vềquản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Đề ántổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầmnhìn đến năm 2020"; Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg ngày 09 tháng 10 năm 2007 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt chương chình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng BắcTrung Bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyếtđịnh số 373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về “Đề án đẩy mạnh

Trang 10

công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo”; Quyếtđịnh số 568/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 về “Chương trình phát triển kinh tế đảo Việt Namđến năm 2020”; Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 về “Phê quyệt quy hoạchtổng thể hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020”; Quyết định số 796/QĐ-TTg ngày 03/6/2010 về “Chương trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng khíHydrat ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” Các văn bản này đã góp phần tíchcực xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và quản lý tài nguyên, môi trường biểntheo quan điểm phát triển bền vững; hình thành một thể chế liên ngành, thống nhất quản

lý vùng biển và bờ biển; tiến dần đến khoán, giao quyền sử dụng mặt biển trong phạm vicho phép cho người sản xuất nhằm tạo điều kiện thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ sản; thamgia và lập kế hoạch thực hiện các hiệp định và chương trình hành động quốc tế và khuvực về đánh cá, sử dụng bền vững và bảo vệ nguồn lợi biển, bảo vệ đa dạng sinh họcbiển Khai thác các tiềm năng và lợi thế khác của biển cũng như bảo vệ toàn vẹn biển vàHải đảo Việt Nam

Trong thời gian qua, Bộ đã chủ trì xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tổng thể

về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đếnnăm 2020 theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2006 của Thủtướng Chính phủ (Đề án 47); bao gồm danh mục 20 dự án do các Bộ/ngành liên quancùng phối hợp thực hiện Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao nhiệm vụchủ trì 12 dự án, nhiệm vụ, đồng thời là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Nhà nước vềđiều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển Ngoài ra, Bộ đang chỉ đạo tập trung triểnkhai hàng loạt các dự án quan trọng khác như: Chương trình quản lý tổng hợp dải venbiển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020 (Chương trình 158); Kế hoạch thực hiện tuyên bố chung và Chương trìnhkhung giữa Việt Nam, Campuchia, Thái Lan về hợp tác sẵn sàng ứng phó với sự cố tràndầu vùng Vịnh Thái Lan (Chương trình 1278); Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền vềquản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam (Đề án 373); Các dự ánhợp tác quốc tế về biển đến năm 2020 (Đề án 80); dự án Xây dựng Quy hoạch hệ thốngquan trắc tài nguyên môi trường biển, hệ thống rađa biển; dự án Thành lập hệ thống bản

đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/50.000 ở các khu vực quan trọng phục vụ nhiệm vụ quản lýbiển của các Bộ, ngành, địa phương liên quan (khu vực Cà Mau và các khu vực ngoàivùng lãnh hải từ Quảng Ninh đến Quảng Bình); dự án Điều tra đặc điểm địa chất, khoángsản, địa chất môi trường vùng biển Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình) từ 0 - 65mnước tỷ lệ 1/100.000; dự án Thống kê, kiểm kê, phân loại đánh giá tài nguyên thiên nhiênbiển, hải đảo giai đoạn từ 2010 đến 2015 Đề xuất một số giải pháp tăng cường năng lực

Trang 11

- Về kinh tế: Vấn đề đặt ra cho phát triển bền vững là cần phải tính toán hiệu quảkinh tế trong các chương trình, dự án đối với việc đẩy mạnh đánh bắt hải sản xa bờ vàđiều chỉnh nghề cá hợp lý; đầu tư hiệu quả phát triển mạnh ngành nuôi, trồng thuỷ sảntrong nước lợ, nước mặn ven biển theo hướng hài hoà với môi trường, ổn định lâu dài;phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá đáp ứng sự tăng trưởng không ngừng đối với ngànhnày Phát huy những ưu thế khác của biển để phát triển ngành kinh tế biển như vận tảibiển, du lịch biển, thăm dò và khai thác các tài nguyên khoáng sản biển và ven bờ.

- Về xã hội: Phát triển và đa dạng hoá các ngành nghề để tăng khả năng tạo việclàm, xoá đói giảm nghèo cho các cộng đồng ngư dân ven biển, nâng cao trình độ văn hóa

và nhận thức của ngư dân khu vực này đối với lợi ích của việc khai thác sử dụng hợp lýnguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển

- Về môi trường: Bảo vệ môi trường biển và quản lý đới bờ được xác định là nhiệm

vụ trọng tâm, phòng tránh và ngăn chặn kịp thời sự cố và tràn dầu trên biển, kiểm soátchất thải và chất thải độc hại từ đại dương và các vùng biển khác đưa vào vùng biển nước

ta Quy hoạch và bảo tồn các khu bảo tồn biển, khôi phục, duy trì đa dạng sinh học biển

và các hải đảo

V BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG

- Về cơ chế, chính sách và pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hànhNghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ vàPhát triển rừng; Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ Quy định

về phòng cháy và chữa cháy rừng; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 củaChính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm; Nghị định số48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác địnhgiá các loại rừng; Nghị định số 95/2008/NĐ-CP ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹbảo vệ và phát triển rừng; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủtướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược pháttriển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 -2020; Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất; Quyếtđịnh số 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn về việc ban hành Bản Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư nôngthôn, Quyết định số 46/2007/QĐ-BNN ngày 28/5/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Ban hành Quy định về việc xác định rừng trồng, rừng khoanhnuôi thành rừng; Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN ngày 27/12/2007 của Bộ Nông

Trang 12

nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành Quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh tháitại các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên; Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ sẽ có hiệu lực từngày 1/1/2011 Về cơ bản các văn bản này đã củng cố hệ thống các văn bản quản lý Nhànước hướng dẫn sử dụng bền vững và bảo vệ tài nguyên rừng, đẩy mạnh việc giao đất,khoán rừng cho các hộ gia đình và tập thể theo Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và phát triểnrừng; xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật nhằm thu hút đầu tư choviệc phát triển và bảo vệ rừng.

- Về kinh tế: Tính toán hiệu quả kinh tế của các dự án trồng rừng để điều chỉnh quyhoạch và đầu tư có trọng điểm, phát triển sản xuất hàng hóa đối với nghề trồng rừng gắnvới các cơ sở tiêu thụ sản phẩm gỗ Hỗ trợ về vốn, khuyến khích nhân dân trồng và bảo

vệ rừng, sử dụng có hiệu quả đất rừng được giao khoán; xây dựng, ban hành và hướngdẫn về miễn giảm thuế sử dụng đất, vay vốn với lãi suất ưu đãi cho việc đầu tư thành lậptrang trại; thúc đẩy phát triển nông-lâm nghiệp sinh thái; khuyến khích sử dụng bền vữngcác sản phẩm rừng phi gỗ; triển khai mạnh mẽ các dự án trồng cây thuốc phù hợp với nhucầu của thị trường Thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng

- Về xã hội: Nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong việc duy trì vàbảo vệ nguồn tài nguyên rừng tại nơi họ sinh sống Thực hiện tốt chính sách xóa đói giảmnghèo và sinh kế cho người dân ở khu vực trung du, miền núi, đặc biệt là vùng sâu, vùng

xa những địa bàn phân bố rừng chủ yếu của Việt Nam Tạo ra nhiều công ăn việc làm chongười dân địa phương dựa trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh của địa phương đó Nângcao nhận thức của người dân bản địa về lợi ích của việc duy trì và bảo vệ nguồn tàinguyên rừng Phát huy truyền thống văn hóa của người dân địa phương trong việc duy trì

và bảo vệ rừng đã có trước đây

- Về kỹ thuật và công nghệ: Nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và côngnghệ mới trong sản xuất lâm nghiệp, khuyến khích trồng các loại cây bản địa trong tất cảcác hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng, áp dụng công nghệ khai thác và chế biến gỗhiện đại, có hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng cao; khuyến khích sử dụng các loại nhiênliệu để thay thế gỗ củi như than, khí ga và thuỷ điện quy mô nhỏ, nghiên cứu áp dụng cácgiải pháp kỹ thuật phòng và chống cháy rừng và các thảm hoạ môi trường liên quan tớiviệc mất rừng

VI GIẢM THIỂU Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ Ở CÁC ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP

Trang 13

- Về thể chế, chính sách và pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hànhgồm Quyết định số 249/2005/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chínhphủ về quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện giao thông cơgiới đường bộ, Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2005 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trườngđến năm 2010; Thông tư số 10/2009/TT-BTNMT ngày 11 tháng 8 năm 2009 của Bộtrưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Bộ chỉ thị môi trường quốc gia đối vớimôi trường không khí, nước mặt lục địa, nước biển ven bờ; Thông tư 08/2009/TT-BTNMT ngày 15 tháng 7 năm 2009 quy định quản lý, BVMT khu KT, khu CN cao,KCN và cụm CN Các văn bản này nhằm từng bước thực hiện nghiêm ngặt đánh giá tácđộng môi trường bắt buộc đối với các quy hoạch, các cơ sở sản xuất, các dự án phát triểnkinh tế-xã hội theo đúng quy định của luật pháp, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.Tính đến nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải hoànthành việc xử lý ô nhiễm triệt để, đã có 313 cơ sở được xử lý, chiếm tỷ lệ 71,3%, so vớichỉ tiêu đề ra là 70%.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn

về chất lượng môi trường không khí, khí thải công nghiệp làm cơ sở cho hoạt động kiểmtra, giám sát nhằm có các giải pháp bảo vệ, cải thiện môi trường không khí đô thị, khucông nghiệp Năm 2010 đã đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm tạicác KCN, KCX trong toàn quốc

- Về kinh tế: Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, khuyến khích sử dụng nănglượng sạch bằng các biện pháp kinh tế, áp dụng nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trảtiền" Có chế tài đủ mạnh đối với những cá nhân, tổ chức không chấp hành các quy địnhnhằm hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm không khí, nhất là lĩnh vực giao thông, xây dựng,vận chuyển vật liệu xây dựng

- Về xã hội: Tạo ra sự đồng thuận của xã hội phản đối những hành động gây ônhiễm môi trường không khí, ý thức bảo vệ môi trường không khí của người tham giagiao thông, người làm xây dựng và hoạt động trong các cơ sở sản xuất cần được nângcao Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao trình độ nhận thức cho chủ doanh nghiệp

- Về khoa học, công nghệ: Khuyến khích sử dụng công nghệ sạch tại các cơ sở sảnxuất, nghiêm cấm nhập khẩu các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêmtrọng, Tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến Sản xuất sạch hơn ở Việt Nam Quy định

Trang 14

tiêu chuẩn phát thải và tuổi đời cho các phương tiện giao thông đang lưu hành, tiến tớiloại bỏ các phương tiện giao thông quá lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, nhất là ở các thành phố lớn.

VII QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ CHẤT THẢI NGUY HẠI

- Về thể chế, chính sách và pháp luật: Các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hànhgồm Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễmhữu cơ khó phân hủy; Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về viêc ban hành Danh mục phế liệu đượcphép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất; Quyết định số 15/2006/QĐ-BTNMT ngày 08tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành danhmục thiết bị làm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu; Quyết định số23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại; Thông tư 12/2006/TT-BTNMTngày 26/12/2006 Hướng dẫn thủ tục hành nghề và điều kiện lập hồ sơ đăng ký, cấp phéphành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại; Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg của Thủtướng phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến 2025 và tầmnhìn đến 2050 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật này đã góp phần giúp lĩnh vực xâydựng và ban hành kế hoạch kiểm soát ô nhiễm quốc gia do các chất thải rắn, lỏng, khí vàchất thải nguy hại gây ra, triển khai thực hiện tốt các quy định trong chiến lược quản lýchất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành;xác định cơ chế tăng cường hoàn trả chi phí liên quan đến thu gom, phân loại, thu hồi và

xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại Công tác quản lý chất thải và cải thiện môitrường ngày càng được quan tâm hơn Hoàn thành xây dựng “Kế hoạch xử lý triệt để ônhiễm môi trường do hoá chất trên phạm vi cả nước” theo chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ; tập trung triển khai Kế hoạch quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm2010; tổ chức nghiên cứu, đề xuất các nội dung nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế, chínhsách về quản lý các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POPs)

- Về kinh tế: Từng bước hình thành thị trường dịch vụ chất thải Trước mắt huyđộng nguồn vốn đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh tại các thành phốlớn và trung bình, về lâu dài đầu tư xây dựng các lò đốt rác hiện đại Khuyến khích huyđộng nguồn vốn của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia vào thu gom và xử

lý chất thải Tăng cường đầu tư, lắp đặt hệ thống xử lý chất thải bệnh viện Áp dụng

Trang 15

- Về xã hội: Xã hội hóa thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải Triển khai cácchương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng; hình thành các phong trào quầnchúng phân loại rác tại nguồn, tiết kiệm tài nguyên và sản phẩm

- Về công nghệ: Khuyến khích áp dụng những quy trình công nghệ sản xuất sạch vàthân thiện với môi trường, các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến giảm thiểu chấtthải, thay đổi thói quen tiêu dùng trong nhân dân Khuyến khích đầu tư công nghệ chếbiến phân vi sinh Đẩy mạnh áp dụng công nghệ tái chế chất thải; khuyến khích việc phânloại chất thải tại nguồn Đối với chất thải nguy hại, cần có những công nghệ thu gom và

xử lý phù hợp, không để phát thải ra môi trường

VIII BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

- Về cơ chế, chính sách và luật pháp: đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,gồm Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 của Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về

đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạngsinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học Nghị định số 65/2010/NĐ-CPngày 11 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều củaLuật Đa dạng sinh học, Nghị định 69/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 06 năm 2010 củaChính phủ về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sảnphẩm của sinh vật biến đổi gen Hiện nay, các đơn vị chức năng đang triển khai xây dựngcác văn bản hướng dẫn và thực hiện luật trong đó luôn lồng ghép các mục tiệu và nhiệm

vụ phát triển bền vững của lĩnh vực

- Về kinh tế: Xác lập rõ quyền sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích trong đa dạng nguồngen Đầu tư thỏa đáng cho bảo vệ thành phần của loài đang bị đe doạ do khai thác quámức hay bị lãng quên, đặc biệt là những thành phần giống loài đặc hữu Xem xét mốiquan hệ thương mại và môi trường trong buôn bán, vận chuyển các giống loài động thựcvật hoang dã để có những chế tài thích hợp Phát huy và phát hiện giá trị sử dụng và phi

sử dụng của các thành phần đa dạng sinh học Lượng hóa giá trị kinh tế của đa dạng sinhhọc trên các vùng

- Về xã hội: Nâng cao đời sống người dân, giảm đói nghèo ở những vùng có đadạng sinh học cao, mặt khác cũng cần có những chương trình giáo dục nâng cao nhậnthức cho cộng đồng dân cư ở khu vực bảo tồn duy trì đa dạng sinh học Phát huy kiếnthức bản địa trong việc duy trì và phát triển nguồn gen

Trang 16

- Về môi trường: Bảo tồn các vườn quốc gia, hệ sinh thái biển, đất ngập nước vàtrên cạn nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các loài sinh vật tồn tại và phát triển Sau 10năm thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam đã có 126 khubảo tồn thiên nhiên với hơn 2,5 triệu ha, tăng 28% so với trước Tổng diện tích các khubảo tồn tự nhiên chiếm 7,5% diện tích đất tự nhiên năm 2008.

IX CÁC HOẠT ĐỘNG LÀM GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CÓ HẠI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, PHÒNG VÀ CHỐNG THIÊN TAI

- Về cơ chế, chính sách và luật pháp: các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hànhtrong thời gian qua, gồm: Quyết định số 47/2007/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2007 củaThủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành, địa phương

có liên quan thực hiện Nghị định thư Kyoto và Cơ chế phát triển sạch; Nghị quyết số60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môitrường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêuquốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; Quyết định số 158/QĐ-TTg ngày 02tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc giaứng phó với biến đổi khí hậu, ban hành các thông tư về quy trình dự báo bão, áp thấpnhiệt đới, tích cực tham gia các công tác về CDM

Trong thời gian qua công tác dự báo đã đạt những thành tựu đáng kể, đáp ứng yêucầu chỉ đạo phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai Theo dõi chặt chẽ diễn biếntình hình thời tiết, khí tượng thủy văn trên phạm vi cả nước, đảm bảo tốt công tác dự báothường xuyên và định kỳ; phát hiện và cảnh báo, dự báo kịp thời các hiện tượng thời tiếtnguy hiểm như: bão, lũ, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, dông, lốc, rét đậm, rét hại, khô hạn,thiếu nước Áp dụng thành công dự báo thời tiết bằng phương pháp số và đưa các sảnphẩm dự báo vào dự báo tác nghiệp hàng ngày góp phần nâng cao độ chính xác của cácbản tin dự báo khí tượng thuỷ văn Sử dụng và khai thác các phương tiện quan trắc hiệnđại như ảnh mây vệ tinh, ra đa thời tiết góp phần nâng cao chất lượng dự báo bão, khôngkhí lạnh, mưa, dông và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác Chất lượng dự báo đượcnâng cao, nâng thời hạn dự báo lên 48 giờ và thử nghiệm dự báo bão với thời hạn 72 giờ

- Về xã hội: Đã tuyên truyền, giáo dục, phổ biến và nâng cao nhận thức cho nhândân về loại trừ các chất làm suy giảm tầng ôzôn; tăng cường và nâng cao năng lực hoạtđộng khí tượng thuỷ văn, dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, đặc biệt trong điều tra cơ bản,quan trắc và dự báo phòng tránh thiên tai, nâng cao chất lượng dự báo khí tượng thuỷ vănđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường và bảo vệ và phát triển

Trang 17

rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển Phối hợp chặt chẽ với các cơquan thông tấn báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là Đài truyền hìnhViệt Nam để kịp thời thông báo tình hình thời tiết đến nhân dân Đẩy mạnh công táctuyên truyền về khí tượng thủy văn và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm nhằm nâng caonhận thức cộng đồng về bão, lũ, thiên tai và có biện pháp chủ động phòng tránh.

- Về kinh tế: Tiến hành xem xét, đánh giá, thẩm định các chương trình, dự án nhằmgiảm thiểu và thích ứng với biên đổi khí hậu, phân tích chi phí-lợi ích của biến đổi khí hậu.Trên cơ sở đánh giá thực hiện 9 nhiệm vụ, phần lớn các nhiệm vụ đó thuộc chứcnăng quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuy nhiên cũng có những nhiệm vụ haylĩnh vực không thuộc Bộ quản lý mà phải phối hợp với các Bộ ngành khác như bảo vệ vàphát triển rừng; khoáng sản than, dầu khí, vật liệu xây dựng… Mặt khác có những nộidung phải phối hợp với các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội để cùng tham gia thựchiện quản lý mới đạt được hiệu quả, chính vì vậy về bảo vệ môi trường, Bộ đã chủ động

ký các nghị quyết liên tịch với trung ương đoàn thanh niên; tổng liên đoàn Việt Nam; mặttrận tổ quốc Việt Nam; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Liên minh hợp tác xã Việt Nam;

Ủy ban khoa học và công nghệ môi trường Quốc Hội; Hội cựu chiến binh Việt Nam;Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, với việc ký kết đó nhằm tạo ra sự đồngthuận trong xã hội về bảo vệ môi trường

Giai đoạn vừa qua, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá ở nước ta diễn ra nhanhchóng đang làm biến đổi các điều kiện môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt tạicác đô thị, khu công nghiệp

Trang 18

Bên cạnh các vấn đề về ô nhiễm và suy thoái môi trường do chiến tranh và lịch sử

để lại chưa được khắc phục thì các vấn đề môi trường mới nảy sinh do quá trình pháttriển lại đang diễn ra một cách bức xúc

Môi trường đất đang bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sạt lở và trượt lở đất, mặnhoá, chua hoá và phèn hoá, do việc lạm dụng phân bón hoá học, ô nhiễm do thuốc bảo vệthực vật và do chất thải vào môi trường đất từ các hoạt động công nghiệp Ô nhiễm vàsuy thoái đất sẽ dẫn đến giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, làm nghèo thực vật, suy giảm

đa dạng sinh học, đồng thời có tác động ngược làm cho quá trình xói mòn, thoái hoá đấtdiễn ra nhanh hơn

Hầu hết các khu vực trong những thành phố lớn đều bị ô nhiễm bụi, đặc biệt là tạicác nút giao thông và các khu vực có công trường xây dựng

Vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặcbiệt tại các lưu vực sông Cầu, Nhuệ Đáy, Đồng Nai – Sài Gòn, Thị Vải, trong đó có đoạn

đã trở thành sông "chết" Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần về lượng, suy giảm vềchất Nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất đang có chiều hướng trở thành hiệnthực ở nhiều vùng Môi trường biển và biển ven bờ đã bắt đầu bị ô nhiễm, hàm lượng cácchất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh, hóa chất nông nghiệp ở một số nơi

đã vượt tiêu chuẩn cho phép

Đa dạng sinh học đang bị suy thoái với nhiều mức độ khác nhau, các hệ sinh thái tựnhiên, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước và biển bị đe dọa nghiêm trọng.Theo tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh họccao trên thế giới (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới) Tuy nhiên, đa dạng loài và nguồngen đang có chiều hướng bị suy giảm Nguyên nhân chủ yếu là do việc chuyển đổi mụcđích sử dụng đất thiếu quy hoạch, khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinhhọc, nạn buôn bán động thực vật hoang dã, sự xâm nhập của các loài sinh vật ngoại laixâm hại, ô nhiễm môi trường, cháy rừng, thiên tai Độ che phủ rừng tuy có tăng nhưngchất lượng rừng vẫn có xu thế giảm Rừng giầu chỉ còn lại khoảng 10% Độ phì nhiêu củanhiều vùng đất có nguy cơ suy giảm hoặc bị thoái hóa do xói mòn, rửa trôi, đá ong hóa,chua mặn hóa Rừng ngập mặn, đầm phá đang bị khai thác quá mức, có nơi hầu nhưkhông còn khả năng phục hồi tái sinh

Thực trạng tình hình môi trường trong hoạt động khoáng sản trên phạm vi cả nướcđến thời điểm hiện nay đã đến mức báo động Môi trường và cảnh quan ở nhiều khaitrường bị suy thoái nghiêm trọng, chậm được khắc phục; khai thác chế biến khoáng sảncòn nhiều lãng phí và do đó cũng góp phần làm tăng ô nhiễm môi trường

Trang 19

Quản lý chất thải rắn tại các đô thị còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầucủa thực tiễn Lượng chất thải rắn tại các đô thị được thu gom mới đạt 75% tổng lượngchất thải rắn phát sinh Hiện nay, trên phạm vi cả nước, mới chỉ có 32/64 tỉnh/thành phố

có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được đầu tư xâydựng Việc xử lý rác thải còn nhiều bất cập, hầu hết các địa phương sử dụng biện phápchôn lấp chất thải với số lượng trung bình 1 bãi chôn lấp/1 đô thị, trong đó 85-90% cácbãi chôn lấp không hợp vệ sinh, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao

Nhiều chỉ tiêu đưa ra trong chiến lược bảo vệ môi trường đến năm 2010 chưa đạtđược như mong muốn Chính sách “xã hội hóa” đầu tư bảo vệ môi trường chưa được tậptrung nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện Nhiều dự án gây ô nhiễm môi trường đang trởthành các vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận nhân dân

Việc quản lý, sử dụng biển, ven biển và hải đảo ở Việt Nam chưa thực sự hiệu quả

và bền vững do thiếu quy hoạch, các kế hoạch đầu tư mang tính tổng thể, đặc biệt làtrong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Tài nguyên biển và cácnguồn lợi từ biển đang có xu hướng giảm nhanh Chất lượng nước biển cũng đang có xuhướng suy giảm, nhiều vùng biển bị ô nhiễm nặng Nguồn thu từ biển và hải đảo chưatương xứng với vai trò, vị trí chiến lược của biển, hải đảo đối với sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Chính sách “xã hội hóa” đầu tư bảo vệ môi trường chưa được tập trungnghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện

C KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1 Đề nghị Hội đồng phát triển bền vững quốc gia kiến nghị Thủ tướng Chính phủ

chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Luật Bảo vệmôi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Đấtđai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, trong đó lồng ghép các mục tiêu và nhiệm vụ pháttriển bền vững, tổ chức chức đánh giá kết quả giai đoạn đầu triển khai Chiến lược bảo vệmôi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Định hướng chiến lượcphát triển bền vững ở Việt Nam, đồng thời, xây dựng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống vănbản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách về tài nguyên và môi trường, tăng cường cáchoạt động về hợp tác quốc tế và phối hợp với các ngành, địa phương thông qua các hoạtđộng của các dự án, tổ chức hội nghị, hội thảo và cung cấp các thông tin về hướng dẫn kỹthuật Các bộ/ngành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, hằng năm có đánh giáviệc thực hiện các chỉ tiêu trong Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010 và địnhhướng 2020 Hằng năm tổ chức các Hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện, thảoluận giải pháp và các hoạt động phối hợp

Trang 20

2 Đề nghị các Bộ, ngành gắn kết các nhiệm vụ bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu

quả tài nguyên thiên nhiên trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạchphát triển ngành giai đoạn 2011-2015, tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc về tàinguyên và môi trường: thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm về khaithác tài nguyên đất, nước, không khí, khoáng sản, biển và hải đảo và bảo vệ môi trường,theo dõi, giám sát chặt chẽ việc khắc phục sau khai thác; xây dựng và triển khai các dự ánlớn nhằm khắc phục, cải thiện ô nhiễm tại các lưu vực sông chính; tăng cường công tácquản lý chất thải rắn, đặc biệt tại các đô thị, khu vực tập trung đông dân cư, khu vực nôngthôn và làng nghề; ngăn chặn và đẩy lùi tác hại của ô nhiễm từ nước ngoài vào ViệtNam.Thực hiện quy hoạch các khu chôn lấp chất thải rắn, chất thải nguy hại

3 Đề nghị các địa phương xây dựng và ban hành Định hướng chiến lược phát triển

bền vững của tỉnh, chỉ đạo đánh giá tổng kết 5 năm 2006-2010, xây dựng kế hoạch năm2011-2015 ngành tài nguyên và môi trường, trong đó lồng ghép các nội dung và nhiệm

vụ ưu tiên phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường theo các nội dung ưu tiên vàtiêu chí đã xác định của chương trình nghị sự 21 đã chỉ ra

4 Phát triển bền vững Tài nguyên và Môi trường cần được lồng ghép trong quy

hoạch, kế hoạch phát triển ngành và địa phương trên cơ sở các chỉ tiêu định tính và địnhlượng, có cơ chế kiểm tra và giám sát chặt chẽ những kết quả đạt được hàng năm và kếhoạch 5 năm

5 Sự phối hợp chặt chẽ của các ngành và địa phương với cơ quan quản lý Nhà nước

về tài nguyên và môi trường từ trung ương đến địa phương là hết sức quan trọng để thựchiện các mục tiêu đã đề ra./

6 Củng cố lại tính chuyên nghiệp tổ chức đầu mối theo dõi phát triển bền vững Tài

nguyên và Môi trường tại các Bộ ngành và địa phương Đối với các Bộ, đầu mối thuộc

Bộ Tài nguyên và Môi trường Đối với các sở đầu mối theo dõi thuộc sở Tài nguyên vàMôi trường

7 Để tổ chức đầu mối hoạt động hiệu quả, cần xem xét lại cơ cấu tổ chức nhân sự

kiêm nhiệm hay độc lập, kinh phí cho thực hiện của bộ máy đầu mối và chức năng nhiệm

vụ cần phải rõ ràng

Trang 21

VỀ XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Quan điểm BVMT và PTBV đã được quán triệt ngay từ những năm đầu của sựnghiệp Đổi mới và được khẳng định trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhànước trong hơn 2 thập kỷ qua

Ngay từ tháng 6 năm 1991 Chính phủ đã ban hành kế hoạch quốc gia về môi trường

và PTBV Năm 2004 Chính phủ tiếp tục ban hành định hướng Chiến lược phát triển bềnvững của Việt Nam kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg

Là một cơ quan lập pháp, Quốc hội đã và đang hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạokhung pháp lý ngày càng đầy đủ, khả thi nhằm thực hiện các mục tiêu PTBV ở nước ta.Đồng thời, quan điểm PTBV luôn được quán triệt sâu sắc và toàn diện trong hoạt độnggiám sát tối cao cũng như quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

I CÔNG TÁC LẬP PHÁP

- Luật Đất đai (năm 1993, 1998, 2001, 2003);

- Luật Bảo vệ môi trường ban hành lần đầu tiên vào năm 1993 và được sửa đổi bổsung toàn diện vào năm 2005;

- Luật Tài nguyên nước ban hành năm 1998;

- Luật Đê điều năm 2006;

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991 và 2004);

- Luật Khoáng sản ban hành lần đầu tiên vào năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung 2lần (2005 và 2010);

- Luật Dầu khí (1993, 2000 và 2008);

- Luật Đa dạng sinh học (2009);

- Luật Thuế tài nguyên (2009);

- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (2010);

- Luật Thuế bảo vệ môi trường (2010);

- Các luật về thuế (quy định về ưu đãi các sắc thuế nhằm khuyến khích bảo vệ tàinguyên, bảo vệ môi trường)

Trang 22

Ngoài các văn bản nêu trên, hằng năm Quốc hội đã ban hành các nghị quyết vềnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó xác định 3 nhóm chỉ tiêu về kinh tế, xã hội

và bảo vệ môi trường; xác định nhiệm vụ, giải pháp; quyết định ngân sách và phân bổ cácnguồn lực cho phát triển bền vững của đất nước

II CÔNG TÁC GIÁM SÁT

Trong những năm qua, Ủy ban KHCN&MT đã chủ trì phối hợp với các cơ quan củaQuốc hội đã tiến hành nhiều đợt giám sát liên quan đến cả 3 lĩnh vực của phát triển bềnvững là kinh tế, xã hội và tài nguyên và môi trường Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,

sử dụng tài nguyên đã tập chung vào các nội dung chủ yếu là giám sát việc thực hiệnchính sách và pháp luật trong các lĩnh vực:

- Bảo vệ môi trường, nhất là tại các khu công nghiệp, khu đô thị và khu kinh tế;

- Thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sởgây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;

- Tình hình khai thác khoáng sản và công tác bảo vệ môi trường tập trung vào lĩnhvực khai thác than, bô xít, quặng titan, apatit…;

- Phát triển rừng, bảo vệ đa dạng sinh học;

- Thực hiện quy hoạch các dự án thủy điện từ quy mô rất lớn đến quy mô vừa và nhỏ;

- Triển khai chương trình phát triển bền vững quy mô cấp tỉnh

Qua các đợt giám sát, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã đánh giá, đềxuất nhiều kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan nhằm tiếp tụchoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố bộ máy quản lý cũng như phân bổ nguồn lực đểtriển khai có hiệu quả chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Cụ thể như sau:

1 Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường (2005)

Luật Bảo vệ môi trường (2005) đã thể chế hóa những nguyên tắc, chính sách cơ bảncủa Đảng và nhà nước và là một đạo luật cơ bản về hoạt động bảo vệ môi trường ở nước

ta Sau 3 năm Luật BVMT đi vào hoạt động, việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môitrường còn nhiều bất cập, tuy nhiên để đảm bảo công tác bảo vệ môi trường được hiệuquả chúng ta phải đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan ngay từ đầu như kết quảnghiên cứu khảo sát thực tế vừa qua cho thấy, bên cạnh một số kết quả tích cực cònnhững hạn chế, tồn tại chủ yếu sau đây:

Trang 23

1.1 Công tác hướng dẫn thi hành chính sách, pháp luật

Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành liên quan đã ban hành một

số văn bản hướng dẫn Luật Tuy nhiên vẫn cần phải tiếp tục ban hành thêm một số vănbản hướng dẫn thi hành cụ thể, chi tiết hơn theo quy định của Luật Ví dụ, Luật có tớitrên 20 điều quy định về trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, nhưng chỉ có một số tỉnh

đã ban hành các văn bản như chỉ thị, quyết định của cơ quan Đảng, Ủy ban Nhân dân,Hội đồng Nhân dân tỉnh; có một số tỉnh hầu như chưa ban hành được văn bản hướng dẫnnào Tình trạng thiếu văn bản hướng dẫn đã làm cho hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý

ô nhiễm không những chậm mà còn thiếu tính nhất quán, đồng bộ Vì vậy, các Sở Tàinguyên và Môi trường cần phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dâncấp tỉnh triển khai sớm công tác hướng dẫn thi hành chính sách, pháp luật về xử lý ônhiễm và bảo vệ môi trường trên địa bàn

1.2 Tổ chức bộ máy quản lý môi trường ở các ngành, địa phương

Năm 2007 tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến xãcủa các địa phương đã được kiện toàn một bước Ở cấp tỉnh có Sở Tài nguyên và Môitrường; ở cấp huyện đã thành lập Phòng Tài nguyên và Môi trường, còn ở cấp xã đã cócán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm về môi trường

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về lĩnh vực bảo vệ môi trường của các bộ,ngành, địa phương còn thiếu và yếu về chuyên môn, nhiều người hoạt động kiêm nhiệm,

tỷ lệ người được đào tạo cơ bản về lĩnh vực môi trường còn thấp Hiện nay nước ta cókhoảng 12 người làm công tác bảo vệ môi trường trên 1 triệu dân; trong khi đó con số

này ở các nước khác cao hơn nhiều (ví dụ: Trung Quốc 20 người, Thái Lan 30 người, Malaysia 100 người, Xingapo 330 người, Canađa 155 người, Anh là 204 người) Ngay

trong cơ cấu, tổ chức các Sở Tài nguyên và Môi trường thì mảng công tác bảo vệ môitrường cũng còn yếu so với mảng quản lý đất đai và tài nguyên

1.3 Về công tác quy hoạch đô thị và khu công nghiệp

Quy hoạch khu công nghiệp (KCN), khu đô thị (KĐT) còn nhiều bất cập NhiềuKCN được quy hoạch sát KĐT, các dòng sông, trục giao thông và các khu vực nhạy cảm

về môi trường; quy hoạch chưa có đủ cơ sở khoa học, chưa tính đến các yếu tố tự nhiên

và xã hội nên tính khả thi thấp Nhiều quy hoạch bị phá vỡ do thiếu kiên quyết trong việcthực hiện quy hoạch nên đã gây ra hậu quả khó khắc phục, lãng phí

Các địa phương đều đã có quy hoạch đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, nhưngchưa đủ nguồn lực thực hiện quy hoạch, nhất là việc huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng cho các KCN, KĐT và công trình thu gom xử lý nước thải, rác thải

Trang 24

Công tác quy hoạch bảo vệ môi trường chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch kinh tế

- xã hội khác Sự phối hợp giữa các ngành kế hoạch – đầu tư, tài nguyên – môi trường,xây dựng, công thương, giao thông… mặc dù đã được quy định rõ trong các văn bảnpháp luật có liên quan1, nhưng thực hiện chưa đồng bộ, thường xuyên

1.4 Công tác thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Sau khi Luật Bảo vệ môi trường 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đượcban hành, việc lập và thẩm định báo cáo ĐMC, báo cáo ĐTM và cam kết bảo vệ môitrường đối với các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dự án đầu tư có quy mô khác nhau

đã được quan tâm hơn

Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể các báo cáo ĐTM thiếu chặt chẽ, thiếu số liệu điều tra

cơ bản; công tác thẩm định, phê duyệt còn mang tính hình thức Việc nhiều cơ sở, dự ánkhông tuân thủ yêu cầu đã đề ra trong quy định phê duyệt báo cáo; công tác kiểm tra, đônđốc thực hiện chưa nghiêm

1.5 Về cơ sở hạ tầng, phương tiện kỹ thuật quan trắc môi trường

Cơ sở hạ tầng cấp thoát nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải của hầu hết các

đô thị, nhất là các khu xây dựng trước đây không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.Nước thải sinh hoạt và nước mưa cùng thoát chung vào một hệ thống Ngay cả ở thủ đô

Hà Nội, lượng nước thải được xử lý cũng chỉ đạt khoảng trên 10%

Nhiều tỉnh vẫn chưa có trung tâm quan trắc, phòng phân tích nên mọi hoạt độngquan trắc đều thực hiện bằng hình thức thuê khoán các viện, trường hoặc các trung tâmphân tích ở các thành phố lớn Đây cũng là lý do cơ bản dẫn đến các số liệu quan trắcthường thiếu độ chính xác, số lượng phân tích hạn chế, không phản ánh đúng thực trạng ô

nhiễm Chỉ có một số tỉnh/thành có tiềm lực kinh tế mạnh (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Tp.Hồ Chí Minh, Cần Thơ…) có

trung tâm quan trắc Theo tính toán của Bộ Tài nguyên và Môi trường, để xây dựng hệthống trạm quan trắc trên phạm vi cả nước cần đến 6.800 tỷ đồng (dự toán năm 2008)

1.6 Nguồn kinh phí

Chủ trương chi không dưới 1% ngân sách nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ môitrường đã có hiệu lực Tuy vậy, qua giám sát cho thấy việc sử dụng nguồn kinh phí nàycòn dàn trải, hiệu quả chưa cao; có một số địa phương còn sử dụng kinh phí này vào mụcđích khác Việc phân bổ, thực hiện nguồn chi ở nhiều địa phương chưa có sự tham gia

Trang 25

của cơ quan chuyên môn (Sở Tài nguyên và Môi trường); chưa có sự giám sát chặt chẽ

của Hội đồng nhân dân các cấp

Cơ chế sử dụng các nguồn thu từ thuế, phí bảo vệ môi trường, tiền phạt, nguồn tàitrợ ODA, tài trợ phi chính phủ cho bảo vệ môi trường chưa rõ ràng; thiếu sự điều hòa,phối hợp Số kinh phí thu được từ phí môi trường chỉ bằng 1/10 tổng kinh phí Nhà nước

bỏ ra để thu gom, xử lý chất thải Việc ký quỹ bảo vệ môi trường thực hiện chưa nghiêm,thiếu đồng bộ Vẫn chưa hình thành được ngành kinh tế môi trường hướng tới cân đốigiữa thu và chi cho hoạt động bảo vệ môi trường và xử lý ô nhiễm

1.7 Hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ bảo vệ môi trường

Cho đến nay đã hình thành được một số cơ sở sản xuất, chế tạo các thiết bị bảo vệmôi trường, xử lý chất thải như hệ thống xử lý nước thải, thiết bị xử lý chất thải rắn, chấtthải y tế, tái chế chất thải; thiết bị quan trắc môi trường Tuy nhiên, quy mô sản xuất cácloại thiết bị này còn nhỏ lẻ; kiểm định chất lượng công nghệ chưa được thực hiện theotiêu chuẩn quốc gia Công tác đầu tư, tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng côngnghệ bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành công nghiệp môi trườngnhư quy định tại Điều 108, Điều 109 của Luật Bảo vệ môi trường Các cơ quan Nhà nướccần ban hành và áp dụng các biện pháp, cơ chế ưu đãi cụ thể đối với các hoạt độngnghiên cứu, ứng dụng công nghệ quan trắc, phân tích và xử lý ô nhiễm để từng bước hìnhthành ngành công nghiệp môi trường

1.8 Về công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Công tác kiểm tra hậu ĐTM chưa thực hiện thường xuyên, kiên quyết; hầu nhưchưa áp dụng hình thức xử lý nghiêm đối với những cơ sở không thực hiện cam kết bảo

vệ môi trường Số các vụ khiếu kiện về ô nhiễm môi trường có xu thế ngày càng gia tăng,thậm chí tăng nhanh hơn số các vụ khiếu kiện về đất đai Đòi hỏi của người dân về môitrường sống lành mạnh, thân thiện ngày càng cao Mức phạt hành chính tối đa hiện nay

đã tăng từ 70 triệu đồng lên 500 triệu đồng để tăng cường hơn nữa sức răn đe đối vớinhững cơ sở gây ô nhiễm Tuy nhiên, một số quy định pháp luật về thanh tra hiện đanggây vướng mắc cần tháo gỡ

1.9 Về công tác xã hội hóa, tuyên truyền hoạt động bảo vệ môi trường

Các hoạt động tuyên truyền đã thu hút được nhiều tổ chức xã hội, doanh nghiệp thamgia: đã hình thành được các tổ thu gom rác thải; phát triển các mô hình tự quản về bảo vệmôi trường trong nhân dân Một số địa phương đang tiến hành sắp xếp, cổ phần hóa các

Công ty môi trường đô thị (Lạng Sơn, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh )

Bên cạnh những kết quả ban đầu về xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường, ởnhiều địa phương hiện nay vẫn đang lúng túng, chưa xác định được mục tiêu, hình thức,

Trang 26

biện pháp tổ chức công tác xã hội hóa đối với hoạt động thu gom, xử lý rác thải đô thị.

Do đó, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác vẫn chỉ giao khoán cho một công tymôi trường đô thị của tỉnh tiến hành, dẫn tới tình trạng quá tải, thiếu kinh phí và phươngtiện hoạt động, không đảm bảo được chất lượng môi trường đô thị và khu dân cư

Sự tham gia, phối hợp của Mặt trận tổ quốc, các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội– nghề nghiệp, các cơ quan thông tin, truyền thông chưa được phát huy đầy đủ trong hoạtđộng tuyên truyền về bảo vệ môi trường Công tác tuyên truyền còn mang tính hình thức;chưa tạo được nếp sống, tập quán thân thiện với môi trường trong cộng đồng dân cư

2 Việc thực hiện Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg

2.1 Một số kết quả cụ thể

Theo QĐ 64, có tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng tại các KKT phải xử lý triệt để trong giai đoạn I (2003 – 2007) Tính đến nay đã có 67,2% hoànthành công tác xử lý

KCN-KĐT-2.2 Những tồn tại và nguyên nhân

- Một số cơ chế chính sách hỗ trợ cho việc xử lý ô nhiễm môi trường mặc dù đãđược ban hành, song việc triển khai trên thực tế còn kém hiệu quả;

- Mặc dù các giải pháp thực hiện nêu trong QĐ số 64 là khá đồng bộ, nhưng chưađược cụ thể hóa, còn nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai Kế hoạch hỗ trợ vốn,tín dụng chưa được tính toán, dự trù chi tiết; quy hoạch đất đai phục vụ di dời chưa đượcxác định, phê duyệt nhất là đối với cơ sở của trung ương đóng tại địa phương; giải pháp

về bồi thường cho người lao động mất việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp cũng chưa đượcquan tâm đúng mức;

- Trình độ công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay còn thấp; chưahình thành được một ngành công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc xử lý chất thải; giáthành cao là do sản xuất đơn chiếc;

- Một số Bộ, ngành và địa phương thiếu tích cực, chủ động, thậm chí không quantâm đúng mức đến việc xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc tráchnhiệm quản lý của mình;

- Quyết định số 64 ra đời trước Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) và nhiều vănbản pháp luật khác có liên quan Việc thực hiện QĐ 64 đã góp phần ngăn chặn, giảmthiểu ô nhiễm ở nhiều vùng trọng điểm Tuy vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường (cơ quanchỉ đạo thực hiện QĐ 64) cần tổng kết, đánh giá thành tựu cũng như tồn tại sau 7 nămthực hiện QĐ 64 để đề xuất với Thủ tướng Chính phủ ban hành một quyết định mới đểthực hiện công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trênphạm vi cả nước

Trang 27

3 Về khai thác khoáng sản

Trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (số 1533/BC-UBKT12)

về dự án Luật Khoáng sản trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7 (tháng 5 – 6/2010) đã nhận xét

về tình hình thực thi pháp luật cũng như khai thác, sử dụng khoáng sản như sau:

- Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản thời gian vừa qua còn cóthiếu sót và nhiều bất cập Hệ thống cơ chế quản lý chưa hoàn thiện, việc phân công,phân cấp trong quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản còn phân tán, chưa hợp lý nhưphân cấp thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, công tác tổ chức lập, thựchiện quy hoạch khoáng sản, khoanh định công bố khu vực khoáng sản dẫn đến việchoạt động khoáng sản còn phức tạp ở nhiều địa phương, nạn khai thác, tiêu thụ khoángsản trái phép, xuất khẩu khoáng sản thô vẫn diễn ra ở nhiều nơi làm thất thoát nhiều tàinguyên khoáng sản

- Luật Khoáng sản hiện hành chưa huy động được nhiều nguồn lực xã hội cho hoạtđộng khoáng sản cũng như chưa phát huy được vai trò, tiềm năng thế mạnh, hiệu quả củakhoáng sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Chưa tạo được cơ chế xã hội hóa tham giacông tác điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản Chưa có quy định chặt chẽ vềđiều kiện cấp giấy phép hoạt động khoáng sản, điều kiện chuyển nhượng quyền hoạt độngkhoáng sản nên chưa xóa bỏ được cơ chế "xin cho", chưa ngăn chặn được tình trạng đầu cơtrong hoạt động khoáng sản; thiếu các quy định để tăng thu cho ngân sách nhà nước

- Nhiều văn bản pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, bảo vệ môi trường, đất đai đãđược sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới trong khi các quy định có liên quan của phápluật về khoáng sản vẫn chưa điều chỉnh, bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ Hơn nữa, kể

từ năm 2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), theo đó, các quy định của Luật Khoáng sản cần phải được rà soát, điều chỉnh đểbảo đảm phù hợp với cam kết

Vì vậy, Luật Khoáng sản (sửa đổi) năm 2010 phải bảo đảm thực hiện quản lý nhànước về khoáng sản có hiệu quả; khai thác và sử dụng khoáng sản hợp lý, tiết kiệm phục

vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cả trong trước mắt và lâu dài

4 Về bảo vệ và phát triển rừng (đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 08/1997/ QH10 Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng)

4.1 Quy hoạch 3 loại rừng, định giá rừng khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng

Đến nay, các địa phương trong cả nước đã hoàn thành việc quy hoạch 3 loại rừng.Theo Nghị quyết của Quốc hội, tổng diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch là16.247.670 ha, trong đó, rừng đặc dụng là 1.9977.970 ha, rừng phòng hộ là 6.563.210 ha,

Trang 28

rừng sản xuất là 7.702.940 ha2 Báo cáo của Tổng cục thống kê 2097b/QĐ-BTNMT29/10/2009: đất LN 14.757,4, đất rừng đặc dụng 2.054,7 ha, đất rừng phòng hộ 6.124,8

ha đất rừng sản xuất 6.578,2 ha Tổng diện tích có rừng 13.258,7 ha (rừng tự nhiên10.338,9 ngàn ha; rừng trồng 2.919,8 ngàn ha) Tỷ lệ che phủ rừng 39,1%)

Theo báo cáo của Bộ NN-PTNT, kết quả quy hoạch 3 loại rừng theo Chỉ thị số38/2005/CT-TTg (Xem bảng dưới đây)

Đơn vị tính: ha

Nội dung

Tổng diện tích hiện trạng đất lâm nghiệp theo đề nghị của các tỉnh

Tổng diện tích rừng quy hoạch theo đề nghị của các tỉnh

Tổng diện tích rừng được phê duyệt sau khi rà soát theo Chỉ thị 38/2005/CT-

Mặt khác, qua giám sát thực tế tại một số tỉnh miền Trung, miền Nam, có tình trạngquy hoạch đất lâm nghiệp chưa điều chỉnh kịp thời những bất cập, chồng chéo của quy

Trang 29

hoạch nông lâm nghiệp trước đây như quy hoạch đất lâm nghiệp trên ruộng lúa, trên đất ởcủa các hộ dân tộc; tình trạng người dân do áp lực kinh tế không thực hiện đúng mục đích

sử dụng đất lâm nghiệp (chuyển đất trồng Tràm sang trồng lúa), hoặc chặt phá rừng đểnuôi trồng thủy sản ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu long

4.2 Kết quả đạt được

- Năm 2010 là năm cuối cùng thực thực hiện Dự án, tuy mới có số liệu 9 tháng củanăm 2010 nhưng các chỉ tiêu cơ bản về bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng cơ bảnvượt mức chỉ tiêu đề ra theo Nghị quyết 73/2006/QH11 Tuy nhiên, nếu tính cho toàn bộ

Dự án phải kết thúc vào năm 2010 thì một số chỉ tiêu chưa đạt được Ví dụ, chỉ tiêu về độche phủ rừng, đến 31/12/2009 mới chỉ đạt 39,1%, dự kiến hết năm 2010 sẽ đạt độ chephủ 39,5% 3, trong khi Nghị quyết 08/1997/QH10 giao nhiệm vụ đến năm 2010 nâng độche phủ rừng cả nước lên trên 40%; chỉ tiêu về trồng rừng phòng hộ, đặc dụng chỉ đạt87,8%; chỉ tiêu về trồng rừng sản xuất chỉ đạt 49% Việc tổ chức thực hiện dự án trongmột số khâu còn chậm;

- Việc thực hiện Dự án đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, góp phần xóa đói, giảmnghèo vì đây là một Dự án gắn với đối tượng chính là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, các dân tộc thiểu số với địa bàn trải khắp các địaphương trên phạm vi toàn quốc Qua việc khoán bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinhrừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng mới 3 loại rừng, rừng ở nhiều nơi được cải tạo,nâng cao chất lượng, trữ lượng và giá trị kinh tế

Về môi trường:

Dự án có ý nghĩa và hiệu quả rất to lớn không thể lượng hóa về giá trị bảo vệ môitrường, góp phần phát triển bền vững, hạn chế tác động của biến đổi khí hậu… Rừng đượcbảo vệ tốt hơn, độ che phủ rừng tăng qua các năm, đa dạng sinh học được phục hồi và bảo

vệ, các vùng đất trống đã cơ bản được phủ xanh góp phần hạn chế lũ lụt, xói mòn đất, điềutiết nguồn nước, bảo vệ đê biển, nhiều nơi nguồn sinh thủy được cải thiện đáng kể

5 Bảo vệ môi trường và PTBV trong thực hiện quy hoạch thủy điện, sử dụng tài nguyên nước

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; có lượng mưa khá cao, vì vậynguồn nước khá dồi dào Các quy hoạch thủy điện bao giờ cũng phải quán triệt 3 nhiệmvụ: phát điện, thủy lợi (chống lũ, chống hạn) và góp phần phát triển kinh tế xã hội vùngthực hiện dự án thủy điện

3 Số liệu công bố của Bộ NN-PTNT.

Trang 30

Dự án thủy điện Sơn La, đang phấn đấu đạt mục tiêu phát điện tổ máy số 1 vàongày 25 tháng 12 năm 2010 và phấn đấu hoàn thành công trình vào năm 2012 Chínhquyền và nhân dân ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên đã nỗ lực thực hiện công tác didân tái định cư; về cơ bản đã chuyển xong trên 20 nghìn hộ khỏi vùng lòng hồ bị ngậptrước khi nước dân lên cao 195 mét Tại đa số khu, điểm tái định cư, người dân đã cóđiều kiện ở khang trang hơn, đời sống trước mắt được bảo đảm Tuy nhiên việc giao đấtsản xuất còn chậm; việc chuyển đổi sang nghề phi nông nghiệp còn hạn chế; chưa cóphương hướng sản xuất, nguồn thu nhập ổn định, lâu dài Nên một số nơi vẫn còn xảy rakhiếu kiện của người dân về việc chậm thanh toán đền bù, mực đền bù, sự công bằngtrong trong tính toán đền bù tái định cư Nhưng nhìn chung tình hình khiếu kiện đã giảm

cơ bản những vấn đề tồn tại trong công tác tái định cư trước đây; đề ra nhiệm vụ và giảipháp thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đề người dân đến nới ở mới có cuộcsống tốt hơn nơi ở cũ Vì vậy đề nghị các bộ ngành, cơ quan Trung ương và chính quyềncác tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên quán triệt nội dung Quyết đinh 801 của Thủtướng Chính phủ và tổ chức rút kinh nghiệm di dân tái định cư thời gian qua; đồng thờitriển khai thực hiện tập trung một số biện pháp sau đây:

1 Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tập đoàn Điện lực Việt Nam vàcác ngân hàng cần bố trí đủ và kịp thời cấp vốn cho các địa phương thực hiện tốt công tác

di dân tái định cư

2 Đối với các tỉnh cần chú trọng, quan tâm một số vấn đề sau:

a Tiếp tục củng cố bộ phận phụ trách di dân tái định cư đủ số lượng, năng lực,phẩm chất thực hiện các nhiệm vụ;

b Nâng cao vai trò, trách nhiệm quản lý của chính quyền kết hợp với ý thức tự giác,

nỗ lực của người dân;

c Lồng ghép các nhiệm vụ và nguồn lực của dự án tái định cư với các dự án,chương trình mục tiêu quốc gia khác để sử dụng một cách hiệu quả đạt các nhiệm vụtrước mắt và lâu dài; tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô;

Ngày đăng: 23/02/2019, 01:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w